Trước hết là ảnh hưởng đến bộ mặt chungcủa đất nước, sự phát triển kinh tế đòi hỏi phải có tiềm lực về vật chất và con ngườinhưng một khi đất nước đang trong tình trạng nghèo đói thì các
Trang 1Dương Văn Ánh - K41A - KTNN 1
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ1.Tính cấp thiết của đề tài.
Nghèo đói đã và đang tồn tại như một thách thức thức lớn đối với mỗi quốc gia,
vì nghèo đói liên quan đến rất nhiều vấn đề Trước hết là ảnh hưởng đến bộ mặt chungcủa đất nước, sự phát triển kinh tế đòi hỏi phải có tiềm lực về vật chất và con ngườinhưng một khi đất nước đang trong tình trạng nghèo đói thì các tiềm lực trên bị hạnchế, nhiều người dân không đủ ăn, trình độ học vấn thấp, của cải trong đang còn ít,nhà nước khó có thể huy động vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, điều này làmcho nền kinh tế trở nên kiệt quệ, khó phát triển Nghèo đói làm cho chất lượng cuộcsống giảm xuống: Thiếu ăn, thiếu mặc, suy dinh dưỡng, bệnh tât và nhiều hiện tượngkhác như thất nghiệp, các tệ nạn xã hội, đây là nguyên nhân ảnh hưởng tới việc ổnđịnh xã hội
Việt Nam là một nước được xếp vào nhóm các nước nghèo trên thế giới, chịunhiều hậu quả của chiến tranh để lại cả về vật chất lẫn tin thần, đời sống người dân cựckhổ Sau nhiều năm nổ lực, cố gắng cùng với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của Nhànước, nhân dân ta đã đưa đất nước ngày một đi lên và đạt nhiều thành tựu quan trọng.Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó nước ta cũng gặp nhiều thách thức do nềnkinh tế thị trường mang lại, đặc biệt là sự phân hoá giàu nghèo ngày càng diễn ra sâusắc Do đó, XĐGN là một trong những công tác được Đảng và Nhà nước chú trọngnhất với mục đích làm cho dân đủ ăn, đủ mặc, có cuộc sống đầy đủ, vì dân có giàu thìnước mới mạnh
Xã Ngư Thuỷ Nam là một xã bãi ngang ven biển, có hoàn cảnh kinh tế đặc biệtkhó khăn, thu nhập chính của người dân chủ yếu dựa vào đánh bắt thuỷ sản gần bờ.Những năm gần đây do điều kiện thời tiết khí hậu không thuận lợi, đặc bịêt là do ảnhhưởng của biến đổi khí hậu, sự nóng lên của trái đất, ô nhiễm môi trường sinh thái biển
đã tác động trực tiếp tới các loài động vật biển, làm cho các loài động vật biển di chuyển
đi tìm môi trường mới để thích nghi Trong khi đó, ngư cụ đánh bắt của người dân vẫncòn thô sơ, trình độ đánh bắt hạn chế, chủ yếu là theo kinh nghiệm, không nắm bắt đượcnơi cu trú mới của các loài động vật biển Vì vậy, việc đánh bắt thuỷ sản của các hộ ngư
Trang 2dân ở đây gặp rất nhiều khó khăn: bão tố, mất mùa Sản lượng đánh bắt thuỷ sản qua 3năm trở lại đây giảm rõ rệt Điều này đã làm cho thu nhập của người dân giảm đáng kể,các hộ thoát nghèo nay có nguy cơ tái nghèo Nếu như không có những biện pháp KT-
XH cụ thể, đúng đắn thì xã khó có thể phát triển kịp với các vùng khác Nhận thức đượcđiều này, tỉnh Quảng Bình đã thực hiện nhiều biện pháp kinh tế, XĐGN và đã đạt đượcnhững kết quả nhất định nhưng vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục
Xuất phát từ thực tế đó nên em chọn đề tài: “Giải pháp giảm nghèo cho các hộ ngư dân vùng ven biển tại xã Ngư Thuỷ Nam - Lệ Thuỷ - Quảng Bình” làm nộidung nghiên cứu của mình, nhằm nghiên cứu thực trạng và góp phần tìm ra những giảipháp giảm nghèo cho sự phát triển kinh tế - xã hội của xã
2.Mục đích nghiên cứu.
Hệ thống hoá những vấn đề về lý luận và thực tiễn về vấn đề nghèo đói, đánh giáđúng thực trạng nghèo đói của ngưòi dân ở xã Ngư Thuỷ Nam Từ đó tìm ra nguyênnhân dẫn đến nghèo đói của các hộ làm cở sở khoa học để đề xuất các giải pháp thiếtthực góp phần thúc đẩy mạnh công tác giảm nghèo và nâng cao thu nhập cho các hộngư dân
3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề kinh tế - xã hội trong công tác giảm nghèo
ở xã Ngư Thuỷ Nam
4.Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp điều tra chọn mẫu, tổng hợp và phân tích hệ thống
Mẫu điều tra gồm 40 hộ Mẫu điều tra được chọn ngẫu nhiên để đảm bảo tính
Trang 3Dương Văn Ánh - K41A - KTNN 3
+ Tổng hợp tài liệu: tham khảo các tài liệu, đề tài, các công trình nghiên cứu vềXĐGN qua thư viện, internet
+ Sử dụng các phương pháp phân tích thống kê so sánh để phân tích đánh giá tìnhtrạng cụ thể, từ đó rút ra kết luận chính xác
Phương pháp duy vật biện chứng: dựa vào phương pháp này để xem xét, phântích, đánh giá sự vật hiện tượng một cách khách quan và khoa học
Và một số phương pháp khác
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐÈ NGHIÊN CỨU
1.1.Cơ sở lý luận về vấn đề giảm nghèo.
1.1.1.Khái niệm và đặc điểm của nghèo đói.
1.1.1.1 Khái niệm nghèo đói.
Đói nghèo là trạng thái có tính động, thay đổi theo không gian và thời gian màxuất phát điểm căn nguyên của nó là: Sự phát triển của sản xuất, mức tăng trưởng kinh
tế, sự tăng lên và biến động của con người và những biến động của xã hội
Quá trình thực tế cho ta thấy rằng các chỉ số xác định nghèo đói và giàu nghèoluôn biến đổi Ở một thời gian nào đó, một vùng một nước nào đó, chỉ số nào đó vềnghèo đói hoặc giàu có, nhưng sang một thời điểm khác, một vùng khác thì con số đókhông có ý nghĩa
Để đánh giá được thực trạng nghèo của một quốc gia, nhận dạng hộ đói, hộnghèo để từ đó đưa ra các chính sách, giải pháp hỗ trợ phù hợp đòi hỏi phải có nhậnthức đúng đắn về vấn đề nghèo đói, mà trước hết là khái niệm, chỉ tiêu, thước đochuẩn mực Nghĩa là có một quan điểm khoa học, nhận thức về các hiện tượng kinh tế
- xã hội
Vấn đề thu nhập là cơ sở đánh giá mức độ nghèo đói, sự phân phối thu nhậpkhông đồng đều thường dẫn tới sự gia tăng về nghèo đói Do vậy vấn đề XĐGN cóliên quan mật thiết với tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
Với điều kiện cụ thể về kinh tế - xã hội của nông thôn Việt Nam, khái niệmnghèo đói biểu hiện cụ thể là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tốithiểu với các đặc trưng cơ bản: Thiếu ăn, nợ ngân hàng không có khả năng hoàn trả,phải vay nặng lãi để ăn, con em không có điều kiện đến trường, ốm đau không có tiềnchữa trị, phải đi làm thuê để duy trì cuộc sống hằng ngày
Trang 5Dương Văn Ánh - K41A - KTNN 5
gần như không có, các nhu cầu tối thiểu ngoài ra như ăn, ở, mặc, đi lại, giao tiếp, giáodục, văn hóa hầu như một phần nhỏ
1.1.1.2.Đặc điểm của hộ nghèo đói.
Người nghèo hầu như sống khắp nơi trong xã hội, tập trung chủ yếu ở các vùngven thành thị,nông thôn và miền núi…Phần lớn người nghèo bị thiệt thòi nhiều docách biệt về địa lý, xã hội, chịu rủi ro mùa vụ, chịu sức ép về tài nguyên do khai tháccạn kiệt Các dịch vụ dành cho người nghèo không đến được tay họ vì họ thiếu phươngtiện sử dụng, thiếu năng lực để tiếp nhận, sử dụng chúng không hiệu quả
Ở nông thôn đặc điểm nghèo đói khác với thành thị bởi hộ nghèo ở nông thônsống chủ yếu dựa vào đất đai, sức lao động và thu nhập chính dựa vào năng suất, sảnlượng của ngành nông nghiệp, trong đó chủ yếu là ngành trồng trọt, chăn nuôi Còn ởthành thị hộ nghèo phải đi làm thuê, bán sức lao động để nuôi sống bản thân Không
có người thuê thì họ không có thu nhập và sẽ thiếu ăn, thiếu mặc…Ở nông thôn hộnghèo thường sống hẻo lánh rời xa cộng đồng, canh tác trên vùng đất bạc màu cằn cỗibởi thiếu sự chăm sóc cho đất, làm cho năng suất sản xuất thấp là điều không tránhkhỏi Cơ hội để có thu nhập phi nông nghiệp là rất thấp, với lại nhu cầu lao động nôngnghiệp phụ thuộc vào thời vụ sản xuất, tác động mạnh đến đời sống hộ nông dân khiđến mùa giáp hạt …Tại các vùng đồng bằng người nghèo may mắn có tài nguyên kháhơn nhưng lại thiếu các dịch vụ, chích sách hỗ trợ, cơ sở hạ và hướng dẫn kỹ thuật.Mặc dù thu nhập ở thành thị so với nông thôn cao hơn và có sẵn phương tiện kỹthuật hơn nhưng hộ nghèo ở thành thị khổ hơn nông thôn xét trên nhiều khía cạnh Họsống trong nhà cửa tồi tàn, thiếu nhà vệ sinh, thiếu nước sạch, hầu hết họ không cóviệc làm ổn định, khối lượng công việc nặng nề Tuy nhiên cơ hội việc làm thuê hoặctìm kiếm việc làm dễ dàng hơn nông thôn
Nhìn chung hộ nghèo có những đặc điểm sau:
- Hộ nghèo thường có thu nhập thấp, không có việc làm thường xuyên
- Hộ nghèo thường có ít ngành lao động chính và nhiều người ăn theo
- Hộ nghèo thường có trình độ học vấn thấp so với đại bộ phận dân cư
- Hộ nghèo thường thiếu tài sản lẫn thu nhập phụ
- Hộ nghèo thường dễ bị tổn thương
Trang 6- Hộ nghèo thiếu khả năng phát triển kinh tế, cuộc sống của hộ nghèo thườngphải phụ thuộc vào người khác.
- Hộ nghèo thường hay thủ phận, chấp nhận nghèo đói, không có ý thức vươn lên
1.1.2.Khái niệm giảm nghèo.
Giảm nghèo là làm cho một bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống từng bướcthoát khỏi tình trạng nghèo biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm số lượng nghèo giảm xuống.Nói cách khác, giảm nghèo là quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên mứcsống cao hơn trước đây của họ
Ở góc độ nước nghèo, giảm nghèo chính là từng bước thực hiện quá trình chuyểnđổi trình độ sản xuất cũ, lạc hậu sang trình độ sản xuất mới cao hơn, tiên tiến hơn
Ở góc độ người nghèo, giảm nghèo chính là giúp đỡ người nghèo có cơ hội đápứng các nhu cầu thiết yếu hằng ngày và tạo cho họ được tiếp cận với các hình thức sảnxuất, các nguồn lực của sự phát triển nhằm từng bước đưa họ thoát khỏi tình trạngnghèo đói
1.1.3.Tiêu chí để phân định nghèo đói.
1.1.3.1.Quan điểm của thế giới.
Để xác định mức sống, thông thường người ta dùng chỉ tiêu thu nhập hay chỉ tiêutính theo đầu người trong một năm (hoặc tháng) cụ thể:
- Thu nhập tính từ nguồn thu do nông hộ sản xuất ra, đó là nguồn thu nhập rấtquan trọng của hầu hết người nghèo trên thế giới, nguồn thu khác do phân phối lại của
xã hội từ các phần phức lợi như y tế, văn hóa…
- Chỉ tiêu trên đầu người một năm ( một tháng) gồm tất cả các khoản ăn ở, đi lại
và các sinh hoạt khác Khi đánh giá về nghèo đói, các tổ chức thế giới cũng như cácnước có sự khác nhay về chỉ tiêu và phương pháp đánh giá nghèo đói, song quan niệm
và cách xác định về mức tối thiểu có những khía cạnh giống nhau
- Các nhà khoa học khi xác định thước đo sự nghèo khổ thường bắt đầu từ việcvạch ra giới hạn nghèo khổ, giới hạn này thường biểu hiện dưới dạng thu nhập giađình tính bình quân theo đầu người Nếu các gia đình thu nhập bình quân theo đầu
Trang 7Dương Văn Ánh - K41A - KTNN 7
Đối với người nghèo đói điều quan trọng nhất là khi thu nhập thì thấp thì chi cho
ăn càng nhiều, để đảm bảo thu nhập tối thiểu của sự phát triển, người ta còn phải locho việc mặc,ở, học hành, đi lại, giao tiếp…Ngoài ra, tình trạng nghèo đói của các hộcòn thể hiện qua nhà ở, đồ dùng sinh hoạt trong gia đình, phương tiện sản xuất, trình
độ văn hóa giáo dục, tình trạng sức khỏe và vị trí chính trị xã hội của con người
Tóm lại: Quan điểm nghèo đói do cách tiếp cận khác nhau nên có những cách lýgiải khác nhau Sự nghèo đói là một khái niệm có tính động và mang tính tương đối,
nó thay đổi theo không gian và thời gian
1.1.3.2.Quan điểm nghèo đói ở Việt Nam.
Để xác lập các chỉ tiêu đánh giá về nghèo đói, chúng ta căn cứ vào tình hình pháttriển kinh tế xã hội và hiện trạng đời sống trung bình phổ biến của dân cư nước ta hiệnnay thì có mấy chỉ tiêu chính sau đây:
- Thu nhập - chi tiêu bình quân bình quân đầu người/năm (tháng)
- Điều kiện về nhà ở và tiện ghi sinh hoạt
- Điều kiện về tư liệu sản xuất
- Điều kiện về vốn và của để dành
Trong bốn chỉ tiêu trên, cần đặc biệt chú ý tới chỉ tiêu thu nhập - chi tiêu và nhà ở( cùng các tiện nghi sinh hoạt trong nhà), vì hai chỉ tiêu này phản ánh mức sống haymức độ thực hiện các nhu cầu tối thiểu của đời sống con người Hai chỉ tiêu còn lạicũng có ý nghĩa không nhỏ, nó cho thấy rõ thêm tình cảnh thật sự của người nghèo,ngoài ra còn giúp chúng ta phân biệt rõ ràng hơn giữa hộ giàu và hộ nghèo ở các vùngnông thôn và thành thị
Căn cứ nghị quyết số 06/2005/NQ-CP ngày 06 tháng 05 năm 2005 của Chínhphủ Xét đề nghị của Bộ lao động thương binh và xã hội ban hành chuẩn nghèo ápdụng giai đoạn 2006 – 2010 như sau: Ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhậpbình quân từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo
Trang 81.1.4.Nguyên nhân nghèo đói.
Ở Việt nam nguyên nhân chính gây ra đói nghèo có thể phân theo 3 nhóm:
- Nhóm nguyên nhân điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt,hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn đã và đangkìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng đói nghèo cho cả một vùng, khu vực
- Nhóm nguyên nhân chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm ăn, thiếuvốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội, lười laođộng, ốm đau, rủi ro
- Nhóm các nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không đồng bộ
về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sáchkhuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, lâm, ngư,chính sách trong giáo dục đào tạo, y tế, giải quyết đất đai, định canh định cư, kinh tếmới và nguồn lực đầu tư còn hạn chế
1.1.5.Hậu quả nghèo đói.
Hậu quả nghèo đói xét từ bình diện xã hội đều bắt nguồn và phát sinh trực tiếp từcăn nguyên kinh tế, nó làm ảnh hưởng tới đời sống chung của cả cộng đồng dân cư, xãhội Gây trở ngại tới sự phát triển chung của đất nước cũng như mọi quốc gia
1.2.Cơ sở thực tiễn về vấn đề giảm nghèo đói ở nông thôn.
1.2.1.Kinh nghiệm của thế giới.
Đến thời điểm này, nghèo đói vẫn là nổi ám ảnh thường trực đối với tất cả loàingười trên thế giới, chúng ta cũng đã chứng kiến thảm họa của chiến tranh, thiên tai,dịch bệnh với bao nỗi kinh hoàng, thế nhưng hậu quả nghèo đói cũng khủng khiếpkhông kém
Trên tất cả các châu lục, đói nghèo vẫn diễn ra với những mức độ khác nhau, đặcbiệt ở những quốc gia đang phát triển, các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hiện naytrên thế giới có khoảng hơn 1,5 tỷ người sống trong cảnh nghèo đói, chủ yếu tập trung ởvùng nông thôn; 0,5 tỷ người không đủ ăn hằng ngày và mỗi năm có khoảng từ 15 đến
20 triệu người chết vì đói, chủ yếu tập trung ở Châu Á, Châu Mỹ La Tinh và Châu Phi
Trang 9Dương Văn Ánh - K41A - KTNN 9
Do số người nghèo đang chiếm phần đáng kể trong cộng đồng dân cư nên cácnước trên thế gới đang tìm các biện pháp để chống lại sự nghèo đói, tiêu biểu là cácgiải pháp sau:
- Kiến nghị với các nước công nghiệp phát triển xóa nợ hoặc giảm nợ cho cácnước kém phát triển và tăng cường nguồn viện trợ cho các nước nghèo
- Tăng quyền bình đẳng cho người dân,bởi vì mức độ bất bình đẳng dẫn đếnnghèo khổ tràn lan giữa các khu vực trên phạm vi toàn thế giới Sự bất bình đẳng giữacác khu vực trong một nước làm cho kinh tế nước đó chậm phát triển
Đối với các nước đang phát triển đang áp dụng các giải pháp sau:
- Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp nông thôn, coi đây là khu vực trọng điểm, vìđại đa số người nghèo sống ở nông thôn nên việc đẩy mạnh và phát triển nông thôn cótác dụng giảm nghèo rõ rệt
- Tạo việc làm cho người nghèo phù hợp với năng lực, trình độ lao động kỹ thuậtcủa họ Giúp họ có thu nhập cao, đặc biệt là vượt qua những thời điểm giáp hạt khókhăn nhất
- Trợ giúp cho người nghèo thông qua các chương trình, dự án XĐGN bằngnhiều hình thức như: Phát triển sản xuất, giao thông, y tế, giáo dục, nhà ở, cấp thoátnước sinh hoạt
- Hình thành nhiều loại quỹ hỗ trợ cho người nghèo thông qua quỹ tín dụng nôngthôn với lãi suất thấp, quỹ của các chương trình dự án dành cho phụ nữ bằng phươngthức trả dần cả vốn lẫn lãi, qua nhiều năm sẽ tiến bộ, trả hết nợ và thoát nghèo
1.2.2.Chương trình chống nghèo ở nước ta.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ và sự quan tâm của từngđịa phương trong cả nước, đến nay cả 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và 603quận huyện, 9200 xã, phường đều có ba chỉ đạo XĐGN Bằng nhiều hình thức vànhiều nguồn vốn khác nhau, Nhà nước kể cả trung ương và địa phương, cùng với cácđoàn thể quần chúng, các cộng đồng làng xã đã dành vốn cho chương trình XĐGN vớimức cao nhất Nhằm tập hợp sức mạnh của nhiều người, nguồn lực địa phương, cácngành các cấp cũng đã tích cực lồng ghép nguồn lực của các chương trình, dự án khácnhau cho mục tiêu XĐGN
Trang 10Từ việc học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới và dựa vào điều kiện cụ thểcủa đất nước, trong những năm qua nước ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ,được các nước trên thế giới công nhận là nước giảm nghèo nhanh nhất, song vẫn cònnhững tồn tại thiếu sót, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm bước đầu như sau:
- Trước hết phải có sự chuyển biến trong nhận thức về XĐGN, đây là nhiệm vụcủa toàn Đảng, toàn dân, từ trung ương đến địa phương, phải xác định XĐGN là một
bộ phận cấu thành trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và từng địaphương, nhằm mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
để từ đó có định hướng thích hợp trong việc chỉ đạo thực hiện chương trình bằng việctrợ giúp một phần của Nhà nước và huy động nội lực của nhân dân nhằm hỗ trợ ngườinghèo tự vươn lên
- Thứ hai là: có giải pháp thích hợp để huy động nguồn lực tạo cơ chế cho chínhsách XĐGN Hiệu quả nhất là các địa phương, cơ sở phải chủ động trong điều tra,khảo sát đúng thực trạng và nguyên nhân nghèo đói, đề ra giải pháp thích hợp để từ đó
có sự vận hành và kiểm tra đúng đối tượng, đúng mục tiêu, tự tạo nguồn lực tại chổ làchính với mõi phần hỗ trợ của Nhà nước Khơi dậy tiềm năng trong nhân dân theohướng tự chủ vươn lên đồng thời tự hình thành các mô hình, tổ chức bộ máy và cán bộtrực tiếp triển khai đến xã nghèo - hộ nghèo
- Ba là: Có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành đoàn thể từ trung ương đếnđịa phương, cơ sở và lồng ghép XĐGN với với các chương trình phát triển kinh tế xãhội khác
- Bốn là: Phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể trong triển khai thực hiệnchương trình, thông qua các tổ chức để vận động và chuyển biến nhận thức đến từnghội viên và nhân dân, huy động nguồn lực, chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫncách làm ăn cho người nghèo Đây là một yếu tố quan trọng quyết định đến việc thựchiện thành công chương trình XĐGN
1.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích.
1.3.1 Giá trị sản xuất.
Trang 11Dương Văn Ánh - K41A - KTNN 11
GO =
1
n i
Q i P iTrong đó:
Qi:là khối lượng sẩn phẩm loại i
Pi: là giá sản phẩm loại i
1.3.2.Chi phí trung gian (IC).
Là chi phí vật chất và dịch vụ cho sản xuất
IC =
1
n i
C iTrong đó: Cilà các khoản chi phí thứ i trong năm sản xuất của từng ngành
1.3.3.Giá trị gia tăng hay giá trị tăng thêm (VA).
Là một bộ phận giá trị sản xuất còn lại sau khi trừ đi chi phí trung gian trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả sản xuất
VA = GO – IC+ Tỷ suất VA/IC có ý nghĩa là một đồng chi phí trung gian bỏ ra thì sẽ thu lạiđược bao nhiêu đồng giá trị gia tăng VA/IC càng cao thì hoạt động sản xuất kinhdoanh càng có hiệu quả và ngược lại
+ Tỷ suất GO/IC có ý nghĩa là một đồng chi phí trung gian bỏ ra thì sẽ thu lạiđược bao nhiêu đồng giá trị sản xuất
Trang 122.1.2 Đặc điểm đất đai, địa hình.
Ngư Thủy Nam là xã bãi ngang ven biển, dân cư sinh sống chủ yếu ở các vùng cókhe nước ngọt từ động cát ở phía Tây Nam chảy ra biển, còn lại địa hình đất đai lànhững cồn cát nhỏ không bằng phẳng, phía Tây Nam có dãy động cát cao như dãyTrường Sơn
Tiếp đến là vùng đất thoải dần, được một con đường liên thôn cắt tại chân đồichạy thẳng từ đầu xã đến cuối xã, mỗi thôn có từ hai đến ba nhánh đường rẽ về cáccụm dân cư Địa hình của xã rất thuận lợi để tận dụng những khe nước có diện tích đất
ẩm ướt cho việc trồng các loại hoa màu, cây ngắn ngày hàng năm
2.1.3 Điều kiện khí hậu thời tiết.
Tỉnh Quảng Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Do đó, địa bàn xãNgư Thủy Nam cũng chịu chung khí hậu đó, mùa Đông chịu ảnh hưởng của gió mùaĐông Bắc, mùa Hè chịu gió mùa Tây Nam khô nóng Lượng mưa phân bố không đồng
Trang 13Dương Văn Ánh - K41A - KTNN 13
Theo quan sát của đài khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Bình, nhiệt độ trung bìnhhàng năm trên địa bàn là 25,6 0C trong đó nhiệt độ trung bình mùa Đông là 23,3 0C,nhiệt độ trung bình mùa Hạ là 28,80C, nhất là cuối tháng 6 có gió Phơn Tây Nam khônóng, nhiệt độ thường tăng cao và đọ ẩm thấp dưới 70%
Quảng Bình là vùng luôn chịu ảnh hưởng của hai luồng gió mùa: Gió Phơn TâyNam khô nóng từ tháng tư đến tháng tám, gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 năm nay đếntháng 2 năm sau Hai loại gió thường xuất hiện trùng với hai vụ sản xuất chính của bacon ngư đân xa Ngư Thủy Nam do đó có phần nào ảnh hưởng tới thu nhập từ sản xuấtngư nghiệp
2.1.4 Tình hình đất đai.
Qua nguồn số liệu của xã Ngư Thủy Nam ta thấy được tình hình sử dụng đất của
xã qua 3 năm 2008 – 2010 được thể hiện ở bảng sau:
Trang 14Bảng 01: Tình hình sử dụng đất (2008 – 2010)
Chỉ tiêu
2010/2008 Diện tích
(ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
( Nguồn số liệu UBND xã Ngư Thủy Nam )
Trang 15Dương Văn Ánh - K41A - KTNN 15
Quan sát bảng số liệu về tình hình sử dụng đất của xã Ngư Thủy Nam qua 3 năm
từ 2008-2010 ta thấy rằng:
Tổng diện tích đất tự nhiên là 61 ha chiếm 6,29% (năm 2008) chủ yếu là đất gầnkhe suối, loại đất này phù hợp để trồng các loại hoa màu, cây ngắn ngày hàng nămnhưng diện tích này không tập trung mà nằm rải rác, manh mún ở các thôn, khó khăncho xã trong việc quy hoạch quản lý, chỉ đạo trồng chuyên cach các loại cây cho sảnphẩm trở thành hàng hóa mạnh khó thực hiện
Biến động về đất nuôi trồng về là khá lớn tăng thêm 1,4 ha, tương đương với77,78%, đây là diện tích các doanh nghiệp khai thác quặng Titan đã để lại, nhân dânkhông yêu cầu trả lại mặt bằng mà tận dụng mặt nước này để nuôi cá nước ngọt
Đất lâm nghiệp tăng 213 ha (tương đương 27,2%) là do địa phương thực hiện chỉthị của Chính phủ về việc rà soát quy hoạch, chuyển đổi ba loại rừng, từ rừng phòng
hộ sang rừng sản xuất, diện tích rừng tăng lên là cơ hội để xã giao đất, giao rừng chonhân dân trồng rừng kinh tế tạo tiền đề cho những năm tiếp theo
2.1.5.Tình hình dân số lao động.
Để thấy rõ tình hình biến động dân số của xã, ta đi sâu vào nghiên cứu bảng sau
Trang 16Cơ cấu (%)
Số lượng
Cơ cấu (%)
Số lượng
Cơ cấu
1.Lao động nông nghiệp Lao động 1106 78,5 1075 75,7 1050 71,4 -56 5,06
2.Lao động phi nông nghiệp Lao động 303 21,5 346 24,3 420 28,6 +117 38,61
( Nguồn số liệu UBND xã Ngư Thủy Nam )
Trang 17Dương Văn Ánh - K41A - KTNN 17
Qua số liệu thu thập từ UBND xã Ngư Thủy Nam ta thấy rằng dân số của xã qua
3 năm tăng không đáng kể, dân số 2010 so với năm 2008 tăng 21 người tương đương0,78% Có được kết quả đó là nhờ xã thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hóa giađình ở các thôn, chương trình gia đình ít con để nuôi dạy cho tốt
Năm 2008 dân số của xã là 2,699 người với 532 hộ, trong đó hộ nông nghiệp là
437 hộ chiếm 82%, trong khi hộ sản xuất phi nông nghiệp là 95 hộ chiếm 18% Điềunày thể hiện sản xuất nông nghiệp là ngành chủ yếu của xã, hàng năm hộ sản xuấtnông nghiệp giảm dần, hộ sản xuất phi nông nghiệp tăng lên là do một bộ phận chuyểnsang ngành nghề khác hiệu quả hơn, bỏ nghề biển đi làm ăn xa ở các tỉnh phía Nam
Về lao động, tổng số lao động của xã năm 2008 là 1,409 người, đến năm 2010 số laođộng tăng lên 1,470 và chủ yếu là lao động hoạt động trong lĩnh vực ngư nghiệp, trong khilao động động phi nông nghiệp có xu hướng tăng dần Sự biến động về số lượng lao độngtrên địa bàn xã diễn ra khá phổ biến và thường biến đổi theo mùa vụ, hàng năm có khoảng
từ 300 - 350 lao động đi làm ăn xa theo mùa vụ Hết mùa vụ họ lại trở về quê hươngnhưng lại không có việc để họ tiếp tục làm dẫn đến tình trạng thất nghiệp, người ăn theotăng lên, thu nhập của hộ vì thế cũng giảm đi, vì vậy rất khó để cho các hộ thoát nghèomột cách bền vững được Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát huy tạo thêm việc làm tạichổ cho nữ giới và nam giới vào những lúc nông nhàn, giảm tính thời vụ của lao độnggiúp họ có thu nhập ổn định ở hiện tại cũng như trong tương lai
lộ 1A về trung tâm xã, xây dựng tuyến đường ven biển để phát triển ngành nghề dịch
Trang 18vụ, nhân dân cũng phải đóng góp kinh phí để duy tu bảo dưỡng các tuyến đường liênthôn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế ở vùng trên địa bàn xã.
Điện nước
100% số dân dược dùng điện từ dự án điện năng lượng nông thôn Miền Trung
2001 Nước: chủ yếu là nước giếng khoan trong cát, dùng máy bơm hộ gia đình để lấynước phục vụ sinh hoạt động cho từng hộ
2.2.Tình hình nghèo đói chung của xã.
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, XĐGN là một trong những vấn đề ưutiên hàng đầu của cả nước nói chung và xã Ngư Thủy Nam nói riêng Trong nhữngnăm qua Đảng và Nhà nước đã triển khai nhiều chương trình giảm nghèo ở xã NgưThủy Nam như: Chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nông thôn, chươngtrình tín dụng từ Ngân hàng CSXH, chương trình giải quyết việc làm, xuất khẩu laođộng, tiếp nhận dự án NaPa (SNV) Quảng Bình về cho vay vốn giải quyết việc làmcho phụ nữ, dự án phân cấp giảm nghèo (DPPR) do tổ chức IFAD tài trợ…Nhờ vậyđời sống của nhân dân trong xã được cải thiện thêm một bước, bộ mặt nông thôn ngàynay thay đổi hơn Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn xã vẫn đang còn cao, và có xuhướng tăng dần trong những năm gần đây
Trang 19Dương Văn Ánh - K41A - KTNN 19
Bảng 3: Số hộ nghèo của xã qua 3 năm (2008 – 2010)
(Nguồn số liệu từ UBND xã Ngư Thủy Nam)Nhìn bảng số liệu trên ta thấy sự biến động về hộ nghèo toàn xã qua 3 năm nhưsau: năm 2008 là 113 hộ chiếm 21,24% so với tổng số hộ toàn xã, năm 2009 là 130 hộtăng lên 10 hộ chiếm 22,28%, đến năm 2010 là 146 hộ chiếm 26,26% Tốc độ tăng số
hộ nghèo năm 2009 là 1,09 lần nhưng đến năm 2010 con số này đã lên tới 1,19 và có
xu hướng tăng lên trong những năm tiếp theo nếu không có những giải pháp hợp lý vàkịp thời Để biết được nguyên nhân gây ra nghèo đói này chúng ta phải đi sâu phântích, tìm hiểu một cách tổng quát thực trạng của các hộ rồi từ đó đưa ra nhóm giảipháp, kiến nghị hợp lý Sau đây là kết quả điều tra tình hình hộ nghèo của xã năm
2008 -2010
2.3.Tình hình cơ bản của các hộ điều tra.
2.3.1.Năng lực sản xuất của các hộ điều tra.
2.3.1.1.Tình hình lao động và nhân khẩu.
Con người vừa là đối tượng mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, trình độ,năng lực và nhận thức của con người phản ánh được điều kiện sống của họ trong mộtmôi trường nhất dịnh Sử dụng hợp lý nguồn lao động trong nông thôn là điều kiện
So sánh 2010/2009 Năm
Trang 20quan trọng để tăng năng suất, khối lượng sản phẩm và nâng cao mức sống cho ngườidân, đặc biệt đặc biệt đối với hộ nghèo có ý nghĩa rất thiết thực Tình hình lao động vànhân khẩu của các hộ điều tra được phản ánh cụ thể qua bảng sau:
Bảng 4: Tình hình lao động và nhân khẩu các hộ điều tra
chung
Nhóm hộ Nghèo -
cận nghèo
Trung bình
Bình quân khẩu/hộ Khẩu/Hộ 4,75 5,24 4,4 4
Bình quân khẩu/lao động Khẩu/lao động 2,47 2,73 2,20 1,82
Bình quân lao động/hộ Lao động/Hộ 1,93 1,92 2,00 2,20
(Nguồn số liệu điều tra năm 2011)Trong 40 hộ điều tra năm 2011 ta thấy rằng bình quân lao động/hộ như sau: nhóm
hộ nghèo và cận nghèo là 1,92, hộ trung bình là 2,00, hộ khá là 2,20, bình quân chung
là 1,93 Như vậy các nhóm hộ điều tra có số lao động tương đương nhau, tuy nhiênbình quân khẩu/lao động thì nhóm hộ nghèo - cận nghèo lại cao hơn (2,73) so vớinhóm hộ trung bình (2,2) và hộ khá (1,82) Như vậy có nghĩa là số lao động nhóm hộnghèo - cận nghèo phải gánh nặng trên vai đối với số khẩu ăn theo, con số này cho tathấy rằng nhân khẩu trong nhóm gia đình hộ nghèo - cận nghèo vẫn còn cao nhưng lạithiếu lao động hoặc có lao động nhưng không có việc làm Sỡ dĩ dẫn đến tình trạngnày là do họ ít được tiếp cận với xã hội hiện đại mà lại mang nặng tư tưởng trọng namkhinh nữ, “có con trai để nối dõi tông đường”, xem nhẹ việc kế hoạch hóa gia đìnhdẫn đến đẻ nhiều và đông con như vậy
Trang 21Dương Văn Ánh - K41A - KTNN 21
2.3.1.2.Tình hình tư liệu sản xuất.
Để thấy rõ được tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các hộ ta quan sát bảng sau:
Bảng 5: Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các hộ điều tra
Nhóm hộ Nghèo -
cận nghèo
Trung bình
Khá
Nếu lấy tổng giá trị TLSX chia bình quân cho từng nhóm hộ thì nhóm hộ nghèo cận nghèo 13,312 triệu đồng chỉ bằng 6,07% so với nhóm hộ khá là 219,32 triệu đồng
-và chỉ bằng 17,31% so với nhóm hộ trung bình là 76,877 triệu đồng
Trang 22Như vậy, so với tình hình trang thiết bị tư liệu sản xuất chung của xã thì nhóm hộnghèo và cận nghèo đang còn thiếu TLSX, các ngành nghề sản xuất chưa đa dạng,điều này càng làm cho các hộ ngư dân khó thích nghi hơn với tình hình biến đổi khíhậu ngày một phức tạp, khi mà tình hình đánh bắt hải sản ngày một khó khăn hơn.
2.3.2.Tình hình sản xuất, đời sống của các hộ dân và hộ nghèo.
2.3.2.1.Kết quả sản xuất kinh doanh chung của hộ.
Qua bảng số liệu bên ta thấy giá trị sản xuất bình quân trên hộ của nhóm hộnghèo - cận nghèo là 12,3304 triệu đồng, trong khi giá trị sản xuất bình quân trên hộcủa nhóm hộ trung bình là 25,950 triệu đồng, còn hộ khá là 112,960 triệu đồng Nhưvậy tổng giá trị sản xuất trên hộ của nhóm hộ nghèo - cận nghèo thấp hơn nhóm hộtrung bình 2,1 lần và thấp hơn nhóm hộ khá 9,16 lần, con số này cho thấy sự chênhlệch giữa các nhóm hộ quá lớn Đó là do một phần nhóm hộ nghèo - cận nghèo không
có nhiều vốn để đầu tư vào trang trại chăn nuôi với quy mô lớn, thiếu vốn để đầu tưngư cự đa dạng hóa ngành nghề Do đó, nhóm hộ này tỷ trọng cơ cấu các ngành vẫnđang còn mang tính truyền thống, chưa có sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng mới.Ngành ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn 8,372 triệu đồng ứng với 67,9%, ngành sảnxuất nông nghiệp manh mún với quy mô nhỏ chiếm 31,1% Trong khi đó nhóm hộtrung bình và nhóm hộ khá đã có xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, đó làcoi ngư nghiệp không phải là ngành sản xuất chính, mang lại thu nhập chính cho họ
mà từng bước chuyển đổi ngành nghề, lấy ngư nghiệp làm nền tảng để hỗ trợ vốn chocác ngành nghề khác và hiện tại đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhóm hộ này,giúp họ thoát nghèo và vươn lên làm giàu Cụ thể, nhóm hộ khá tỷ trọng ngành ngưnghiệp chỉ chiếm 13,2%, trong khi đó tỷ trọng ngành chăn nuôi chiếm 34,2% và đặcbiệt là ngành trồng trọt sản xuất theo hướng hàng hóa chiếm tỷ trọng chủ yếu và khálớn 52,6%
Trang 23Dương Văn Ánh - K41A - KTNN 23
Bảng 6: Kết quả sản xuất kinh doanh của các hộ điều tra
số lượng (%) số lượng (%) số lượng (%)
1.Giá trị
sản xuất(GO) 29.235,5 100 12.330,4 100 25.950 100 112.960 100
Ngư nghiệp 10.327,5 35,3 8.372 67,9 13.250 51,06 14.960 13,2
Chăn nuôi 7.790,5 26,6 3.130,4 25,4 0 0 38.600 34,2Trồng trọt 11.117,5 38,1 828 6,7 12.700 48,94 59.400 52,6
3.Giá trị
gia tăng(VA) 18.580,8 100 7.504,8 100 124.352,4 100 68.145,2 100
Ngư nghiệp 5.920 31,9 4.762,6 63,5 7.452,4 41,86 9.341,9 13,7
Chăn nuôi 3.569,5 19,2 2.040,1 27,1 0 0 10.283,3 15,1Trồng trọt 9.091,3 48,9 702,1 9,4 10.350 58,14 48.520 71,2
(Nguồn số liệu điều tra năm 2011)Tuy vậy, giá trị gia tăng trên hộ ngành ngư nghiệp của nhóm hộ khá vẫn cao hơnnhóm hộ nghèo – cận nghèo 1,96 lần Như vậy, mặc dù ngư nghiêp là ngành chủ yếu,chiếm tỷ trọng lớn đối với nhóm hộ nghèo-cận nghèo nhưng giá trị gia tăng trên hộ lạithấp hơn 1,96 lần so với nhóm hộ khá mà đây là ngành nghề mà nhóm hộ khá chiếm tỷtrọng thấp nhất Chứng tỏ trình độ đánh bắt của nhóm hộ nghèo-cận nghèo vẫn đangcòn thấp,chưa mang tính đột phá trong sản xuất, không giám nghĩ giám làm, tư liệusản xuất trang bị chưa hiện đại, chưa đa dạng hóa các ngư cụ đánh bắt, nên sản lượngcác loại hải sản vẫn đang còn thấp
2.3.2.2.Kết quả sản xuất một số ngành nghề chính.
Nói đến sản xuất của nông dân vùng biển thì không thể nói đến vai trò của ngànhsản xuất ngư nghiệp Các loại ngành nghề chính như lưới rê khơi, mành đèn ánh sáng,
Trang 24lưới ba lớp, lưới ba…là những ngành nghề phù hợp với vùng biển bãi ngang và khaithác có hiệu quả Sau đây là số liệu phân tích của các hộ điều tra:
Bảng 7: Hiệu quả một số ngành nghề chính của các hộ điều tra
BQ
hộ
Nhóm hộ Nghèo -
Chi phí trung gian IC 1000đ 4.407,54 3.609,40 5.797,60 5.618,12
Giá trị gia tăng VA 1000đ 5.919,96 4.762,60 7.452,40 9.341,88
2.Ngành chăn nuôi
Chi phí trung gian IC 1000đ 4.221,03 1.090,31 0 2.8316,67
Giá trị gia tăng VA 1000đ 3.569,48 2.040,09 0 10.283,33
3.Ngành trồng trọt
Chi phí trung gian IC 1000đ 2.026,18 125,8 2.350 10.880
Giá trị gia tăng VA 1000đ 9.091,33 48,93 10.350,00 48.520,00
(Nguồn số liệu điều tra năm 2011)Nhìn vào bảng ta thấy giá trị sản xuất bình quân hộ các ngành là gần tươngđương nhau, chênh lệch giữa các nhóm ngành không đáng kể Tuy nhiên, nhìn vào tỷsuất VA/IC và GO/IC các nhóm ngành có sự chênh lệch nhau khá rõ rệt, ngành trồngtrọt có tỷ suất cao nhất lần lượt là 4,49 lần và 5,49 lần, ngành ngư nghiệp có tỷ suấttrên lần lượt là 1,34 lần và 2,34 lần, ngành chăn nuôi có tỷ suất trên thấp nhấp 0,85 lần
và 1,85 lần Như vậy, nhìn chung đầu tư vào trồng trọt theo hướng sản xuất hàng hóamang lại lợi nhuận cao nhất trong ba ngành
Trang 25Dương Văn Ánh - K41A - KTNN 25
2,29), cao nhất vẫn là nhóm hộ khá (1,66 và 2,66), nhóm hộ nghèo - cận nghèo thì tỷsuất này cao hơn nhóm hộ trung bình (1,32 và 2,32) Chứng tỏ đối với ngành ngưnghiệp thì hộ khá sản xuất có hiệu quả nhất, hộ trung bình sản xuất kém hiệu quả nhấtmặc dù có giá trị VA bình quân trên hộ lớn hơn hộ nghèo - cận nghèo Phần lớn là dosản lượng thủy sản đánh bắt được qua từng năm giảm xuống trong khi chi phí mỗi lầnđánh bắt lại tăng thêm
Đối với ngành chăn nuôi mặc dù giá trị VA của nhóm hộ khá cao gấp hơn 5 lầnnhưng tỷ suất VA/IC và GO/IC của nhóm hộ nghèo và cận nghèo lại cao hơn nhóm hộkhá, nguyên nhân là do nhóm hộ khá đầu tư chi phí lớn, gấp gần 26 lần, do đó mộtđồng chi phí bỏ ra thu về giá trị lợi nhuận thấp hơn
Đối với ngành trồng trọt: nhóm hộ nghèo - cận nghèo có tỷ suất GO/IC lớn hơnnhưng giá trị gia tăng VA lại nhỏ hơn hai nhóm hộ còn lại, bằng 0,47% nhóm hộ trungbình và bằng 0,1% so với nhóm hộ khá Chứng tỏ nhóm hộ nghèo và cận nghèo thiếuvốn đầu tư vào sản xuất, chưa mạnh dạn mở rộng quy mô, chủ yếu là sản xuất nhỏ lẻ,mang tính truyền thống
Như vậy qua số liệu phân tích ba ngành nghề chính của xã ở cả ba nhóm hộ thì tathấy rằng nhóm hộ khá có giá trị kinh tế cao hơn, năng suất và hiệu quả kinh tế cũngcao hơn, đặc biệt là đã có những đột phá trong đầu tư sản xuất, chuyển dịch cơ cấuđúng hướng Tuy nhiên, nhìn chung còn có nhiều hạn chế, điều đáng chú ý là nhóm
hộ nghèo -cận nghèo cần chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh hơn nữa, phù hợp với từngvùng, từng địa bàn là những vấn đề cần phải bàn, cần phải thực hiện bằng được, bởicác hộ nghèo còn bị động phụ thuộc vào tự nhiên, trình độ khoa học kỹ thuật cần phảitrang bị cho hộ Điều này gây nên những bất lợi cho hộ nông dân vì vậy cần có nhữnggiải pháp phù hợp để giúp cho nhóm hộ nghèo bắt kịp với các hộ khác, nhằm từngbước đưa đời sống của họ dần tiến lên, góp phần tích cực vào công tác XĐGN
2.3.2.3.Tình hình thu nhập và cơ cấu thu nhập của hộ.
Thu nhập là kết quả của một quá trình sản xuất, kinh doanh của nông hộ, nó phảnánh hiệu quả của một quá trình sản xuất, kinh doanh Thu nhập cao thì đời sống của các
hộ nông dân ngày càng cao và ngược lại, chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người là chỉ
Trang 26tiêu phản ánh khá chính xác, đầy đủ thực trạng đời sống, mức độ sống của hộ nghèo.Kết quả điều tra về thu nhập của các hộ được tổng hợp qua bảng số liệu sau đây:
Bảng 8: Tình hình thu nhập của các hộ điều tra
Điều này chứng tỏ là người ăn theo trong nhóm hộ nghèo nhiều hơn, tạo ra gánhnặng cho nhóm hộ này nên thu nhập bình quân/khẩu thấp hơn nhiều so với nhóm hộ
Trang 27Dương Văn Ánh - K41A - KTNN 27
trong nhóm hộ nghèo được điều tra có 2 hộ là phụ nữ làm chủ hộ Gánh nặng đổ dồnvào vai người phụ nữ, vì thế mà xã hội cần có những ưu đãi thích hợp cho nhữngngười phụ nữ chịu những thiệt thòi này
Thu nhập chủ yếu của nhóm hộ nghèo trong năm 2010 chủ yếu phụ thuộc vàongành nghề khác, cụ thể là đi làm thuê theo mùa vụ hoặc có con đi làm ăn xa gửi vềchiếm 41,92%, trong khi thu nhập của ngành ngư nghiệp chỉ chiếm 36,03% tổng thunhập của nhóm hộ này Điều này chứng tỏ rằng thu nhập của ngành ngư nghiệp giảmxuống, sản lượng đánh bắt của nhóm hộ này giảm đi trong những năm gần đây, dođánh bắt phụ thuộc vào kinh nghiệm cổ truyền “xưa bày nay làm”, chưa thích nghi vớiđiều kiện môi trường mới do tác động của biến đổi khí hậu trong những năm qua, đãlàm cho lao động nhóm hộ này dần chuyển sang ngành nghề khác dẫn đến tỷ trọngngành ngư nghiệp thấp hơn Còn chăn nuôi và trồng trọt theo hướng hàng hóa đòi hỏiphải có vốn lớn và kiến thức để áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất,
kỹ năng kinh doanh cũng không kém phần quan trọng, thu hồi vốn chậm và mang tínhrủi ro cao Nhưng nhóm hộ nghèo không có khả năng đó, họ chỉ biết đáp ứng nhu cầu
ăn uống trước mắt, chưa nghĩ đến vấn đề đầu tư lâu dài nên lao động mang tính thời vụthường xuyên diễn ra, thiếu việc làm trong những lúc thời tiết bất lợi, đặc biệt sẽ ảnhhưởng đến vấn đề thu nhập khi hết tuổi lao động, nếu thoát nghèo sẽ có nguy cơ táinghèo trong tương lai
Ngược lại nhóm hộ khá thu nhập chính của họ là từ ngành sản xuất nông nghiệphàng hóa chiếm 61%, ngành chăn nuôi, đánh bắt thủy sản và ngành nghề khác chiếm
tỷ lệ gần bằng nhau
Nói tóm lại, các hộ nghèo và cận nghèo muốn thoát khỏi cảnh nghèo thì phải đadạng hóa ngành nghề, đặc biệt là ngành ngư nghiệp phải trang bị đầy đủ ngư cụ theomùa, theo từng làn nước khác nhau để mùa nào có nghề ấy, mặt khác phải thay đổi tưduy đánh bắt, kinh doanh trong từng ngành nghề, để đảm bảo thu nhập quanh năm, taọcông ăn việc làm góp phần giảm hộ nghèo của xã nói riêng và của đất nước nói chung