1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh (Luận văn thạc sĩ)

107 268 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH

VI VĂN CHIẾN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA CHẼ TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS BÙI MINH VŨ

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chính xác Những kết quả của luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình!

Học viên

Vi Văn Chiến

Trang 4

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn:

GS.TS Bùi Minh Vũ đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện

Tôi xin trân thành cảm ơn Phòng Đào tạo - Trường ĐH Kinh tế và QTKD đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khoá học và trình bày luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp đã chia sẻ nhiều tư liệu và kinh nghiệm quý báu liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận văn Tôi xin cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ và tạo điều kiện của cấp ủy chính quyền các xã, thị trấn, các Phòng, Ban, ngành chuyên môn huyện Ba Chẽ đã giúp tôi thực hiện thành công luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên

Vi Văn Chiến

Trang 5

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và pha ̣m vi nghiên cứu 4

4 Đóng góp và ý nghĩa của đề tài 4

5 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 5

1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 5

1.1.1 Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp 5

1.1.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 11

1.1.3 Yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả trong sử dụng đất nông nghiệp 17

1.2 Thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 21

1.2.1 Kinh nghiệm trong sử dụng đất nông nghiệp các nước trên thế giới 21

1.2.2 Kinh nghiệm trong sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Hà Nam 31

1.2.3 Bài học kinh nghiệm trong sử dụng đất nông nghiệp đối với Huyện Ba Chẽ - tỉnh Quảng Ninh 33

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 35

2.2 Phương pháp nghiên cứu 35

2.2.1 Lựa chọn địa bàn nghiên cứu 35

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 36

Trang 6

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 37

2.2.4 Phương pháp phân tích 37

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38

2.3.1 Chỉ tiêu phản ánh tình hình sử dụng đất nông nghiệp 38

2.3.2 Chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp 38

2.3.3 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp 40

Chương 3 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA CHẼ TỈNH QUẢNG NINH 41

3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh 41

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 41

3.1.2 Dân số, lao động 46

3.1.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng 50

3.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh 51

3.2.1 Tổng quan về phát triển kinh tế xã hội huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2014 51

3.2.2 Thực trạng quản lý và khai thác đất nông nghiệp huyện Ba Chẽ 56

3.2.3 Kết quả khai thác sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh 65

3.2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất đai trong nông nghiệp huyện Ba Chẽ 74

3.2.5 Tác động lan tỏa trong sử dụng hiệu quả đất đai tới kinh tế - xã hội và môi trường 81

Chương 4 GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA CHẼ TỈNH QUẢNG NINH 84

4.1 Quan điểm, phương hướng trong sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh 84

Trang 7

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

4.1.1 Quan điểm sử dụng đất đai 84

4.1.2 Phương hướng sử dụng đất nông nghiệp 85

4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh 86

4.2.1 Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 86

4.2.2 Tận dụng thế mạnh về đất rừng trong phát triển kinh tế lâm nghiệp 87

4.2.3 Xây dựng hệ thống canh tác phù hợp với các vùng sinh thái và phát huy lợi thế của từng vùng 88

4.2.4 Đẩy mạnh khai thác tiềm năng đất đai thông qua tổ chức sản xuất trong nông nghiệp 92

4.2.5 Tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động trong sản xuất nông nghiệp 92

4.2.6 Áp dụng khoa học công nghệ 93

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 98

Trang 8

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC TỪ TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa CNQSDĐ : Chứng nhận quyền sử dụng đất HTX : Hợp tác xã

THCS : Trung học cơ sở UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 9

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH Bảng:

Bảng 3.1 Thống kê dân số và lao động của huyện Ba Chẽ giai đoạn

2010 - 2014 47

Bảng 3.2 Giá trị sản xuất huyện Ba Chẽ giai đoạn 2010 - 2014 51

Bảng 3.3 Giá trị sản xuất các ngành trong phát triển kinh tế giai đoạn 2010 - 2014 53

Bảng 3.4 Thống kê diện tích đất đai huyện Ba Chẽ 59

Bảng 3.5 Thống kê diện tích sử dụng đất nông nghiệp 61

Bảng 3.6 Kết quả sản xuất của cây trồng hàng năm trên địa bàn huyện Ba Chẽ 68

Bảng 3.7 Kết quả sản xuất lâm nghiệp huyện Ba Chẽ 71

Bảng 3.8 Kết quả sản xuất thủy sản huyện Ba Chẽ 73

Bảng 3.9 Hiệu quả sử dụng đất trong phát triển nông nghiệp huyện Ba Chẽ, giai đoạn 2011 - 2014 76

Biểu đồ: Biểu đồ 3.1 Cơ cấu kinh tế huyện Ba Chẽ giai đoạn 2010 - 2014 52

Biểu đồ 3.2 Diện tích đất năm 2010 59

Biểu đồ 3.3 Diện tích đất năm 2014 59

Biểu đồ 3.4 Tỷ trọng diện tích cây lâu năm huyện Ba Chẽ năm 2014 70

Hình: Hình 1 Bản đồ về tinh huyện Ba Chẽ 2

Trang 10

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng

Sau hơn 25 năm đổi mới, kinh tế đất nước có những bước chuyển mình đáng ghi nhận, đặc biệt kinh tế nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá, sức sản xuất trong nông nghiệp được giải phóng, tiềm năng đất nông nghiệp được khai thác triệt để Nền sản xuất nông nghiệp hướng đến chất lượng, hiệu quả

và bền vững, đảm bảo an ninh lương thực, xuất khẩu nông lâm sản tăng trưởng, khoa học công nghệ được áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước và quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, diện tích đất dành cho phát triển lĩnh vực công nghiệp, kết cấu hạ tầng, xây dựng đô thị tăng nhanh đáp ứng cho giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) Tuy nhiên, diện tích phục vụ cho hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp đã giảm rất nhiều do việc chuyển đổi mục đích sử dụng, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của một bộ phận dân cư trong nông thôn, ảnh hưởng đến việc làm, thay đổi cơ cấu lao động, an sinh xã hội và đảm bảo an ninh lương thực Quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đang đặt ra bài toán cấp bách cho các cấp, các ngành nhằm mục tiêu duy trì diện tích đất nông nghiệp đảm bảo cho sự phát triển kinh tế xã hội và phát triển bền vững nền nông nghiệp

Huyện Ba Chẽ là huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Ninh, có vị trí địa

lý giáp danh với tỉnh Lạng Sơn, tỉnh Bắc Giang, cách thành phố Hạ Long 95

Km theo đường quốc lộ 18A hướng Hạ Long đi Móng Cái và giáp danh với nhiều khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng ninh

Trang 11

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Hình 1 Bản đồ về tinh huyện Ba Chẽ

Nền kinh tế của huyện có xuất phát điểm thấp, tốc độ tăng trưởng chưa cao, lĩnh vực nông lâm nghiệp vẫn là lĩnh vực chủ đạo và đóng góp tỷ trọng khá trong GDP của huyện; cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu, trình độ dân trí của người dân còn thấp, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn

Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện Ba Chẽ trong thời gian tới

là phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, đầu tư xây dựng và hoàn thiện

hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn CNH - HĐH Tuy nhiên, thiết kế việc xây dựng quy hoạch sử dụng đúng mục tiêu là nội dung hàng đầu, giữ vị trí quan trọng cần được ưu tiên giải quyết nhằm xác định quỹ đất cần thiết cho phát triển kinh tế xã hội của huyện nói chung và phát triển nông lâm nghiệp nói riêng Thực tế trong giai đoạn vừa qua, phát triển nông lâm nghiệp của huyện còn nhỏ lẻ, manh mún, thiếu định hướng phát triển bền vững nông nghiệp - nông nghiệp, sức ép từ xây dựng khu công

Trang 12

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

nghiệp, khu đô thị dân cư đang tác động tới diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Nhiệm vụ đặt ra đối với nghiên cứu là nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên các loại hình đất theo hướng nào? Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện trong những năm qua đạt hiệu quả ra sao? Giải pháp nào để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp? Đây là những vấn đề đang đặt ra cho các cấp, các ngành và người dân huyện

Ba Chẽ cần giải quyết Xuất phát từ thực tế khách quan và đặc điểm tình hình

kinh tế xã hội huyện Ba Chẽ, tôi lựa chọn tên đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử

dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ trong giai đoạn CNH - HĐH, quá trình đô thị hóa nông nghiệp hóa nông thôn, để đánh giá sự phù hợp của công tác sử dụng đất cho việc phát triển các ngành nghề kinh tế, phát triển kết cấu hạ tầng cũng như quá trình đô thị nông nghiệp hóa nông thôn đang diễn ra tại huyện Ba Chẽ, từ

đó dự báo xu hướng chuyển dịch cơ cấu nâng cao hiệu quả sử dụng đất và đề xuất hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với vùng trên địa bàn huyện

Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh trong những năm tới

Trang 13

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực hiện thu thập số liệu trong giai

đoạn 2010 - 2014

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất

nông nghiệp để từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

4 Đóng góp và ý nghĩa của đề tài

Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận trong quản lý và sử dụng đất nông nghiệp, làm rõ vai trò và đóng góp của đất nông nghiệp trong phát triển kinh tế

xã hội Phân tích kinh nghiệm thực tiễn để rút ra bài học cho huyện Ba Chẽ trong

sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển kinh tế xã hội

Thứ hai, phân tích thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Ba Chẽ trong giai đoạn 2010 – 2014; đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp thông qua hệ thống chỉ tiêu Phân tích kết quả đạt được và thách thức đặt ra trong sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ

Thứ ba, căn cứ thực trạng và tình hình thực tiễn trong nghiên cứu thực

tế, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 4 Chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Chương 2: Địa bàn nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu Thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông

nghiệp tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

Chương 4: Giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông

nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

Trang 14

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

1.1.1 Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm

Khái niệm về đất nông nghiệp có nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau, có khái niệm được phản ánh quá trình phát triển hình thành, có khái niệm phản ánh mối quan hệ của đất nông nghiệp với cây trồng Để thống nhất cách hiểu và quan điểm, luận văn tiếp cận với hai khái niệm trong Luật đất đai của Việt Nam

Theo Luật đất đai (2001), đất nông nghiệp là toàn bộ diện tích đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, bao gồm: đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, diện tích mặt nước dùng vào mục đích nuôi trồng thủy sản, đất đồng cỏ, đất thí nghiệm nông nghiệp

Theo Luật đất đai (2003), đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác [10], [11]

Như vậy, có thể hiểu tổng quát về đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất trong nông nghiệp, điều kiện không thể thiếu cho các cây trồng vật nuôi, môi trường phục vụ cho các nghiên cứu khoa học về nông nghiệp và đảm bảo tái sản xuất tạo ra nông sản phẩm phục vụ con người

1.1.1.2 Phân loại đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp được phân loại thành 4 nhóm: Đất sản xuất nông nghiệp; Đất lâm nghiệp; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông

Trang 15

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

nghiệp khác Trong đó:

a Đất sản xuất nông nghiệp là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích

sản xuất nông nghiệp, gồm: (1) Đất trồng cây hàng năm, bao gồm: đất trồng

lúa (chuyên lúa nước, lúa nước còn lạ, lúa nương); đất cỏ dùng vào chăn nuôi (trồng cỏ, cỏ tự nhiên có cải tạo); đất trồng cây hàng năm khác (đất bằng trồng cây hàng năm; đất nương rẫy trồng cây hàng năm) (2) Đất trồng cây

lâu năm, bao gồm: đất trồng cây công nghiệp lâu năm; đất trồng cây ăn quả lâu năm, đất trồng cây lâu năm khác

b Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng

đạt tiêu chuẩn rừng, đất đang khoanh nuôi phục hồi rừng, đất để trồng rừng mới, gồm: (1) Đất rừng sản xuất, bao gồm: rừng tự nhiên sản xuất, rừng trồng sản xuất, khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất, rừng sản xuất (2) Đất rừng phòng hộ, bao gồm: rừng tự nhiên phòng hộ, rừng trồng phòng hộ, khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ, trồng rừng phòng hộ (3) Đất rừng đặc dụng, bao gồm: rừng tự nhiên đặc dụng, rừng trồng đặc dụng, khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng, trồng rừng đặc dụng

c Đất nuôi trồng thủy sản là đất được sử dụng chuyên vào mục đích

nuôi trồng thủy sản, gồm: (1) đất nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn; (2) Đất chuyên trồng thủy sản nước ngọt

d Đất làm muối là ruộng muối để sử dụng vào mục đích sản xuất muối

e Đất nông nghiệp khác là đất tại nông thôn để xây dựng nhà kính và

các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ

sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân

để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản

Trang 16

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

xuất nông nghiệp

1.1.1.3 Vai trò của đất nông nghiệp

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của động - thực vật và con người trên trái đất Đất đai là điều kiện cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất các thế hệ tiếp nhau của loài người, tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội Tuy nhiên, đối với mỗi ngành cụ thể đất đai có vị trí và vai trò khác nhau

Trong nông nghiệp, đất đai có vị trí đặc biệt, là yếu tố đầu vào của sản xuất nông lâm nghiệp, sử dụng đất đai có ảnh hưởng tới kết quả đầu ra, đặc biệt trong hệ thống sản xuất hàng hóa Chất lượng đất và các lợi thế của đất sẽ quyết định đến khối lượng sản phẩm sản xuất ra và khả năng sinh lời của đất

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là vì đất đai vừa đóng vai trò là đối tượng lao động, vừa đóng vai trò là tư liệu lao động Đất đai là đối tượng lao động vì đất đai chịu sự tác động của con người trong quá trình sản xuất để tạo môi trường cho sinh vật phát triển Đất đai là tư liệu lao động vì đất đai phát huy tác dụng như một công cụ lao động Con người sử dụng đất đai để chăn nuôi, trồng trọt, canh tác, không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp Với vị trí

và vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, việc quản lý và

sử dụng đất đai nói chung cũng như đất nông nghiệp nói riêng một cách đúng hướng, có hiệu quả sẽ góp phần đảm bảo an sinh xã hội, ổn định kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực [1], [3]

1.1.1.4 Đặc điểm kinh tế của đất nông nghiệp

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế: Đất đai có đặc

trưng riêng chính là sự khác biệt với các tư liệu sản xuất khác trong quá trình

sử dụng Các tư liệu sản xuất khác sau một thời gian sử dụng sẽ bị hao mòn

và hỏng hóc, còn đất đai nếu sử dụng hợp lý, khoa học sẽ lại càng tốt hơn

Trang 17

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Đặc điểm nay có được là do đất đai có độ phì nhiêu Độ phì nhiêu của đất được chi thành các loại: Độ phì tự nhiên được tạo ra do quá trình phong hóa

tự nhiên, độ phì loại này gắn liên với thuộc tính lý, hóa, sinh học của đất và môi trường xung quanh; Độ phì nhân tạo có được là do kết quả của sự tác động có ý thức của con người, bằng cách áp dụng hệ thống canh tác hợp lý, có căn cứ khoa học để thỏa mãn mục đích của con người; Độ phì kinh tế là do độ phì nhiêu mà con người khai thác sử dụng cho mục đích kinh tế thông qua sự hấp thụ và chuyển hóa của cây trồng sau một quá trình sản xuất Từ những đặc điểm này, trong nông nghiệp cần phải quản lý đất đai một cách chặt chẽ, theo quy định của luật đất đai, phân loại đất đai một cách chính xác, bố trí sản xuất nông nghiệp một cách hợp lý, thực hiện chế độ canh tác thích hợp để tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo vệ tài nguyên đất [3]

Diện tích đất là hữu hạn: Diện tích đất đai là có giới hạn đối với các

hoạt động sản xuất, sinh hoạt và định cư trên một phạm vi đất sử dụng Sự giới hạn về diện tích đất nông nghiệp còn thể hiện ở khả năng có hạn của hoạt động khai hoang, khả năng tăng vụ trong từng điều kiện cụ thể Quỹ đất nông nghiệp là có hạn và ngày càng trở lên khan hiếm do nhu cầu ngày càng cao về đất đai phục vụ cho quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá cũng như đáp ứng nhu cầu đất ở khi dân số ngày một gia tăng Đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng duy trì và mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp

Diện tích đất đai là có hạn không có nghĩa là mức cung về đất đai trên thị trường là cố định Tuy quỹ đất đai có hạn nhưng đường cung về đất đai trên thị trường vẫn là một đường dốc lên thể hiện mối quan hệ cùng chiều giữa giá đất và lượng cung tiền về đất Đặc điểm này cho thấy cần quy hoạch

và sử dụng đất đai hợp lý đồng thời quản lý chặt chẽ để vừa đảm bảo nâng cao thu nhập cho người nông dân vừa đảm bảo an ninh lương thực trong thời

kỳ CNH - HĐH [3]

Đất đai có vị trí cố định: Các tư liệu sản xuất khác có thể được di

Trang 18

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

chuyển trong quá trình sử dụng từ vị trí này sang vị trí khác thuận lợi, nhưng với đất đai việc làm đó là không thể Chúng ta không thể di chuyển đất đai theo ý muốn mà chỉ có thể canh tác trên những vị trí đất đai đã có sẵn Chính

vị trí cố định đã quy định tính chất hoá - sinh - lý của đất đai đồng thời cũng góp phần hình thành nên những lợi thế so sánh nhất định về sản xuất nông nghiệp Từ những nghiên cứu về đặc điểm đất đai cho biết cần phải bố trí sản xuất hợp lý cho từng vùng đất phù hợp với lợi thế so sánh và những hạn chế của vùng, thực hiện quy hoạch, phân bổ đất đai cho các mục tiêu sử dụng một cách hợp lý, xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống thuỷ lợi, giao thông cho từng vùng để tạo điều kiện sử dụng đất tốt hơn

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên: Đất đai là sản phẩm mà tự nhiên ban

tặng cho con người Song, thông qua lao động để thoả mãn mong muốn của mình, con người làm thay đổi gia trị và độ phì nhiêu của đất đai Đất nông nghiệp nếu được sử dụng hợp lý thì độ phì nhiêu không ngừng tăng lên, các loại tư liệu khác trong quá trình sản xuất thường bị hao mòn và giảm dần giá trị theo thời gian, còn đất đai không những không bị hao mòn mà còn tăng dần giá trị của sản phẩm nếu biết khai thác và sử dụng hợp lý [10]

1.1.1.5 Sử dụng đất và nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp

Sử dụng đất nông nghiệp: Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp

nhằm điều hòa mối quan hệ giữa người sử dụng và đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác cũng như môi trường Quy luật phát triển kinh tế

xã hội cùng với yêu cầu phát triển bền vững về mặt môi trường cũng như hệ sinh thái quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với vai trò là nhân tố cơ bản của sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất

Trang 19

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

nông nghiệp được thể hiện ở các khía cạnh sau: (1) Sử dụng hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất; (2) Phân phối hợp

lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế

sử dụng đất; (3) Quy mô sử dụng đất đai thích hợp, hình thành quy mô kinh tế

sử dụng đất; (4) Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất đai một cách kinh tế, tập trung, thâm canh [6]

Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp, bao gồm: (1) Đất nông nghiệp cần được sử dụng hợp lý và đầy đủ có nghĩa đất nông nghiệp cần được sử dụng hết và mọi diện tích đất nông nghiệp đều được bố trí sử dụng hợp lý với đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng loại đất để vừa nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi vừa duy trì được độ phì nhiêu của đất (2) Đất nông nghiệp cần được sử dụng có hiệu quả kinh tế cao, đây là kết quả của nguyên tắc thứ nhất trong sử dụng đất nông nghiệp Nguyên tắc chung là đầu tư vào đất nông nghiệp đến khi mức sản phẩm thu thêm trên một đơn vị diện tích bằng mức chi phí tăng thêm trên một đơn vị diện tích đó (3) Đất nông nghiệp cần được quản lý và sử dụng một cách bền vững, điều này có nghĩa là cả số lượng và chất lượng đất nông nghiệp phải được bảo tồn không những để đáp ứng mục đích trước mắt của thế hệ hiện tại mà còn phải đáp ứng được cả nhu cầu ngày càng tăng của các thế hệ mai sau Sự bền vững của đất nông nghiệp gắn liền với điều kiện sinh thái môi trường Vì vậy, cần áp dụng các phương thức sử dụng đất nông nghiệp kết hợp hài hòa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài [3]

1.1.1.6 Các loại hình sử dụng đất

Trong đánh giá đất, tổ chức FAO (Food and Agriculture Organization)

đã dưa ra khái niệm về loại hình sử dụng đất, đưa việc xác định loại hình sử dụng đất vào nội dung các bước đánh giá đất và coi loại hình sử dụng đất là một đối tượng của quá trình đánh giá đất

Loại hình sử dụng đất là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của

Trang 20

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

mỗi vùng với những phương thức sản xuất và quản lý sản xuất trong điều kiện

tự nhiên, kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác định [1]

Yêu cầu của các loại hình sử dụng đất là những đòi hỏi về đặc điểm và tính chất đất đai để bảo vệ mỗi loại hình sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững Đó là những yêu cầu sinh trưởng, quản lý, chăm sóc, các yêu cầu bảo vệ đất và môi trường Có thể liệt kê một số loại hình sử dụng đất phổ biến trong nông nghiệp như:

- Chuyên trông lúa có thể canh tác nhờ nước mưa hay có nước tưới chủ động, trồng 1 vụ, 2 vụ hay 3 vụ trong năm

- Chuyên trồng màu thường áp dụng cho những vùng đất cao thiếu nước tưới, đất có thành phần cơ giới nhẹ

- Kết hợp trồng lúa với cây trồng cạn, áp dụng các công thức luân canh nhiều vụ trong năm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu cuộc sống con người, đồng thời còn có tác dụng cải tạo độ phì nhiêu của đất Cũng có thể khắc phục những hạn chế về điều kiện tưới không chủ động một

số thời gian nhất định trong năm, nhất là mùa khô

- Bên cạnh đó, loại hình sử dụng đất được sử dụng cho mục đích trồng

cỏ chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng

1.1.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

1.1.2.1 Quan điểm về hiệu quả kinh tế

Theo quan điểm truyền thống: Hiệu quả kinh tế là nói đến phần còn lại

của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí Hiệu quả kinh tế được

đo bằng các chi phi và lãi Nhiều tác giả theo quan điểm này cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh [8]

Trang 21

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Quan điểm truyền thống chưa thật sự toàn diện khi xem xét đến hiệu quả kinh tế Sự thiếu toàn diện được thể hiện qua những khía cạnh sau: (1) Hiệu quả kinh tế được xem xét với quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh, chỉ xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư Trong khi đó, hiệu quả kinh

tế lại là vấn đề rất quan trọng không những cho phép chúng ta biết được kết quả đầu tư mà còn giúp chúng ta xem xét trước khi ra quyết định có nên tiếp tục đầu tư hay không và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào Trên phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng được đầy đủ (2) Quan điểm truyền thống không tính yếu tố thời gian khi tính toán thu và chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, thu và chi trong tính toán hiệu quả kinh tế

là chưa đầy đủ và chính xác (3) Hiệu quả kinh tế chỉ bao gồm hai phạm trù

cơ bản là thu và chi, hai phạm trù này chủ yếu liên quan đến yếu tố tài chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá cả Trong khi

đó, các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà còn trên cả các phương diện khác nữa Bên cạnh đó,

có những phần thu lợi hoặc những khoản chi phí mà lúc đầu khó hoặc không lượng hóa được những lại đáng kể thì lại không được phản ánh ở cách tính theo quan điểm truyền thống này

Theo quan điểm hiện đại: Các nhà kinh tế đã đưa ra quan niệm hiện đại

về hiệu quả kinh tế nhằm khắc phục những hạn chế của quan điểm truyền thống Theo quan điểm hiện đại, khi tính hiệu quả kinh tế phải căn cứ vào tổ hợp các yếu tố Bao gồm: (1) Trạng thái động của mối quan hệ đầu vào và đầu ra Cần phân biết rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm thu thêm trên một đơn vị đầu vào đầu tư thêm Tỷ số giữa đầu vào và đầu tư được gọi là sản phẩm biên Hiệu quả phân bổ nguồn lực là giá trị thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm Thực chất nó là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố đầu vào và giá sản phẩm Hiệu quả phân bổ đạt tối đa khi doanh thu biên bằng chi

Trang 22

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

phí biên Hiệu quả kinh tế là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tư thêm Chỉ đạt được hiệu quả kinh tế khi cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực là tối đa (2) Yếu tố thời gian các nhà kinh tế đương đại đã coi thời gian là một yếu tố trong tính toán hiệu quả Cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau nhưng có thể có hiệu quả khác nhau trong những thời điểm khác nhau (3) Hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường các quan điểm hiện đại cho rằng hiệu quả về tài chính phải phù hợp với xu thế thời đại, phù hợp với chiến lược tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững của các quốc gia hiện nay

Như vậy, có thể hiểu hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế và là đặc trưng của mọi hình thái kinh

tế xã hội Do đó, để có một quan điểm hoàn chỉnh về hiệu quả kinh tế, xuất phát

từ luận điểm kinh tế học và những luận điểm của lý thuyết hệ thống cho rằng nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người và con người trong quá trình sản xuất

1.1.2.2 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan nhưng nó không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất Mục đích yêu cầu đặt ra đối với quá trình sản xuất cũng như các mục tiêu của mọi thành phần kinh tế là khác nhau nên chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế cũng hết sức đa dạng Hiệu quả kinh tế liên quan trực tiếp đến yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất Tuy nhiên, việc lượng hóa cụ thể các yếu tố này để xác định hiệu quả kinh tế

là vấn đề gặp nhiều khó khăn (đặc biệt trong sản xuất nông lâm nghiệp) khó khăn thể hiện như sau:

Đối với yếu tố đầu vào: Trong sản xuất nông nghiệp, các tư liệu sản xuất là tài sản cố định được sử dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất, trong nhiều năm và mức độ sử dụng không đều theo thời gian Hơn nữa có loại rất khó xác định giá trị đào thải và chi phí sửa chữa lớn, do vậy việc tính khấu hao và phân bổ chi phí để tính đúng hiệu quả chỉ có tính chất tương đối Trong thực

Trang 23

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

tế, xác định yếu tố đầu vào bao gồm chi phí trung gian, chi phí sản xuất, chi phí lao động và dịch vụ, chi phí vốn đầu tư và đất đai, chi phí quản lý và các loại chi phí khác trong quá trình sản xuất

Đối với các yếu tố đầu ra: Trong kết quả sản xuất thì chỉ có thể lượng hóa và so sánh được đối với kết quả vật chất cụ thể Đối với những kết quả khác như vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, tạo công ăn việc làm, nâng cao

độ phì của đất, khả năng cạnh tranh trên thị trường, tái tạo sản xuất mở rộng không thể lượng hóa được và thường biểu hiện hiệu quả sau một thời gian dài nên việc xác định các yếu tố đầu ra cũng gặp những trở ngại, phức tạp Trong thực tế, xác định yếu tố đầu ra có thể bao gồm khối lượng sản phẩm, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, lợi nhuận, doanh thu [12]

Bản chất hiệu quả kinh tế, về mặt lượng là xem xét, so sánh kết quả thu được và chi phí bỏ ra, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại Về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh tế cao là phản ánh

nỗ lực của từng quá trình, mỗi cấp quản lý trong hệ thống sản xuất, đồng thời phản ánh trình độ năng lực quản lý sản xuất Sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu về mục tiêu chính trị xã hội Hai mặt định tính và định lượng là cặp phạm trù của hiệu quả kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau [5]

1.1.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Đặc điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp: Đánh giá hiệu quả

kinh tế của quá trình sản xuất diễn ra trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp Trong quá trình khai thác, sử dụng đất nông nghiệp con người luôn mong muốn thu được nhiều sản phẩm nhất trên một đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất Điều đó khẳng định rằng, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, trước hết, phải được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể,

Trang 24

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

kết quả thu được trên một đồng chi phí, trên một lao động đầu tư

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội bao gồm: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn Điều

đó khẳng định thêm rằng, hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Thực chất vấn đề này là đề cập đến hiệu quả xã hội khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phải quan tâm tới những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp tới môi trường xung quanh Nông nghiệp là ngành sản xuất chịu tác động và cũng có tác động nhiều đến môi trường cũng như hệ sinh thái Chỉ có thể phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững khi con người biết cách bảo vệ và cải thiện môi trường cùng hệ sinh thái

Như vậy, để đánh giá một cách toàn diện hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải đề cập tới ba vấn đề bao gồm hiệu quả kinh tế, xã hội và hiệu quả môi trường [6]

Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sản xuất đất nông nghiệp: Để đánh giá

hiệu quả kinh tế một cách đầy đủ, toàn diện, chúng ta cần xem xét và căn cứ vào mối quan hệ giữa lượng sản phẩm đầu ra tính bình quân trên mỗi đơn vị diện tích đất canh tác hoặc gieo trồng với các mức chi phí đầu vào khác nhau Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất nông nghiệp phụ thuộc vào hiệu quả của từng loại cây trồng vật nuôi, công thức luân canh hay phương thức sản xuất trên đơn vị diện tích đất

Trong nghiên cứu còn nhiều quan điểm về tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế về sản xuất xã hội Có thể phân thành ba nhóm quan điểm: (1) Nhóm 1 coi tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội là một mức nào đó về hiệu quả (H0) để dựa vào đó có thể kết luận là sản xuất có hiệu quả hay không, tiêu chuẩn được hiểu như vậy thường dùng để đánh giá, so sánh, lựa chọn các phương án; (2) Nhóm 2 coi tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội là mức hiệu quả

Trang 25

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

tối đa có thể đạt được trong những điều kiện nhất định; (3) Nhóm 3 được đại diện bởi một số nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội là do các quy luật kinh tế cơ bản quyết định

Ngoài ra, có một số nhà kinh tế cho rằng tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội là tăng năng suất lao động Nhóm này đồng nhất hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội với các biểu hiện cụ thể của nó Theo tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả của nền sản xuất xã hội là đạt được quan hệ tối ưu giữa kết quả kinh tế đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được mục đích đó

Từ mục đích nhất quán đó, quan điểm này cũng cho phép gắn hiệu quả kinh tế với lợi ích kinh tế, tức là với động lực của sự tăng trưởng và phát triển kinh

tế, không thể tách rời vấn đề tăng trưởng và phát triển với vấn đề hiệu quả

Như vậy, tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế phải được xem xét với sự ứng dụng lý thuyết sản xuất cơ bản theo nguyên tắc tối tưu hóa có ràng buộc Trong điều kiện sản xuất nhất định, việc sử dụng đất đai phải cố gắng tối thiểu hóa chi phí đầu vào theo nghĩa tiết kiệm, các chi phí không cần thiết để sản xuất ra lượng sản phẩm nào đó hoặc cố gắng tối đa hóa lượng sản phẩm một khi có giới hạn về diện tích và các yếu tố sản xuất khác Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp phải gắn liền với hiệu quả kinh tế xã hội của các chủ thể và ngành hàng trong nền kinh tế quốc dân Tiêu chuẩn đánh giá sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp dựa trên quan điểm sử dụng đất tổng hợp, bền vững dựa trên chỉ tiêu đánh giá: (1) Đảm bảo an ninh lương thực và tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị hàng hóa được thị trường chấp nhận, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, thực hiện tập trung và chuyên canh hóa trong sản xuất (2) Có thu nhập, hiệu quả kinh tế và khả năng sinh lời cao Kiểm soát được xói mòn, bảo vệ và duy trì độ phì của đất, tăng năng suất cây trồng

và giữ được quỹ đất, nguồn nước đa dạng sinh học và tạo ra nhiều sản phẩm

Trang 26

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

(3) Không gây ảnh hưởng xấu tới cộng đồng, thu hút lao động và giải quyết việc làm, không làm tổn hại đến rừng phòng hộ, các hoạt động sản xuất xã hội, tăng thu nhập và đảm bảo đời sống xã hội [12]

1.1.3 Yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả trong sử dụng đất nông nghiệp

1.1.3.1 Yếu tố điều kiện tự nhiên

Vị trí địa hình, đất đai: Đất đai là yếu tố sản xuất không thể thiếu được

trong sản xuất nông nghiệp, là mối quan tâm hàng đầu đối với người làm nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp phải gắn liền với đất đai, quỹ đất nhiều hay ít, tốt hay xấu, vị trí thuận lợi hay không, độ dốc lớn hay nhỏ đều ảnh hưởng đến kết quả sản xuất và tác động đến thu nhập của người nông dân Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp bởi vì đây là cơ sở đề sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở xác định cây trồng vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng Ở khu vực đồng bằng, đất nông nghiệp được hình thanh chủ yếu do

sự bồi tụ phù sa của hệ thống các sông lớn theo những loại hình tam giác châu thổ hoặc đồng bằng ven biển Với đặc điểm là địa hình bằng phẳng, có nguồn nước tưới tiêu thuận lợi, đất đai mầu mỡ phì nhiêu, khu vực đồng bằng đã và đang là những cánh đồng lớn phong phú về chủng loại cây trồng theo sự phát triển của giống và hệ thống canh tác mới Ở khu vực miền núi, đất đai đa dạng, địa hình xen kẽ giữa cánh đồng nhỏ hẹp hình thành do phù sa sông suối, các thung lũng do đất bồi tụ mà thành những vùng đất cao, những triền đồi, núi đốc rất khắc nhau về đặc điểm thổ những, thảm thực vật, nguồn nước và độ ẩm được khai thác, sử dụng bởi nhiều tộc người khác nhau Vì vậy, quá trình sử dụng đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng ở miền núi cũng có nhiều sự khác biệt với khu vực đống bằng, thể hiện qua chủng loại cây trồng, cơ cấu mùa vụ, năng suất cây trồng đến thu nhập của hộ nông dân [6]

Điều kiện khí hậu, thời tiết: Yếu tố thời tiết, khí hậu ảnh hưởng trực

Trang 27

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Nhiệt độ trung bình, sự sai khác nhiệt độ ánh sáng, cường độ ánh sáng, lượng mưa, độ

ẩm, số giờ nắng trực tiếp ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi Lượng mưa có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho quá trình sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi

1.1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Điều kiện kinh tế xã hội bao gồm: các yếu tố về chế độ xã hội, dân số

và lao động; thống tin và chính sách, trình độ dân trí, yêu cầu quốc phòng an ninh; sức sản xuất và trình độ phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế và phân bổ sản xuất, các điều kiện phát triển công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, giao thông vận tải, thủy lơi, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, trình độ lao động

và quản lý sử dụng lao động Trong đó các yếu tố xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo trong việc sử dụng đất đai cũng như sử dụng đất nông nghiệp Phương thức sử dụng đất nông nghiệp được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định

Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau

có tác động đến việc quản lý sử dụng đất nông nghiệp, khống chế phương thức và hiệu quả sử dụng đất Trình độ phát triển kinh tế và xã hội khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất nông nghiệp cũng khác nhau Nền kinh tế và khoa học kỹ thuật nông nghiệp càng phát triển thì khả năng sử dụng đất nông nghiệp của con người càng được nâng cao

Chính sách và những quy định của Nhà nước là yếu tố ảnh hưởng lớn

đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Có bốn nhóm chính sách tác động gián tiếp đến hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp: (1) chính sách liên quan đến quyền sử dụng đất nông nghiệp; (2) chính sách liên quan đến giá sản phẩm, giá đầu vào; (3) chính sách phát triển cơ sở hạ tầng: giao thông, thủy

Trang 28

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

lợi, giáo dục, thông tin, nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ; (4) chính sách liên quan đến tín dụng và lãi suất [1], [6]

1.1.3.2 Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất

Cơ sở hạ tầng là yếu tố cơ bản quy định hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp Cơ sở hạ tâng bao gồm giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc, dịch vụ sản xuất, khoa học kỹ thuật Những yếu tố này tác động cả trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp

1.1.3.3 Khoa học kỹ thuật công nghệ

Bản chất của kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp có ảnh

hưởng rất lớn đến năng suất đất đai và hiệu quả kinh tế Như chúng ta đã biết, đổi mới công nghệ trong nông nghiệp có thể hướng vào việc tiết kiệm các nguồn lực, phát triển các công nghệ đòi hỏi mức đầu tư thấp, ít sử dụng chất hóa học trong sản xuất nông nghiệp, phát huy kiến thức cổ truyền của nông dân

và thực hiện mục tiêu đa dạng sinh học Hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp nói chung và hiệu quả trong sử dụng đất nông nghiệp nói riêng phụ thuộc nhiều vào công nghệ áp dụng trong sản xuất Có khi cùng chủng loại

và số lượng đầu vào nhưng đổi mới cách thức, kỹ thuật sử dụng cũng có thể dẫn đến sự thay đổi lớn trong kết quả cũng như hiệu quả kinh tế [2]

Biện pháp kỹ thuật canh trác là yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu

tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bổ và tích lũy năng suất kinh tế [4]

Theo một số nhà nghiên cứu về đất đai, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thủy lợi, phân bón tới hiệu quả thì yếu tố cầu đối với tổ chức sử dụng đất cũng được đạt ra Thực tế cho thấy, ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp Việt Nam, quy trình

Trang 29

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

kỹ thuật có thể góp đến 30% của năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp [1], [6]

1.1.3.4 Điều kiện sản xuất của hộ nông dân

Kiến thức và kỹ năng của nông hộ góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp Khả năng tiếp thu kỹ thuật và năng suất cây trồng, vật nuôi có liên quan chặt chẽ đến kiến thức và kỹ năng canh tác của nông dân Trình độ văn hóa và kinh nghiệm có thể được coi là những biến độc lập quy định đến năng suất và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, diện tích đất, số lao động, lượng vốn mà hộ nông dân có thể phục vụ sản xuất nông nghiệp cũng là một trong những biến số quan trọng trong điều kiện sản xuất của hộ nông dân [1], [2]

1.1.3.5 Yếu tố thị trường

Yếu tố thị trường trong lĩnh vực nông nghiệp cần lưu tâm tới hai yếu tố đầu vào và đầu ra Phần lớn các thị trường trong nông nghiệp mang tính cạnh tranh cao hơn so với các ngành khác trong nền kinh tế Vì vậy, tạo ra thị trường cạnh tranh lành mạnh, cũng là một trong những điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp, đặc biệt là đất nông nghiệp Môi trường cạnh tranh lành mạnh, trong đó các thành phần kinh tế quốc doanh, tư nhân, hợp tác xã có quyền ngang nhau trong việc tạo vốn, sử dụng các thông tin mua và bán sản phẩm [1], [2]

Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, khuynh hướng quan tâm đến mức

độ lợi ích kinh tế luôn luôn chi phối quá trình sử dụng đất nông nghiệp và hiệu quả của quá trình này Hiện nay, do nhiều nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan, đất đai nhìn chung đang bị khai thác một cách không hợp lý,

cụ thể là khai thác quá mức - vượt quá khả năng mang tải của đất, làm cho đất nông nghiệp bị giảm sút về số lượng và suy thoái về chất lượng Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội để nghiên cứu mối

Trang 30

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong việc sử dụng đất nông nghiệp Cần căn cứ vào những yêu cầu của thị trường, của xã hội để xác định hướng sử dụng đất nông nghiệp, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai nhằm đạt tới cơ cấu hợp lý nhất với diện tích đất nông nghiệp có hạn, mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội cũng như hiệu quả

về môi trường, đồng thời nên có chính sách phù hợp nhằm cải thiện chất lượng đất nông nghiệp [6]

1.2 Thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

1.2.1 Kinh nghiệm trong sử dụng đất nông nghiệp các nước trên thế giới

1.2.1.1 Kinh nghiệm Trung Quốc

Với sự phát triển của các đô thị, hệ thống vận chuyển, xây cất đường

xá, phi trường và cả các sân golf diện tích đất nông nghiệp của Trung Quốc ngày càng thu hẹp Đất sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc đã giảm nhanh

từ 130,04 triệu ha năm 1996 xuống còn 121,72 triệu ha năm 2008, do tác động của quá trình đô thị hóa nhanh và thiên tai Hiện nay, diện tích đất trồng trọt của Trung Quốc vào khoảng 0,092 ha/người, chỉ bằng 40% mức trung bình của thế giới Chưa đầy 4,7 triệu ha được coi là đất dự trữ sản xuất nông nghiệp Tình trạng mất đất ngày càng tăng lên do công nghiệp hóa và đô thị hóa làm cho 200 triệu người phải lang thang đi tìm việc ở khắp nơi Miếng đất

để nuôi 5 khẩu nay chỉ đủ nuôi 2 khẩu Hiện nay có 70 triệu nông dân mất đất

mà không còn phúc lợi tập thể để hỗ trợ Bên cạnh đó, Hiến pháp Trung Quốc quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, nông dân chỉ có quyền sử dụng đất nông nghiệp theo hợp đồng 30 năm Điều này

có nghĩa là chính quyền địa phương có thể thu hồi vào bất cứ lúc nào Công nghiệp hóa và đô thị hóa trong 30 năm qua đã làm cho hàng chục triệu nông dân bị mất đất canh tác

Một thực tế khác là ruộng đất ở Trung Quốc rất manh mún, mỗi hộ nông dân chỉ sử dụng một khoảnh đất nhỏ, bình quân 0,67 ha/hộ gia đình,

Trang 31

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

bằng 1/4 bình quân thế giới Chính vì quá nhỏ và manh mún như vậy nên việc sản xuất thực sự không hiệu quả, gây mất an toàn cho an ninh lương thực, khiến cán cân thu nhập lệch hẳn về đô thị Nhiều người dân từ bỏ ruộng đất của mình để lên thành phố tìm kiếm các cơ hội nâng cao cuộc sống Hiện Trung Quốc đang trở thành quốc gia có khoảng cách thu nhập lớn nhất thế giới Số liệu năm 2007 của Liên hợp quốc cho thấy hệ số Gini phản ánh sự bất bình đẳng phân phối thu nhập của Trung Quốc đã vượt ngưỡng báo động 0,4 20% dân số nghèo nhất nước chỉ nắm giữ 4,7% tài sản quốc gia, trong khi đó 20% dân số giàu nhất nước nắm 50% tài sản quốc gia

Không chỉ vậy, những nông dân ra thành phố kiếm việc làm phải nhờ người thân canh tác những khoảnh ruộng hoang mà không thể bán đi được Trong khi đó, nhiều người có vốn, có khả năng lại khó mở rộng quy mô trang trại vì luật không cho phép mua bán đất, cách giải quyết của họ là chuyển sang thuê lại đất để sản xuất nông nghiệp Tỷ lệ ruộng đất thuê mướn trong tổng diện tích đất canh tác ở Trung Quốc thời gian qua tăng lên liên tục, diện tích thuê chiếm tới hơn 10% trong cả nước Nhờ đó, quy mô bình quân ruộng đất trên hộ của Trung Quốc từ năm 2000 đến nay có xu hướng tăng lên Cho thuê đất nông nghiệp là một giải pháp để chuyển lao động nông thôn sang thị trường lao động phi nông nghiệp

Trong bối cảnh dân số ngày càng tăng, chính phủ Trung Quốc đặt mục tiêu nâng sản lượng lương thực hàng năm lên trên 550 triệu tấn vào năm

2020, tăng 50 triệu tấn so với năm 2007 Tuy nhiên, giới chuyên gia cảnh báo tình trạng thiếu đất trồng trọt và nước tưới ngày càng trầm trọng như hiện nay

có thể cản trở nước này đạt mục tiêu sản lượng lương thực đầy tham vọng trong thập kỷ tới, thậm chí, xa hơn là đe dọa an ninh lương thực của quốc gia 1,3 tỷ dân Sản lượng lương thực khó có thể tiếp tục tăng một khi Trung Quốc không còn khả năng mở rộng diện tích canh tác trong tương lai

Trang 32

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trước tình hình đó, nhằm bảo vệ đầy đủ quyền lợi của nông dân cũng như đảm bảo an ninh lương thực cho quốc gia đông dân nhất thế giới, mới đây Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chính thức thông qua

kế hoạch cải cách ruộng đất đầy táo bạo với quyết tâm lấy lại thế cân bằng cho hơn 800 triệu dân nước này Theo chiến lược phát triển nông thôn, Trung Quốc thực thi chế độ bảo hộ ruộng đất, bảo hộ quyền tự chủ kinh doanh của nông dân, bồi thường thích đáng cho các trường hợp người dân bị chiếm dụng đất Tiền chuyển nhượng ruộng đất phải thuộc về nông dân Ruộng đất là sở hữu tập thể, nhưng quyền sản xuất kinh doanh nằm trong tay nông dân và quyền của họ được đảm bảo, không thay đổi Yêu cầu này xuất phát từ một thực tế: Người nông dân Trung Quốc vẫn chưa làm chủ được đất đai của mình Hiện tại, họ chỉ được cho thuê đất trong 15 - 30 năm và không thể sử dụng đất làm phương tiện thế chấp để vay vốn ngân hàng và đầu tư tăng gia sản xuất Nông dân không được phép khai thác đất đai để sử dụng cho các hoạt động phi nông nghiệp Có lẽ chính vì thế mà một khi nhà nước cần lấy đất để triển khai các khu công nghiệp, các công trình công cộng giá đền bù đất thường rất thấp Điều này, phát sinh mâu thuẫn xung quanh quyền sở hữu ruộng đất là nguyên nhân của nhiều vụ biểu tình tại Trung Quốc trong những năm gần đây

Trên tinh thần đó, Trung Quốc đã quyết định đưa ra một thay đổi cơ bản Trước hết là nâng thời hạn sử dụng đất lên 70 năm nhằm đảm bảo quyền lợi cho người nông dân đầy đủ hơn Bên cạnh đó, họ sẽ được phép chuyển nhượng, cho thuê và cầm cố quyền sử dụng mảnh đất của mình để thu lợi nhuận trên thị trường giao dịch ruộng đất Điều này tạo điều kiện phát triển cho một nông thôn hiện đại, xây dựng những nông trại công nghiệp quy mô lớn nhằm nâng cao năng suất và sản lượng nông nghiệp cho Trung Quốc Bên cạnh đó, nhằm hạn chế lấy đất nông nghiệp, vấn đề thu hồi đất nông nghiệp của Trung Quốc được quy định rất chặt chẽ Nếu chuyển đổi mục đích sử

Trang 33

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

dụng đất, phải đúng với chiến lược lâu dài của vùng đó và phải nằm trong chỉ giới đỏ, đảm bảo cả nước luôn duy trì 1,8 tỷ mẫu đất nông nghiệp trở lên

Hiện ở Trung Quốc, nhiều địa phương thu hồi đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp đã phải trả lại cho nông dân sản xuất nông nghiệp Đồng thời, Trung Quốc cũng đang nghiên cứu đến phương án nông dân có thể dùng đất canh tác thế chấp ngân hàng vay vốn Đối với những khoản tiền thu được

từ phát triển công nghiệp (sau khi đã lấy đất nông nghiệp) được chuyển về chính quyền thôn xã Việc lấy đất nông nghiệp có thể thực hiện theo hình thức đất đổi đất, do chính quyền địa phương thực hiện trong quy hoạch, tùy thuộc vào chất lượng, vị trí đất như thế nào

Trung Quốc đặc biệt coi trọng việc bảo vệ đất canh tác, đặc biệt là đất ruộng cơ bản đã được chính quyền xác định dùng vào sản xuất lương thực, bông, dầu ăn, rau hoặc đã có công trình thủy lợi tốt Luật còn quy định cụ thể đất ruộng cơ bản phải chiếm 80% trở lên đất canh tác của mỗi tỉnh Nguyên tắc bảo vệ đất canh tác là “chiếm bao nhiêu, khẩn bấy nhiêu”, nếu không có điều kiện thì nộp phí khai khẩn cho cấp tỉnh dùng để khai hoang Cấm không được chiếm dụng đất canh tác để xây lò gạch, mồ mả hoặc tự ý xây nhà, đào lấy đất cát, khai thác đá, quặng Việc trung thu các đất sau đây phải được chính phủ phê chuẩn: đất ruộng cơ bản, đất canh tác vượt quá 35 ha, đất khác vượt quá 70 ha Trung thu các đất khác do chính quyền cấp tỉnh phê chuẩn rồi báo cáo chính phủ, khi trưng thu đất đai thì phải bồi thường theo hiện trạng sử dụng đất lúc đó Chi phí bồi thường bao gồm tiền bồi thường đất, tiền trợ giúp

an cư tính theo số nhân khẩu của hộ gia đình và tiền hoa màu Tiền bồi thường đất bằng 6 - 10 lần, còn tổng số tiền trợ giúp an cư tối đa không quá

15 lần giá trị trung bình sản lượng hàng năm của 3 năm trước trưng thu

1.2.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhằm nhanh chóng phục hồi, ổn định đất nước, phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ Nhật Bản đã chú trọng đầu tư

Trang 34

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

cho phát triển công nghiệp và các đô thị lớn Từ những năm 50 - 60 của thế

kỷ XX, kinh tế Nhật Bản đã có những bước khởi sắc (thu nhập bình quân đầu người năm 1966 đạt khoảng 1.000 USD, năm 1967 tổng sản phẩm quốc dân của Nhật đã vượt Anh và Pháp, năm 1968 vượt qua Đức và chỉ đứng sau Mỹ)

Do theo đuổi mục tiêu kinh tế và tập trung vào công nghiệp hóa làm cho khoảng cách giữa nông thôn và đô thị, thu nhập giữa cư dân đô thị và cư dân nông thôn ngày càng doãng ra một cách gay gắt Tác động đầu tiên trong quá trình phát triển kinh tế và công nghiệp hóa là diện tích đất canh tác thu hẹp, nông nghiệp gần như “tiêu điều” và ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của người dân khu vực nông thôn Để chấn hưng cho nền nông nghiệp Nhật Bản, quy hoạch đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp và nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện một loạt các biện pháp để thúc đẩy và chấn hưng nền nông nghiệp, sử dụng hợp lý và hiệu quả hơn đất đai cho phát triển nông nghiệp

Thứ nhất, cải cách ruộng đất Sau cải cách ruộng đất 1945 và 1948, một phần lớn diện tích canh tác đã được cải tạo, đồng thời kỹ thuật canh tác mới cũng được đưa vào áp dụng, góp phần quan trọng làm tăng năng suất đất đai canh tác Quyền sở hữu ruộng đất đã trở thành động lực kích thích mạnh mẽ nông nghiệp phát triển, mở rộng việc mua bán nông phẩm và tăng nhanh tích luỹ Thời gian này năng suất sản xuất nông nghiệp được nâng cao rõ rệt Tuy nhiên, khi các tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển rất khó áp dụng vào sản xuất nông nghiệp vì quy mô sản xuất của các hộ quá nhỏ Năm 1962, tạo điều kiện thuận tiện cho quản lý sản xuất nông nghiệp hợp tác xã và mở rộng quy

mô sản xuất nông nghiệp để cơ khí hoá trên quy mô lớn, chương trình hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp đã được thực hiện Đến năm 1969, chương trình này được thực hiện lần thứ hai với chức năng thúc đẩy việc mở rộng quy mô sản xuất và củng cố các tổ chức sản xuất Tuy vậy, kết quả đạt được không cao

Trang 35

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Xét về lợi thế cạnh tranh thì Nhật Bản không có lợi thế cạnh tranh về nông nghiệp do hạn chế về đất đai Nhưng Nhật Bản đã thành công đưa khoa học và công nghệ vào nông nghiệp nhằm tăng năng suất nông nghiệp Sự phát triển khoa học kỹ thuật làm tăng sản lượng nông phẩm nhưng đồng thời lại làm giảm bớt đất đai và nguồn nhân lực nông nghiệp Do yêu cầu của các ngành công nghiệp, vì thế nhiều diện tích canh tác bị chuyển sang các mục tiêu sử dụng khác Để duy trì, bảo vệ những vùng đất tốt dùng cho mục đích nông nghiệp, năm 1969 Nhà nước đã ban hành luật “Cải tạo và phát triển những vùng đất có khả năng mở rộng sản xuất nông nghiệp” Đến năm 1970, Luật đất đai nông nghiệp và luật hợp tác xã nông nghiệp được sửa đổi bổ sung nới rộng quyền hạn cho thuê, phát canh đất sản xuất nông nghiệp cũng như quyền quản lý cho các tập đoàn và các hợp tác xã nông nghiệp Hệ thống tập đoàn nông dân thành lập vào năm 1970 được xem là chính sách hoàn thiện cơ cấu tổ chức đối với những người nông dân trực tiếp sản xuất

Năm 1975, Nhật Bản quyết định thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp toàn diện, bao gồm: đảm bảo an toàn lương thực; xem xét lại chính sách giá cả; hoàn thiện cơ cấu sản xuất, đẩy mạnh các công trình phúc lợi trong các làng xã Đồng thời chương trình “Đẩy mạnh sử dụng đất nông nghiệp” được triển khai Chương trình này được bổ sung vào năm 1980, và nhờ vậy nó giữ vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện cơ cấu sản xuất nông nghiệp

Từng hộ sản xuất riêng lẻ, với quy mô quá nhỏ thì không thể có đủ điều kiện kinh tế và kỹ thuật để hiện đại hoá quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hoá lớn Năm 1995, số lượng nông trại giảm 791 nghìn cái (giảm 18,7%) so với năm 1985 Quy mô ruộng đất bình quân một nông trại có sự thay đổi theo hướng tích tụ ruộng đất vào các trang trại lớn để tăng hiệu quả sản xuất Xu hướng này thể hiện rõ nhất trong giai đoạn 1990-1995, qui mô đất lúa bình quân/hộ tăng từ 7.180m2

lên 8.120m2 Thứ hai, phát triển sản xuất có chọn lọc, nâng cao chất lượng nông sản

Trang 36

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu Ờ ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Kể từ sau năm 1951, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật - công nghệ lŕm cho sản xuất nông nghiệp thừa dẫn đến giá cả nông sản liên tục giảm và thu nhập nông dân bị giảm sút Năm 1956, thu nhập của mỗi nông hộ kém 10% và của mỗi nhân khẩu chỉ bằng 2/3 so với nhân khẩu công nhân thành phố Tình hình này khiến cho nông dân lo lắng về tương lai của họ trong khi sản xuất nông nghiệp vẫn tiếp tục tăng Thời kỳ này, ngành nông nghiệp Nhật Bản gặp phải nhiều khó khăn, nhiều vấn đề nông nghiệp đòi hỏi phải được giải quyết thông qua những chắnh sách mới về nông nghiệp như: các hộ nông dân thu nhập thấp; cạnh tranh kém trên thị trường quốc tế; số nông dân lao động phi nông nghiệp ngày một tăng; hệ thống cơ cấu công việc đồng áng bị tổn hại

Để giải quyết những khó khăn trên và cải thiện điều kiện kinh tế của hộ nông dân, chắnh sách nông nghiệp của Nhật Bản đã nhấn mạnh tới việc chuyển từ chỗ tăng sản lượng lương thực một cách đơn thuần sang phát triển nông nghiệp trên cơ sở tăng hiệu quả kinh tế Bước ngoặt của chắnh sách nông nghiệp thực sự bắt đầu khi Luật Nông nghiệp cơ bản được ban hành vào năm

1961, với hai phương hướng chắnh sách chủ yếu: Phát triển sản xuất có chọn lọc, cụ thể là đẩy mạnh sản xuất những sản phẩm có nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng và giảm sản xuất những nông phẩm có sức tiêu thụ kém Hoàn thiện

cơ cấu nông nghiệp, kể cả việc phát triển những nông hộ và hợp tác xã có năng lực về quản lý kinh doanh và canh tác Chắnh sách giá cả được xem là quan trọng nhưng Nhật Bản còn ngần ngại khi thực hiện nâng giá, lý do đơn giản là sợ làm tăng nhanh nguồn thu nhập của nông dân

Trong những năm 1960 và 1970, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Nhật đã đẩy thu nhập của nhân dân tăng đáng kể, nhu cầu tiêu dùng đạm động vật, mỡ, dầu thực vật, và hoa quả tăng nhanh, trong khi đó nhu cầu về gạo giảm xuống Do có sự thay đổi khẩu phần ăn như vậy, nên chắnh sách và biện pháp sản xuất có chọn lọc được áp dụng chủ yếu cho chăn nuôi và cây ăn quả Kết quả là từ 1960 đến 1970, sản phẩm chăn nuôi tăng 4 lần và sản lượng hoa quả tăng 2 lần; nhu cầu lương thực, thực phẩm ở trong nước phần lớn đã được

Trang 37

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

giải quyết Cũng trong thời gian này, lao động trong nông nghiệp giảm xuống khoảng 50%, song năng suất lao động lại tăng bình quân hàng năm 5-8% nhờ tăng cường cơ giới hoá và cải tiến quy trình kỹ thuật Đây là tỷ lệ tăng bình quân cao nhất ở những nước phát triển

Khẩu phần ăn của người Nhật đã thay đổi, nên ngành thực phẩm chế biến ngày càng chiếm vị trí quan trọng Các chính sách về mua bán và chế biến nông phẩm như: hoàn thiện và củng cố mạng lưới bán buôn từ cấp trung ương tới địa phương; tổ chức hệ thống tín dụng cho những người tham gia dịch vụ mua bán; hướng dẫn kỹ thuật và quản lý cho những người quản lý các

xí nghiệp nhỏ; bảo hộ cho người tiêu dùng cũng được thực hiện

Thứ ba, chính sách hỗ trợ nông nghiệp Về chính sách giá cả, đặc biệt chính sách trợ giá cho lúa gạo khá lớn, đã kích thích sản xuất và dẫn đến sản xuất thừa gạo Các sản phẩm nông nghiệp khác như lúa mì và hoa màu đều giảm Từ năm 1970, Nhật Bản bắt đầu hạn chế mức sản xuất gạo, do vậy Nhật Bản chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu lương thực trong nước so với 79% của năm 1960 Theo quan điểm an ninh lương thực là mục tiêu số một nên ngành nông nghiệp được bảo hộ rất cao Nhật Bản luôn khuyến khích sản xuất nông nghiệp theo kiểu tự cung tự cấp thông qua việc hạn chế nhập khẩu một cách tối đa Điều này dẫn tới mức giá nông phẩm cao và khuyến khích sản xuất trong nước Nhà nước có sự can dự rất sâu trong kiểm soát việc cung cấp và

ấn định các mức giá cho một số loại hàng hoá nông phẩm ở thị trường nội địa Chỉ riêng việc duy trì giá gạo cao, trong vòng hơn 30 năm qua Nhật Bản đã phải chi một khoản trợ cấp rất lớn 6 tỷ yên cho chính sách này và sau đó lại cần đến 5 tỷ yên để bán hết số gạo dư thừa đó

Trong khi đó các đối tác thương mại chủ yếu của Nhật Bản đã triển khai một cách khó khăn những cuộc cải cách nông nghiệp theo khuynh hướng chung về tự do hoá thương mại của vòng đàm phán Urugoay và WTO thì sự ủng hộ của người Nhật cho những thay đổi đó vẫn còn rất yếu Nền kinh tế

Trang 38

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Nhật Bản sau hơn một thập kỷ suy thoái đang tiếp tục cần phải có những sự điều chỉnh cơ cấu một cách mạnh mẽ hơn Thất nghiệp ở mức cao và thu nhập thực tế giảm sút khiến cho người tiêu dùng đã có những phản ứng khi họ phải trả mức giá cao khi mua nông sản được sản xuất ở trong nước khi so sánh với mức giá trên thị trường thế giới Trong khi đó việc nới lỏng tự do hoá nhập khẩu khiến cho giá một số hàng nông phẩm thấp đi

Rõ ràng chính sách hỗ trợ nông nghiệp kéo dài của Nhật Bản đang làm tổn thương tới những điều mà nó cố tình bảo vệ vì lương thực được cho là dồi dào ở Nhật Bản nhưng giá cả lương thực vẫn khá đắt, đặc biệt đối với những

ai có mức thu nhập thấp Điều này làm giảm sức mua của người tiêu dùng, do

đó làm tổn thương tới các nhà cung cấp khác trên cơ sở tạo ra các ảnh hưởng kinh tế mang tính dây chuyền Việc hỗ trợ thu nhập cho người nông dân thông qua việc duy trì các mức giá nông sản cao, cũng làm cho tính cạnh tranh của khu vực này về mặt dài hạn và khả năng đảm bảo an ninh lương thực của Nhật Bản bị giảm sút

Như vậy, có thể thấy các chính sách hỗ trợ trong quá khứ của Nhật dường như sẽ không còn phù hợp nữa và Nhật Bản đã đưa ra “Luật cơ bản mới về lương thực, nông nghiệp và khu vực nông thôn” vào cuối năm 1999 với hứa hẹn có những cuộc cải cách mới trong lĩnh vực nông nghiệp Song thực tế cải cách nông nghiệp diễn ra hết sức chậm chạp Việc này được lý giải bởi các ảnh hưởng chính trị của những người nông dân và các HTX nông nghiệp vẫn còn rất lớn trong xã hội Nhật Bản

Đến nay Nhật Bản vẫn duy trì mức thuế cao đối với các mặt hàng như gạo, lúa mỳ và các sản phẩm từ sữa Có thể thấy rõ điều này thông qua việc

“so sánh về chính sách giữa các nước, khối nước khác nhau” Ở Mỹ phần gánh nặng mà người tiêu dùng phải chịu đã giảm từ 46% trong giai đoạn 1986-1988 xuống còn 35% trong năm 2004; ở EU cũng giảm từ 85% xuống

Trang 39

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

còn 54%, ngược lại ở Nhật Bản lại tăng từ 90% lên 91% Với việc duy trì mức thuế cao, Nhật Bản đang phải đối mặt với những phản ứng của các đối tác thương mại trên các diễn đàn song phương và đa phương về sức ỳ quá lớn của Nhật Bản đối với tiến trình tự do hoá trong lĩnh vực nông nghiệp

Thứ tư, phát triển khoa học, kỹ thuật nông nghiệp Sau chiến tranh, kinh tế Nhật Bản bị tàn phá nặng nề, không chỉ sản xuất công nghiệp mà nông nghiệp cũng đạt ở mức rất thấp, nguyên liệu và lương thực trong nước thiếu thốn trầm trọng Do vậy trong điều kiện đất chật người đông, để phát triển nông nghiệp, Nhật Bản coi phát triển khoa học kỹ thuật nông nghiệp là biện pháp hàng đầu Nhật Bản tập trung vào các công nghệ tiết kiệm đất như: tăng cường sử dụng phân hoá học; hoàn thiện công tác quản lý và kỹ thuật tưới tiêu nước cho ruộng lúa; lai tạo và đưa vào sử dụng đại trà những giống kháng bệnh, sâu rầy và chịu rét; nhanh chóng đưa sản xuất nông nghiệp sang kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất Đây là một thành công quan trọng về định hướng đầu tư khiến cho sản xuất nông nghiệp vào năm 1950 đã được phục hồi xấp xỉ mức trước chiến tranh Sản xuất tiếp tục phát triển và tới 1953 đã vượt mức trước chiến tranh 30% Sản xuất nâng cao là điều kiện thuận lợi để Nhật Bản thực hiện Chương trình hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp

Để phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp, Nhật Bản chủ yếu dựa vào các viện nghiên cứu nông nghiệp của Nhà nước và của chính quyền các địa phương Thời gian này, những viện nghiên cứu vùng được nhà nước thành lập, trong đó Viện quốc gia về khoa học nông nghiệp được thành lập ở cấp Nhà nước

là cơ quan có trách nhiệm tổng hợp gắn kết toàn bộ các viện nghiên cứu cấp ngành thành một khối Việc nghiên cứu nông nghiệp do Viện nghiên cứu quốc gia và các viện nghiên cứu nông nghiệp chuyên ngành cùng đảm nhiệm Bên cạnh đó, các viện nghiên cứu nông nghiệp cũng tăng cường liên kết nghiên cứu với các trường đại học, các xí nghiệp tư nhân và các hội khuyến nông Nhờ vậy, việc phát triển và mở rộng việc áp dụng các nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông

Trang 40

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc tăng cường hiệu quả sản xuất nông nghiệp song song với những tiến bộ đạt được trong lĩnh vực phát triển cơ giới hoá, đầu tư và hoàn thiện những cơ sở hạ tầng

1.2.2 Kinh nghiệm trong sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Hà Nam

Phát triển nông nghiệp - nông thôn - nông dân (tam nông) của tỉnh Hà Nam nói riêng và các tỉnh trong nước nói chung đã có những thành tựu nhất định nhưng trong vấn đề sử dụng đất cho phát triển sản xuất nông nghiệp vẫn

c ̣n là m ột bài toán cần có lời giải Kinh nghiệm của Hà Nam trong việc dồn điền, đổi thửa để tăng quy mô sản xuất, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa tập trung đã được áp dụng và bước đầu đem lại kết quả đáng ghi nhận Bài học kinh nghiệm trong nâng cao sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp thông qua việc dồn điền, đổi thửa được thể hiện qua một số nội dung:

Thứ nhất, tổ chức họp bàn các bên về chủ trương tích tụ ruộng đất theo nguyên tắc không thu hồi, nông dân không mất quyền sử dụng đất trong liên kết sản xuất với doanh nghiệp, thu nhập của nông dân phải cao hơn so với khi chưa dồn điền, đổi thửa Không để xảy ra tình trạng lợi dụng xây dựng cánh đồng mẫu lớn để cho tặng, chuyển nhượng đất nông nghiệp trái quy định của pháp luật, thực hiện liên kết sản xuất nông nghiệp phù hợp quy hoạch của tỉnh, không làm thay đổi mục đất sử dụng đất nông nghiệp mà Nhà nước đã giao cho các hộ nông dân

Thứ hai, xây dựng mô hình dồn ghép ruộng đất Một là, các doanh nghiệp, HTX thuê đất của người dân từ 10 năm trở lên, giá thuê đất tính dựa trên giá trị cây trồng sản xuất, áp dụng trả tiền thuê đất hàng năm hoặc cả thời gian thuê đất Hai là, người có đất nông nghiệp góp vốn với doanh nghiệp, HTX bằng quyền sử dụng đất và được chia lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn

Thứ ba, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông thủy lợi phục vụ cho

áp dụng cơ giới hóa, tiến bộ khoa học kỹ thuật, vận chuyển nông sản phục vụ cho phát triển sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao Xây dựng cơ chế hỗ trợ

Ngày đăng: 30/01/2018, 15:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Nữ Hoàng Anh (2013), Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại Yên Bái giai đoạn 2012 - 2020, Luận án Tiến sĩ, Trường ĐH Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại Yên Bái giai đoạn 2012 - 2020
Tác giả: Bùi Nữ Hoàng Anh
Năm: 2013
3. Đỗ Kim Chung (1997), Kinh tế nông nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Đỗ Kim Chung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
4. Đường Hồng Dật (2004), Từ điển Nông nghiệp Anh - Việt, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Nông nghiệp Anh - Việt
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2004
5. Phạm Ngọc Dũng (2007), Nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê nhân của các hộ nông dân huyện Đăk Song - tỉnh Đăk Nông, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê nhân của các hộ nông dân huyện Đăk Song - tỉnh Đăk Nông
Tác giả: Phạm Ngọc Dũng
Năm: 2007
6. Pham Tiến Dũng (2009), Bài giảng Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
Tác giả: Pham Tiến Dũng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2009
7. FAO (1998), Guidelines: Land Evaluation for Rural Development, FAO, Rome 8. Hoàng Hùng (2001), Hiệu quả kinh tế trong các dự án phát triển nôngthôn, http://www.clst.ac.vn/tapchitrongnuoc/hdkh/2001/so01/16.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidelines: Land Evaluation for Rural Development," FAO, Rome 8. Hoàng Hùng (2001), "Hiệu quả kinh tế trong các dự án phát triển nông "thôn
Tác giả: FAO (1998), Guidelines: Land Evaluation for Rural Development, FAO, Rome 8. Hoàng Hùng
Năm: 2001
12. Lê Thị Phương Thảo (2012), Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn Thạc sỹ, Trường ĐH Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn Thạc sỹ
Tác giả: Lê Thị Phương Thảo
Năm: 2012
13. Đào Châu Thu (1998), Đánh giá đất, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đất
Tác giả: Đào Châu Thu
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1998
14. UBND huyện Ba Chẽ (2010 - 2014), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội huyện Ba Chẽ từ năm 2010 đến năm 2014, Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội huyện Ba Chẽ từ năm 2010 đến năm 2014
2. Lê Huy Bá (2009), Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững Khác
9. Niên giám thống kê huyện Ba Chẽ các năm từ năm 2010 đến năm 2014) Khác
10. Quốc hô ̣i nước Cô ̣ng hòa xã hô ̣i chủ nghĩa Viê ̣t Nam khóa XI (2003), Luật Đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26/11/2003 Khác
11. Quốc hô ̣i nước Cô ̣ng hòa xã hô ̣i chủ nghĩa Viê ̣t Nam khóa XIII (2013), Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w