KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ SỬ DỤNG CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH HỖ TRỢ HỘ NGƯ DÂN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM .... Khái quát các chính sách của Nhà nước về
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
2 PGS,TS VŨ THỊ BẠCH TUYẾT
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đoàn Minh Phụng và PGS.TS Vũ Thị Bạch Tuyết Các số liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng Những kết quả nêu trong luận
án là quá trình lao động trung thực của tôi
Tác giả luận án
Hồ Thị Hoài Thu
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
5 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 16
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 18
7 Kết cấu của đề tài nghiên cứu 18
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH HỖ TRỢ HỘ NGƯ DÂN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN 19
1.1 TỔNG QUAN VỀ HỘ NGƯ DÂN VÀ HỖ TRỢ HỘ NGƯ DÂN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN 19
1.1.1 Hộ ngư dân và hộ ngư dân hoạt động khai thác thủy sản 19
1.1.2 Hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động khai thác thủy sản 26
1.2 GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH HỖ TRỢ HỘ NGƯ DÂN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN 37
1.2.1 Khát quát về giải pháp tài chính 37
1.2.2 Nội dung các giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động khai thác thủy sản 39
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá tác động tổng hợp của các giải pháp tài chính đến hộ ngư dân hoạt động khai thác thủy sản 54
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động khai thác thủy sản 57
1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ SỬ DỤNG CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH HỖ TRỢ HỘ NGƯ DÂN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 60
1.3.1 Kinh nghiệm một số nước 60
1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 66
Kết luận chương 1 68
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH HỖ TRỢ HỘ
NGƯ DÂN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN Ở
VIỆT NAM 69
2.1 KHÁI QUÁT VỀ HỘ NGƯ DÂN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN Ở VIỆT NAM 69
2.1.1 Thuận lợi, khó khăn và các ngư trường khai thác của hộ ngư dân hoạt động khai thác thủy sản 69
2.1.2 Quy mô và cơ cấu hộ ngư dân hoạt động khai thác thủy sản 75
2.1.3 Kết quả hoạt động khai thác thủy sản của hộ ngư dân thời gian qua 79
2.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH HỖ TRỢ HỘ NGƯ DÂN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN Ở VIỆT NAM 83
2.2.1 Khái quát các chính sách của Nhà nước về giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động khai thác thủy sản 83
2.2.2 Tình hình thực hiện các giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động khai thác thủy sản 86
2.3 TÁC ĐỘNG TỔNG HỢP CỦA CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH HỖ TRỢ ĐẾN HỘ NGƯ DÂN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN Ở VIỆT NAM 129
2.3.1 Năng lực khai thác 129
2.3.2 Trình độ lao động 134
2.3.3 Thu nhập từ hoạt động khai thác thủy sản 136
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH HỖ TRỢ HỘ NGƯ DÂN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 139
2.4.1 Thành công đạt được 139
2.4.2 Hạn chế 142
2.4.3 Nguyên nhân tồn tại 143
Kết luận chương 2 144
Chương 3: HOÀN THIỆN GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH HỖ TRỢ HỘ NGƯ DÂN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN Ở VIỆT NAM 145
3.1 BỐI CẢNH TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN HỘ KINH DOANH TRONG LĨNH VỰC KHAI THÁC THỦY SẢN Ở VIỆT NAM 145
3.1.1 Bối cảnh trong nước 145
3.1.2 Bối cảnh quốc tế 145
Trang 63.2 PHƯƠNG ÁN QUY NHOẠCH KHAI THÁC THỦY SẢN ĐẾN NĂM
2020, TẦM NHÌN 2030 147
3.2.1 Quy hoạch sản lượng khai thác thủy sản 147
3.2.2 Quy hoạch cơ cấu tàu thuyền khai thác thủy sản 148
3.3.3 Quy hoạch cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá 150
3.3 QUAN ĐIỂM VỀ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH HỖ TRỢ HỘ NGƯ DÂN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN Ở VIỆT NAM 151
3.3.1 Hỗ trợ phải góp phần bảo vệ an ninh, chủ quyền biển đảo quốc gia 151
3.3.2 Phù hợp với đặc điểm của ngành khai thác thủy sản 151
3.3.3 Phù hợp với quy hoạch phát triển ngành khai thác thủy sản của Nhà nước 152
3.3.4 Các phương thức hỗ trợ phải đa dạng 153
3.3.5 Giảm hỗ trợ phát triển theo chiều rộng, tăng cường hỗ trợ phát triển theo chiều sâu 153
3.3.6 Hỗ trợ phải góp phần phát triển hoạt động khai thác thủy sản có trách nhiệm và bền vững 154
3.4 HOÀN THIỆN GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH HỖ TRỢ HỘ NGƯ DÂN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN Ở VIỆT NAM 154
3.4.1 Hoàn thiện chính sách chi ngân sách nhà nước 154
3.4.2 Hoàn thiện chính sách thuế 162
3.4.3 Hoàn thiện chính sách tín dụng 165
3.4.4 Hoàn thiện chính sách bảo hiểm 172
3.5 TỔ CHỨC THỰC HIỆN 177
3.5.1 Phối hợp đồng bộ các giải pháp tài chính trong hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động khai thác thủy sản (đặc biệt áp dụng trong điều kiện khai thác hải sản xa bờ) 177
3.5.2 Nguồn vốn và cơ chế thực hiện chính sách 180
3.6 KIẾN NGHỊ 181
3.6.1 Thủ tướng Chính phủ và các bộ ngành 181
3.6.2 Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 183
3.6.3 Các Hội, Hiệp hội thủy sản 184
Kết luận chương 3 184
KẾT LUẬN 186 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
triển nông thôn Việt Nam
The Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development
Nông nghiệp Philippins
The Bureau of Fisheries and Aquatic Resources Philippine
Nam
Bank for Investment and Development of Vietnam
organization
Trang 8IPOA Kế hoạch hành động quốc tế International action plan
Foreign Trade of Vietnam
Bank for Industry and Trade
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng phân bổ hộ KTTS giai đoạn 2010 - 2016 76
Bảng 2.2: Sản lượng khai thác thủy sản giai đoạn 2012 - 2016 81
Bảng 2.3: Sản lượng khai thác thủy sản phân theo vùng địa lý 83
Bảng 2.4: Tình hình cấp bù chênh lệch lãi suất theo Nghị định 67/2014/NĐ - CP 102
Bảng 2.5: Bảng mức thuế môn bài đối với cá nhân, hộ gia đình 108
Bảng 2.6: Bảng thuế môn bài phải nộp giai đoạn 2010 - 2016 108
Bảng 2.7: Mức lãi suất cho vay theo Nghị định 67/2014/NĐ - CP 111
Bảng 2.8: Kết quả thực hiện Nghị định 67/2014/NĐ - CP của các NHTM (theo thống kê của NHNN) 112
Bảng 2.9: Kết quả thẩm định, phê duyệt danh sách đóng mới, nâng cấp tàu cá theo Nghị Định 67/2014/NĐ - CP (tính đến ngày 31/12/2016) 131
Bảng 2.10: Kết quả cho vay chủ tàu đóng mới, nâng cấp tàu theo Nghị định 67/2014/NĐ - CP (tính đến ngày 31/12/2016) 133
Bảng 2.11: Đặc điểm lao động của hộ KTTS giai đoạn 2010 - 2016 134
Bảng 2.12: Đặc điểm doanh thu - chi phí của hộ KTTS giai đoạn 2010 - 2016 137
Bảng 3.1: Quy hoạch sản lượng khai thác thủy sản 148
Bảng 3.2: Quy hoạch sản lượng khai thác hải sản theo vùng 148
Bảng 3.3: Quy hoạch tàu thuyền KTTS năm 2020, định hướng 2030 149
Bảng 3.4: Quy hoạch tàu thuyền khai thác theo vùng đến năm 2020, 149
Bảng 3.5: Quy hoạch tàu cá > 90CV theo vùng đến năm 2020 định hướng 2030 150
Bảng 3.6: Quy hoạch cảng cá, bến cá đến năm 2020 150
Bảng 3.7: Quy hoạch khu neo đậu tàu cá đến năm 2020 150
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Top 10 thị trường nhập khẩu thủy sản của Việt Nam 11 tháng
đầu năm 2015 (1.000 USD) 82
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ % số hộ được hỗ trợ xăng dầu cho tàu thuyền đánh cá 96
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ % số hộ khai thác thủy sản nhận được tín dụng ưu đãi đối với người nghèo 120
Biểu đồ 2.4: Sự phân bố tàu theo khu vực 130
Biểu đồ 2.5: Biến động tàu thuyền theo công suất, số lượng 132
Biều đồ 2.6: Thu nhập bình quân đầu người của hộ 136
Biều đồ 2.7: Tỷ lệ % thu từ hoạt động KTTS 138
DANH MỤC SƠ ĐỒ Số hiệu Nội dung sơ đồ Trang Sơ đồ: Các yếu tố chi phí chuyến biển 30
Trang 11MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam là một nước nhiệt đới và cận nhiệt đới với bờ biển kéo dài, có một tiềm năng vô cùng dồi dào về mặt nước, một tài nguyên sinh học đa dạng, quý hiếm, rất thuận lợi cho hoạt động khai thác thủy sản (KTTS)
Bờ biển có chiều dài 3260km, với 112 cửa sông lạch, trung bình cứ 100km2diện tích tự nhiên lại có 1km bờ biển và gần 30km bờ biển lại có cửa sông lạch Trong
số 63 tỉnh/thành phố, có 28 tỉnh ven biển và dân số hơn 44,2 triệu người, chiếm khoảng 50,34% tổng dân số cả nước Vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam có diện tích trên 1 triệu km2, gấp hơn 3 lần vùng lãnh thổ trên đất liền Trong vùng biển có hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, nhiều vùng vịnh, vũng, eo ngách [62], các dòng hải lưu vừa là ngư trường khai thác hải sản và là nơi xây dựng các khu căn cứ hậu cần nghề cá
Trong những năm qua, KTTS nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ
và đóng một phần không nhỏ vào sự phát triển của ngành thủy sản, từng bước chuyển biến tích cực theo hướng trở thành nghề cá cơ giới, tăng cường khai khác ở vùng biển xa bờ nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm khai thác Tính đến hết năm 2015, cả nước có 128.000 tàu cá, trong đó tàu đánh bắt hải sản xa bờ (công suất >90 CV) khoảng 24.000 chiếc, sản lượng khai thác thủy sản từ 1,65 triệu tấn (năm 2005) tăng lên hơn 3,1 triệu tấn (năm 2016) Sự phát triển trong hoạt động khai thác thủy sản đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia, tạo ra nguồn nguyên liệu với khối lượng lớn và có chất lượng cho chế biến thủy sản, đảm bảo được nhịp độ tăng trưởng ổn định cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu
Hệ thống cảng cá, bến cá tại các tỉnh ven biển đã bước đầu được hình thành tạo điều kiện về cơ sở hậu cần dịch vụ cho phát triển KTTS Chất lượng sản phẩm sau khai thác tuy chưa được nâng cao nhưng tiêu thụ sản phẩm khai thác đã được cải thiện, tạo điều kiện ổn định cuộc sống ngư dân
Công tác thông tin liên lạc để nắm bắt hoạt động của tàu cá cũng được nâng cấp, tạo kênh thông tin hai chiều giữa tàu và bờ phục vụ cho điều hành sản xuất, phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn
KTTS có được những thành tựu kể trên phải kể đến là nhờ sự nỗ lực của Nhà nước trong việc đưa ra các giải pháp tài chính thiết thực để hỗ trợ cho ngư dân, như:
Trang 12chi ngân sách cho cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần nghề cá; cho vay tín dụng ưu đãi
để đóng mới, cải hoán và nâng cấp tàu cá; miễn, giảm các thuế; hỗ trợ phí bảo hiểm…Tuy nhiên, cùng với sự phát triển, ngành KTTS còn phải đối diện với rất nhiều khó khăn và thách thức do các giải pháp tài chính đưa ra chưa phát huy hết hiệu quả Điều này dẫn tới:
- Vốn ngân sách bị sử dụng lãng phí
- Ngư dân thì thiếu tiền để đóng mới, nâng cấp và cải hoán tàu thuyền công suất lớn, đánh bắt xa bờ
- Hoạt động bảo hiểm thì thu hút không đủ lớn số lượng ngư dân tham gia
do việc chi trả bảo hiểm khó khăn, thủ tục bảo hiểm rườm rà…
Mặt khác, nhiều khi cách thức hỗ trợ của các giải pháp tài chính này còn chưa phù hợp với thực tế Do đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động KTTS, phát huy thế mạnh, tiềm năng của ngành, góp phần cải thiện mức sống của ngư dân thì Nhà nước cần rà soát lại các giải pháp tài chính hỗ trợ ngư dân hiện có, đồng thời hoàn thiện những giải pháp tài chính đó cho phù hợp với điều kiện hiện nay Chính vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện các giải pháp tài chính hỗ trợ hoạt động KTTS sẽ góp phần cải thiện năng lực khai thác của ngư dân, tăng thu nhập và ổn định cuộc sống
Ở Việt Nam cho đến nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách tổng hợp
cả lý luận và thực tiễn về các giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân hoạt động
KTTS Do đó, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp tài chính hỗ trợ hộ
ngư dân phát triển hoạt động khai thác thủy sản ở Việt Nam” làm luận án tiến sĩ
của mình, với hy vọng rằng kết quả nghiên cứu của luận án sẽ không chỉ đóng góp
về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc hỗ trợ hộ ngư dân thực hiện hoạt động KTTS trong giai đoạn hiện nay
2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
2.1 Các công trình nghiên cứu về khai thác thủy sản và giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động KTTS ở nước ngoài
Thế kỷ thứ XXI được xem là “Thế kỷ của đại dương” Thực tế cho thấy, sự phát triển mạnh mẽ của thế giới, đặc biệt của các quốc gia có biển đã minh chứng rõ ràng về dự báo ấy Ngày nay, kinh tế biển được các nước quan tâm chú ý và nghiên cứu, không chỉ riêng đối với Việt Nam, trong đó ngành công nghiệp khai thác thủy sản là một trong các ngành được ưu tiên phát triển bên cạnh nuôi trồng và chế biến
Trang 131, Tài liệu: Hội nghị về luật hàng hải quốc tế năm 1982 đề cập đến việc gia
tăng đánh bắt cá bất hợp pháp, không được kiểm soát và không được báo cáo (IUU), bao gồm giả mạo thông tin tàu của các chủ tàu, đăng ký trùng tàu đánh cá, đánh cá không đăng ký và không có giấy phép…Khai thác IUU đã trở thành một vấn đề có ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế của nhiều nước
Trong nỗ lực để chống đánh bắt cá IUU, một loạt công cụ thủy sản quốc tế được áp đặt đòi hỏi các quốc gia phải thực hiện kiểm soát có hiệu quả trên các tàu đánh cá treo là cờ của họ và Kế hoạch Hành động Quốc tế không ràng buộc của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới (FAO) để ngăn chặn, ngăn ngừa và loại
bỏ hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định Kinh nghiệm của FAO cho thấy không thể quản lý hiệu quả nghề cá khi không có sự loại trừ những nguyên nhân cơ bản đằng sau như: đầu tư quá mức vào đội tàu và cơ sở
hạ tầng của thời gian trước đó
2, Cuốn “ Khai thác đại dương” (1983) của Michael Besquery do Nguyễn Dương và Bùi Ngô Song dịch đã làm rõ các khái niệm về đại dương học, hải dương học cũng như sự phong phú, đa dạng của các nguồn tài nguyên đại dương, gồm: nguồn lợi hải sản, năng lượng…qua đó thấy được tiềm năng to lớn của đại dương và khai thác chúng như thế nào cho phù hợp để phục vụ tối ưu nhu cầu của con người
3, Cuốn “Chiến lược khai thác biển của Trung Quốc” (1990) của nhóm tác giả Dương Kim Thâm và Lương Hải Tân, Hoàng Minh Lỗ [81] cũng đã đề cập một cách toàn diện về các vấn đề như: khai thác hải sản, hàng hải, công tác điều tra tài nguyên biển…Đặc biệt là những nghiên cứu về ngành khai thác hải sản, các tác giả không chỉ dừng lại ở việc đưa ra những dự báo trữ lượng có thể khai thác mà còn dự báo về nhu cầu tiêu thụ cũng như mục tiêu, biện pháp và chính sách trong quản lý nhằm đảm bảo khai thác hiệu quả các nguồn lợi hiện có
4, Tài liệu hội thảo: Quản lý năng lực khai thác được FAO tổ chức vào cuối
những năm 90 nhằm thảo luận các biện pháp và kế hoạch hành động quốc tế (IPOA) về quản lý năng lực khai thác Hội thảo khuyến khích các quốc gia trên thế giới xây dựng, phê chuẩn và thực hiện kế hoạch hành động quốc gia để quản lý năng lực khai thác theo 3 giai đoạn là xây dựng, phê duyệt và thực hiện kế hoạch hành động quốc gia
Trang 14Hội thảo còn đề cập đến việc các tổ chức quản lý nghề cá khu vực cần thể hiện vai trò và trách nhiệm của mình trong việc xây dựng các biện pháp nhằm quản
lý năng lực khai thác trong khu vực, đặc biệt là các tổ chức quản lý nghề cá ngừ trên thế giới Các tổ chức quản lý nghề cá khu vực, các quốc gia trên thế giới cần tiến hành xây dựng các kế hoạch hành động quốc gia nhằm quản lý năng lực khai thác trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế và tài phán của mình Các nước như: Úc, Đài Loan, Philippins, Bangladesh, Malaysia, Bruney, Namibia, Pakistan…Mặc dù
có sự khác nhau về mục tiêu và nội dung thực hiện nhưng các kế hoạch hành động quốc gia đều định rõ việc cắt giảm tối đa năng lực khai thác đối với loại nghề đang khai thác vượt quá khả năng cho phép của nguồn lợi
Sau một thời gian thực hiện, các kế hoạch hành động của các quốc gia đã được đánh giá là đem lại tác động tích cực trong việc kiểm soát năng lực khai thác hợp lý, đảm bảo khôi phục, duy trì và phát triển nguồn lợi, góp phần cho sự phát triển bền vững và đảm bảo sinh kế cho cộng đồng ngư dân khai thác hải sản, trong
đó có Việt Nam
(5) Tài liệu hội thảo quốc tế về “Quản lý cộng đồng về nguồn lợi sống ven biển ở Hiệp hội các nước Đông nam Châu Á: Lý thuyết, Thực hành và ứng dụng ở Việt Nam” (1995) bàn về những nguyên tắc quản lý cộng đồng và tuyên bố hoạt động theo hướng: “Lựa chọn, chính thức công nhận và tài trợ cho việc thử nghiệm thiết lập các hoạt động quản lý cộng đồng ở nghề cá ven biển bao gồm các khu bảo tồn biển và nuôi trồng thủy sản”(ADB 1996)
6, Nazery, Khalid, Armi Suzana Zamil và Farida Farid với bài viết nghiên
cứu “Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển của một số nước Châu Á và bài học cho
Malaysia - The Asian experience in developing the marintime sector: Some case studies and lessons for Malaysia” (2007) [106] đã nhấn mạnh vai trò của nguồn lợi
biển đối với sự phát triển kinh tế xã hội song lại xem xét dưới góc độ bảo vệ môi trường, Bài viết nêu lên việc Nhà nước phải có chính sách quản lý, khai thác nguồn lợi biển một cách có hiệu quả để không làm ảnh hưởng đến vấn đề môi trường Vì vậy, muốn phát triển bền vững cần phải có chính sách hợp lý, tránh việc khai thác quá mức gây ô nhiễm môi trường biển
7, Achim Steiner (2008), Vấn đề quan trọng đối với thương mại và phát triển
bền vững khi tham gia WTO, Hội thảo về trợ cấp nghề cá và quản lý nghề cá bền
Trang 15vững do UNEP tổ chức 2008 [1] Tài liệu này giới thiệu về vấn đề trợ cấp nghề cá
và thực trang khi tham gia vào tổ chức thương mại thế giới WTO Cần xóa bỏ các khoản trợ cấp nghề cá có hại
Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra rằng hàng năm trợ cấp nghề cá chiếm khoảng 15 - 35 tỷ USD - tương đương 25% giá trị khai thác cá biển và nhiều khoản trợ cấp nghề cá có thể làm gia tăng khai thác quá mức, làm biến dạng cạnh tranh và
có khi gây bất lợi cho các nước đang phát triển đồng thời đưa ra biện pháp đặc biệt
và phân biệt (S & DT) Theo S & DT sẽ cho phép các nước đang pháp triển một số
cơ hội để thực hiện trợ cấp tăng cường lực hay năng lực, trong khi các trợ cấp này
bị cấm hoàn toàn với các nước phát triển do chúng liên quan chặt chẽ tới việc thúc đẩy “quá tải cường lực khai thác” và khai thác quá mức Vì thế cần cân nhắc kỹ lưỡng sự cần thiết khi cho phép sử dụng trợ cấp như một công cụ để phát triển và rất cần thiết để đảm bảo rằng chúng không góp phần tạo ra sự cạn kiệt của nguồn lợi
mà ngành thủy sản phụ thuộc vào
(8) EASRD, Việt Nam: Nghiên cứu ngành thủy sản [24] Đây là nghiên cứu
được đồng tài trợ trong khuôn khổ Chương trình Qũy Uỷ thác toàn cầu của Nhật Bản cho phát triển Thủy sản bền vững được xây dựng cùng với Ngân hàng Thế giới với mục đích của Qũy là tăng cường các nghiên cứu cùng với chính phủ để xác định những can thiệp có thể có trong ngành thủy sản nhằm nâng cao quản lý
và tối ưu hóa lợi ích thu được thông qua việc sử dụng bền vững các nguồn lợi hải sản cho sản xuất
Mục đích của nghiên cứu là xem xét hiện trạng và các nhu cầu trong lĩnh vực khai thác, nuôi trồng thủy sản và quản lý nguồn lợi ở Việt Nam Xác định những lĩnh vực then chốt để có những tác động nhằm xóa đói, giảm ghèo, tăng sản lượng
và cải thiện quản lý môi trường trên cơ sở phát triển bền vững
Nhật Bản là một trong những quốc gia áp dụng thể chế đồng quản lý KTTS một cách thành công cũng như lâu đời nhất Điều này được thể hiện trong nghiên cứu “Fishery management in Japan”_Matsuda, H, Makino, M, Tomiyama, M, Gelcich, S,và Cátilla, J, 2010 [104] Theo đó, cá nhân có đủ điều kiện sinh sống trong các cộng đồng ven biển được xem như một ngư dân trên cả mặt quyền lợi đánh bắt lẫn giấy phép hành nghề Các hợp tác xã đánh bắt (FCAs), các tổ chức của ngư dân địa phương là cơ quan quản lý thủy sản và các nguồn lực của địa phương
Trang 16Mỗi FCA có những quy định chi tiết về những hoạt động KTTS trên ngư trường địa phương và thực thi chúng trên cơ sở tự trị Chính phủ hỗ trợ bằng cách cung cấp thông tin pháp lý, khoa học và trợ cấp Do đó chế độ quản lý thủy sản Nhật Bản, đặc biệt là các khu vực ven biển, có thể hiểu như là một loại quyền sử dụng lãnh thổ ở trong ngành KTTS Ngoài ra, ngư dân Nhật Bản được thiết lập khu vực cấm khai thác tự trị đối với việc khai thác các thủy sản được cấp phép…Nghiên cứu này còn
đề cập đến tổng lượng khai thác cho phép của Nhật mỗi năm, việc phân bổ hạn ngạch và xác định quy tắc tham gia khai thác là trách nhiệm của các tổ chức ngư dân Như vậy, không giống thủy sản ở các nước khác, Nhật Bản có rất ít trung tâm quản lý từ trên xuống
9, Kuan - Hsiung Wang (2011), Giải pháp cho tranh chấp nghề cá ở Biển
Đông thông qua hợp tác và quản lý khu vực được trình bày tại Hội thảo Quốc tế:
Biển Đông, Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong khu vực [34] đã đề cập đến các vấn đề đang tồn tại cơ bản trong khu vực liên quan đến hoạt động khai thác thủy sản như: Khai thác cá quá mức; phát triển kinh tế và ô nhiễm môi trường Từ đó yêu cầu các quốc gia cần nỗ lực để giải quyết các sự việc liên quan đến hành động tập thể trong đánh bắt cá chung Sự hợp tác này sẽ được chính thức hóa thông qua hiệp định song phương hoặc đa phương trong đó đưa ra các nguyên tắc, luật lệ, quy trình
và tổ chức thể chế nhằm thực hiện hợp tác giữa các bên Đồng thời khẳng định việc khai thác quá mức ở các quốc gia không chỉ dẫn đến việc làm suy giảm nguồn lợi, khủng hoảng lương thực mà còn khủng hoảng môi trường, yêu cầu các quốc gia phải áp dụng phương pháp tiếp cận phòng ngừa để bảo vệ môi trường
2.2 Các công trình nghiên cứu về giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động KTTS trong nước
2.2.1 Những nghiên cứu về khai thác thủy sản
KTTS đã thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong nước Nhiều công trình khoa học nhận định, Việt Nam có tiềm nămg to lớn và lợi thế về KTTS Nguyễn Duy Chinh (2008), với công trình: “ Tổng quan về nguồn lợi thủy sản, chiến lược và chính sách phát triển ngành thủy sản Việt Nam”, đã đưa
ra bức tranh tổng quát về nguồn lợi thủy sản, tiềm năng và lợi thế trên các mặt: môi trường nước mặn, nước ngọt, nước lợ Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có đường bờ biển dài hơn 3260km từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên
Trang 17(Kiên Giang) cùng 1 triệu km vùng đặc quyền kinh tế, Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển đánh bắt thủy hải sản Không những thế, Việt Nam còn sở hữu hơn 3000 các hòn đảo lớn, nhỏ trong vùng biển; có nhiều vịnh, eo ngách, các dòng hải lưu, sông ngòi…là nơi cung cấp các dịch vụ hậu cần cơ bản, trung chuyển sản phẩm khai thác, đánh bắt đồng thời làm nơi neo đậu cho tàu thuyền trong những chuyến ra khơi Biển Việt Nam có tính đa dạng sinh học rất cao với hàng chục nghìn thủy sinh khác nhau Với nguồn lợi đó, cho phép nước ta khai thác bền vững hàng năm khoảng 2 triệu tấn thủy sản Hiện nay Việt Nam đứng thứ 3 thế giới về sản lượng thủy sản Tiềm năng khai thác thủy sản đã được được đưa vào kế hoạch quốc gia trong Quyết định số 1690/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ với các mục tiêu đến năm 2020 như sau:
1 Ngành thủy sản về cơ bản được công nghiệp hóa và hiện đại hóa, phát triển toàn diện theo hướng bền vững, hoạt động sản xuất hiệu quả, có khả năng cạnh tranh và hội nhập Từng bước nâng cao trình độ dân trí cũng như đời sống vật chất cũng như đời sống vật chất và tinh thần của ngư dân, bảo vệ môi trường, đảm bảo quốc phòng và an ninh vùng biển, đảo của Tổ quốc
2 Tạo việc làm cho 5 triệu lao động nghề với thu nhập bình quân cao gấp 3 lần so với hiện nay Hình thành các cộng đồng ngư dân ven biển gắn bó, đoàn kết,
có đời sống văn hóa tinh thần đậm đà bản sắc riêng
3 Kinh tế thủy sản đóng góp khoảng 30 - 35% GDP trong khối nông - lâm - ngư nghiệp Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 8 -9 tỷ USD
Những nghiên cứu về thực trạng KTTS ở Việt Nam cũng được nghiên cứu, đánh giá, xem xét dưới nhiều góc độ, phạm vi với các tác giả khác nhau Có thể kể đến một số công trình khác nữa:
- Viện kinh tế quy hoạch thủy sản: Báo cáo tóm tắt Quy hoạch tổng thể phát
triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của [90] đã đánh giá
khá toàn diện thực trạng KTTS của Việt Nam Theo báo cáo này, tính đến năm
2011 cả nước có 126,4 nghìn tàu cá các loại với tổng công suất khoảng 4,4 triệu CV (tàu thuyền tăng 70%, công suất tăng 175% so với năm 2001) Cơ cấu tàu thuyền khai thác hải sản phân bố tương đối đồng đều so với diện tích mặt nước biển của từng vùng biển, trong đó vùng biển Vịnh Bắc Bộ chiếm 31,4%, vùng biển Trung Bộ chiếm 42,1%, vùng biển Đông Nam Bộ chiếm 13,5% và vùng biển Tây Nam Bộ
Trang 18chiếm 13% tổng số tàu thuyền toàn quốc Cơ cấu nghề nghiệp khai thác hải sản giai đoạn 2001 - 2011 tiếp tục chuyển dịch theo hướng thị trường Năng suất, sản lượng khai thác, công nghệ khai thác và cơ sở hạ tầng khai thác ngày càng có nhiều thay đổi đáp ứng được nhu cầu
Như vậy, Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn 2030 đã đánh giá hiện trạng phát triển thủy sản giai đoạn 2001 -
2011, dự báo các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thủy sản, quy hoạch phát triển ngành thủy sản đến năm 2020 tầm nhìn 2030, từ đó đưa ra chương trình, dự án ưu tiên cũng như tổng mức vốn đầu tư, đề xuất giải pháp cơ bản để thực hiện quy hoạch và đánh giá hiệu quả dự án quy hoạch
- Bộ NN và PTNN, Báo cáo tiểu đề tài đánh giá hiện trạng và nhu cầu phát
triển nguồn nhân lực thủy sản qua đào tạo (2002) [7] đã khẳng định tầm quan trọng
của công tác phát triển, đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực cho thủy sản, qua đó đánh giá hiện trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhân lực khoa học, kỹ thuật, công nghệ để từ đó có cơ sở xậy dựng kế hoạch, chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho toàn ngành
- Kỷ yếu hội thảo toàn quốc quốc tế (2005) về khai thác, chế biến và dịch vụ hậu
cần nghề cá [35] bao gồm các nội dung về hiện trạng khai thác, chế biến và dịch vụ hậu
cần nghề cá Những mặt được, chưa được và các tồn tại trong giai đoạn trước 2005
- Báo cáo phân tích ngành Thủy sản (2010) [2]: Đánh giá tổng quan về
ngành Thủy sản Việt Nam bao gồm cả khai thác và nuôi trồng thủy sản; tình hình thị
trường tiêu thụ thủy sản; những thuận lợi, khó khăn cũng như kế hoạch phát triển và thách thức, triển vọng của ngành; các doanh nghiệp thủy sản niêm yết
- Đào Mạnh Sơn (2004), Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu, thăm dò
nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề
cá xa bờ Việt Nam” [23] Tác giả nhấn mạnh: Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
chính của đề tài là điều tra, đánh giá trữ lượng nguồn lợi cá biển ở các vùng biển khác nhau (Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ, Vịnh Bắc Bộ) và khả năng khai thác cá ở các vùng nước xa bờ Xác định các đối tượng khai thác chính và ngư trường trọng điểm ở từng vùng biển nhằm phục vụ đội tàu đánh bắt xa bờ Lựa chọn một số công nghệ khai thác phù hợp, có công suất, sản lượng cao đồng thời bảo vệ được nguồn lợi Dựa trên kết quả nghiên cứu đề xuất có cơ sở khoa học, các kiến nghị về công
Trang 19nghệ, tổ chức khai thác, bảo quản sản phẩm giúp cho việc hỗ trợ, chỉ đạo sản xuất, quản lý và hoạch định chiến lược phát triển bền vững nghề cá xa bờ ở Việt Nam
- Trịnh Ngọc Tuấn (2005): Nghiên cứu hiện trạng khai thác, nuôi trồng thủy
sản ở Việt Nam và đề xuất phương pháp xử lý nước thải [84] Nghiên cứu này trình
bày hiện trạng khai thác, nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam, nêu lên những thành tựu trong ngành Thủy sản đạt được trong những năm gần đây Bên cạnh đó, vấn đề bảo
vệ môi trường cũng được quan tâm giải quyết Nghiên cứu này đã trình bày các biện pháp, đề xuất các giải pháp hạn chế tác động của ngành khai thác, nuôi trồng đến môi trường
- Trần Văn Phước và Ngô Văn Hiệp (2008), Hiện trạng khai thác nguồn lợi
hải sản và giải pháp bảo vệ, phát triển bền vững tại xã Ninh Ich, Nha Phu, Khánh Hòa.[52] Nghiên cứu đề cập chủ yếu đến hiện trạng khai thác nguồn lợi hải sản;
hiện trạng các nghề khai thác hải sản cũng như đối tượng khai thác chính; khu vực khai thác; số lượng tàu thuyền và năng suất khai thác của tỉnh Khánh Hòa Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp giúp bảo vệ và phát triển nguồn lợi hải sản Đó là: Tăng cường công tác đào tạo, xóa mù chữ, nâng cao trình độ ngư dân; chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo; quản lý tàu thuyền; tuyên truyền kết hợp với biện pháp cưỡng chế để ngư dân hiểu và ý thức được việc làm; cấm khai thác bằng các phương tiện hủy diệt, cấm khai thác các đối tượng quý hiếm; bổ sung nguồn lợi bằng cách thả giống xuống biển; xây dựng các quy hoạch tổng thể về khai thác và sử dụng tài nguyên…
- Lê Trần Nguyên Hùng (2009), Tổng quan mô hình đồng quản lý nghề cá ở
Việt Nam, Hội thảo khu vực về đồng quản lý nghề cá qui mô nhỏ tại Việt Nam,
2009 [29] Nghiên cứu đem đến cái nhìn tổng quan về thực trạng ngành thủy sản (khai thác, nuôi trồng, chế biến…) ở Việt Nam hiện nay; những thuận lợi, khó khăn, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện của các hoạt động đồng quản lý nghề cá
đã và đang triển khai trong phạm vi cả nước Đồng thời qua đó rút ra các bài học kinh nghiệm và kiến nghị trong thời gian tới nhằm phát triển hình thức đồng quản lý nghề cá hiệu quả, bền vững góp phần tăng thu nhập, giảm chi phí, bảo vệ nguồn lợi
và giữ vững an ninh quốc phòng
- Nguyễn Ngọc Thanh (2015), Báo cáo tóm tắt đề tài “Lượng giá kinh tế do
biến đổi khí hậu với thủy sản Miền Bắc và đề xuất giải pháp giảm thiểu thiệt hại do
Trang 20biến đổi khí hậu” [61] Nghiên cứu cho thấy khai thác và nuôi trồng là nguồn sinh
kế và thu nhập của hàng triệu người dân và cũng là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng của người tiêu dùng trên khắp thế giới Song biến đổi khí hậu lại là mối đe dọa nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản Do đó, nghiên cứu đã xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn, phương pháp
và mô hình lượng kinh tế để đánh giá mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với thủy sản tại các tỉnh miền Bắc theo các kịch bản khác nhau; ước lượng tác động kinh tế, trên cơ sở đó xây dựng bộ cơ sở dữ liệu và bản đồ thiệt hại kinh tế do biến đổi khí hậu của thủy sản miền Bắc đồng thời đề xuất giải pháp giảm nhẹ thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra
Như vậy, có thể nói, các nghiên cứu nêu trên đều hướng vào làm rõ các vấn
đề về KTTS, từ việc điều tra nguồn lợi thủy sản đến hiện trạng tình hình KTTS của
cả nước cũng như của từng vùng biển về: sản lượng khai thác, số lượng tàu cá, công suất; cơ cấu nghề khai thác, trình độ công nghệ, lao động trong khai thác; hậu cần dịch vụ nghề cá cho KTTS; hoạt động kiểm tra, kiểm soát khai thác hải sản trên biển Trên cơ sở đó, tìm hiểu nguyên nhân để đưa ra các giải pháp trong công tác quản lý và phát triển ngành thủy sản
Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đề cập và thống kê được một cách tổng
quát về hộ ngư dân và các hoạt động của hộ, cụ thể về các vấn đề: số lượng hộ tham gia khai thác thủy sản, thu hập của hộ, tỷ lệ hộ nghèo trong hoạt động khai thác, tỷ lệ giới tính trọng hộ, tình hình doanh thu, chi phí từ hoạt động khai thác thủy sản của hộ Đây sẽ là những khoảng trống mà luận án sẽ đi sâu tìm hiểu.-
2.2.2 Những nghiên cứu liên quan đến giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động khai thác thủy sản
Tài liệu về lĩnh vực giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động KTTS không nhiều, có thể tìm thấy ở một số công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến luận án như sau:
- Nguyễn Xuân Quang (2004),Giải pháp tín dụng góp phần phát triển khai
thác hải sản ở Việt Nam [53] Luận án đã đề cập đến vai trò của tín dụng đối với
phát triển khai thác hải sản; Phân tích thực trạng và một số giải pháp tín dụng góp phần phát triển khai thác thủy sản ở Việt Nam, trong đó có chỉ ra tầm quan trọng của sự hỗ trợ từ phía Nhà nước trong chính sách tín dụng này Vì khai thác hải sản
Trang 21của Việt Nam đang còn tồn tại rất nhiều vấn đề bất cập, do đó dưới các hình thức hỗ trợ khác nhau, Nhà nước cần đầu tư nhiều và đầu tư một cách đồng bộ hơn nữa nhằm thúc đẩy ngành KTTS Việt Nam phát triển mạnh và là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước
- Phan Thi Dung (2009), Phương hướng và những giải pháp nhằm phát triển bền vững khai thác thủy sản vùng Duyên hải Nam Trung Bộ [21] Luận án đã đánh giá tình hình phát triển KTTS vùng duyên hải Nam Trung Bộ trên các khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường và quản lý phát triển theo hướng bền vững Để từ đó đề
ra các phương hướng, giải phát thúc đẩy sự phát triển bền vững hoạt động KTTS của vùng, đảm bảo phát triển nguồn lợi cũng như các vấn đề về môi trường
- Hội thảo nghiên cứu Kinh nghiệm của Nhật Bản về đồng quản lý và quản lý
dựa trên các quyền (2012), trình bày một số vấn đề như: Quản lý cộng đồng dựa
trên các quyền được thực hiện bởi các Hiệp hội Hợp tác xã thủy sản như thế nào; Quyền khai thác chung (Hệ thống quản lý phân vùng) được thực hiện ở các vùng nước ra sao và sự hỗ trợ của Chính phủ khi bắt đầu triển khai và duy trì quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng, ví dụ: Hỗ trợ thiết lập FCA_Hiệp hội Hợp tác xã Thủy sản), Hỗ trợ phổ biến và triển khai các kĩ thuật và quản lý khai thác và nuôi trồng thủy sản, Phát triển nguồn nhân lực ở cộng đồng nghề cá
- Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch năm 2012, phương hướng nhiệm vụ,
giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch năm 2013 của Tổng cục Thủy sản [76] đã
trình bày cụ thể, chi tiết tình hình thực hiện kế hoạch và kết quả sản xuất năm 2012
về sản lượng khai thác và nuôi trồng, trong đó vấn đề khai thác và bảo vệ nguồn lợi được đặc biệt chú ý Đặc biệt nghiên cứu đã đề cập đến tình hình triển khai các chính sách hỗ trợ ngư dân ở các vùng biển xa Ngoài ra báo cáo còn trình bày tóm tắt tiến độ thực hiện Chiến lược Phát triển Thủy sản và Chương trình hành động; tình hình thực hiện nhiệm vụ thu, chi ngân sách qua các năm về quản lý vốn đầu tư XDCB cho ngành thủy sản, cho chương trình tránh trú bão, khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân để từ đó tìm ra phương hướng, nhiệm vụ của năm tới
- Kỷ yếu hội thảo (2013), Các giải pháp hỗ trợ ngư dân phát triển kinh tế
biển: Phân tích tổng quan về tình hình ban hành chính sách pháp luật về hỗ trợ ngư
dân phát triển kinh tế biển và tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ ngư dân phát
Trang 22triển kinh tế biển thời gian qua (kết quả đạt được, những tồn tại và hạn chế) để từ đó
đề xuất các kiến nghị về công tác xây dựng chính sách pháp luật, về công tác quản
lý nhà nước, về phát triển thị trường…
- Ninh Thị Thu Thủy (2013), bài viết Chính sách hỗ trợ khai thác thủy sản
xa bờ của thành phố Đà Nẵng [75] đã phân tích các vấn đề về phát triển khai thác
thủy sản xa bờ như: đội tàu, nguồn nhân lực, dịch vụ hậu cần nghề cá…Qua đó trình bày thực trạng nguồn lực cho khai thác thủy sản của thành phố Đà Nẵng Nghiên cứu đã khẳng định việc nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác hải sản là cần thiết, muốn vậy phải đẩy mạnh các chính sách hỗ trợ đối với ngư dân đánh bắt thủy sản
xa bờ Cụ thể, đó là các chính sách về hỗ trợ ngư dân đóng mới tàu khai thác thủy sản xa bờ; hỗ trợ bảo hiểm thuyền viên, hỗ trợ thành lập các tổ hợp tác, tổ đội tàu để cùng nhau vươn khơi, hỗ trợ chi phí xăng dầu…Từ đó tác giả đã đưa ra những kiến nghị về chính sách nhằm hỗ trợ ngư dân một cách tốt nhất
- Trần Khắc Xin (2014): Hỗ trợ nuôi trồng thủy sản xuất khẩu ở khu vực Nam
Trung Bộ [80]: Luận án đã trình bầy cơ sở lý luận, thực trạng hỗ trợ nuôi trồng thủy
sản và phương hướng, giải pháp hỗ trợ nuôi trồng thủy sản ở khu vực Nam Trung Bộ Trong đó, luận án nhấn mạnh: Những năm qua, các tỉnh khu vực Nam Trung Bộ cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước và sự năng động của chính quyền địa phương đã bám sát, chỉ đạo sản xuất, chuyển giao kỹ thuật, thông tin cho người nuôi trồng thủy sản khoanh vùng, phân vùng, khuyến khích họ hợp tác, nuôi trồng theo phương pháp khoa học, kỹ thuật mới…Nhờ đó mà nuôi trồng thủy sản ở Nam Trung Bộ có sự phát triển tương đối ổn định và xuất khẩu thủy sản đã trở thành thế mạnh, ngành kinh tế trọng điểm của khu vực Song so với nhu cầu và tiềm năng thì sự hỗ trợ từ phía Nhà nước còn quá khiêm tốn, các nội dung hỗ trợ còn nhiều hạn chế Do đó, để nâng cao hiệu quả nuôi trồng, phát huy hết thế mạnh và tiềm năng của vùng, cải thiện mức sống người dân…thì Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ to lớn và không thể thiếu
Tác giả cho rằng, KTTS cũng giống như nuôi trồng thủy sản, vai trò hỗ trợ của Nhà nước là không thể thiếu, song luận án trên mới chỉ tập trung phân tích chủ yếu vào các nội dung cần hỗ trợ mà không đề cập đến các giải pháp tài chính cho hỗ trợ như thế nào Hơn nữa, việc nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu một vùng của Việt Nam
Trang 23- Tạ Minh Hùng (2014), Giải pháp tài chính phát triển khoa học - công nghệ
trong các công ty trách hiệm hữu hạn một thành viên ở Việt Nam Trong luận án
khẳng định: Đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ là một trong những yếu tố then chốt quyết định sự phát triển củanền kinh tế Việt Nam nói chung và doanh nghiệp nói riêng Trong những năm vừa qua, ở nước ta Nhà nước đầu tư cho KH -
CN còn thấp, khoảng 2% tổng chi ngân sách, chiếm khoảng 0,5 - 0,6 GDP [28, tr1],
do đó làm hạn chế khả năng áp dụng KH - CN nhằm tạo ra khối lượng hàng hóa có năng suất, chất lượng cao Luận án đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về phát triển KH - CN trong doanh nghiệp nói chung và vai trò của giải pháp tài chính đối với sự phát triển KH - CN; đi sâu phân tích, đánh giá tình hình phát triển KH - CN
và thực trạng việc sử dụng các giải pháp tài chính phát triển KH - CN trong công ty tránh nhiệm hữu hạn một thành viên giai đoạn 2009 - 2013, từ đó đề xuất giải pháp
và hoàn thiện một số giải pháp tài chính đối với phát triển KH - CN, từng bước
nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Từ đây, tác giả thấy rằng, đẩy mạnh
nghiên cứu ứng dụng KH - CN vào sản xuất là một trong những điều kiện nền tảng
để phát triển khai thác thủy sản hiệu quả, an toàn, bền vững và việc sử dụng các giải pháp tài chính để hỗ trợ, thúc đẩy đổi mới công nghệ trong KTTS là cần thiết
và mang tính đột phá quan trọng
- Nguyễn Thị Bích Ngọc (2017), Phát triển kinh tế biển: Nghiên cứu trường
hợp của tỉnh Bình Thuận [46] Luận án đã bao quát được các vấn đề về kinh tế biển
như: khai thác và nuôi trồng các sinh vật sống ở biển; hoạt động khai thác các tiềm năng và lợi thế của vùng biển cũng như du lịch kinh tế biển Từ đó thấy được vai trò
to lớn của các ngành kinh tế biển, trong đó có ngành khai thác thủy sản Luận án cũng đã đề cập đến thực trạng kinh tế biển về cơ chế quản lý, nguồn nhân lực, phát triển công nghệ…và đo lường sự hài lòng của người dân về thu nhập từ hoạt động kinh tế biển Trên cơ sở đó, luận án chỉ ra nguyên nhân, hạn chế nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế biển cũng như sự hỗ trợ cần thiết của Nhà nước, doanh nghiệp, vốn đầu tư nước ngoài…cho sự phát triển kinh tế biển tỉnh Bình Định
Như vậy, đối với các giải pháp hỗ trợ, có một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến vai trò quản lý của nhà nước, hoạt động hỗ trợ của nhà nước cũng như hệ
thống văn bản pháp lý đối với hoạt động hỗ trợ khai thác thủy sản song chưa có một
Trang 24công trình nào phân tích được một cách cụ thể và chi tiết việc hỗ trợ được thực hiện thông qua các giải pháp tài chính như thế nào? Đặc biệt, đó là hoạt động hỗ trợ thông qua chính sách chi NSNN, chính sách bảo hiểm, chính sách ưu đãi thuế Ưu
đãi vay vốn trong hoạt động tín dụng tuy có được đề cập đến nhưng cũng mới chỉ dừng lại phân tích ở từng vùng, địa phương riêng biệt
Để có được một cái nhìn tổng thể, chung nhất, luận án sẽ đi sâu nghiên cứu các giải pháp tài chính của Nhà nước nhằm hỗ trợ cho hoạt động KTTS của hộ ngư dân và các tác động của nó đến sản lượng, thu nhập của hộ ngư dân ra sao Đó sẽ
là những đóng góp mới của luận án trong quá trình nghiên cứu của mình
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước liên quan đến hoạt động KTTS và hỗ trợ ngư dân KTTS đã phần nào giúp hoàn thiện hơn hệ thống lý luận cũng như thực tiễn hoạt động hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động KTTS ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu về phương diện nào đó đã chỉ ra được những hạn chế cũng như nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong công tác hỗ trợ Cùng với đòi hỏi của quá trình phát triển, việc đổi mới, hoàn thiện cả về mặt lý luận và thực tiễn trong sử dụng các giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân hoạt động KTTS là cần thiết và tất yếu ở Việt Nam hiện nay
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu của luận án: Hoàn thiện hệ thống các giải pháp tài chính của Nhà nước để hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động KTTS ở Việt Nam Luận án phân tích các vấn đề liên quan hoạt động KTTS của hộ ngư dân, làm rõ vai trò, ý nghĩa các giải pháp tài chính của Nhà nước đối với hộ ngư dân, từ đó tìm ra hướng giúp hộ ngư dân nâng cao hiệu quả trong hoạt động khai thác, tăng thu nhập,
ổn định cuộc sống và chung sức bảo vệ biển đảo của Tổ quốc
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, nhiệm vụ luận án tập trung vào các vấn đề sau:
Về mặt lý luận
Luận án bổ sung, làm rõ khung nghiên cứu về các giải pháp tài chính hỗ trợ
hộ ngư dân phát triển hoạt động KTTS, cụ thể:
- Xác định 4 chính sách tài chính cơ bản được thực hiện nhằm hỗ trợ hoạt
động KTTS của hộ ngư dân: chính sách chi NSNN, chính sách thuế, chính sách tín dụng và chính sách bảo hiểm
Trang 25- Luận án xác định 2 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến các chính sách hỗ trợ, gồm:
nhóm nhân tố thuộc về khách quan và nhóm nhân tố thuộc về chủ quan
- Luận án xác định những tiêu chí để đánh giá tác động động tổng hợp của các chính sách, từ đó làm cơ sở khoa học trong đánh giá chính sách hỗ trợ
Về mặt thực tiễn
- Phân tích thực trạng và đánh giá những kết quả đạt được cũng như tồn tại, hạn chế trong việc sử dụng các giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân KTTS ở Việt Nam
- Đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện các giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động KTTS ở Việt Nam trong thời gian tới
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu trong luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động khai thác thủy sản
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
- Về nội dung
+ Vấn đề sử dụng các giải pháp tài chính nhằm hỗ trợ sự phát triển hộ ngư dân khá đa dạng, phức tạp với nhiều nguồn hỗ trợ khác nhau Do vậy, NCS chỉ tập trung nghiên cứu giải pháp tài chính có tác động mạnh mẽ và trực tiếp nhất, đó là
giải pháp tài chính từ phía Nhà nước cho hộ ngư dân trong hoạt động khai thác thủy sản Các chủ thể khác tuy có hỗ trợ nhưng sự hỗ trợ này không nhiều, không
đáng để nên luận án không đề cập đến
+ Trong hoạt động khai thác thủy sản, bao gồm: khai thác thủy sản biển (gồm khai thác ven bờ và xa bờ) và khai thác nội địa Do nguồn thủy sản nội địa và ven bờ đang dần cạn kiệt nên khai thác nội địa và khai thác ven bờ không được
khuyến khích phát triển, chính vì vậy luận án tập trung nhấn mạnh vào các giải
pháp tài chính nhằm hỗ trợ cho hộ ngư dân trong hoạt động khai thác thủy sản biển, đặc biệt là khai thác xa bờ
- Thời gian nghiên cứu thực trạng giải pháp tài chính cho hoạt động khai thác thủy sản từ năm 2010 đến nay tại Việt Nam
- Các giải pháp đề xuất đến năm 2020, tầm nhìn 2030
Trang 265 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Cơ sở lý thuyết
(1) Lý thuyết kinh tế học:
- Lý thuyết của Keynes: Chứng minh rằng sự cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô để đưa nền kinh tế thoát khỏi suy thoái, ổn định tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, các nhà kinh tế học thuộc trường phái Keynes cũng cho rằng, các nước đang phát triển cần tăng đầu tư công từ nguồn vay nợ nước ngoài nhằm giảm áp lực cho NSNN
Vận dụng trong lĩnh vực KTTS thì với sự hỗ trợ từ phía Nhà nước thông qua tập trung khuyến khích đầu tư vào cơ sở hạ tầng, hiện đại hóa tàu cá…sẽ làm tăng tổng cầu, tăng sản xuất kinh doanh, từ đó giúp hộ ngư dân tăng thu nhập, ổn định đời sống, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Lý thuyết kinh tế học hiện đại: Cho rằng một nền kinh tế hỗn hợp với vai trò của Nhà nước và thị trường là tối ưu Chính phủ điều tiết nền kinh tế thông qua chính sách thuế, chi tiêu và luật lệ song kinh tế thị trường cũng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất
(2) Lý thuyết về mô hình tăng trưởng, về các nguồn lực được sử dụng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Trong phát triển khai thác thủy sản, đặc biệt là phát triển theo chuỗi, từ sản xuất đến tiêu thụ, phát triển ngành khai thác thủy sản theo hướng hiện đại hóa…thì trên cơ sở khan hiếm các nguồn lực, nhất là nguồn lực tài chính thì trong hoạt động KTTS, các hộ ngư dân sẽ phải sử dụng tiết kiệm các yếu tố đầu vào như thế nào để vừa tiết kiệm mà lại mang tới hiệu quả kinh tế cao, luận giải những vấn đề cơ bản về tác động của các chính sách tới hoạt động KTTS của hộ ngư dân
(3) Lý thuyết về kinh tế học xanh: Lý thuyết tập trung và nhấn mạnh vào việc đáp ứng nhu cầu của con người và môi trường, vì sự phát triển bền vững Vận dụng lý thuyết cho thấy rằng sự tăng trưởng, phát triển từ lợi ích cá nhân theo mô hình kinh tế truyền thống chuyển sang tăng trưởng và phát triển bền vững từ lợi ích
xã hội Hay nói cách khác, vấn đề phát triển kinh tế phải gắn liền với lợi ích xã hội
và vấn đề môi trường
(4) Lý thuyết phát triển bền vững: Lý thuyết nói lên rằng sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng đến thế hệ tương lai trong
Trang 27việc thỏa mãn nhu cầu của mình Đặc biệt, lý thuyết chú trọng đến sự phát triển cân bằng, hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường
Như vậy, lý thuyết 1, 2 quan tâm đến việc Nhà nước sử dụng các chính sách
để điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng như thế nào; lý thuyết 3,4 lại cho thấy, cần phải tính đến yếu tố môi trường và bảo vệ nguồn lợi nhằm hướng tới sự phát triển bền vững trong các hoạt động kinh tế
5.2 Phương pháp nghiên cứu
(1) Đề tài tiếp cận nghiên cứu theo hướng sau:
- Về mặt lý luận: Tác giả hệ thống hóa các vấn đề lý luận về hộ ngư dân, hỗ trợ hộ ngư dân và các giải pháp tài chính nhằm hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động KTTS, đi từ lý luận đến thực tiễn, dùng lý luận để kiểm nghiệm thực tiễn
- Về mặt thực tế: Tiếp cận mang tính tổng thể, liên ngành, liên vùng, xem xét các giải pháp tài chính được sử dụng và ảnh hưởng, tác động qua lại của các giải pháp tài chính đó đến hộ ngư dân hoạt động KTTS
(2) Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Luận án tiến hành thu thập các văn bản, tài liệu, các nguồn số liệu thứ cấp liên quan mật thiết đến nội dung nghiên cứu Đồng thời kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó nhằm làm sang tỏ những vấn đề
lý luận và thực tiễn mà luận án đề cập đến
- Phương pháp thống kê: Nguồn thu thập số liệu thứ cấp được sử dụng trong luận án được thu thập từ các kết quả điều tra về hộ gia đình của Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, Tổng cục thủy sản (Bộ NN và PTNN), Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính), Cục quản lý doanh nghiệp (Bộ Tài chính), Các NHTM NN, NHNN…
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được luận án sử dụng cùng với các phương pháp nghiên cứu chung trong khoa học kinh tế như: phương pháp phân tích định tính, định lượng, phương pháp phân tích, tổng hợp để phân tích thực trạng sử dụng các giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân KTTS giữa các vùng miền Cùng với các kiến thức đã tích lũy trong quá trình học tập và nghiên cứu, tác giả tiến hành đánh giá thành công và hạn chế, đưa ra các giải pháp để hoàn thiện vấn đề nghiên cứu
Trang 28- Phương pháp chuyên gia: Tác giả tiến hành thảo luận với các cán bộ quản
lý các cấp của các ngành như: Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách tài chính
Bộ Tài chính, Tổng cục thủy sản, Bộ tài chính, Bộ NN và PTNT…
* Công cụ kỹ thuật: Xử lý trên phần mềm vi tính Exel và đồ họa
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn dựa trên các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về hỗ trợ ngư dân phát triển hoạt động KTTS
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần làm rõ thêm về hộ ngư dân KTTS và giải pháp
tài chính hỗ trợ, nhân tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá tác động của các giải pháp tài chính khi thực hiện hỗ trợ
Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu của luận án góp phần nhận diện
thực trạng các giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt đông KTTS, cung cấp cơ sở thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách trong quá trình hỗ trợ ngư dân và phục vụ cho công tác nghiên cứu
7 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học của tác giả
đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dung luận án gồm 3 chương:
- Chương 1: Lý luận về giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt
động khai thác thủy sản
- Chương 2: Thực trạng về giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân phát triển
hoạt động khai thác thủy sản ở Việt Nam
- Chương 3: Hoàn thiện giải pháp tài chính hỗ trợ hộ ngư dân phát triển
hoạt động khai thác thủy sản ở Việt Nam
Trang 291.1.1 Hộ ngư dân và hộ ngư dân hoạt động khai thác thủy sản
1.1.1.1 Khái niệm hộ ngư dân và hộ ngư dân hoạt động khai thác thủy sản
Trước hết, để hiểu hộ ngư dân là thế nào, phải bắt đầu xem xét và tìm hiểu về
hộ kinh doanh cá thể
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hộ kinh doanh.Người Anh quan niệm:
Hộ kinh doanh (thương nhân đơn lẻ) là một người tiến hành kinh doanh với tài khoản của mình; tự lựa chọn nơi thích hợp để hoạt động; có hoặc không có sự trợ giúp của người làm công trong kinh doanh; vốn góp ban đầu là nguồn vốn góp cá nhân do tiết kiệm hoặc vay mượn cá nhân [103] Còn pháp luật Hoa Kỳ lại quan niệm: Hộ kinh doanh (doanh nghiệp cá nhân) là một doanh thương được vận hành bởi một người như một tài sản cá nhân của người đó và doanh nghiệp này là sự mở rộng đơn thuần của chủ sở hữu cá nhân [105]
Thương nhân hay doanh nghiệp cá thể theo các quan niệm này là một hình thức kinh doanh có kết cấu khác với các hình thức kinh doanh khác như hợp danh hay các công ty Quan niệm này giống với quan niệm của các luật gia Việt Nam ở chế độ cũ Họ xem thương nhân thể nhân là cá nhân (có hình hài, cốt nhục) khác hẳn với thương nhân pháp nhân là tổ chức hay đoàn thể được tạo lập bởi sự góp vốn của các nhà đầu tư mong muốn tìm kiếm lợi nhuận Các tổ chức này được gọi là các công ty Tuy nhiên, theo pháp luật của Pháp, thương nhân có thể là thể nhân hoặc pháp nhân Thương nhân thể nhân là một cá nhân chuyên thực hiện các hành vi thương mại và lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mình Theo hệ thống pháp luật này, cá nhân trở thành thương nhân là một vấn đề thực tế được xác định bởi tòa án Nếu tên một cá nhân xuất hiện trong Sổ đăng ký thương mại tại toàn án thương mại thì người đó được xem là thương nhân [104]
Theo pháp luật Việt Nam, hộ kinh doanh không hoàn toàn là cá nhân kinh doanh Nhiều khi hộ kinh doanh có sự hùn vốn của các cá nhân, do đó nếu quan
Trang 30niệm hộ kinh doanh hay hộ kinh doanh cá thể là cá nhân kinh doanh hay thương nhân đơn lẻ là không hoàn toàn đúng
Ở Việt Nam, trước khi có Nghị định của Chính phủ số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 về đăng ký kinh doanh, “hộ kinh doanh” được gọi là “hộ kinh doanh cá thể” Tên gọi “hộ kinh doanh cá thể” được ghi nhận tại hai Nghị định của Chính phủ
về đăng ký kinh doanh là Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 và Nghị định số 109/2004/NĐ - CP định nghĩa: Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc
hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh (Điều 24, khoản 1) Nghị định số 88/2006/ NĐ-
CP định nghĩa: Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh
Theo điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ - CP hướng dẫn về thủ tục đăng ký kinh doanh của Luật doanh nghiệp 2014 quy định như sau: Hộ kinh doanh do một
cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình với hoạt động kinh doanh
Định nghĩa trên về “hộ kinh doanh ” cho thấy hộ kinh doanh được chia thành hai loại căn cứ vào người lập ra nó: (1) Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ; (2)
Hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ
Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh ngành, nghề có điều kiện Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định mức thu nhập thấp trên phạm vi địa phương
Hộ kinh doanh chỉ được sử dụng thường xuyên dưới mười lao động, nếu có
sử dụng thường xuyên mười lao động trở lên phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp
Như vậy, hộ ngư dân hoạt động khai thác thủy sản được hiểu như thế nào?
Hộ ngư dân cũng chính là hộ kinh doanh cá thể Tuy nhiên, có sự khác nhau cần
Trang 31phân biệt, đó là: hộ ngư dân khai thác thủy sản, hộ kinh doanh thủy sản, hộ kinh doanh và khai thác thủy sản
Hộ kinh doanh thủy sản: Là hoạt động của cá nhân hoặc hộ gia đình nhằm
mục đích đạt lợi nhuận thông qua hoạt động buôn bán thủy sản, tức là thông qua hoạt động mua sản phẩm thủy sản và bán lại để tìm kiếm lợi nhuận trong quá trình mua bán
Hộ ngư dân khai thác thủy sản: Là hoạt động của cá nhân hay hộ gia đình
nhằm mục đích đạt lợi nhuận thông qua việc sử dụng tàu, thuyền, lưới, bẫy, cần câu…hay các phương tiện khác để đánh bắt và thu gom cá hoặc các loài sinh vật thủy sinh từ sông, hồ hoặc đại dương Sản phẩm thủy sản có thể được sử dụng cho nhu cầu cá nhân hoặc mua bán trao đổi
Hộ kinh doanh và khai thác thủy sản:Là hoạt động của cá nhân hay hộ gia
đình nhằm mục đích đạt lợi nhuận thông qua hoạt động đánh bắt thủy sản và buôn bán thủy sản, tức là họ trực tiếp đánh bắt thủy sản sau đó trực tiếp phân phối đến người tiêu dùng hoặc đến các chợ đầu mối
Để thuận tiện cho phân tích và nghiên cứu, hộ ngư dân hoạt động khai
thác thủy sản mà luận án đề cập đến ở đây chính là hộ ngư dân KTTS (gọi tắt
là ngư dân)
1.1.1.2 Các loại hình khai thác thủy sản
(1) Khai thác thủy sản nội địa
* Khai thác thủy sản nước lợ
Các hoạt động liên quan đến môn thể thao câu cá để giải trí
Các hoạt động bảo vệ và tuần tra việc đánh bắt thủy sản
* Khai thác thủy sản nước ngọt
Nhóm này gồm:
Đánh bắt cá, tôm, thủy sản khác ở khu vực nước ngọt như: ao, hồ, đập, sông, suối, ruộng…sâu trong đất liền
Trang 32Thu nhặt các loại sinh vật dùng làm nguyên liệu
Loại trừ:
Các hoạt động liên quan đến môn thể thao câu cá để giải trí
Các hoạt động bảo vệ và tuần tra việc đánh bắt thủy sản
(2) Khai thác thủy sản biển (khai thác hải sản), gồm: khai thác ven bờ và khai thác xa bờ
Hoạt động khai thác hải sản của hộ ngư dân mang tính chất chuyên môn hóa
rõ nét Nhóm này gồm: Đánh bắt cá, đánh bắt các loại giáp xác và động vật thân mềm dưới biển, đánh bắt cá voi và các loại động vật sống dưới biển như: rùa, nhím biển…
Thu nhặt các loại sinh vật biển dùng làm nguyên liệu như: ngọc trai tự nhiên, yến sào, san hô và tảo…
Bảo quản thủy sản ngay trên tàu đánh cá
Loại trừ:
Đánh bắt thú biển (trừ cá voi) như: hà mã, hải cẩu…
Chế biến thủy sản trên các tàu hoặc nhà máy ché biến
Cho thuê tàu trở hàng trên biển kèm theo người lái như tàu chở cá, tôm… Hoạt động thanh tra, kiểm tra và bảo vệ đội tàu đánh bắt trên biển
Các hoạt động dịch vụ có liên quan đến môn thể thao câu cá hoặc câu cá giải trí Đan, sửa lưới, sửa chữa tàu thuyền đánh cá, sửa chữa và bảo dưỡng phương tiên vận tải…
1.1.1.3 Đặc điểm của hộ ngư dân hoạt động khai thác thủy sản
* Đặc điểm khai thác thủy sản
KTTS là hoạt động của con người (ngư dân) thông qua các ngư cụ, ngư thuyền và ngư pháp nhằm khai thác các nguồn lợi thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác
KTTS là một chuyên ngành hẹp, là tiểu ngành sản xuất các nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản và cung cấp thực phẩm tươi sống cho thị trường tiêu thụ Nó được coi là một ngành công nghiệp có vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế và nền kinh tế của mỗi quốc gia Quy mô của ngành thủy sản ngày càng mở rộng và vai trò của nó cũng tăng lên không ngừng
Công nghiệp KTTS thuộc nhóm ngành khai thác tài nguyên Nó thường gắn liền với một số dặc điểm cơ bản sau:
Trang 33Một là, KTTS liên quan đến sinh trưởng của các loài thủy sinh
Đối tượng KTTS là các loài sinh vật sinh trưởng và phát triển dưới nước Mặc dù diện tích biển, sông, suối, ao, hồ…khá lớn, nguồn lợi thủy hải sản thường
đa dạng, phong phú, cá biển đa loại, kích cỡ cá thể và quần đoàn rất khác nhau, song số lượng cá thể mỗi loại lại không nhiều Nguồn lợi hải sản càng xa bờ, mật độ càng giảm, nguồn lợi hải sản càng nghèo Vùng xa bờ có nguồn lợi phân tán, quần
tụ đàn nhỏ nên khó khăn cho khai thác công nghiệp đạt hiệu quả cao.[62, tr144]
Hai là, KTTS là ngành có mức độ rủi ro cao
Với các điều kiện khí hậu, thủy văn khắc nghiệt, hoạt động khai thác lại phụ thuộc nhiều vào những thay đổi của tự nhiên, của môi trường sinh thái biển đã làm cho nghề KTTS thêm nhiều rủi ro hơn những lĩnh vực kinh tế khác và tăng thêm nhiều chi phí sản xuất Hơn nữa sản lượng sau khai thác thuộc loại mau ươn, chóng thối, sản lượng hao hụt nhanh, dễ dàng dẫn đến thất thu, thua lỗ trong kinh doanh
Vì thế, yêu cầu về các dịch vụ hậu cần, đặc biệt khâu sơ chế bảo quản lạnh và vận chuyển đòi hỏi rất chặt chẽ và không thể thiếu.[62, tr 141]
Ba là, KTTS thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng khă năng thu hồi chậm
Do mỗi chuyến đi biển KTTS tương đối dài và có tính mùa vụ nên vốn luân chuyển chậm chạp, vốn cố định thu hồi chậm, vốn lưu động thường bị ứ đọng và cần dự trữ trong thời gian dài Nhất là đối với khai thác xa bờ, nhu cầu đầu tư để mua sắm tàu thuyền là khá lớn nhưng thời gian thu hồi lâu và dễ bị tổn thất
Từ những đặc điểm trên đây cho thấy, ngành KTTS chứa đựng nhiều rủi ro,
vì thế mà sự hỗ trợ từ phía Nhà nước là rất cần thiết
* Đặc điểm hộ ngư dân hoạt động khai thác thủy sản
Thứ nhất, hộ ngư dân hoạt động KTTS được hình thành theo đặc điểm tự
nhiên, các thành viên trong hộ quan hệ với nhau theo cấp vị, có cùng sở hữu kinh tế Chủ hộ là người lao động trực tiếp và làm việc có trách nhiệm
Thứ hai, tính liên kết trong cộng đồng tương đối cao
Biển, sông, hồ…là môi trường chung chứa đựng các nguồn lợi, không giống như sản xuất nông nghiệp, ở đó mỗi người có một mảnh đất riêng Tuy nhiên, ở các vùng ngư trường truyền thống, ngư dân hầu như đều biết được ở đâu và có loại cá gì đang sinh sống, đâu là cá nổi đâu là cá chìm, đâu là loài cá di cư theo mùa cũng như tập tính của các loài cá Hay nói cách khác, mỗi loại hải sản có một tập tính khác
Trang 34nhau, sinh sống tại một khu vực có cấu tạo địa hình và điều kiện địa lý khác nhau
Và mỗi loại chỉ có thể khai thác bằng một loại ngư cụ chuyên dụng, họ không thể sử dụng công cụ và kỹ thuật của nhóm này để khai thác nguồn lợi của nhóm khác Bởi thế, ngư dân có thể cùng nhau khai thác một ngư trường mà không sợ lấy mất phần của người khác, mọi người có thể cùng chia sẻ, hỗ trợ nhau để khai thác nguồn lợi luôn luôn được tái tạo này
Thứ ba, tính quyết đoán và vai trò cá nhân lớn
Nghề KTTS khác với các nghề khác Nếu như trong nông nghiệp, ai cũng có thể cày, bừa, cấy, gặt…thì sự phân công lao động trong KTTS khá rõ ràng, có chủ thuyền, thợ thuyền và bạn thuyền Thợ thuyền là người có năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp, chịu trách nhiệm về kỷ luật đánh bắt, do đó được quyền ra các quyết định chuyên môn (bỏ đàn cá nào và đánh bắt đàn cá nào) Điều này rất quan trọng
và có ý nghĩa to lớn ảnh hưởng đến kết quả của chuyến biển
Mặt khác, việc ứng phó với các thách thức trên biển cũng đòi hỏi tính quyết đoán của cá nhân Khi dự đoán có một cơn bão đang tới, chủ thuyền hoặc thợ thuyền phải ra quyết định tránh bão (cho thuyền vào bờ hoặc tới một hòn đảo gần nhất) Trong trường hợp bão tới đột ngột thì cần phải chỉ huy để chống bão Các mệnh lệnh mà họ đưa ra cần nhanh chóng, quyết đoán và chính xác bởi mệnh lệnh đúng hay sai không chỉ liên quan đến thiệt hại về vật chất và còn về tính mạng của những người trên thuyền Do vậy mà vai trò cá nhân của họ trong hoạt động khai thác luôn được đề cao.[54, tr48]
Thứ tư, hoạt động khai thác của hộ thường mang tính truyền thống, không
được đào tạo bài bản Những hiểu biết kiến thức thị trường, khoa học kỹ thuật hạn chế; trình độ, năng lực khai thác chưa cao Do đó, nếu không có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước về cơ chế, chính sách thì họ khó có thể tiếp cận được với thị trường
1.1.1.4 Tầm quan trọng của hộ ngư dân hoạt động khai thác thủy sản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Trên thế giới ước tính có khoảng 150 triệu người sống phụ thuộc hoàn toàn hay một phần vào ngành thủy sản [27, tr 8] Ngành thủy sản được coi là ngành có thể tạo ra nguồn ngoại tệ lớn cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam KTTS trở thành ngành có vị trí nhất nhì trong nền kinh tế, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, đưa đất nước đủ năng lực hội nhập và cạnh tranh trên trường quốc tế Thông qua
Trang 35hộ ngư dân hoạt động KTTS mà ngành thủy sản có thể phát huy được vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân Chính vì vậy, tầm quan trọng của hộ ngư dân hoạt động KTTS đối với sự phát triển kinh tế - xã hội được khẳng định qua 4 điểm chủ yếu sau:
Một là, cung cấp thực phẩm, tạo nguồn dinh dưỡng cho mọi người dân, góp
phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu
KTTS là nguồn cung cấp thực phẩm giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hóa cho con người Mức tiêu thụ thủy sản trung bình của thế giới tăng: từ 11,5kg/người/năm vào năm 1980 lên 18,4kg/người/năm vào năm 2010 FAO dự đoán mức tiêu thụ này sẽ đạt khoảng 19,1kg/người vào năm 2020 Riêng với các nước phát triển, mức tiêu thụ thủy sản trung bình là 30kg/người [2]
Trước đây, nếu ngành thủy sản đóng góp không đáng kể vào GDP và kim ngạch xuất khẩu thì khoảng 15 năm trở lại đây, phần đóng góp của thủy sản tăng lên
rõ rệt ở hầu hết các quốc gia có đường bờ biển dài Hàng thủy sản Việt Nam, nhờ đặc tính như: chất lượng nguyên liệu tốt, sản phẩm chế biến phong phú nên có khả năng cạnh tranh cao, đưa Việt Nam vào vị trí 10 nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ ngày càng mang lại cho hàng thủy sản những ưu đãi hơn về thuế quan
Hai là, góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập cho hộ ngư dân
ven biển
Sự phát triển của KTTS đã góp phần đưa các xã ven biển thoát khỏi danh sách xã nghèo, tạo ra hàng triệu việc làm cho người lao động Các dự án đầu tư KTTS ở vùng nông thôn ven biển cũng góp tăng thu nhập cho ngư dân Nhiều vùng
đã thay da đổi thịt, từng bước tiến đến cuộc sống đầy đủ, ổn định và thích nghi dần với sự phát triển của kinh tế thị trường
Ba là, góp phần bảo vệ môi trường, nguồn lợi thủy sản
Môi trường, nguồn lợi biển đảo không chỉ là đối tượng khai thác mà còn là nạn nhân của ngư dân khi diễn ra tình trạng mất cân đối giữa khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Sự nghiệp bảo vệ môi trường, nguồn lợi chỉ có thể thành công khi có sự chuyển đổi về nhận thức cũng như sự tham gia tự nguyện, tích cực của ngư dân mà không có lực lượng nào thay thế được Việc kiếm miếng ăn và sự vươn lên làm giàu, tất cả đều phụ thuộc vào chính đối tượng mà họ khai thác Song một
Trang 36nghịch lý hiện nay đang tồn tại trong cộng đồng ngư dân là nhận thức về sự cần thiết phải bảo vệ nguồn lợi thủy sản ngày càng tăng thì khai thác lại càng nhiều và manh mún, do đó chuyển đổi hành vi nhằm bảo vệ môi trường, nguồn lợi thủy sản
là rất cần thiết
Bốn là, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng
Những ngư dân hoạt động khai thác hải sản trên biển chính là những “công dân biển”, là những chủ nhân đích thực Những ngư dân hàng ngày, hàng giờ cùng với các hoạt động đánh cá đang gián tiếp tham gia tuần tra, kiểm soát, giám sát các hoạt động trên biển, góp phần giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp trên biển Đông, ngăn chặn, hạn chế những tàu thuyền nước ngoài xâm phạm vào vùng lãnh hải nước mình Ngược lại, đảm bảo an ninh quốc phòng tạo điều kiện để bà con ngư dân yên tâm sản xuất, phát triển kinh tế thủy sản Có thể khẳng định, sự hiện diện dân sự của ngư dân trên biển đã và đang có vai trò quan trọng thực hiện phát triển kinh tế gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ vùng biển của quốc gia
1.1.2 Hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động khai thác thủy sản
1.1.2.1 Khái niệm hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động khai thác thủy sản
Theo Từ điển Tiếng Việt 2006: “hỗ trợ” là giúp đỡ lẫn nhau, giúp đỡ thêm vào Có thể nói, hỗ trợ được hiểu là sự giúp đỡ từ bên ngoài, từ người này cho người khác Như vậy, hỗ trợ hộ ngư dân là sự giúp đỡ từ bên ngoài cho hoạt động KTTS của hộ
Chủ thể hỗ trợ có thể kể đến ở đây là: Chính phủ, Hiệp hội thủy sản, và doanh nghiệp, trong đó Chính phủ có vai trò đặc biệt quan trọng
Hỗ trợ của Chính phủ thường được gọi dưới tên một thuật ngữ có tính chất
chuyên môn là trợ cấp Trợ cấp là một khoản tiền do Chính phủ trả cho các doanh nghiệp hoặc gia đình mà không cần nhận lại một sản phẩm hoặc dịch vụ nào Quan niệm này muốn chỉ sự hỗ trợ ở trợ cấp tài chính là chủ yếu Quan niệm này khá nhỏ hẹp nên khó được sử dụng trong luận án này [80]
Theo quan điểm của nhóm chuyên gia do FAO mời làm tư vấn trong Hội nghị tư vấn tổ chức tại Rome năm 2012, trợ cấp thủy sản là hành động hoặc không hành động của Chính phủ nhằm hỗ trợ phát triển ngành thủy sản trong một bối cảnh chính sách kinh tế cụ thể Theo đó, hỗ trợ hay trợ cấp của Chính phủ cho người
Trang 37KTTS được hiểu là sự chuyển giao tài chính từ các cơ quan của Chính phủ cho người KTTS để họ có thể vượt qua khó khăn Nó hàm ý xác định được đâu là những
hỗ trợ hợp lý và không hợp lý theo quan điểm của những người do FAO triệu tập để lấy đó làm cơ sở khuyến nghị hành động cho các nước trong điều kiện toàn cầu hóa Quan niệm này gần hơn với cách tiếp cận của luận án song phạm vi của nó vẫn hẹp hơn những hỗ trợ mà tác giả muốn đề cập
Quan niệm hỗ trợ của Nhà nước trong luận án này là tất cả những hoạt động của Nhà nước nhằm giúp hộ KTTS (ngư dân) trên các phương diện: tạo môi trường,
cơ sở sản xuất, kinh doanh thuận lợi; cung cấp thông tin thị trường; giảm tổn thất; nâng cao công nghệ…thông qua các giải pháp tài chính hữu hiệu
Hỗ trợ của doanh nghiệp đối với hộ khai thác thủy sản ít được các tài liệu
khoa học nói tới bởi vì trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp thường theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên không có nghĩa vụ tài trợ cho các chủ thể kinh tế khác Tuy nhiên để ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào hoặc với mục đích ổn định thị trường tiêu thụ đầu ra, các doanh nghiệp chế biến thủy sản và doanh nghiệp cung cấp vật tư cho hộ KTTS, nhất là các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, có thể chủ động thiết lập các quan hệ liên kết giữa doanh nghiệp và hộ KTTS theo chuỗi giá trị ngành, trong đó hộ KTTS sẽ có lợi ích nhiều hơn so với hộ không liên kết Hình thức liên kết như vậy cũng được coi là hình thức hỗ trợ của doanh nghiệp cho
hộ KTTS
Có 3 chuỗi sản xuất thủy sản mà ở đó doanh nghiệp có thể tham gia hỗ trợ:
- Chuỗi giá trị gia đình khi những người lao động chính là những người trực tiếp đi biển, phụ nữ và người già thường đem sản phẩm cung cấp trực tiếp đến tay người tiêu dùng Sản phẩm tiêu thụ không hết được chế biến thành các sản phẩm phụ như chế biến mắm, khô…để sử dụng hoặc bán khi có điều kiện Chuỗi này thường ở các làng chai ven biển, do tàu thuyền nhỏ hoạt động ven bờ với quy mô sản xuất nhỏ, hoạt động trong ngày…
- Chuỗi giá trị do nậu, vựa chi phối Ở đây, nậu vựa sẽ là người thu gom sản phẩm từ các bến cá, cảng cá, vận chuyển đến các chợ đầu mối cung cấp cho những người bán lẻ, còn một số được chuyển đến nhà máy Đối tượng chính cung cấp sản phẩm cho chuỗi này là các chủ tàu có thời gian đi biển ngắn
Trang 38- Chuỗi giá trị do nhà máy chế biến chi phối, do nhà máy sản xuất trực tiếp thu mua hoặc có thể thông qua người đại diện hoặc đại lý Đối tượng chính là sản phẩm của các tàu khai thác xa bờ, có khối lượng sản phẩm lớn và đạt theo yêu cầu nhất định Sản phẩm đầu ra trong trường hợp này được chế biến theo quy trình cụ thể, được quản lý và vận hành theo tiêu chí và tiêu chuẩn của doanh nghiệp…
Trong các chuỗi giá trị này thì doanh nghiệp hoàn toàn có thể hỗ trợ hộ ngư dân trong việc tiêu thụ sản phẩm ở chuỗi giá trị thứ ba Tuy nhiên đây không phải là
sự hỗ trợ về mặt tài chính
Hỗ trợ của các tổ chức kinh tế xã hội nghề nghiệp đối với hộ KTTS phụ
thuộc vào bản chất, tôn chỉ và mục đích hoạt động của các tổ chức này Vai trò lớn nhất trong hỗ trợ hộ KTTS là Hiệp hội thủy sản, Hội nông dân Các chương trình hỗ trợ của hai tổ chức này phụ thuộc vào năng lực tài chính và khả năng tổ chức của người tham gia Các hình thức hỗ trợ thường là trao đổi kinh nghiệm, vận động các hội viên tương trợ lẫn nhau, cung cấp thông tin, đào tạo nâng cao năng lực cho người khai thác thủy sản…
Phát triển: Trong phép duy vật biện chứng, khái niệm phát triển dùng để chỉ
sự vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật, từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn Như vậy, sự phát triển ở đây chỉ quá trình biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng
Trong hoạt động KTTS thì sự phát triển được thể hiện ở sự gia tăng năng lực khai thác của hộ ngư dân Biểu hiện cụ thể, đó là hiện đại hóa tàu thuyền (tàu vỏ thép hoặc vỏ vật liệu mới, công suất lớn…); áp dụng công nghệ khai thác mới; trang thiết bị, ngư lưới cụ hiện đại, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của ngư dân được nâng cao…
Tóm lại, trong luận án này, hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động khai thác thủy sản được hiểu là sự giúp đỡ của Nhà nước về mọi phương diện cho hộ ngư dân, được thực hiện thông qua các giải pháp tài chính nhằm không những phát triển ngành KTTS của Việt Nam tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của đất nước,
mà còn tạo điều kiện cho hộ ngư dân trở thành những ngư dân chuyên nghiệp với những con tàu hiện đại, có mức thu nhập ngày càng tăng
1.1.2.2 Nội dung hỗ trợ hộ ngư dân phát triển hoạt động KTTS
* Hỗ trợ chi phí đầu vào
Chí phí đầu vào (chi phí sản xuất) là toàn bộ những chi tiêu cần thiết trong
Trang 39quá trình sản xuất Với hộ ngư dân hoạt động KTTS, chi phí sản xuất được tính theo từng chuyến biển (ở nước ta, chuyến biển có thể kéo dài từ một tuần đến vài tháng)
Chi phí một chuyến biển thường được tính theo 5 yếu tố:
- Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm nguyên liệu, nhiên liệu, phụ tùng dùng trong chuyến biến như: dầu DO, dầu nhớt, mỡ bò, nước đá, phụ tùng bộ phận máy, phụ tùng bộ phận boong…Trong đó:
+ Chi phí nhiên liệu chuyến biển = đơn giá nhiên liệu x lượng nhiên liệu tiêu hao trong chuyến biển (Lượng đơn vị tiêu hao trong chuyến biển = lượng nhiên liệu
đã mua - lượng nhiên liệu còn lại trên tàu)
+ Chi phí mua nước đá Lượng đá dùng để bảo quản cá thường theo tỷ lệ: đá/cá = 1/1 (1 đá 1 cá), tức là để bảo quản 1kg cá thì cần 1kg nước đá Với mức hao hụt nước đá hiện nay là 30 % - 40% thì để bảo quản 1kg cá trong chuyến biển cần mua đến 1,3kg - 1,4kg nước đá [37]
Trong các chi phí trên thì chi phí về nguyên, nhiên, vật liệu chủ yếu trên tàu
là nhiên liệu (xăng, dầu…) và nước đá Các chi phí này chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong mỗi chuyến đi biển Theo kết quả hạch toán chi phí sản xuất: nhiên liệu chiếm 80% chi phí, đá lạnh chiếm 15% (trong đó đá lạnh phụ thuộc vào 90% giá điện) và 5% còn lại là các chi phí khác [37] Như vậy, việc thay đổi giá xăng, dầu, điện quyết định đến 90% chi phí mỗi chuyến đi biển
- Chi phí nhân công (chi phí cho thuyền viên): bao gồm toàn bộ chi phí phải trả cho người lao động về tiền công, tiền ăn và các khoản phụ cấp nói chung và thường tính theo sản phẩm, không trả lương cố định theo tháng Chi phí tiền ăn chủ yếu là lương thực, thực phẩm và nước ngọt…
- Chi phí KH TSCĐ: Khấu hao TSCĐ được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong suốt thời gian sử dụng TSCĐ Việc tính khấu hao có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức, tùy theo vùng, miền và sự thỏa thuận giữa chủ tàu và thuyền viên
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm các khoản chi phí phải trả cho công ty điện thoại, chi phí sửa chữa, chi phí đậu cảng…
- Chi phí khác bằng tiền: bao gồm các chi phí sản xuất kinh doanh khác chưa được phản ánh trong các chi tiêu trên nhưng đã chi bằng tiền trong chuyến biển như: tiếp khách, lệ phí…[37, tr 37]
Trang 40Sơ đồ: Các yếu tố chi phí chuyến biển
* Hỗ trợ vay vốn mua sắm, đóng mới, nâng cấp tàu thuyền, mua sắm trang thiết bị ngư lưới cụ
Các tàu KTTS đa phần đều là tàu vỏ gỗ, điều này gây nhiều trở ngại cho đánh bắt xa bờ, nhất là ảnh hưởng đến thời gian bám biển và độ an toàn trong khai thác Máy và các thiết bị sử dụng nhìn chung còn thô sơ, chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất, lao động trên tàu chủ yếu còn thủ công Các đặc trưng kỹ thuật của tàu còn lạc hậu, công suất thấp nên đã làm giảm hiệu quả khai thác
Hiện nay tàu vỏ sắt được coi là bền hơn và có tuổi thọ gấp 3 lần (tới 30 năm)
so với tàu gỗ Tàu vỏ sắt chạy nhanh hơn, cơ động hơn, bền hơn Tàu có thể chịu được gió cấp 9 trong khi tàu gỗ chỉ chịu được gió cấp 6 Vì thế, tàu vỏ sắt giúp ngư dân bám biển dài ngày hơn trên các ngư trường xa bờ Hơn nữa, tàu vỏ sắt trữ được nước, nhiên liệu, lương thực nhiều hơn, tạo điều kiện ăn ở, sinh hoạt cho thuyền viên tốt hơn Các khoang cá được thiết kế đúng quy chuẩn nên thời gian bảo quản
cá dài hơn và mức tiêu hao nhiên liệu ít hơn Ngoài ra, tàu còn trang bị máy dò cá,
hệ thống thông tin liên lạc hiện đại…Đây là những chiếc tàu đòi hỏi vốn lớn, tự thân các hộ ngư dân khó có khả năng Muốn nâng cấp thiết bị cũng cần Nhà nước
hỗ trợ mới có thể phát triển loại hình đánh bắt hiện đại này
* Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ khai thác thủy sản
Hạ tầng quan trọng phục vụ KTTS gồm: Hệ thống cảng cá, bến cá, chợ cá và khu neo đậu tránh trú bão
Chi phí chuyến biển
Nguyên vật liệu
Nhân công
Khấu hao Dịch vụ
Khác