ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường là một bệnh mãn tính không lây nguy hiểm, có đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu hoặc mất hoàn toàn insulin, hoặc do liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin. Rối loạn glucose máu là tình trạng glucose máu cao hơn mức bình thường nhưng chưa đến mức chẩn đoán là đái tháo đường, bao gồm rối loạn glucose máu lúc đói và rối loạn dung nạp glucose [8],[19]. Tỷ lệ đái tháo đường và rối loạn glucose máu đang gia tăng trên toàn thế giới. Đái tháo đường và biến chứng của nó gây tử vong cao, giảm chất lượng cuộc sống và tăng gánh nặng kinh tế cho gia đình, xã hội và bản thân người bệnh [93]. Theo Liên đoàn đái tháo đường thế giới, năm 2013, số người trưởng thành tuổi từ 20-79 bị đái tháo đường trên toàn thế giới là 382 triệu người, năm 2015 là 415 triệu người và con số ước tính năm 2040 là 642 triệu người [99],[100]. Ở Việt Nam, theo kết quả công bố năm 2013 của “Dự án phòng chống đái tháo đường Quốc gia” cho thấy, trong vòng 10 năm (2002-2012), tỷ lệ đái tháo đường ở đối tượng 30-64 tuổi đã tăng 200% từ 2,7% lên 5,4%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose cũng tăng mạnh mẽ từ 7,7% lên 13,7% [3]. Theo các nghiên cứu, người rối loạn glucose máu có nguy cơ bị đái tháo đường type 2 cao gấp 3-10 lần người bình thường. Do đó, phát hiện và điều trị sớm người rối loạn glucose máu có khả năng làm giảm hoặc chậm lại sự tiến triển thành đái tháo đường [62]. Tại mỗi cộng đồng, xác định cụ thể yếu tố nguy cơ, phát hiện sớm và sử dụng biện pháp dự phòng, hạn chế tăng glucose máu sẽ giúp cho các nhà quản lý sức khỏe có được chiến lược phòng ngừa rối loạn glucose máu một cách hiệu quả. Các nghiên cứu dịch tễ học cũng cho thấy những vùng dân cư có chế độ ăn lành mạnh và hoạt động thể lực phù hợp làm giảm nguy cơ rối loạn glucose máu. Hơn nữa, vùng dân cư sử dụng thường xuyên một số thực vật có nhiều polyphenol, flavonoid, vitamin C, vitamin A, vitamin E...cũng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đái tháo đường và rối loạn glucose máu. Cỏ Sữa lá lớn có tên khoa học là Euphorbia hirta L., họ thầu dầu – Euphorbiaceae. Hiện nay, các nhà khoa học Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản cũng đã khảo sát tác dụng của cỏ Sữa lá lớn có chứa nhóm hoạt chất polyphenol, flavonoid và người dân những nước này đã sử dụng cỏ Sữa lá lớn nhằm ổn định glucose máu cho bệnh nhân đái tháo đường. Tại Việt Nam, người dân ở khu vực phía Nam đã sử dụng cỏ Sữa lá lớn để chữa bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên, trong khi nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu khá nhiều về vấn đề này, thì ở nước ta cỏ Sữa lá lớn dường như chỉ chủ yếu dừng ở việc sử dụng theo kiến thức dân gian, tri thức bản địa, chưa có một nghiên cứu khoa học đầy đủ, cụ thể nào về cỏ Sữa lá lớn đối với việc phòng và điều trị bệnh đái tháo đường cũng như kiểm soát rối loạn glucose máu. Biện pháp hướng dẫn chế độ ăn và tập luyện trên bệnh nhân đái tháo đường và rối loạn glucose máu đã được áp dụng có hiệu quả tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc kết hợp hướng dẫn chế độ ăn và tập luyện với sử dụng trà cỏ Sữa nhằm kiểm soát glucose máu chưa được chứng minh một cách khoa học trên bệnh nhân đái tháo đường và rối loạn glucose máu. Quảng Ninh là một tỉnh trọng điểm trong hành lang kinh tế phía Bắc. Những năm gần đây, tỷ lệ đái tháo đường và rối loạn glucose máu cũng tăng tương đương với các khu vực khác trong cả nước, đây là một con số đáng lo ngại, ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội và lao động tại Quảng Ninh, đặc biệt ở thành phố Hạ Long. Việc phát hiện sớm và kiểm soát tình trạng rối loạn glucose máu là rất cần thiết để góp phần giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường. Đồng thời, xác định được các yếu tố nguy cơ là cơ sở khoa học để lựa chọn biện pháp can thiệp cộng đồng phù hợp và đặc thù. Từ những cơ sở trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài với 2 mục tiêu: 1. Xác định một số yếu tố nguy cơ rối loạn glucose máu lúc đói ở người 4069 tuổi tại một số phường của thành phố Hạ Long. 2. Đánh giá hiệu quả sử dụng trà cỏ Sữa kết hợp chế độ ăn và tập luyện trên người 40-69 tuổi có rối loạn glucose máu lúc đói trong thời gian 20 tuần.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
-*** -
TRƯƠNG HOÀNG KIÊN
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TRÀ CỎ SỮA KẾT HỢP CHẾ ĐỘ ĂN
VÀ TẬP LUYỆN TRÊN NGƯỜI 40-69 TUỔI CÓ RỐI LOẠN GLUCOSE MÁU LÚC ĐÓI TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là một bệnh mãn tính không lây nguy hiểm, có đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu hoặc mất hoàn toàn insulin, hoặc do liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin Rối loạn glucose máu là tình trạng glucose máu cao hơn mức bình thường nhưng chưa đến mức chẩn đoán là đái tháo đường, bao gồm rối loạn glucose máu lúc đói và rối loạn dung nạp glucose [8],[19] Tỷ lệ đái tháo đường và rối loạn glucose máu đang gia tăng trên toàn thế giới Đái tháo đường và biến chứng của nó gây tử vong cao, giảm chất lượng cuộc sống và tăng gánh nặng kinh tế cho gia đình, xã hội và bản thân người bệnh [93]
Theo Liên đoàn đái tháo đường thế giới, năm 2013, số người trưởng thành tuổi từ 20-79 bị đái tháo đường trên toàn thế giới là 382 triệu người, năm 2015 là
415 triệu người và con số ước tính năm 2040 là 642 triệu người [99],[100]
Ở Việt Nam, theo kết quả công bố năm 2013 của “Dự án phòng chống đái tháo đường Quốc gia” cho thấy, trong vòng 10 năm (2002-2012), tỷ lệ đái tháo đường ở đối tượng 30-64 tuổi đã tăng 200% từ 2,7% lên 5,4%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose cũng tăng mạnh mẽ từ 7,7% lên 13,7% [3]
Theo các nghiên cứu, người rối loạn glucose máu có nguy cơ bị đái tháo đường type 2 cao gấp 3-10 lần người bình thường Do đó, phát hiện và điều trị sớm
Trang 3người rối loạn glucose máu có khả năng làm giảm hoặc chậm lại sự tiến triển thành đái tháo đường [62] Tại mỗi cộng đồng, xác định cụ thể yếu tố nguy cơ, phát hiện sớm và sử dụng biện pháp dự phòng, hạn chế tăng glucose máu sẽ giúp cho các nhà quản lý sức khỏe có được chiến lược phòng ngừa rối loạn glucose máu một cách hiệu quả
Các nghiên cứu dịch tễ học cũng cho thấy những vùng dân cư có chế độ ăn lành mạnh và hoạt động thể lực phù hợp làm giảm nguy cơ rối loạn glucose máu Hơn nữa, vùng dân cư sử dụng thường xuyên một số thực vật có nhiều polyphenol, flavonoid, vitamin C, vitamin A, vitamin E cũng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đái tháo đường và rối loạn glucose máu
Cỏ Sữa lá lớn có tên khoa học là Euphorbia hirta L., họ thầu dầu –
Euphorbiaceae Hiện nay, các nhà khoa học Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản cũng đã
khảo sát tác dụng của cỏ Sữa lá lớn có chứa nhóm hoạt chất polyphenol, flavonoid
và người dân những nước này đã sử dụng cỏ Sữa lá lớn nhằm ổn định glucose máu cho bệnh nhân đái tháo đường Tại Việt Nam, người dân ở khu vực phía Nam đã sử dụng cỏ Sữa lá lớn để chữa bệnh đái tháo đường Tuy nhiên, trong khi nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu khá nhiều về vấn đề này, thì ở nước ta cỏ Sữa lá lớn dường như chỉ chủ yếu dừng ở việc sử dụng theo kiến thức dân gian, tri thức bản địa, chưa có một nghiên cứu khoa học đầy đủ, cụ thể nào về cỏ Sữa lá lớn đối với việc phòng và điều trị bệnh đái tháo đường cũng như kiểm soát rối loạn glucose máu Biện pháp hướng dẫn chế độ ăn và tập luyện trên bệnh nhân đái tháo đường
và rối loạn glucose máu đã được áp dụng có hiệu quả tại Việt Nam Tuy nhiên, việc kết hợp hướng dẫn chế độ ăn và tập luyện với sử dụng trà cỏ Sữa nhằm kiểm soát glucose máu chưa được chứng minh một cách khoa học trên bệnh nhân đái tháo đường và rối loạn glucose máu
Quảng Ninh là một tỉnh trọng điểm trong hành lang kinh tế phía Bắc Những năm gần đây, tỷ lệ đái tháo đường và rối loạn glucose máu cũng tăng tương đương với các khu vực khác trong cả nước, đây là một con số đáng lo ngại, ảnh hưởng đến
Trang 4kinh tế, xã hội và lao động tại Quảng Ninh, đặc biệt ở thành phố Hạ Long Việc phát hiện sớm và kiểm soát tình trạng rối loạn glucose máu là rất cần thiết để góp phần giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường Đồng thời, xác định được các yếu tố nguy cơ là cơ sở khoa học để lựa chọn biện pháp can thiệp cộng đồng phù hợp và đặc thù
Từ những cơ sở trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài với 2 mục tiêu:
1 Xác định một số yếu tố nguy cơ rối loạn glucose máu lúc đói ở người
40-69 tuổi tại một số phường của thành phố Hạ Long
2 Đánh giá hiệu quả sử dụng trà cỏ Sữa kết hợp chế độ ăn và tập luyện trên người 40-69 tuổi có rối loạn glucose máu lúc đói trong thời gian 20 tuần.
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ RỐI LOẠN GLUCOSE MÁU
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Đái tháo đường
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đái tháo đường (ĐTĐ) là một hội chứng
có đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu hoặc mất hoàn toàn insulin, hoặc do liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của
insulin [8],[19]
1.1.1.2.Rối loạn glucose máu (tiền đái tháo đường)
Rối loạn glucose máu (RLGM) là tình trạng glucose máu cao hơn mức bình thường nhưng chưa đến mức chẩn đoán là bệnh ĐTĐ, bao gồm 2 tình trạng: Rối loạn glucose máu lúc đói (Impaired fasting glucose = IFG) và giảm dung nạp glucose (Impaired glucose tolerance = IGT); với cả 2 tình huống này đều có tăng glucose máu, nhưng chưa đạt mức chẩn đoán ĐTĐ, tuy nhiên ở giai đoạn này đã xuất hiện tình trạng kháng insulin, là bước khởi đầu trong tiến trình xuất hiện ĐTĐ type 2 [8],[19]
IFG và IGT là giai đoạn ban đầu của sự RLGM, trước khi tiến triển thành bệnh ĐTĐ type 2 thực sự Hiện nay, tình trạng RLGM được coi là tiền ĐTĐ [59]
Trang 6Bảng 1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường và các rối loạn glucose máu dựa vào glucose huyết tương theo WHO - IDF 2008, cập nhật 2010[66]
tương (mmol/L)
Đái tháo đường
Glucose máu lúc đói 7 Glucose bất kỳ hoặc sau 2 giờ OGTT 11,1
Glucose máu lúc đói và/hoặc glucose máu sau 2 giờ OGTT
5,6 – < 7,0
và < 7,8 Bình thường Glucose máu lúc đói < 5,6
1.1.3 Phân loại [5],[6]
Theo WHO, bệnh ĐTĐ được phân thành 4 loại sau:
+ ĐTĐ type 1: Là hậu quả của quá trình huỷ hoại các tế bào bêta của đảo tụy Hậu quả là cần phải sử dụng insulin ngoại lai để duy trì chuyển hoá, ngăn ngừa tình trạng nhiễm toan ceton có thể gây hôn mê và tử vong Bệnh ĐTĐ type 1 ước tính chiếm khoảng 5-10% bệnh ĐTĐ
+ ĐTĐ type 2: Là những rối loạn không đồng nhất biểu hiện bằng nhạy cảm với insulin ở gan, cơ vân mô mỡ và sự suy chức năng của tế bào bêta biểu hiện bằng rối loạn tiết insulin Bệnh ĐTĐ type 2 ước tính chiếm khoảng 80-90% bệnh ĐTĐ + ĐTĐ thai kỳ: ĐTĐ thai kỳ là tình trạng không dung nạp carbohydrat được phát hiện lần đầu khi mang thai Các nghiên cứu dịch tễ về ĐTĐ thai kỳ phát hiện nhiều điểm chung giống với ĐTĐ type 2 Đối tượng nguy cơ mắc ĐTĐ thai kỳ thường là phụ nữ trên 25 tuổi, có thừa cân béo phì
Trang 7+ Các thể đặc biệt khác: Khiếm khuyết chức năng tế bào bêta do gen; giảm hoạt tính insulin do khiếm khuyết gen; bệnh lý của tụy ngoại tiết; do các bệnh nội tiết khác; do nhiễm trùng; các hội chứng về gen
1.2 TÌNH HÌNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ RỐI LOẠN GLUCOSE MÁU 1.2.1 Tình hình trên thế giới
Bệnh ĐTĐ đang gia tăng nhanh chóng trên toàn thế giới kéo theo những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và kinh tế đối với toàn xã hội Số người mắc ĐTĐ trên toàn thế giới tăng từ 194 triệu năm 2003 lên 382 triệu năm 2013 và đã tăng vọt lên 415 triệu năm 2015 và được dự báo tăng lên 642 triệu vào năm 2040 Chủ yếu là bệnh ĐTĐ type 2, chiếm khoảng 85-95% tổng số người mắc bệnh ĐTĐ Trong đó,
có 46,5% trường hợp mắc bệnh nhưng không được chẩn đoán Hơn nữa, 3/4 số người mắc ĐTĐ sống ở các nước thu nhập thấp và trung bình [99],[100]
Đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 trên thế giới, là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa, suy thận giai đoạn cuối, cắt cụt chi không do chấn thương và gây giảm tuổi thọ trung bình từ 5 đến 10 năm Trung bình cứ 6 giây lại có một người chết do ĐTĐ và các biến chứng, cứ 30 giây lại có một người ĐTĐ
có biến chứng bàn chân bị cắt cụt chi Chi phí y tế cho điều trị và kiểm soát biến chứng ĐTĐ toàn thế giới trong năm 2013 ước tính 548 tỷ đô la Mỹ, tăng lên 673 tỷ
đô la Mỹ vào năm 2015 (chiếm 12% tổng chi phí y tế toàn thế giới) [99],[100],[182]
Tính đến năm 2013, Tây Thái Bình Dương có 138 triệu người đang sống chung với bệnh ĐTĐ, nhiều hơn so với các khu vực khác Tỷ lệ người lớn mắc ĐTĐ ở Trung Đông và Bắc Phi là cao nhất, chiếm 10,9% [99] Tương tự, ở Nam và Trung Mỹ nơi tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ được dự báo sẽ tăng 60% vào năm 2035 Bệnh ĐTĐ ở Đông Nam Á chiếm gần 1/5 tổng số ca mắc bệnh trên toàn thế giới và cũng đang tăng nhanh chóng Bên cạnh đó, sự giàu có và phát triển ở khu vực Trung Đông và phía Bắc Phi đã dẫn đến tỷ lệ mắc ĐTĐ ở người lớn cao hơn Ước tính ở
Trang 8Bắc Mỹ và Caribean tiêu tốn khoảng 263 tỷ USD, tương đương 1/2 chi phí sức khỏe của thế giới, và 147 tỷ USD ở châu Âu Chi phí ở Đông Nam Á và châu Phi thấp hơn 1% so với tổng chi phí y tế toàn cầu [99]
Hình 1.1 Số người bị đái tháo đường theo khu vực năm 2013 [99]
Năm 2013, ước tính trên toàn thế giới có 316 triệu, tương đương 6,9% người lớn bị IGT Đến năm 2035 số lượng người mắc IGT dự kiến sẽ tăng lên 471 triệu tương đương 8,0% người trưởng thành Đa số người lớn mắc IGT đều ở độ tuổi dưới 50 (153 triệu) và con số này sẽ tăng lên 198 triệu người vào năm 2035 Đáng lưu ý là gần 1/3 trong số họ đã mắc IGT trong độ tuổi 20-39 Nói chung, sự phổ biến của IGT tương tự như của bệnh ĐTĐ, nhưng cao hơn ở khu vực châu Phi, châu
Âu và thấp hơn ở Đông Nam Á [99]
Bên cạnh đó, khu vực Tây Thái Bình Dương cũng được đánh giá có số lượng người mắc IGT lớn nhất do đó tiềm ẩn rất cao nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ type 2
Trang 9với khoảng 110 triệu người mặc dù Bắc Mỹ và khu vực Caribean có 12,1% người trưởng thành bị ảnh hưởng [99]
Một số nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ type 2 ở trẻ em và thanh thiếu niên ở các dân tộc trên toàn thế giới ngày càng tăng, ngay cả khi tỷ lệ béo phì không tăng nữa Đa số những người trẻ tuổi được chẩn đoán mắc bệnh ĐTĐ type 2 là ở các dân tộc người Mỹ gốc Phi, Tây Ban Nha, Châu Á/Thái Bình Dương
và Ấn Độ, Mỹ [148]
Vào năm 2013, có khoảng 5,1 triệu người trong độ tuổi từ 20-79 tuổi tử vong
do tất cả các nguyên nhân bởi bệnh ĐTĐ, chiếm 8,4% của toàn thế giới, tương đương 6 giây sẽ có một người tử vong Trong năm 2013, số ca tử vong do bệnh ĐTĐ đã tăng lên 11% so với ước tính năm 2011 Gần một nửa (48%) các ca tử vong
do bệnh ĐTĐ thường gặp ở những người dưới 60 tuổi Tử vong nhiều xảy ra ở các nước có số người mắc bệnh ĐTĐ lớn là Trung Quốc và Ấn Độ [99]
Năm 1992, Mai Thế Trạch và cs đã điều tra trên 5.416 người từ 15 tuổi trở lên tại TP Hồ Chí Minh, kết quả tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ chung là 2,52% [47]
Tác giả Trần Hữu Dàng và cs (1992-1993) nghiên cứu tại 23 phường/xã của thành phố Huế, trên đối tượng từ 15 tuổi trở lên với kết quả tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là
Trang 100,96%, khu vực nội thành cao hơn ngoại thành và tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng dần theo tuổi Tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ phát hiện bệnh sau tuổi 40 là 93,75% [18]
Nguyễn Huy Cường và cs (1999-2001), đã tiến hành điều tra 3.555 người từ
15 tuổi trở lên với xét nghiệm glucose máu mao mạch và tiếp tục làm OGTT ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ chung ở nội và ngoại thành Hà Nội là 2,42% Trong đó, 64% mới phát hiện, tỷ lệ nội thành là 4,31% và ngoại thành là 0,61% và IGT ở nội thành là 3,27% và ngoại thành là 1,56% [17]
Năm 2001, điều tra dịch tễ học bệnh ĐTĐ theo chuẩn quốc tế mới được tiến hành tại 4 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh Kết quả điều tra này thực sự là tiếng chuông cảnh báo về tình trạng bệnh ĐTĐ ở Việt Nam, đó là tỷ
lệ mắc bệnh ĐTĐ tại 4 thành phố trên ở đối tượng lứa tuổi 30-64 là 4,9%, IGT là 5,9%, tỷ lệ IFG là 2,8%, đáng lo ngại là trên 44% số người mắc bệnh ĐTĐ không được phát hiện và không được hướng dẫn điều trị [5]
Năm 2002, điều tra Quốc gia do Bệnh viện Nội tiết Trung ương tiến hành cho thấy, tỷ lệ mắc ĐTĐ lứa tuổi từ 30-64 trong toàn quốc là 2,7% và các thành phố lớn là 4,4%, tỷ lệ IGT gần 8%, tỷ lệ bệnh trong nhóm người có yếu tố nguy cơ là rất cao 10,3%, có 64,5% số người mắc ĐTĐ trong cộng đồng không được phát hiện [2]
Nguyễn Hải Thủy (2002-2004), nghiên cứu 328 tu sĩ từ 15 tuổi trở lên ăn chay trường thuần túy tại Huế, ghi nhận tỷ lệ mắc ĐTĐ là 9,75%, IGT là 17,68%
Tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng từ 2,1 lần ở độ tuổi từ 40-59 lên 3,84 lần ở độ tuổi trên 60 [46]
Nguyễn Hứa Quang, Nguyễn Hải Thủy (2004-2005) nghiên cứu trên 101 đối tượng từ 40 tuổi trở lên là con của bệnh nhân ĐTĐ type 2 Các đối tượng được tiến hành làm OGTT, ghi nhận tỷ lệ ĐTĐ là 18,81% và IGT là 17,82% Tỷ lệ này cao hơn trong các nghiên cứu trong cộng đồng cùng độ tuổi [38]
Trang 11Năm 2008, theo kết quả điều tra ĐTĐ toàn quốc, tỷ lệ bệnh ĐTĐ type 2 trong lứa tuổi từ 30-69 khoảng 5,0% dân số, nếu chỉ ở khu vực thành phố, khu công nghiệp tỷ lệ bệnh từ 7,0% đến 10% Tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng gần gấp đôi năm 2002 (5,0% so với 2,7%) và tỷ lệ này tăng nhanh ở các thành phố lớn (4,0% năm 2000 so với 7,2% năm 2008) [12]
Theo nghiên cứu của Trần Minh Long và cs năm 2010 tại Nghệ An, tỷ lệ ĐTĐ type 2 ở người 30-69 tuổi là 9,37% và RLGM là 17,97% [31]
Tại tỉnh Hậu Giang, theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Lành năm 2011, người Khmer từ 45 tuổi trở lên có tỷ lệ hiện mắc RLGM là 17,91%, bệnh ĐTĐ type 2 là 11,91%; trong đó tỷ lệ cao 78,6% số người bệnh mới phát hiện lần đầu [29]
Năm 2012, tác giả Trần Quang Bình và cs nghiên cứu trên 2.710 đối tượng tuổi từ 40-64 tại tỉnh Hà Nam cho thấy, tỉ lệ mắc ĐTĐ là 3,7%, IFG là 8,7%, IGT là 4,3% và số đối tượng mới được chẩn đoán mắc ĐTĐ chiếm 73% trong tổng số bệnh nhân ĐTĐ [171]
Nghiên cứu của Cao Mỹ Phượng năm 2012 cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ ở độ tuổi từ 45 trở lên là 9,5% và tỷ lệ RLGM là 19,3% Dự báo tỷ lệ ĐTĐ trong 10 năm tới ở người từ 45 tuổi trở lên cho quần thể nghiên cứu là 13,9% [37]
Năm 2012, Phan Hướng Dương nghiên cứu trên đối tượng 30-59 tuổi có BMI > 23kg/m2 tại Hải Phòng cho thấy, tỷ lệ ĐTĐ là 5,2%, RLGM là 26,8% [21]
Theo nghiên cứu năm 2013 của Phạm Ngọc Minh trên đối tượng 30-69 tuổi,
tỷ lệ mắc ĐTĐ và RLGM lần lượt là 6% và 13,5%, tỷ lệ mắc ở nam giới cao hơn so với nữ giới, ước tính tình trạng già hóa dân số sẽ làm tăng tỷ lệ mắc ĐTĐ lên 7% và RLGM lên 15,7% vào năm 2035 Tăng độ tuổi làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐ [141]
Năm 2013, trong kết quả công bố của “Dự án phòng chống ĐTĐ Quốc gia”
do Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện năm 2012 trên 11.000 người tuổi 30-69 tại 6 vùng gồm: Miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đã cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng
Trang 12gấp đôi so với năm 2002 (5,42% so với 2,7%), tỷ lệ mắc cao nhất ở Tây Nam Bộ là 7,18%, thấp nhất là Tây Nguyên 3,82% Tỷ lệ IGT cũng gia tăng mạnh mẽ từ 7,7% năm 2002 lên 13,68% năm 2012 Vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ mắc IGT cao nhất (17,53%), vùng có tỷ lệ thấp nhất là miền núi phía Bắc và Tây Nguyên (10,70%)
Tỷ lệ người mắc ĐTĐ trong cộng đồng không được phát hiện chiếm 63,6% trong toàn quốc (đồng bằng sông Hồng: 57,3%, Tây nam Bộ: 72,1%) Cũng theo nghiên cứu này, những người trên 45 tuổi có nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 cao gấp 4 lần những người dưới 45 tuổi, người huyết áp cao cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người khác hơn 3 lần, người có vòng eo lớn nguy cơ mắc cao hơn 2,6 lần Trong khi
đó, 75,5% số người được hỏi đều có kiến thức rất thấp về ĐTĐ [3]
Tại Việt Nam, cho đến nay chưa có các đánh giá hoặc ước tính tổng thể gánh nặng kinh tế của ĐTĐ Tuy nhiên, các nghiên cứu ở các góc độ khác nhau đã phần nào phản ánh được mức độ tổn thất về kinh tế - xã hội do ĐTĐ gây ra Theo IDF năm 2013, ước tính chi phí y tế cho 1 bệnh nhân ĐTĐ ở Việt Nam là khoảng 127,8
đô la Mỹ và Việt Nam có khoảng 3,3 triệu người mắc bệnh ĐTĐ [99], do đó nếu chăm sóc điều trị cho toàn bộ số bệnh nhân này thì mỗi năm sẽ tiêu tốn khoảng 419 triệu đô la Mỹ, tương đương với khoảng 8.400 tỷ đồng [45]
Như vậy, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở Việt Nam 10 năm qua đã tăng gấp đôi Đây là con số đáng báo động, vì trên thế giới, phải trải qua 15 năm tỷ lệ mắc ĐTĐ mới tăng gấp đôi Tỷ lệ mắc ĐTĐ và RLGM giữa các vùng rất khác nhau và thay đổi nhiều theo từng nghiên cứu, có thể do đối tượng khác nhau, thời điểm khác nhau, tiêu chuẩn chẩn đoán thay đổi cùng với tình trạng đô thị hoá nhanh chóng, kinh tế -
xã hội phát triển, lối sống tĩnh tại, hưởng thụ, con người tiếp xúc với nhiều yếu tố nguy cơ trong cộng đồng làm gia tăng tỷ lệ mắc ĐTĐ và RLGM trong những năm gần đây [3]
Từ những tình hình trên, năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đánh giá bệnh ĐTĐ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng và sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước do số người mắc bệnh nhiều, bệnh gây tàn tật và tử vong cao
Trang 13Phòng chống bệnh ĐTĐ hiệu quả sẽ hạn chế số người mắc bệnh này trong cộng đồng, sớm ngăn chặn tàn tật, tử vong và góp phần giảm quá tải tại các bệnh viện Thủ tướng Chính phủ đã Phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các bệnh không lây nhiễm khác giai đoạn 2015-2025 với mục tiêu hạn chế sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm nói chung và bệnh ĐTĐ nói riêng, cụ thể: Khống chế
tỉ lệ ĐTĐ dưới 8%, RLGM dưới 16% ở người 30-69 tuổi; 50% số người bị bệnh ĐTĐ được phát hiện và 50% số người phát hiện bệnh được quản lý, điều trị theo hướng dẫn chuyên môn Để đạt được mục tiêu trên, Chiến lược đã đưa ra nhiều giải pháp tổng thể, tích cực, lâu dài, trong đó có các giải pháp quyết định hiệu quả trong phòng, chống các bệnh không lây nhiễm như kiểm soát các nguy cơ gây bệnh: dinh dưỡng không hợp lý, thực phẩm không an toàn, lạm dụng đồ uống có cồn, thiếu hoạt động thể lực và chủ động giám sát, phát hiện bệnh sớm, điều trị, quản lý liên tục và lâu dài tại cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu [45]
1.3 YẾU TỐ NGUY CƠ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 VÀ RỐI LOẠN GLUCOSE MÁU
Rối loạn glucose máu là giai đoạn trung gian của sự tiến triển thành bệnh ĐTĐ type 2 Vì vậy, các yếu tố nguy cơ (YTNC) của bệnh ĐTĐ type 2 cũng là những yếu tố làm tăng nguy cơ RLGM Trong số các YTNC, có những YTNC không thể thay đổi được và có các YTNC có thể dự phòng thay đổi được, điều này đặc biệt quan trọng để có những biện pháp giúp tác động vào những YTNC có thể thay đổi được, từ đó có thể ngăn chặn hoặc làm chậm diễn tiến bệnh ĐTĐ type 2
1.3.1 Yếu tố nguy cơ không thay đổi được
1.3.1.1 Tuổi
Khi cơ thể già đi, chức năng nội tiết suy giảm và khả năng tiết insulincủa tụy cũng bị giảm, đồng thời sự nhạy cảm của tế bào với các kích thích của insulin cũng giảm thì nồng độ glucose máu có xu hướng tăng Khi tế bào tụy không còn khả năng
Trang 14tiết insulin đủ với nhu cầu cần thiết của cơ thể, glucose máu sẽ tăng và bệnh ĐTĐ thực sự xuất hiện [48]
Nguy cơ ĐTĐ tăng theo dần theo quá trình lão hóa Ở các nước phát triển ĐTĐ thường tập trung ở lứa tuổi trên 45 Thay đổi cấu trúc cơ thể với tình trạng tích
mỡ bụng là một trong yếu tố chính dẫn đến tăng nguy cơ ĐTĐ ở dân số trung niên
và già Ngoài ra, cùng với đó là quá trình lão hóa khối cơ quan quan trọng liên quan trực tiếp đến chuyển hóa glucose, dẫn đến yếu cơ và giảm khả năng vận động thể lực Những thay đổi này làm giảm năng lượng tiêu hao dễ dẫn đến tích lũy mỡ bụng gây tình trạng đề kháng insulin [109]
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng nguy cơ ĐTĐ tăng dần theo độ tuổi Tại Nam Á, tỷ lệ RLGM có xu hướng trẻ hóa, từ 25-34 tuổi, và tăng cao từ 35-44 tuổi Trong khi đó, tại các nước ở phía nam khu vực Mỹ La tinh, Peru và Nam Phi, tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng cao trong độ tuổi 45-54 [161]
Tác giả Samima Akter đã khẳng định rằng những người trong độ tuổi 55-59
có nguy cơ mắc ĐTĐ tăng gấp đôi so với những người trong độ tuổi từ 35-39 [157]
Tại Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ ĐTĐ tăng lên đáng kể theo lứa tuổi Tuổi từ 45 trở lên là một YTNC quan trọng của bệnh Chính vì vậy theo khuyến cáo của IDF, tại Việt Nam, Dự án Phòng chống ĐTĐ đã tiến hành sàng lọc phát hiện sớm bệnh ĐTĐ, RLGM ở những người ≥ 45 tuổi và có thêm 1 YTNC khác như: thừa cân, béo phì, tiền sử RLGM, tiền sử gia đình bị ĐTĐ…[2]
Năm 2002, nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy tỷ lệ RLGM tăng theo nhóm tuổi Cụ thể, tỷ lệ IGT ở nhóm tuổi 30-34, 35-39, 40-44, 45-
49, 50-54, 55-59 và 60-64 tương ứng là 3,9%, 6,1%; 7,9%; 7,5%; 10,1%; 11,4% và 12,5% (p<0,001) [2] Sau 10 năm (năm 2012), kết quả nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương vẫn cho thấy tỷ lệ RLGM tăng theo nhóm tuổi Cụ thể, tỷ lệ IGT ở nhóm tuổi 30-39, 40-49, 50-59 và 60-69 tương ứng là 8,6%; 11,7%; 13,0%
và 18,1% (p<0,01) [3]
Trang 15Tuy nhiên, trong vài thập kỷ gần đây, tuổi mắc bệnh đang giảm xuống, gặp ở người trẻ tuổi, thậm chí cả thiếu niên, đặc biệt ở những nước đang phát triển do có
sự mất cân bằng lớn giữa mức năng lượng hấp thụ vào cơ thể và tiêu thụ năng lượng [151] Đây cũng là đặc điểm tình hình mắc bệnh hiện nay tại Việt Nam
Mỹ gốc châu Phi và người Mỹ gốc châu Âu, nhưng giữa người da đỏ và người Mỹ
gốc châu Âu thì không có sự khác biệt [92]
Nghiên cứu tại Tây Âu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở người da vàng cao hơn người da trắng từ 2-4 lần, tuổi mắc bệnh ở người da vàng trẻ hơn, thường trên
30 tuổi, ở người da trắng thường trên 50 tuổi [27]
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2012 cho thấy, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở nhóm dân tộc Kinh cao hơn so với nhóm dân tộc khác (6,0%
so với 4,0%) có ý nghĩa thống kê với p<0,01; tỷ lệ IGT ở dân tộc Kinh là 13,1%, cao hơn các dân tộc khác là 11,2%, có ý nghĩa thống kê với p<0,05 [3]
1.3.1.3 Tiền sử gia đình
Theo WHO, ĐTĐ type 2 thường có liên quan đến tiền sử gia đình mắc ĐTĐ Khoảng 10% bệnh nhân mắc ĐTĐ type 2 có bà con thân thuộc cũng bị mắc bệnh ĐTĐ type 2 Những đối tượng có mối liên quan huyết thống gần gũi với người mắc bệnh ĐTĐ type 2 có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 cao gấp 4-6 lần người trong gia đình không có người mắc bệnh ĐTĐ type 2, đặc biệt là những người mà cả bên nội
và ngoại đều có người mắc bệnh ĐTĐ type 2, con cái có cả bố mẹ đều mắc bệnh
Trang 16ĐTĐ type 2 thì 40% có nguy cơ bị mắc bệnh ĐTĐ type 2 Nghiên cứu trên những gia đình bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ type 2 thấy: có khoảng 6% anh chị em ruột cùng mắc bệnh ĐTĐ type 2 và khi bố mẹ bị bệnh ĐTĐ type 2 thì 5% con cái của họ sẽ mắc bệnh ĐTĐ type 2 Hai trẻ sinh đôi cùng trứng, một người mắc bệnh ĐTĐ type
2, người kia sẽ bị xếp vào nhóm đe dọa thực sự sẽ mắc bệnh ĐTĐ type 2 [12],[123]
Theo nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2002, nhóm có tiền
sử gia đình mắc bệnh ĐTĐ thì có nguy cơ bị IGT gấp 1,65 lần nhóm không có tiền
sử gia đình có người bị bệnh ĐTĐ [2]; và năm 2012, nhóm có tiền sử gia đình có người mắc bệnh ĐTĐ có nguy cơ mắc ĐTĐ cao gấp 2,09 lần so với nhóm không có tiền sử gia đình có người mắc bệnh ĐTĐ với p <0,01 [3]
Nghiên cứu của Tạ Văn Bình, Hoàng Kim Ước, Nguyễn Minh Hùng và cs cho thấy tỷ lệ RLGM ở nhóm có tiền sử gia đình bị ĐTĐ là 18,3% cao hơn nhóm không có tiền sử gia đình bị ĐTĐ là 13,0% (p<0,001) [9]
1.3.1.5 Đái tháo đường thai kỳ
Đái tháo đường thai kỳ là người phụ nữ mắc bệnh ĐTĐ khi đang mang thai Thể ĐTĐ này liên quan đến vai trò của kháng thể kháng insulin và sự biến đổi các hormone hoặc các rối loạn chuyển hóa khi có thai, là nguyên nhân của các biến chứng lúc đẻ, tăng nguy cơ phát triển thành bệnh ĐTĐ sau này Đối với người phụ
Trang 17nữ ĐTĐ thai kỳ, IGT trở về bình thường sau khi sinh, tuy nhiên, những người phụ
nữ này vẫn có nguy cơ cao bị ĐTĐ type 2 trong cuộc sống sau này [8],[67]
Theo nghiên cứu, 50% phụ nữ có tiền sử ĐTĐ thai kỳ có nguy cơ trở thành ĐTĐ type 2 trong khoảng thời gian từ 5-10 năm, 80% trong khoảng thời gian còn lại của cuộc đời Vì vậy, ĐTĐ thai kỳ là YTNC cao của bệnh ĐTĐ type 2 [7]
Theo Hội Đái tháo đường Mỹ (ADA) năm 2007, trên thế giới có 3%-14% phụ nữ có thai bị ảnh hưởng bởi bệnh ĐTĐ, trong đó số ĐTĐ thai kỳ là 90%, còn 10% là phụ nữ bị bệnh ĐTĐ mang thai Tại Mỹ, hàng năm có khoảng 170.000 phụ
nữ mắc ĐTĐ thai kỳ Khoảng 30-50% phụ nữ mắc ĐTĐ thai kỳ sẽ bị lại khi mang thai sau này Khoảng 20%-50% phụ nữ ĐTĐ thai kỳ sẽ tiến triển thành ĐTĐ type 2 trong vòng 5-10 năm [145]
1.3.1.6 Tiền sử sinh con cân nặng trên 4 kg
Trẻ mới sinh nặng trên 4 kg là một YTNC của bệnh ĐTĐ type 2 cho cả mẹ
và con Các bà mẹ này có nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 cao hơn so với phụ nữ bình thường Những trẻ này thường bị béo phì từ nhỏ, bị IGT và ĐTĐ type 2 khi lớn tuổi [11]
Kết quả nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy, khi trọng lượng sơ sinh cao có liên quan với nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 hoặc RLGM ở trẻ em gái [191] Nghiên cứu của tác giả Tamarra M cùng cs đã chứng minh rằng, trọng lượng sơ sinh của trẻ có liên quan tới nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 [167]
Theo tác giả Beavers KM cùng cs, sự thay đổi trọng lượng của trẻ trong thời gian từ 0-24 tháng và từ 6-24 tháng tuổi có liên quan tới nguy cơ mắc ĐTĐ [74]
1.3.2 Yếu tố nguy cơ có thể dự phòng thay đổi được
1.3.2.1 Môi trường và lối sống
Quá trình đô thị hoá có vai trò quan trọng trong sự gia tăng tỷ lệ ĐTĐ type 2
Đô thị hoá đã chuyển từ lối sống, thói quen ăn uống truyền thống sang kiểu sống,
Trang 18thói quen ăn uống hiện đại Khi ăn uống không hợp lý sẽ dẫn đến sự mất cân bằng nghiêng và dư thừa năng lượng kết hợp với lối sống tĩnh tại, ít hoạt động thúc đẩy nhanh quá trình tiến triển của bệnh, làm tăng nhanh tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2 [11]
Môi trường và lối sống hay sự khác nhau về khu vực cư trú là một trong các yếu tố ảnh hưởng tới nguy cơ mắc ĐTĐ và RLGM Nghiên cứu của Shamima Aktercho thấy, tỷ lệ mắc ĐTĐ theo tuổi ở cư dân vùng đô thị cao gần gấp đôi so với
cư dân vùng nông thôn (15,2% so với 8,3%) [157] Theo nghiên cứu điều tra 1.769 người từ 25 tuổi trở lên ở nông thôn và 1.806 người ở thành thị phía bắc Ấn Độ, tỷ
lệ mắc ĐTĐ type 2 khác nhau rất ý nghĩa: nông thôn 2,8%, thành thị 6,4% [84]
Nhóm nghiên cứu của Jeon JY đã đưa ra một loạt các dẫn chứng về ảnh hưởng của hóa chất trong môi trường đối với sức khỏe của con người, đặc biệt là đối với các bệnh mạn tính không lây như ĐTĐ type 2 Tác giả dẫn chứng một số nghiên cứu đã chứng tỏ tiếp xúc với arsen gây tích lũy cao dẫn đến béo phì hơn, arsen gây rối loạn tế bào và kháng insulin, đây là 2 thành phần chính của cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ type 2 Cadimi và thủy ngân gây tăng glucose máu, phá vỡ tụy
và vô hiệu hóa insulin [102]
Thời gian ngủ trưa ban ngày có liên quan tới ĐTĐ type 2, những người ngủ trưa nhiều hơn 30 phút/ngày có tỷ lệ mắc ĐTĐ chiếm tới 74% so với người không ngủ trưa, bao gồm cả thời gian ngủ ban đêm [156] Một giấc ngủ dài 7-8 giờ mỗi ngày có khả năng làm giảm tới mức thấp nhất nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 Một giấc ngủ ngắn hơn hay dài hơn đều làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 [158]
Tác giả Olfa Saidi đã nhận định rằng nếu tỷ lệ hút thuốc lá giảm xuống 20%
so với 10 năm kể từ năm 2009 thì tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2 có thể giảm 3,3% vào năm
2027 (2,5% ở nam giới và 4,1% ở nữ giới) [138] Ding D và cs đã chứng minh rằng thói quen hút thuốc lá, giờ ngủ dài, và căng thẳng tâm lý liên quan đến tỷ lệ phát
triển ĐTĐ type 2 ở người trung niên và cao tuổi ở Úc [85]
Trang 19Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2 vùng đô thị cao hơn ở nông thôn Điều tra Quốc gia năm 2002, tỷ lệ mắc ĐTĐ lứa tuổi 30-64 trong toàn quốc là 2,7% và các thành phố lớn là 4,4% [2]; năm 2008, tỷ lệ ĐTĐ type 2 lứa tuổi 30-69 chiếm 5,0%, nếu chỉ ở khu vực thành phố, khu công nghiệp thì tỷ lệ bệnh từ 7,0% -10% [12]
1.3.2.2 Tiền sử rối loạn glucose máu
Người RLGM có nguy cơ bị ĐTĐ type 2 cao gấp 3-10 lần người bình thường Sự phát hiện và điều trị sớm người RLGM có khả năng làm giảm hoặc làm chậm lại sự tiến triển thành ĐTĐ, các biến chứng mạch máu nhỏ và tim mạch [62] Trong trường hợp RLGM không được phát hiện và can thiệp, bệnh thường diễn biến đến ĐTĐ thật sự Tình trạng bắt đầu bằng tăng glucose máu sẽ diễn biến đồng thời với tổn thương chức năng tế bào bêta và tăng đề kháng insulin ở mô ngoại biên Khi glucose máu được kiểm soát sớm, chức năng tế bào bêta sẽ được bảo vệ [20]
Sự tiến triển thành ĐTĐ type 2 ở người mắc IGT từ 6-10% mỗi năm, người
bị cả IGT và IFG thì tần số mắc bệnh ĐTĐ tích lũy trong 6 năm đến 65% (so với mức 5% ở người có mức glucose máu bình thường tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu) [137] Nghiên cứu The Insulin Resistance Atherosclerosis Study-Mỹ cho thấy, những bệnh nhân được chẩn đoán IFG, IGT hoặc hội chứng chuyển hóa thì tỷ lệ tiến triển thành ĐTĐ là 8-10%/năm, nhưng nếu người bệnh có cả 3 chẩn đoán trên thì tỷ lệ tiến triển thành ĐTĐ vượt xa 10%/năm [67] Nghiên cứu tại Thượng Hải (Trung Quốc) trong thời gian 3 năm, cho thấy những người bị IGT và IFG hoặc bị
cả hai thì có nguy cơ bị ĐTĐ cao gấp 11,7 lần người có dung nạp glucose bình thường [104]
Những người bị IGT và IFG nếu biết sớm chỉ cần can thiệp bằng chế độ ăn
và luyện tập sẽ giảm hẳn nguy cơ chuyển thành bệnh ĐTĐ type 2 thực sự [11]
1.3.2.3 Tăng huyết áp
Trang 20Tăng huyết áp (HA) được coi là nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ type 2 Đa số bệnh nhân ĐTĐ type 2 có tăng HA và tỷ lệ ĐTĐ type 2 ở người tăng HA cũng cao hơn rất nhiều so với người bình thường cùng lứa tuổi Tỷ lệ tăng HA ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 đều tăng theo tuổi đời, tuổi bệnh, BMI, nồng độ glucose máu…[11]
Tăng HA được cho là có liên quan tới tỷ lệ mắc IFG và IGT ở người trên 40 tuổi tại một số quốc gia trên thế giới [86],[118] Tỷ lệ người trưởng thành RLGM đang gia tăng ở Anh, tăng HA là một trong các yếu tố làm tăng nguy cơ RLGM ở nước này [71] Mỗi lần tăng 5 mmHg HA tâm thu có thể làm tăng nguy cơ phát triển ĐTĐ type 2 và RLGM lần lượt là 1,25 lần và 1,2 lần Trong khi đó, mỗi lần tăng 5 mmHg HA tâm trương làm tăng 1,49 lần nguy cơ phát triển ĐTĐ type 2 và 1,42 lần nguy cơ phát triển RLGM [190]
Tại Việt Nam, nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy, nhóm tăng HA có nguy cơ bị IGT gấp 2,46 lần so với nhóm không có tăng
HA, nhóm tăng HA có nguy cơ mắc ĐTĐ cao hơn 3,45 lần so với nhóm không có tiền sử tăng HA Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,01 [3]
1.3.2.4 Thừa cân, béo phì
Tình trạng tăng cân nặng và béo phì có liên quan tới nguy cơ mắc ĐTĐ và RLGM [2] Béo phì là sự thái quá mô mỡ của cơ thể dẫn đến ảnh hưởng bất lợi đối với sức khỏe Béo phì toàn thân, béo trung tâm là một trong những nguyên nhân chính gây tình trạng kháng insulin cùng với rối loạn chuyển hóa khác như tăng HA, rối loạn mỡ máu làm tăng khả năng tiến triển thành ĐTĐ nếu không được kiểm soát tốt Ảnh hưởng của béo phì đến ĐTĐ có thể điều chỉnh bằng thay đổi lối sống [68],[119]
Có rất nhiều nghiên cứu chứng minh mối liên quan giữa bệnh béo phì và bệnh ĐTĐ type 2 Từ năm 1985, bệnh béo phì đã được WHO ghi nhận là một YTNC cao của bệnh ĐTĐ type 2, trong đó bệnh béo phì dạng nam có vai trò đặc biệt quan trọng
Trang 21Ở Trung Quốc, nghiên cứu của Li S và cs (2015) đã xác định, tỷ lệ mắc ĐTĐ
và IFG ở người bình thường lần lượt là 3,4%, 8,1%, ở người thừa cân là 6,7%, 11,9% và ở người béo phì là 13,0%, 13,0% [124] Các đối tượng có chỉ số BMI cao đều có nguy cơ phát triển IFG và ĐTĐ Đặc biệt, các đối tượng mắc bệnh béo phì ở bụng thường dễ mắc ĐTĐ hơn so với các đối tượng khác [187]
Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển kinh tế, trong những năm qua tỷ lệ thừa cân béo phì ngày càng tăng Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng đã cho thấy mối liên quan giữa ĐTĐ, RLGM và thừa cân, béo phì
Nghiên cứu của Hoàng Kim Ước và cs cho thấy tỷ lệ RLGM ở người gầy là 6,1%, người bình thường là 9,1%, người béo phì độ 1 là 14,1% và người béo phì độ
2 là 20,7% Tỷ lệ RLGM chung ở nhóm có VE cao là 13,2%, nhóm VE bình thường
là 8,0% với p<0,01 Tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm có tỷ lệ VE/VM bình thường là 3,7%,
tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm có tỷ lệ VE/VM cao là 12,0% [52]
Nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy,người có BMI ≥ 23 có nguy cơ mắc ĐTĐ cao gấp 2,01 lần so với người có BMI < 23 (p<0,01) [3]
1.3.2.5 Suy dinh dưỡng lúc nhỏ
Suy dinh dưỡng trong bào thai và thời thơ ấu nhưng gặp cuộc sống có mức dinh dưỡng dư thừa sau này thì có nguy cơ bị ĐTĐ cao trong tương lai [186]
Hiện nay đã có những bằng chứng về mối liên quan giữa môi trường bên trong tử cung, suy dinh dưỡng bào thai và nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ trong cuộc sống sau này [91] Đặc trưng này có thể nhận thấy trong các nghiên cứu về ĐTĐ tại Ấn
Độ Ấn Độ là nước có số dân bị ĐTĐ đứng thứ 2 thế giới [99] Người phụ nữ nông thôn Ấn Độ có thân hình nhỏ và được cho là thiếu dinh dưỡng mãn tính do BMI thấp Thiếu sắt và thiếu vi chất dinh dưỡng thường gặp trong nhóm này Trẻ em Ấn
Độ là một trong những nước khi sinh ra nhỏ nhất trên thế giới: 1/3 trẻ sơ sinh có cân nặng thấp, dưới 2,5 kg Như vậy có thể thấy, sự suy dinh dưỡng bà mẹ và thai nhi
Trang 22đã góp phần vào việc gia tăng dịch bệnh ĐTĐ tại Châu Á Tại Ấn Độ, ĐTĐ được chẩn đoán sớm hơn ít nhất 10 năm và các đối tượng gầy hơn đáng kể so với những người bị bệnh như họ tại nước Anh [147]
1.3.2.6 Chế độ ăn và hoạt động thể lực
Nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học cho thấy, những người có chế độ ăn
và hoạt động thể lực không hợp lý có nguy cơ cao mắc RLGM và ĐTĐ type 2
Kết quả nghiên cứu của tác giả Pan X cho thấy, chế độ ăn nhiều carbohydrate và ít vận động làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 ở cả 2 giới Ở nam giới hút thuốc lá nhiều và uống nhiều rượu được chẩn đoán có tỷ lệ mắc ĐTĐ cao hơn [139]
Kết quả nghiên cứu tại Nhật Bản đã chứng minh rằng bỏ qua bữa ăn sáng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 [177]
Kết quả nghiên cứu của Wang D cho thấy, việc can thiệp bởi hoạt động thể lực giúp kiểm soát tốt lượng calo và có chế độ tập luyện tốt hơn nhằm nâng cao chất
lượng cuộc sống và cải thiện chất lượng sức khỏe trong RLGM [180]
Trong nghiên cứu của Russo LM năm 2015, tác giả đã chứng minh rằng hoạt động thể chất trong thời kỳ mang thai có tác dụng bảo vệ cơ thể bà mẹ, có thể chống
lại sự phát triển của bệnh ĐTĐ thai kỳ [153]
Tại Việt Nam, quá trình phát triển kinh tế nhanh chóng trong những năm gần đây (GDP bình quân đầu người tăng gấp 5 lần) đã làm tăng sự tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng, cùng với lối sống ít vận động là YTNC làm gia tăng béo phì, RLGM và ĐTĐ Nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2002, cho thấy nhóm đối tượng ít vận động thể lực có nguy cơ mắc IGT gấp 1,4 lần so với nhóm hoạt động thể lực nhiều (p<0,001) [2] Nghiên cứu của Lê Minh Sứ cho thấy
tỷ lệ RLGM ở nhóm hoạt động thể lực nhẹ nhàng, tĩnh tại là 6,08%, nhóm hoạt động thể lực vừa và nặng là 4,38% (p<0,05) [41]
Trang 23Nghiên cứu của Tạ Văn Bình, Nguyễn Thị Ngọc Huyền và cs cho thấy tỷ lệ ĐTĐ, IGT liên quan đến tính chất nghề nghiệp, nhóm lao động trí óc, lao động nhẹ
có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nhóm có tính chất lao động nặng và vừa [25] Nghiên cứu của Lê Phong cho thấy nhóm không thường xuyên đi bộ có nguy cơ RLGM cao gấp 7,5 lần nhóm thường xuyên đi bộ [36]
1.3.2.7 Rối loạn lipid máu
Rối loạn lipid máu kinh điển trong Hội chứng chuyển hóa là tăng triglycerid, giảm HDL-C và tăng yếu tố gây xơ vữa mạch LDL-C [87] HDL-C giảm có thể là
do tăng quá trình đào thải, hậu quả của tăng cao triglycerid và cũng có thể là hậu quả của kháng insulin [69]
Nghiên cứu tại Anh năm 2011 cho thấy, tỷ lệ RLGM ở người có nồng độ cholesterol cao lớn hơn người có cholesterol bình thường (57% so với 40,8%) [71]
Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Tạ Văn Bình và cs tại Cao Bằng cho thấy tỷ lệ IGT ở nhóm đã được chẩn đoán rối loạn chuyển hóa lipid là 38,7%, nhóm chưa chẩn đoán rối loạn chuyển hóa lipid là 30% [10]
1.3.2.8 Stress
Stress có liên quan đến đề kháng insulin, tuy nhiên sự đề kháng trong trường hợp này có khả năng hồi phục Các nhà nghiên cứu cho rằng glucocorticoid gia tăng lúc bị stress có thể đóng góp vào sự đề kháng insulin Stress tác động đến sự đề kháng insulin trực tiếp hay gián tiếp thông qua tương tác với leptin dẫn đến tăng nồng độ leptin máu và ức chế hoạt động của leptin, thúc đẩy tình trạng đề kháng leptin, góp phần vào sự đề kháng insulin [46]
Một nghiên cứu nói về trầm cảm và nguy cơ đối với ĐTĐ cho thấy, so với những người bình thường, những người bị trầm cảm có khả năng làm tăng 41% nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ và 32% nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ type 2 Mặc dù
cơ chế cơ bản về mối liên quan này vẫn chưa được làm rõ [189]
Trang 241.4 CÁC GIẢI PHÁP CAN THIỆP HỖ TRỢ PHÒNG, ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 VÀ RỐI LOẠN GLUCOSE MÁU
Các biện pháp chính trong phòng và điều trị ĐTĐ type 2 và RLGM là thay đổi lối sống, thực hiện chế độ ăn hợp lý và tăng cường vận động, bên cạnh đó là sử dụng các sản phẩm, thuốc có tác dụng kiểm soát glucose máu
Mục tiêu chính của mọi giải pháp là phải kiểm soát, duy trì nồng độ glucose máu ở mức bình thường, trong đó có việc hạn chế tăng glucose máu sau ăn và kiểm soát chỉ số glucose máu về lâu dài Việc kiểm soát tốt glucose máu ở bệnh nhân ĐTĐ sẽ góp phần giảm các rối loạn chuyển hóa glucose, rối loạn chuyển hóa lipid máu, đồng thời giảm các biến chứng do tăng glucose máu gây ra
Theo ADA, CDA, ACE và IDF, mục tiêu kiểm soát glucose máu trong điều trị ĐTĐ như sau [63],[65],[76]:
Bảng 1.2 Mục tiêu kiểm soát glucose máu trong điều trị ĐTĐ
Tổ chức
HbA1c (%)
Glucose máu lúc đói mmol/L (mg/dl)
Glucose máu sau ăn mmol/L (mg/dl)
1.4.1 Thuốc trong phòng và điều trị ĐTĐ type 2
Cơ chế sinh lý bệnh chủ yếu của bệnh ĐTĐ type 2 là kháng insulin ở mô ngoại biên và giảm sản xuất insulin của tế bào bêta, tiểu đảo Langerhang của tuyến
Trang 25tụy nội tiết Chính vì vậy, các nhóm thuốc chính điều trị bệnh ĐTĐ đều dựa trên những cơ chế bệnh sinh chính của bệnh là kính thích tụy tiết insulin, giảm kháng insulin (hay tăng nhạy cảm insulin), ức chế sự hấp thu glucose ở niêm mạc ruột Các nghiên cứu sử dụng thuốc bao gồm các thuốc uống hạ glucose máu, các thuốc giảm cân và thuốc giảm huyết áp [106]
Các loại thuốc điều trị ĐTĐ lần lượt là: Metformin, thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển natri-glucose (SGLT2i), sulfonylurea, glinides, pioglitazon, ức chế enzym α-glucosidase, ức chế enzym DPP- 4, đồng vận thụ thể GLP-1, insulin [15]
1.4.1.1 Các yếu tố cần xem xét khi chọn lựa điều trị [15]
- Hiệu quả giảm glucose máu
- Nguy cơ hạ glucose máu: sulfonylurea, insulin
- Tăng cân: Pioglitazon, insulin, sulfonylurea
- Giảm cân: GLP-1 RA, ức chế kênh đồng vận chuyển natri-glucose (SGLT2i),
ức chế enzym α-glucosidase (giảm cân ít)
- Không ảnh hưởng nhiều lên cân nặng: ức chế enzym DPP-4, metformin
- Tác dụng phụ chính
- Giá thuốc: cân nhắc dựa trên chi phí và hiệu quả điều trị
1.4.1.2 Lựa chọn thuốc và phương pháp điều trị [15]
- Nên chuyển bước điều trị mỗi 3 tháng nếu không đạt được mục tiêu HbA1c Cần theo dõi glucose máu lúc đói và sau ăn 2 giờ để điều chỉnh liều thuốc
- Có thể kết hợp thay đổi lối sống và metformin ngay từ đầu Thay đổi lối sống đơn thuần chỉ thực hiện ở những bệnh nhân mới chẩn đoán, chưa có biến chứng mạn và mức glucose máu gần bình thường
- Khi phối hợp thuốc, chỉ phối hợp 2, 3, 4 loại thuốc và các loại thuốc có cơ chế tác dụng khác nhau
Trang 26- Trường hợp bệnh nhân không dung nạp metformin, có thể dùng sulfonylurea trong chọn lựa khởi đầu
- Chú ý cần thận trọng tránh nguy cơ hạ glucose máu khi khởi đầu điều trị bằng sulfonylurea, insulin, đặc biệt khi glucose máu ban đầu không cao và bệnh nhân lớn tuổi
- Chú ý giáo dục kỹ thuật tiêm và triệu chứng hạ glucose máu cho bệnh nhân Kiểm tra kỹ thuật tiêm của bệnh nhân khi tái khám, khám vùng da nơi tiêm insulin xem có vết bầm, nhiễm trùng, loạn dưỡng mỡ
1.4.2 Thay đổi lối sống, chế độ ăn và luyện tập
Các yếu tố nguy cơ của ĐTĐ type 2 và RLGM thường gặp là tuổi, giới, chủng tộc, gia đình, thừa cân béo phì, sinh con cân nặng trên 4 kg, ĐTĐ thai kỳ, tiền sử RLGM, kháng insulin, chế độ ăn, ít vận động, stress…Trong đó, các nhà khoa học cũng đã chỉ ra nguyên nhân hàng đầu là giảm hoạt động thể lực và chế độ
ăn giàu năng lượng, ít chất xơ [159]
Can thiệp thay đổi lối sống nói chung bao gồm giảm cân nặng vừa phải đối với người thừa cân, béo phì (5-10% cân nặng), tránh lối sống tĩnh tại, tăng cường tập luyện đều đặn 30 phút/ngày với cường độ trung bình (150 phút/tuần), với chiến lược về dinh dưỡng: giảm năng lượng, giảm chất béo, thay thế các thực phẩm có chỉ
số glucose máu cao bằng các thực phẩm có chỉ số glucose máu thấp, tăng cường chất xơ, sử dụng ngũ cốc nguyên vỏ, rau xanh, hoa quả tươi…[64]
1.4.2.1 Tăng cường luyện tập thể lực
Luyện tập phải phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe và sở thích cá nhân Nên tập những môn rèn luyện sự dẻo dai bền bỉ hơn là những môn cần sử dụng nhiều thể lực Hoạt động thể lực thường xuyên hàng ngày giảm 5% trọng lượng cơ thể làm giảm 55% tỷ lệ ĐTĐ mới mắc trên nhóm đối tượng nguy cơ cao [68],[119]
Theo các nghiên cứu trên thế giới, việc tập luyện thể lực thường xuyên có tác dụng làm giảm nồng độ glucose máu ở bệnh nhân ĐTĐ type 2, đồng thời giúp duy
Trang 27trì sự bình ổn của lipid máu, huyết áp, cải thiện tình trạng kháng insulin và cải thiện tích cực về mặt tâm lý Sự phối hợp hoạt động thể lực thường xuyên và điều chỉnh chế độ ăn có thể giúp giảm nguy cơ mắc ĐTĐ type 2 rất đáng kể [2] Để đạt được mục đích này phải luyện tập khoảng 35-45 phút, mỗi tuần ít nhất 4-5 ngày [11]
1.4.2.2 Thực hiện chế độ ăn hợp lý
Thực phẩm ăn hàng ngày có tác động lớn đến lượng glucose trong máu Thức
ăn chứa carbohydrate sẽ làm tăng lượng glucose trong máu nên bạn cần giảm ăn thực phẩm chứa nhiều carbohydrate như cơm, bánh mỳ, bánh kẹo Thay vào đó, nên ăn nhiều rau xanh rậm lá vì chứa nhiều khoáng chất, chất xơ và vitamin Các loại rau họ cải là thực phẩm giàu chất xơ giúp ngừa ĐTĐ
Theo nghiên cứu củav Steyn NP1, các biện pháp can thiệp thành công cho việc phòng và điều trị ĐTĐ là kết hợp tư vấn chế độ ăn uống với hoạt động Yếu tố khác dự đoán thành công là giảm cân đạt được, thời gian và cường độ của các can thiệp và tuân thủ chế độ ăn uống [163]
1.4.2.3 Khuyến cáo chế độ dinh dưỡng, tập luyện phòng chống ĐTĐ
Dinh dưỡng và tập luyện là các biện pháp quan trọng và chủ yếu trong dự phòng cũng như điều trị bệnh ĐTĐ
Năm 2007, IDF khuyến cáo thực hành việc thay đổi lối sống phòng bệnh ĐTĐ type 2 như sau [62]:
- Khuyến khích tập luyện ít nhất 30 phút/ngày, hầu hết các ngày trong tuần
- Khuyến khích đạt được và duy trì cân nặng hợp lý Những người có BMI ≥
25 kg/m2 đối với người châu Âu và ≥ 23 kg/m2 đối với người Châu Á nên khuyến khích đạt được và duy trì cân nặng hợp lý và/hoặc giảm 5%-10% cân nặng
Năm 2014, ADA khuyến cáo những người RLGM hoặc ĐTĐ nên được cá nhân hóa dinh dưỡng điều trị như là sự cần thiết để đạt mục tiêu điều trị, tốt nhất là
Trang 28sự kết hợp giữa chế độ ăn tại gia đình với chế độ dinh dưỡng bệnh ĐTĐ ADA khuyến cáo dự phòng ĐTĐ type 2, bao gồm [67]:
- Khuyến khích tăng cường thay đổi lối sống: giảm cân mức vừa phải (7% cân nặng) và vận động thể lực hàng ngày (150 phút/tuần), với kế hoạch chế độ ăn phù hợp bao gồm giảm mức năng lượng, giảm chất béo trong chế độ ăn
- Sử dụng carbohydrate có lợi cho sức khỏe như: rau xanh, hoa quả tươi, ngũ cốc nguyên vỏ Hạn chế nguồn carbohydrate có thêm chất béo, đường kính, muối
- Thay thế thực phẩm có chỉ số tải lượng glucose máu cao bằng thực phẩm có chỉ số tải lượng glucose máu thấp hơn Tăng cường ăn chất xơ (14g/1.000 kcal)
- Tăng cường những thực phẩm có chứa axít béo chưa bão hòa một hoặc nhiều nối đôi (có trong mỡ cá, dầu thực vật), hạn chế chất béo bão hòa, cholesterol
và axít béo thể trans
- Những người bị tăng HA cần hạn chế tiêu thụ muối < 2.300 mg/ngày
- Khuyến khích vận động ít nhất 150 phút/tuần với cường độ tập luyện trung bình (50-70% nhịp đập tối đa của tim), thực hiện ít nhất 3 ngày/tuần nhưng không được nghỉ 2 buổi liên tục không tập luyện Nếu không có chống chỉ định, người bệnh có thể tập luyện những môn thể thao đối kháng ít nhất 2 lần/tuần
1.4.3 Sử dụng thực vật trong hỗ trợ phòng và điều trị ĐTĐ
Trong những thập kỷ gần đây, các nghiên cứu về cây cỏ thực vật có khả năng
hỗ trợ quản lý bệnh ĐTĐ và biến chứng ĐTĐ đang ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới Hiện nay, bên cạnh việc sử dụng các thuốc hóa dược trong điều trị ĐTĐ, nhiều loại thực vật đã được khuyến cáo sử dụng với mục đích hỗ trợ hoặc bổ sung thay thế thuốc điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ Trên thế giới
có khoảng hơn 1.000 cây thực vật đã được ghi nhận có tác dụng trên bệnh nhân ĐTĐ Thực vật là một lĩnh vực rộng, dễ tìm kiếm trong tự nhiên, thường có ít hoặc không có tác dụng phụ Mỗi thực vật có thể chứa một hoặc nhiều hoạt chất khác nhau tác dụng hạn chế tăng glucose máu Hoạt chất bao gồm polyphenol, flavonoid,
Trang 29alkajoids, terpenoid, anthocyanins… đã được phân lập từ thực vật [162],[176] Một nguyên liệu thực vật lý tưởng cho việc phòng trị bệnh ĐTĐ là nguyên liệu đó chứa nhiều hoạt tính có lợi, bao gồm khả năng kiểm soát glucose máu, cải thiện tình trạng hoạt động/bài tiết của insulin, giảm tình trạng oxy hóa stress cũng như việc cải thiện
sự rối loạn các chuyển hóa lipid, đồng thời nguyên liệu đó không có tác phụ
1.4.3.1.Các nghiên cứu về sử dụng nguyên liệu thực vật trong phòng và chữa bệnh ĐTĐ trên thế giới và ở Việt Nam
Theo WHO, thực vật có tác dụng hỗ trợ phòng và chữa bệnh (thảo dược) có thành phần chính gồm một bộ phận của thảo mộc nằm trên không hay dưới đất, trong hình dạng nguyên thủy hay sau khi được chế biến Khi có pha lẫn hóa chất hay khoáng chất thì sản phẩm đó không còn là thảo dược nữa WHO nhận định, hiện nay có tới 80% dân số trên thế giới dùng thảo dược Khoảng 50 năm qua, con người hầu như hoàn toàn dựa vào cây cỏ để chữa tất cả các loại bệnh Dược thảo thường được dùng để bổ sung cho các loại thuốc chính quy, tạo ra những loại thuốc
an toàn, có khả năng thích ứng tốt với những căn bệnh mãn tính [1]
Quế Nhân sâm Mướp đắng
Hình 1.2 Một số thảo dược có tác dụng hạ glucose máu
Quế
Trang 30Có 3 loại Quế chính với tên khoa học: Cinnamomum loureirii Nees,
Cinnamomum cassia Blume, Cinnamomum zeylanicum Nees Các chuyên gia cho
biết, những chiết xuất từ Quế có công dụng như insulin Trong các thí nghiệm trên động vật, Quế làm tăng chuyển hóa glucose lên 20 lần Một số nghiên cứu thử nghiệm thành phẩm chiết xuất từ Quế trên bệnh nhân ĐTĐ type 2 cũng cho thấy hiệu quả kiểm soát glucose máu [111],[128]
Theo kết quả nghiên cứu của tiến sĩ Richard A Anderson thuộc Trung tâm Nghiên cứu Dinh dưỡng Beltsville Maryland (Mỹ), nhóm bệnh nhân ĐTĐ bổ sung vào bữa ăn 1g Quế liên tục trong 40 ngày thì lượng glucose máu, mỡ máu và cholesterol sẽ giảm 30%, còn nhóm dùng giả dược không thay đổi [77]
Mướp đắng
Mướp đắng hay còn gọi là Khổ qua có tên khoa học là Momordica charantia
L., là một loại rau nhiệt đới được trồng ở Châu Á, châu Phi và Châu Mỹ, được sử dụng rộng rãi trong y học dân gian của các nước Ấn Độ, Brazil, Philippin Các nhà khoa học phát hiện trong Mướp đắng có charantin có tác dụng hạ glucose máu Mướp đắng cũng chứa insulin polypeptide, polypeptide-P để làm giảm lượng
Trang 31glucose trong máu khi tiêm dưới da ở bệnh nhân ĐTĐ type 1 Uống 50-60ml trái Mướp đắng đã cho thấy kết quả tốt trong các thử nghiệm lâm sàng [170]
Lá Ổi
Ổi có tên khoa học là Psidium guyjava L Tại Nhật Bản, lá Ổi được nghiên
cứu trên ống nghiệm về khả năng ức chế tạm thời men tiêu hóa glucose, sau đó được thử nghiệm trên chuột và thử nghiệm hiệu quả kiểm soát glucose máu sau ăn của nước trà lá Ổi Cho đến nay, nước trà lá Ổi - một hình thái dưới dạng nước chiết tách từ lá Ổi - đã được sử dụng phổ biến tại nước Nhật [155]
Nụ Vối
Vối có tên khoa học là Cleistocalyx operculatus (Roxb) Merr et Perry Các
nghiên cứu cho thấy, nụ Vối có chứa nhiều polyphenol và flavonoid, trên chuột ĐTĐ và trên bệnh nhân ĐTĐ có tác dụng kiểm soát glucose máu, hỗ trợ phòng và điều trị bệnh nhân ĐTĐ type 2 [173]
Dây Thìa canh
Dây Thìa canh có tên khoa học là Gymnema sylvestre (Retz.) R Br ex Schult,
được biết đến và sử dụng rộng rãi tại nhiều nước, có hoạt chất chính là gymnemic acid, với cơ chế tác dụng đã được xác định là tăng tiết insulin của tuyến tụy, tăng cường hoạt lực của insulin, ức chế hấp thu glucose ở ruột, làm tăng hoạt tính của men hấp thu và sử dụng glucose, giảm cholesterol và lipid máu Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Văn Ơn và cs năm 2008 cho thấy dây thìa canh tại Việt Nam cũng cho tác dụng hạ glucose máu như dây thìa canh ở nhiều nước khác Tác dụng hạ glucose máu của dây thìa canh có những điểm tương tự như insulin nhanh: đỉnh tác dụng hạ glucose máu ở 2h và duy trì đến 4h; mức độ hạ glucose máu tương đương ở thời điểm 2h và 4h [35]
Giảo cổ lam
Giảo cổ lam có tên khoa học là Gynostemma pentaphyllum (Thumb.)
Makino Thành phần chính của Giảo cổ lam là flavonoid thuộc nhóm polyphenol và
Trang 32saponin Nhiều nghiên cứu đã chứng minh Giảo cổ lam có rất nhiều tác dụng tốt như ngăn chặn sự phát triển của khối u, tác dụng hạ cholesterol, tác dụng tăng cường, kích thích miễn dịch, chống ôxy hoá và tác dụng hạ huyết áp rất tốt, đặc biệt
có tác dụng hạ glucose máu [94],[98],[101]
1.4.3.2 Polyphenol chiết xuất từ thực vật trong việc hỗ trợ phòng và điều trị ĐTĐ * Đặc điểm polyphenol
Polyphenol là một hợp chất có trong thực vật tự nhiên mà nó có thể cho màu
và mùi vị Polyphenol cấu thành từ các vòng benzene với vị trí các gốc OH khác nhau chia thành nhiều nhóm polyphenol khác nhau Polyphenol chia thành: nhóm non-flavonoid và nhóm flavonoid Nhóm non-flavonoid gồm ellagic acid, có trong loại quả Dâu, Đào, Chanh…Nhóm flavonoid xác định có hơn 4.000 loại Bao gồm anthocyanin có trong một số quả chín, catechins có trong chè xanh, rượu vang, flavanones, flavones có trong quả và các loại rau, chè xanh, rượu vang [79],[95]
* Vai trò của polyphenol trong phòng và điều trị một số bệnh
Một số thành phần polyphenol trong một số cây thực vật đã được các nhà khoa học nghiên cứu có khả năng ức chế tạm thời hoạt động của men tiêu hóa glucose, giúp hạn chế tăng glucose máu sau ăn Ngoài ra, một số polyphenol lại có tác dụng cải thiện hoạt động và bài tiết của insulin Một số khác lại thể hiện khả năng chống oxy hóa rất mạnh thông qua khả năng tiêu diệt gốc tự do Một số polyphenol lại có khả năng hỗ trợ giảm mỡ máu, giúp cho việc phòng trị bệnh béo phì và các bệnh liên quan đến béo phì [79],[95]
Polyphenol có nhiều cơ chế tác dụng hỗ trợ phòng và điều trị ĐTĐ: Tác dụng kích thích bài tiết insulin, bảo vệ sự tổn thương của tế bào bêta tuyến tụy, tăng cường vận chuyển glucose đến tế bào, ức chế α- glucosidase Enzyme α-glucosidase nằm ở bờ bàn chải của thành ruột non, có vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa và
Trang 33hấp thu thức ăn Polyphenol có tác dụng ức chế hoạt động enzyme α-glucosidase, giảm glucose máu sau ăn Tương tự các thuốc acarbose và voglibose [11],[173]
* Một số polyphenol từ thực vật với tác dụng hỗ trợ phòng và điều trị ĐTĐ
Nghiên cứu trên thế giới
Polyphenol lá Ổi: Nghiên cứu khả năng ức chế men α- glucosidase chiết xuất
từ lá Ổi có hàm lượng polyphenol cao với thành phần như peduncladgin, casuarinin
và isotrictinin đã cho thấy khả năng kiểm soát tăng glucose máu trên chuột và trên bệnh nhân ĐTĐ [82]
Polyphenol của lá Sen: có tác dụng giảm glucose máu khi thử nghiệm trên chuột ĐTĐ [97]
Polyphenol của Quế có tác dụng giống như insulin có thể sử dụng để cải thiện glucose máu [110],[178],[128]
Polyphenol của lá Chè xanh: Thành phần quan trọng của lá Chè xanh là polyphenol, chiếm khoảng 6-16% trọng lượng khô của lá Chè, polyphenol trong Chè xanh có vị chua hấp thụ qua niêm mạc ruột non một cách dễ dàng [131]
Flavonoid thuộc nhóm polyphenol và saponin của Giảo cổ lam có tác dụng kiểm soát glucose máu trên chuột khỏe mạnh và chuột ĐTĐ [94],[125]
Tại Việt Nam
Polyphenol của nụ Vối có hàm lượng cao (khoảng 128 mg catechin/gram trọng lượng khô) với khả năng ức chế men α- glucosidase [172] Đã có nhiều nghiên xác định được khả năng hạn chế tăng glucose máu sau ăn của bột nụ Vối chiết tách trên chuột ĐTĐ và trên người khỏe mạnh [174] Tác dụng chống oxy hoá của nụ Vối cũng đã được nghiên cứu xác định trên ống nghiệm và chuột ĐTĐ [175]
Nghiên cứu trên cây Chè xanh của Trần Thị Chi Mai cho thấy vai trò của polyphenol của cây Chè xanh cải thiện rõ rệt những rối loạn các chỉ số huyết tương
ở chuột cống trắng ĐTĐ [33]
Trang 34Nghiên cứu tác dụng hạ glucose máu và ảnh hưởng chuyển hóa glucose từ dịch chiết lá Bằng lăng nước của tác giả Phùng Thanh Hương năm 2010 trên chuột nhắt trắng và chuột ĐTĐ đã chứng minh cây Bằng lăng nước có hoạt chất chính là polyphenol và acid corosolic có tác dụng ức chế men α-glucosidase, kiểm soát glucose máu sau ăn [26]
1.4.3.3 Cây cỏ Sữa lá lớn và các nghiên cứu liên quan đến ĐTĐ
* Đặc điểm cây cỏ Sữa lá lớn
Cỏ Sữa lá lớn có tên khoa học là Euphorbia hirta L thuộc họ thầu dầu
(Euphorbiaceae), người Ấn Độ thường gọi là “Laidudhi” Là cỏ mọc hàng năm hay
lâu năm, thân mảnh, cao 15-50 cm, lá có dạng hình trứng nhọn, có nhựa mủ trắng, hoa nhỏ nở thành chùm và ra quanh năm [126] Cỏ Sữa lá lớn là cây địa phương ở
Ấn Độ và Úc, hiện được trồng khắp các vùng nhiệt đới, phong phú ở Việt Nam, mọc hoang khắp nơi, ở những chỗ có sỏi đá, bãi cỏ, đường đi Thu hái vào mùa hè
thu, sau khi cây ra hoa, rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô dùng dần
Euphorbia là một chi khá lớn của họ thầu dầu, một số loài khác cũng có tác dụng tương tự nhưng lại chứa các diterpene ester có độc tính Riêng ở Việt Nam,
một số cây khác cũng được gọi là cỏ Sữa do thân có nhựa mủ trắng, như: Euphorbia
microphylla – cỏ Sữa lá tròn; Euphorbia hypericifolia – cỏ Sữa lá ban; Euphorbia thymifolia – cỏ Sữa nhỏ lá,… Một số người đã nhầm cỏ Sữa lá lớn với cỏ Sữa nhỏ
lá, cây này cũng có tác dụng thông sữa, cầm tiêu chảy, kiết lỵ, tẩy giun…[16],[56]
Có thể phân biệt cỏ Sữa lá lớn với cỏ Sữa nhỏ lá qua hình thái thực vật
Trang 35Hình 1.3 Cây cỏ Sữa lá lớn (Euphorbia hirta L.)
Thành phần hóa học của cỏ Sữa lá lớn đã được các nhà khoa học thế giới và
Việt Nam xác định, gồm có: polyphenol (gallic acid, myricitrin,
3,4-di-O-galloylquilic acid, 2,4,6-tri-O-galloyl-D-glucose,
1,2,3,4,6-penta-O-galloyl-β-D-glucose); flavonoids (euphorbianin, leucocyanidol, camphol, quercitrin, quercitrol);
tannins (ephorbins A,B,C,D, E); alkanes (heptacosane, n-nonacosane ); triterpenes
và phytosterol (β-amyrin, 24-methylenecycloartenor và β-sitosterol) [1],[40],[115]
Theo kinh nghiệm dân gian, cây cỏ Sữa lá lớn được sử dụng để chữa các bệnh về đường tiêu hóa: tiêu chảy, kiết lỵ, viêm ruột, nhiễm khuẩn đường ruột [16],[32],[56], các bệnh đường hô hấp: ho, hen, viêm phế quản, khí phế thũng, các bệnh đường niệu, sinh dục: bệnh lậu [56], viêm thận, viêm bể thận [16] Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới gần đây đã chứng minh cỏ Sữa lá lớn có các tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm [146],[169], chống dị ứng [188], chống viêm [121],[130],
ức chế miễn dịch [58], ức chế khối u [140], chống virus [90], tác dụng an thần, giảm đau [120], bảo vệ gan [75], tác dụng trên hệ thống thận [105] và đáng chú ý là tác dụng hạ glucose máu [117],[132],[150] và tác dụng chống oxy hóa [73],[114],[165]
* Các nghiên cứu về tác dụng kiểm soát glucose máu của cây cỏ Sữa lá lớn
Trên thế giới và Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và trên động vật về tác dụng của cây cỏ Sữa lá lớn trong phòng và chữa bệnh ĐTĐ Năm 2010, tại Indonesia, R.M Widharna đã nghiên cứu hoạt động chống ĐTĐ trong ống nghiệm của chiết xuất cồn và ethyl acetate từ cây cỏ Sữa lá lớn Các thử nghiệm in vivo và in vitro đã chứng minh cơ chế hạ glucose máu của dịch chiết ethanol và phân đoạn ethyl acetate chiết xuất từ lá cỏ Sữa lá lớn, có liên quan đến khả năng chống oxy hóa và ức chế men α-glucosidase Trong khi đó các phân đoạn n-hexane, chloroform, butanol và dịch chiết nước không thể hiện tác dụng này Kết quả thực nghiệm cho thấy cỏ Sữa lá lớn có triển vọng trong điều trị ĐTĐ [116]
Trang 36Trong một nghiên cứu khác, cỏ Sữa lá lớn được thử nghiệm cho hoạt động ức chế men α-glucosidase Tuy nhiên, có thể tìm thấy sự khác biệt giữa trong ống nghiệm và trong kết quả thử nghiệm in vivo Điều này là do sự khác biệt giữa các loại men α-glucosidase Kết quả cho thấy cơ chế chống ĐTĐ của những chiết xuất ethanol và các phần phân đoạn ethyl acetate từ cỏ Sữa lá lớn liên quan đến khả năng oxy hóa và ức chế men α-glucosidase của nó [150]
Tamboli P và cs tại Ấn Độ nghiên cứu về hiệu quả giảm glucose máu của các chiết xuất cây cỏ Sữa lá lớn trên chuột ĐTĐ gây bởi alloxan và fructose ĐTĐ gây
ra bằng cách tiêm màng bụng alloxam monohydrate (5% w/v) cho chuột wistar nhịn
ăn 1 đêm có khối lượng 180-240 mg Chia chuột thành 5 nhóm, mỗi nhóm 6 con Nhóm A là nhóm chuột khỏe mạnh, nhóm B, C, D và E dùng chiết xuất ethanolic của cỏ Sữa lá lớn với liều 100, 200, 400 và 800 mg/kg cân nặng trong 21 và 30 ngày Kết quả cho thấy giảm đáng kể lượng glucose trong máu, cholesterol huyết thanh, triglyceride, creatinine và tăng HDL Sự tập trung kiểm soát glucose máu ở chuột điều trị bằng chiết xuất cỏ Sữa lá lớn qua đường uống với liều khác nhau sau những khoảng thời gian khác nhau (0, 30, 60, 90 và 120 phút) cho kết quả tương ứng là 79,31; 78,42; 78,04; 76,48 và 75,94 mg/dl Nghiên cứu đã cho thấy tiềm năng của cỏ Sữa lá lớn trong chống ĐTĐ cũng như hạ glucose máu [168]
Tương tự, nhóm nghiên cứu của Sunil Kumar và cs cũng đã chỉ ra hiệu quả giảm glucose máu của dịch chiết cỏ Sữa lá lớn trên chuột ĐTĐ [164] Hiệu quả giảm glucose máu lớn nhất sau 15 ngày điều trị và duy trì trong 3 tuần Ngoài tác dụng giảm glucose máu, nghiên cứu cũng chỉ ra được tác dụng giảm mỡ máu và chống oxy hóa của chất chiết xuất từ thân cây cỏ Sữa lá lớn [116]
Tại Việt Nam, trong tài liệu Cây thuốc và động vật làm thuốc có đề cập đến chi tiết cây cỏ Sữa lá lớn giúp kiểm soát glucose máu trên động vật [56] Trên thực
tế, cây cỏ Sữa lá lớn đã được người dân Nam Bộ sử dụng theo phương pháp đông y
để dùng chữa bệnh cho bệnh nhân ĐTĐ
Trang 37Gần đây, theo kết quả nghiên cứu thử nghiệm kiểm soát glucose máu sau ăn của trà cỏ Sữa lá lớn trên bệnh nhân ĐTĐ và trên người khỏe mạnh cho thấy trà cỏ Sữa lá lớn có khả năng kiểm soát glucose máu, làm không tăng glucose máu sau ăn trên cả hai đối tượng [42],[28] Trên người khỏe mạnh, tại thời điểm 30 phút sau ăn, nồng độ glucose máu của ngày uống trà cỏ Sữa đã giảm một cách có ý nghĩa thống
kê so với ngày chứng (8,12 so với 8,97 mmol/L tại 30 phút; p<0,05) [42]
* Độc tính của cây cỏ Sữa lá lớn
Trên thế giới, tác giả Tamboli P [168] và Sunil Kumar [164] đã nghiên cứu thử nghiệm kiểm soát glucose máu và chống oxy hóa trên chuột đái tháo đường với lượng 500 mg chiết xuất/kg trọng lượng cơ thể chuột trong 8 tuần nhưng chưa thấy
có biểu hiện độc tính Một nghiên cứu mới đây của nhóm tác giả Nguyễn Mạnh Thắng tại Viện Dược liệu Trung ương cho thấy dịch chiết cỏ Sữa lá lớn không gây độc tính cấp và độc tính mãn trên chuột thực nghiệm [43] Đối với cây cỏ Sữa lá lớn, y học cổ truyền các nước đã thường sử dụng toàn bộ cây để làm thuốc điều trị nhiều bệnh và thực tế trên lâm sàng chưa phát hiện triệu chứng độc trong và sau khi dùng thuốc [16],[56] Đồng thời, theo WHO, những thực vật đã được dùng trong dân gian từ nhiều năm an toàn thì được coi là an toàn [183] Do vậy, cỏ Sữa lá lớn được coi là an toàn khi sử dụng
* Nghiên cứu ứng dụng cây cỏ Sữa lá lớn tại Việt Nam
Một nghiên cứu mới đây đã được nhóm tác giả Phí Ngọc Quyên, Trường Đại học Bách khoa tiến hành với mục đích xây dựng công thức trà cỏ Sữa lá lớn có chất lượng cảm quan và hàm lượng polyphenol cao Trà cỏ Sữa lá lớn được chế biến theo 3 công thức khác nhau, đóng gói 2g cỏ Sữa khô/gói Các công thức trà được thử nghiệm theo 2 cách chế biến khác nhau, đun sôi trong 10 phút và đun sôi trong
30 phút, tiến hành đánh giá cảm quan và xác định hàm lượng polyphenol trong nước trà cỏ Sữa thu được Kết quả cho thấy, hàm lượng polyphenol chiết tách từ trà cỏ Sữa đun sôi trong 30 phút cao hơn trà cỏ Sữa hãm trong 10 phút Điểm cảm quan tại phòng thí nghiệm cao nhất thuộc về công thức trà cỏ Sữa 2 (cỏ Sữa 90%) Đánh giá
Trang 38tính chấp nhận của công thức trà cỏ Sữa 2 trên cộng đồng cho thấy, tỷ lệ chấp nhận nước trà cỏ Sữa 2 về màu sắc, mùi, vị đạt 84,3% Do vậy, công thức trà cỏ Sữa 2 (cỏ Sữa 90%) đạt được tiêu chí chất lượng cảm quan và hàm lượng polyphenol cao, nên dùng trà cỏ Sữa dưới dạng đun sôi trong 30 phút [39]
Như vậy, các thử nghiệm trong ống nghiệm và trên động vật đều cho thấy cây cỏ Sữa lá lớn có nhiều tác dụng có lợi cho sức khỏe có thể kể đến như giúp hạ glucose máu cho người RLGM, giảm mỡ máu, chống viêm, chống nhiễm khuẩn, chống oxy hóa… Cỏ Sữa lá lớn là một nguyên liệu dùng để uống từ rất lâu đời, có khả năng kiểm soát glucose máu, làm không tăng glucose máu sau ăn, có thể sử dụng lâu dài và an toàn khi sử dụng Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào đánh giá về hiệu quả kiểm soát glucose máu của cỏ Sữa lá lớn trên đối tượng RLGM
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
* Nghiên cứu bệnh chứng: chia 2 nhóm (nhóm bệnh và nhóm chứng)
+ Tiêu chuẩn lựa chọn: Tuổi 40-69; tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Nhóm bệnh: Người RLGM (glucose máu lúc đói 5,6 - < 7 mmol/L);
- Nhóm chứng: Người không RLGM (glucose máu lúc đói < 5,6 mmol/L);
Nhóm chứng và nhóm bệnh có cùng điều kiện kinh tế xã hội (cùng thành phố), độ tuổi (40-49; 50-59; 60-69) và giới, được ghép cặp với tỷ lệ 1:1
+ Tiêu chuẩn loạn trừ: ĐTĐ type 2, câm, điếc
* Nghiên cứu can thiệp: chia 2 nhóm, có cùng tiêu chuẩn
Trang 39Nhóm can thiệp 1 (CT1): không uống trà cỏ Sữa, chỉ tư vấn, hướng dẫn chế
độ ăn và tập luyện
Nhóm can thiệp 2 (CT2): uống trà cỏ Sữa kết hợp tư vấn, hướng dẫn chế độ
ăn và tập luyện
+ Tiêu chuẩn lựa chọn: glucose máu lúc đói 5,6 - < 7 mmol/L; tuổi 40-69;
BMI = 18,5- < 25 kg/m2; tự nguyện tham gia nghiên cứu
+ Tiêu chuẩn loạn trừ:
- Có chỉ số glucose máu nằm ngoài tiêu chuẩn lựa chọn;
- Bà mẹ có thai và cho con bú trong 12 tháng;
- Mắc bệnh về gan hoặc thận, bệnh tiêu hóa cấp và mãn tính, tâm thần…
2.1.2 Thời gian tiến hành: Gồm 2 nghiên cứu kế tiếp nhau là nghiên cứu bệnh
chứng và nghiên cứu can thiệp tại cộng đồng
* Nghiên cứu bệnh chứng: Sàng lọc và nghiên cứu bệnh chứng nhằm xác
định yếu tố nguy cơ RLGM: thực hiện từ đầu tháng 5 đến hết tháng 6 năm 2013
* Nghiên cứu can thiệp: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng trong vòng 20
tuần về hiệu quả kiểm soát glucose máu của trà cỏ Sữa kết hợp hướng dẫn chế độ ăn
và tập luyện: thực hiện từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 11 năm 2013 Nghiên cứu đánh giá tại 3 thời điểm:
- T0: Điều tra ban đầu, thực hiện từ đầu tháng 7 năm 2013, sau khi lựa chọn đối tượng đủ tiêu chuẩn và đưa ngay vào can thiệp
- T12: Điều tra sau 12 tuần can thiệp, thực hiện vào cuối tháng 9 năm 2013
- T20: Điều tra sau dừng can thiệp 8 tuần, thực hiện vào tháng 11 năm 2013
2.1.3 Địa điểm triển khai: Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh là tỉnh miền núi, trung du nằm ở vùng duyên hải, với hơn 80% đất đai là đồi núi, có 4 thành phố, 2 thị xã và 8 huyện trực thuộc Nghiên cứu được
Trang 40tiến hành tại 4 phường (Hồng Hà, Hồng Hải, Cao Xanh, Cao Thắng) thuộc thành phố Hạ Long, các đối tượng trong nghiên cứu bệnh chứng và nghiên cứu can thiệp được phân bổ trên cả 4 phường Các phường Hồng Hải, Hồng Hà, Cao Xanh, Cao Thắng thuộc vùng kinh tế, thương mại, dịch vụ với mức kinh tế khá, tiếp giáp với biển, đảo và rừng Dân số trung bình của mỗi phường khoảng 15-17 ngàn dân, với
tỷ lệ người trưởng thành 40-69 tuổi là 26-27%
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
* Nghiên cứu bệnh chứng: Thực hiện một nghiên cứu dịch tễ học qua một
nghiên cứu bệnh chứng nhằm xác định yếu tố nguy cơ RLGM lúc đói của người
40-69 tuổi tại thành phố Hạ Long như tuổi, giới tính, tiền sử bệnh tật, tiền sử gia đình, BMI, VE, tỷ số VE/VM, HA, khẩu phần, mức độ hoạt động thể lực, thói quen sinh hoạt, ăn uống, hiểu biết về ĐTĐ
* Nghiên cứu can thiệp: Nghiên cứu can thiệp có đối chứng, có ghép cặp
nhằm đánh giá hiệu quả kiểm soát glucose máu của trà cỏ Sữa kết hợp hướng dẫn chế độ ăn và tập luyện trên người 40-69 tuổi có RLGM lúc đói trong thời gian 20 tuần tại thành phố Hạ Long Trong đó, can thiệp 12 tuần và đánh giá sau 12 tuần can thiệp, đánh giá hiệu quả duy trì sau 8 tuần dừng can thiệp
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.2.2.1 Cỡ mẫu
+ Cỡ mẫu cho nghiên cứu bệnh chứng
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu bệnh chứng [44]:
Trong đó: