1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Nâng cao chất lượng lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)

111 320 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao chất lượng lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao chất lượng lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao chất lượng lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao chất lượng lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao chất lượng lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao chất lượng lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao chất lượng lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Nâng cao chất lượng lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

VŨ THÙY LINH

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

VŨ THÙY LINH

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Túy

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, Luận văn: "Nâng cao chất lượng lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh" là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các nội dung nghiên cứu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Bắc Ninh, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Thùy Linh

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự hướng dẫn rất tận tình của

TS Trần Văn Túy cùng với những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giảng

viên Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới những sự giúp đỡ đó

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới: UBND tỉnh Bắc Ninh, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, phòng Quản lý lao động, các phòng ban, đơn vị của Ban quản lý các KCN Bắc Ninh, các trường đào tạo, đơn vị dạy nghề và các doanh nghiệp trong các KCN tỉnh Bắc Ninh

-Xin cảm ơn sự động viên, hỗ trợ của gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn./

Bắc Ninh, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Thùy Linh

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3

5 Bố cục của luận văn 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 4

1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng lao động trong các khu công nghiệp 4

1.1.1 Một số vấn đề chung về lao động 4

1.1.2 Các yếu tố cấu thành chất lượng lao động trong các Khu công nghiệp 8

1.1.3 Tính tất yếu khách quan phát triển nguồn lao động trong các KCN 11

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng lao động trong các Khu công nghiệp 14

1.2 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng lao động trong các Khu công nghiệp 24

1.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng lao động trong các Khu công nghiệp của một số địa phương trong nước 24

1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Bắc Ninh 29

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 31

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 31

2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 31

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 31

2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 33

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 33

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38

2.3.1 Thế lực người lao động 38

2.3.2 Trình độ người lao động 38

Chương 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC NINH 40

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 40

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 40

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 42

3.2 Đặc điểm các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 44

3.2.1 Quá trình hình thành và phát triển các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh 44

3.2.2 Đặc điểm các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 47

3.3 Thực trạng nâng cao chất lượng lao động trong các KCN tỉnh Bắc Ninh 48

3.3.1 Thực trạng chất lượng lao động tại các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh 48

3.3.2 Các biện pháp nâng cao chất lượng lao động đang áp dụng ở tỉnh Bắc Ninh 65

3.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động trong các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh 68

3.4.1 Thang đo của các yếu tố 68

3.4.2 Phân tích các nhân tố bằng mô hình EFA (Exploratory Factor Analysis) 70

3.5 Đánh giá chung về chất lượng lao động tại các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh 76

3.5.1 Những kết quả đạt được 76

3.5.2 Những hạn chế 78

3.5.3 Nguyên nhân của hạn chế 80

Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 82

4.1 Quan điểm, định hướng và dự báo nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh từ nay đến năm 2020 82

4.1.1 Quan điểm phát triển các Khu công nghiệp 82

4.1.2 Định hướng phát triển KCN tỉnh Bắc Ninh 82

4.1.3 Dự báo nhu cầu nguồn lao động cho các khu công nghiệp 85

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lao động trong các khu công

nghiệp tỉnh Bắc Ninh 86

4.2.1 Giải pháp về thông tin và điều kiện làm việc 86

4.2.2 Giải pháp về giáo dục và đào tạo 87

4.2.3 Giải pháp chính sách khuyến khích 90

4.2.4 Giải pháp phong cách làm việc 92

4.2.5 Giải pháp Chính sách phúc lợi và thăng tiến 93

4.2.6 Các giải pháp khác 94

4.3 Một số kiến nghị 95

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 100

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

BIZA : Ban quản lý các Khu công nghiệp Bắc Ninh BHXH : Bảo hiểm Xã hội

BHYT : Bảo hiểm y tế CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

DN : Doanh nghiệp KCN : Khu công nghiệp KCX : Khu chế xuất KCNC : Khu công nghệ cao KKT : Khu kinh tế

KT - XH : Kinh tế - Xã hội NLĐ : Người lao động NNL : Nguồn nhân lực UBND : Uỷ ban nhân dân WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh 43

Bảng 3.2: Cơ cấu nguồn lao động tỉnh Bắc Ninh 43

Bảng 3.3: Diện tích các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh 45

Bảng 3.4: Tổng vốn đăng ký đầu tư trong các KCN tại Bắc Ninh đến 2014 46

Bảng 3.5: Số lượng lao động trong các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh 48

Bảng 3.6: Tỷ lệ lao động nữ tại một số Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh 50

Bảng 3.7: Tình trạng sức khỏe người lao động 51

Bảng 3.8: Tình hình khám sức khỏe người lao động tại các Khu công nghiệp 52

Bảng 3.9: Tỷ lệ lao động được đóng bảo hiểm và doanh nghiệp nợ bảo hiểm 53

Bảng 3.10:Tình hình nhà ở của người lao động trong các Khu công nghiệp 54

Bảng 3.11: Thu nhập bình quân của người lao động theo loại hình doanh nghiệp 55

Bảng 3.12: Tình hình thành lập công đoàn tại các khu công nghiệp 57

Bảng 3.13: Lao động tự nghỉ việc và vi phạm kỷ luật 58

Bảng 3.14: Số vụ gây rối mất trật tự chia theo loại hình doanh nghiệp 59

Bảng 3.15: Trình độ học vấn của lao động tại các khu công nghiệp 61

Bảng 3.16: Trình độ chuyên môn lao động trong các khu công nghiệp 61

Bảng 3.17: Số lượng lao động được đào tạo tại các Khu công nghiệp 63

Bảng 3.18: Số lao động làm trái ngành nghề 64

Bảng 3.19: Bảng chéo giữa học vấn và chất lượng lao động 70

Bảng 3.20: Kiểm định Chi-Square 71

Bảng 3.21: Kiểm định mối liên hệ giữa học vấn và chất lượng lao động 71

Bảng 3.22: Kiểm định thang đo (Crombach’s Anpha) 68

Bảng 3.23: Kiểm định KMO và Barlett’s 72

Bảng 3.24: Khả năng giải thích của mô hình 72

Bảng 3.25: Kết quả phân tích EFA của các yếu tố Rotated Component Matrixa 72

Bảng 3.26:Phân tích Anova trong hồi quy tuyến tính bội 74

Bảng 3.27: Kết quả hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động 75

Bảng 4.1: Dự báo nhu cầu lao động 85

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài

Bắc Ninh từ xưa đã là nơi hội tụ, giao lưu kinh tế của vùng Kinh Bắc, nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm phía bắc, có nhiều tiềm năng và điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội, có tốc độ phát triển kinh tế cao, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp Việc xây dựng các khu công nghiệp (KCN) được xác định là nhân tố nòng cốt để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa Bắc Ninh đã quy hoạch và xây dựng một số KCN tập trung như: khu công nghiệp Tiên Sơn, Quế Võ, Yên Phong… Tính đến hết năm 2015, các Khu công nghiệp Bắc Ninh đã thu hút 918 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 12,4 tỷ USD, trong đó có 581 dự

án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 10,86 tỷ USD chiếm tỷ trọng 87,58% tổng vốn đầu tư vào các Khu công nghiệp

Đa số các dự án đầu tư vào các khu công nghiệp thuộc một số lĩnh vực như điện

tử, cơ khí và công nghiệp hỗ trợ… Các dự án này đều sử dụng máy móc, thiết bị thế hệ mới, công nghệ sản xuất tiên tiến, sản xuất các sản phẩm sạch, không phát sinh nhiều yếu tố ảnh hưởng đến môi trường Chính vì điều này các doanh nghiệp đòi hỏi một lượng lớn lao động có chất lượng cao để phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh

Bên cạnh đó, quá trình nâng cao chất lượng lao động trong các KCN đã bộc

lộ một số hạn chế như: tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn được đào tạo mới chiếm 23,6% trên tổng số lao động, số lượng lao động làm trái ngành nghề còn chiếm trên 15% trong khi đó lại tập trung chủ yếu vào các lao động được đào tạo từ đại học trở lên Ngoài ra, việc hỗ trợ cho người lao động còn hạn chế như: các doanh nghiệp mới xây dựng được trên 10% nhu cầu nhà ở cho các công nhân, thu nhập của lao động còn thấp, mức lương trung bình chỉ đạt khoảng trên 4 triệu/tháng gây khó khăn cho đời sống của người lao động,… Điều này ảnh hưởng lớn đến việc phát triển của các doanh nghiệp trong KCN

Nguồn nhân lực là tài sản quý giá và quan trọng nhất trong mỗi doanh nghiệp, yếu tố con người luôn giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Nguồn lao động tại các KCN đã khẳng định vai trò quan trọng trong việc tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, phong phú và đa dạng,

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp CNH, HĐH Tuy nhiên, vấn đề đào tạo, sử dụng và phát triển lao động ở tỉnh Bắc Ninh đang đặt ra hàng loạt vấn đề cả về lý luận và thực tiễn cần được phân tích đánh giá; nhất là cần được tổng kết để rút ra những vấn đề mấu chốt; đặc biệt là kịp thời đưa ra những đề xuất, kiến nghị để đưa công tác này đi đúng quỹ đạo, phù hợp với quy luật khách quan Xu thế thời đại, vấn đề toàn cầu hóa đang đặt ra nhiều thách thức cho đất nước, trong đó có áp lực ngày càng tăng về việc chuẩn bị nguồn lao động thích ứng và đi kịp với yêu cầu của thời đại

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả chọn đề tài "Nâng cao chất lượng lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh" làm đề tài luận

văn nhằm góp phần giải quyết các yêu cầu thực tiễn đang đặt ra cho tỉnh nhà

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Từ việc phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng lao động của các doanh nghiệp tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lao động đáp ứng yêu cầu phát triển của doanh nghiệp tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

2.2 Mục tiêu cụ thể

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng lao động tại các KCN + Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động tại các KCN tỉnh Bắc Ninh

+ Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lao động trong các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Là chất lượng của lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

+ Phạm vi về thời gian: Tài liệu và các số liệu nghiên cứu đề tài được thu thập

trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015, định hướng và các giải pháp đến năm 2020

+ Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu đánh giá về thực trạng chất lượng

của lao động đang làm việc trong các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, chỉ ra được các kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân của hạn chế; Đánh giá các nhân

tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng của lao động Từ đó đề xuất một số định hướng, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng lao động trong các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tới

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn

- Từ kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng lao động trong các KCN tại các địa phương nói chung và trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng

- Là cơ sở khoa học cho các nhà quản lý của tỉnh Bắc Ninh, Ban quản lý các KCN và các doanh nghiệp trong việc xây dựng chính sách và định hướng, giải pháp nâng cao chất lượng lao động và sử dụng lao động có hiệu quả tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng lao động trong các khu

công nghiệp

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu đề tài

Chương 3: Thực trạng về chất lượng lao động trong các khu công nghiệp

tỉnh Bắc Ninh

Chương 4: Một số giải pháp nâng cao chất lượng lao động trong các khu

công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TRONG

CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng lao động trong các khu công nghiệp

1.1.1 Một số vấn đề chung về lao động

1.1.1.1 Khái niệm về lao động

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về lao động C.Mác cho rằng, sức lao động hay năng lực lao động tồn tại trong thân thể con người, tức là thân thể người sống Mỗi khi con người sản xuất ra giá trị sử dụng nào

đó thì phải vận dụng tổng hòa thể lực và trí lực Sức lao động là tổng hòa toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể sống của con người, mà con người có thể vận dụng trong quá trình lao động sản xuất Như vậy, sức lao động là năng lực tồn tại trong cơ thể con người do con người chi phối Sức lao động mới chỉ là khả năng lao

động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực [17, trang 214]

Trong Kinh tế thị trường thì lao động được hiểu là lực lượng và năng lực những người làm lao động sản xuất (bao gồm cả lao động thể lực và lao động trí tuệ) cũng tức là sức lao động [8, trang 14]

Theo TS Đỗ Minh Cương thì: “Lao động là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất ” [11, trang 24]

Lao động còn được hiểu là lực lượng lao động với kỹ năng tương ứng sử dụng các nguồn lực khác nhau tạo ra sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường và xã hội

Thống nhất với các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng, lao động là năng lực

mà các cá nhân sử dụng vào quá trình hoạt động, bao gồm cả số lượng các cá nhân cũng như tất cả các tiềm năng của cá nhân một con người sẵn sàng hoạt động trong một tổ chức hay xã hội Nói cách khác, lao động là tổng hợp tất cả các cá nhân, cùng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức của họ để thành lập, duy trì, đóng góp cho sự phát triển của tổ chức, của xã hội Từ định nghĩa chung này có thể xem xét thuật ngữ lao động dưới một số khía cạnh khác nhau

Lao động theo nghĩa rộng: là con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một tổ chức, một doanh nghiệp (DN) có thể tham gia vào quá trình phát triển đất nước, lãnh thổ, DN

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Lao động theo nghĩa hẹp: là bộ phận dân số trong độ tuổi theo quy định của pháp luật đang tham gia lao động

Lao động được hiểu trên hai mặt là số lượng và chất lượng Về số lượng, lao động là tổng thể những người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động được của họ Về chất lượng lao động (CLLĐ) thể hiện ở giới tính, sức khỏe, trình độ chuyên môn, ý thức, tác phong, thái độ làm việc của nguồn lao động Việc nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật cho lao động phải không ngừng

“phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đực, thể chất, năng lực sáng tạo,

có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia ñình, cộng đồng và xã hội [12, trang 78]

1.1.1.2 Khái niệm nguồn lao động (Nguồn nhân lực)

Đến nay đã có khá nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu đưa ra các định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực (NNL) Theo Liên Hợp Quốc thì “NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [19, trang 143]

Ngân hàng thế giới cho rằng: NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên [19, trang 63]

Theo tổ chức lao động quốc tế thì NNL của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động NNL được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường [8, trang 72]

Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động Nguồn lao động được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng Như vậy theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn lao động nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: Những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học…

Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế chính trị có thể hiểu: nguồn lao động là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước

1.1.1.3 Khái niệm chất lượng lao động

CLLĐ trong thời kỳ CNH, HĐH là một khái niệm mở, dễ thay đổi theo yêu cầu của các ngành kinh tế Có thể hiểu, CLLĐ cao là một tập thể NLĐ trong đó các

cá nhân đạt tới trình độ mà các ngành kinh tế đòi hỏi về chuyên môn, kinh nghiệm làm việc và khả năng thích ứng tính cách cá nhân đối với công việc Nói cách khác, CLLĐ được thể hiện ở kiến thức, kỹ năng và thái độ đủ để hoàn thành xuất sắc các công việc chủ yếu, mang tính chiến lược của tổ chức Hơn nữa, CLLĐ phải thể hiện được nguồn lao động đó có thể đạt được thành tích nhất định đáp ứng được công việc mà họ đã tham gia [8, trang 25]

CLLĐ là trạng thái nhất định của đội ngũ lao động, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bản chất bên trong của lao động

1.1.1.4 Khái niệm Khu công nghiệp

Định nghĩa ban đầu về KCN được nêu ra trong Quy chế KCN ban hành kèm

theo Nghị định số 192/CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính Phủ: KCN được

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

hiểu là KCN tập trung do Chính Phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định chuyên sản xuất công nghiệp thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống Theo Luật Đầu tư (2014): KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp

Những định nghĩa trên đều phản ánh KCN với tư cách là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh tế trong các giai đoạn phát triển, gồm những đặc điểm chủ yếu

về mục tiêu thành lập, giới hạn hoạt động, ranh giới địa lý và thẩm quyền ra quyết định thành lập

Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của các ngành công nghiệp với sự gia tăng

về số lượng các xí nghiệp sản xuất công nghiệp đã đặt ra những yêu cầu mới đối với

sự phân bố các xí nghiệp công nghiệp với tư cách là những hoạt động sản xuất đặc thù Sản xuất công nghiệp ngày càng đòi hỏi phải có không gian lãnh thổ tương đối riêng biệt, tách khỏi các khu dân cư với những điều kiện đặc thù về kết cấu hạ tầng sản xuất, về cơ chế chính sách phát triển Do đó, sự hình thành và phát triển các KCN với tư cách là không gian lãnh thổ dành riêng cho các hoạt động sản xuất công nghiệp là biểu hiện của trình độ tập trung sản xuất cao hơn, xuất phát từ yêu cầu mới đối với phát triển công nghiệp trên quy mô lớn của từng vùng kinh tế, từng quốc gia trên thế giới

Tính hiệu quả của sản xuất công nghiệp tập trung, với năng suất, chất lượng cao là nhân tố thúc đẩy sự ra đời và phát triển KCN với quy mô và cơ cấu phù hợp Chính vì vậy, KCN trở thành động lực của vùng kinh tế Không có KCN phát triển thì không có vùng kinh tế trọng điểm theo ý nghĩa kinh tế thị trường

Như vậy, KCN là cấu trúc kinh tế phức tạp thể hiện sự tập trung các hoạt động sản xuất công nghiệp của các chủ thể kinh tế khác nhau trong một không gian lãnh thổ với những điều kiện chung về kết cấu hạ tầng, cơ chế chính sách phát triển Sự hình thành các KCN xuất phát từ yêu cầu phát triển theo hướng tối ưu hoá của sản xuất công nghiệp dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ và các quan hệ thị trường

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

1.1.2 Các yếu tố cấu thành chất lượng lao động trong các Khu công nghiệp

1.1.2.1 Yếu tố về thể lực

Thể lực của đội ngũ lao động: Là tình trạng sức khỏe, khả năng lao động của họ Thể lực được biểu hiện qua tình trạng sức khỏe như: chiều cao, cân nặng trung bình, sức bền, độ dẻo dai, tình trạng bệnh tật,… Theo Tổ chức Y tế thế giới, sức khỏe là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải đơn thuần là không

có bệnh tật Sức khỏe là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nên cả bên trong và bên ngoài, cả thể chất và tinh thần

Sức khỏe vừa là mục đích của phát triển, vừa là điều kiện của sự phát triển Trong mối quan hệ với phát triển kinh tế, việc đảm bảo các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe làm tăng CLLĐ cả trong hiện tại và tương lai Lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại năng suất lao động cao nhờ sự bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung trong khi làm việc

Về giới tính: Giới tính là một trong những chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến

quyết định tuyển dụng của doanh nghiệp Đối với lao động là nam giới, các doanh nghiệp thường sắp xếp cho những công việc nặng nhọc, độc hại hoặc thường xuyên đi xa…như trong các lĩnh vực cơ khí, thị trường, xây dựng….Nhưng đối với nữ giới thì phù hợp với các công việc có độ kiên nhẫn cao, chịu khó… như trong các lĩnh vực điện

tử, giầy da, may mặc…Việc lựa chọn công việc theo giới tính cũng bắt buộc các doanh nghiệp cần xây dựng cơ sở vật chất, các chính sách phù hợp với giới tính của người lao động của công ty mình, đảm bảo đời sống cho người lao động

Đối với lao động là nữ giới, nhà nước ta luôn có chính sách quan tâm đến lao động nữ Trong Bộ luật Lao động có riêng một mục nói đến chế độ, chính sách dành riêng cho lao động nữ Giới tính của lao động cũng có những nét đặc thù riêng Đối với lao động là nam thì yêu cầu nâng cao chất lượng thường phù hợp với những công việc nặng nhọc dành cho phái nam và ngược lại Bên cạnh đó, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao cũng góp phần làm tăng thêm nguồn động viên tinh thần vô cùng quý giá để mỗi người được rèn luyện và giao lưu nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình

Độ tuổi liên quan đến trình độ, kinh nghiệm làm việc, tác phong, ý

thức…của người lao động Đối với những công việc khác nhau, việc sắp xếp cũng

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

cần phải căn cứ vào độ tuổi Những người có độ tuổi cao thường sức khỏe kém nhưng họ lại có nhiều kinh nghiệm trong công việc nên thường được bổ nhiệm làm các chức vụ quản lý hoặc trong các lĩnh vực như cơ khí chế tạo, vật liệu xây dựng… những người trẻ thường có sức có khả năng tiếp cận khoa học công nghệ nhanh, dám đương đầu với thử thách…nên thường được bố trí ở các lĩnh vực như điện tử, viễn thông…

Thể chất là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển nguồn lao động

Doanh nghiệp muốn phát triển bền vững và lâu dài, người lao động phải có thể chất tốt đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ mà doanh nghiệp đặt ra Nếu người lao động có thể chất tốt, sẽ có một trí tuệ minh mẫn, dẻo dai hoàn thành tốt các nhiệm vụ đặt ra Bởi vậy, khi tuyển dụng người lao động, các doanh nghiệp cần phải căn cứ vào thể chất của người lao động (sức khỏe, chiều cao, trọng lượng, tuổi…) để sắp xếp công việc sao cho phù hợp Ngoài ra, trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cũng cần chú ý đến sức khỏe người lao động bằng các biện pháp như khám sức khỏe định kỳ, trang bị các thiết bị bảo hộ lao động, môi trường làm việc, chế độ

ăn ca…giúp người lao động khỏe mạnh, an tâm công tác

1.1.2.2 Yếu tố trình độ lao động

Trình độ của lao động: là trí tuệ, chỉ số IQ Khi tham gia vào quá trình sản

xuất, con người không chỉ sử dụng chân tay mà còn sử dụng cả trí óc Bên cạnh sức khỏe, trí lực là một yếu tố không thể thiếu của lao động Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ yêu cầu lao động phải có trình độ học vấn cơ bản, trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng làm việc tốt để có khả năng tiếp thu và áp dụng công nghệ mới, có khả năng làm việc chủ động, linh hoạt và sáng tạo, sử dụng được các công cụ, phương tiện lao động tiên tiến, hiện đại Đó là những biểu hiện, phản ánh CLLĐ trong điều kiện hiện nay

Nhân tố trí lực thường được xem xét đánh giá trên hai giác độ: trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành Việc đánh giá hai yếu tố này thường dựa trên một số tiêu chí cơ bản sau:

+ Trình độ văn hoá: là trình độ học vấn cao nhất của lao động Chỉ tiêu này

đánh giá khả năng về tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản,

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

thực hiện những việc đơn giản nhằm duy trì cuộc sống Trình độ văn hóa được cung cấp qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy, qua quá trình học tập suốt đời của mỗi cá nhân

+ Trình độ chuyên môn kỹ thuật: là trình độ nghiệp vụ được đào tạo về lĩnh

vực nào đó, có thể là đào tạo nghề, đào tạo từ bậc sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học hoặc trong các chuyên ngành của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm giúp cho lao động đáp ứng yêu cầu tuyển mộ của DN trong tương lai

Trình độ chuyên môn còn biểu hiện ở kiến thức và những kỹ năng cần thiết

để đảm đương các chức vụ trong quản lý, kinh doanh cũng như các hoạt động nghề nghiệp Trình độ chuyên môn của lao động kỹ thuật thường tính từ công nhân kỹ thuật bậc 3 trở lên (có hoặc không có bằng)

1.1.2.3 Yếu tố về ý thức xã hội, tác phong làm việc

Các yếu tố về ý thức xã hội bao gồm tập quán, đạo đức, hiểu biết và chấp hành pháp luật

Tập quán là phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc và

đã thành nếp trong lối sống, trong lao động ở một cá nhân, một cộng đồng Tập quán gần gũi với thói quen ở chỗ nó mang tính tĩnh tại, bền lâu, khó thay đổi Tập quán hoặc xuất hiện và định hình một cách tự phát, hoặc hình thành và ổn định thông qua sự rèn luyện và là kết quả của quá trình giáo dục có định hướng rõ rệt

Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội bao gồm

những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng (gia đình, làng xóm, giai cấp, dân tộc hoặc toàn xã hội)

Đạo đức được xem là thành tố cơ bản của chất lượng lao động vì nó là nền tảng của mọi hành vi ứng xử và lối sống của một cá thể trong cộng đồng Một người được coi là tốt theo nghĩa chung nhất trước hết phải có đạo đức tốt, khi xem xét chất lượng lao động cũng vậy Một cá thể tốt, tập thể tốt, cộng đồng tốt trước hết phải được đánh giá thông qua có đạo đức tốt Đạo đức như một nửa còn lại của một người lao động nếu xem phía bên kia là năng lực làm việc

Hiểu biết và chấp hành pháp luật: nguyên tắc căn bản để đánh giá chất

lượng lao động về góc độ này là sự tuân thủ kỷ luật lao động và pháp luật

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Ngoài ra, những tập quán, thói quen của người lao động ở các vùng quê khác nhau (lạc hậu), cùng với sự thiếu hiểu biết và không chịu học hỏi có thể dẫn đến sự vô tình vi phạm pháp luật Do vậy, hiểu biết và chất hành pháp luật vừa phản ảnh trình độ văn minh, nét văn hóa vừa phản ảnh cái ‘tốt’ (vì không vi phạm) của người lao động

Tác phong làm việc là cách ứng xử, cách làm việc, cách giao tiếp… của

người lao động trong công việc Khi người lao động có tác phong làm việc chuyên nghiệp thì họ sẽ có trách nhiệm với công việc mình được giao, biết tìm tòi và học hỏi trong công việc, tuân thủ và chấp hành các nội quy mà công ty đề ra….Điều này giúp cho năng suất lao động tăng thêm, không còn tình trạng đi muộn về sớm, mức

độ hoàn thành công việc tăng cao…Đây là yếu tố quan trọng trong việc tuyển dụng lao động của mỗi công ty, cũng như quyết định đầu tư của các doanh nghiệp

1.1.3 Tính tất yếu khách quan phát triển nguồn lao động trong các KCN

1.1.3.1 Đặc điểm của lao động trong các Khu công nghiệp

Lao động trong các khu công nghiệp là toàn bộ những người làm việc cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp và được các doanh nghiệp trong khu công nghiệp trả lương

Trong quá trình hình thành và phát triển, lao động trong KCN ở nước ta đã

và đang thể hiện những đặc điểm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, đội ngũ người lao động phát triển nhanh về số lượng, song chất lượng chưa cao

Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng người lao động trong KCN xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ yếu như:

Một là, dưới tác động của việc cải thiện cơ chế chính sách thu hút đầu tư phát triển KCN tại nhiều vùng miền, địa phương trong cả nước Sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp thông qua mô hình KCN đã tạo ra sức cầu ngày càng lớn về sức lao động đối với các KCN là một trong những có sở để gia tăng nhanh chóng về

số lượng người lao động làm việc trong các KCN nước ta thời gian qua

Thứ hai, xuất hiện nhiều yếu tố tác động làm tăng cung về sức lao động cho KCN trong quá trình CNH, HĐH theo cơ chế thị trường định hướng XHCN

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Tuy nhiên, chất lượng lao động trong các KCN nước ta còn nhiều bất cập, đặc biệt là về trình độ chuyên môn tay nghề, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong làm việc Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là phần lớn người lao động trong các KCN có xuất xứ từ nông nghiệp nông thôn Tâm lý tiểu nông là tâm lý phổ biến trong đội ngũ người lao động ở nước ta nói chung và trong các KCN nói riêng đã và đang cản trở việc nâng cao trình độ cũng như rèn luyện tính tổ chức kỷ luật đối với người lao động trong KCN

Thứ ba, bộ phận lớn trong đội ngũ những người lao động trong các KCN là người nhập cư

Mặc dù môi trường đầu tư được cải thiện không ngừng trong phạm vi cả nước, tuy nhiên lại diễn ra không đồng đều giữa các vùng, do đó những địa phương

có lợi thế hơn, đặc biệt về vị trí địa lý, kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật, cơ chế chính sách phát triển, thủ tục hành chính đã trở thành những địa bàn đi đầu về phát triển các KCN

Sự phát triển không đều của công nghiệp theo ngành và theo vùng thể hiện

sự phân bố KCN không đều theo các địa bàn, vùng lãnh thổ dẫn tới tình hình: nơi hình thành các KCN tức là nơi có lượng cầu lớn về sức lao động thường không có lượng cung tại chỗ về sức lao động tương ứng Nhờ sự cải thiện về môi trường thể chế, sự di chuyển trong nền kinh tế đã có điều kiện để thực hiện, do đó người lao động có thể di chuyển từ địa phương này sang địa phương khác để tìm kiếm việc làm

Thứ tư, sự vận động của lao động được thực hiện theo cơ chế thị trường

Quan hệ giữa chủ thể sử dụng lao động và người lao động trong cơ chế thị trường được thực hiện thông qua thị trường lao động Trong thị trường đó người mua là các chủ sử dụng lao động với mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận

Thứ năm, các điều kiện về sinh hoạt của người lao động trong KCN còn nhiều bất cập Do quy hoạch phát triển KCN thường chưa gắn với quy hoạch các

khu dân cư, tính hấp dẫn chưa cao đối với đầu tư tạo lập các điều kiện sinh hoạt cho người lao động trong KCN chưa được đảm bảo

1.1.3.2 Vai trò của lao động tại các khu công nghiệp

- Tạo thế mạnh để thu hút vốn đầu tư vào KCN:

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Phát triển nguồn lao động khu công nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp Khi lựa chọn và quyết định đầu tư một ngành nghề nào đó đặt trong khu công nghiệp, ngoài các ưu đãi về đầu tư, thuế,

vị trí địa lý giao thông thuận lợi, và các chính sách thông thoáng, gần nguồn nhiên liệu… thì nguồn lao động là một trong những vấn đề quan trọng mà các nhà đầu tư rất quan tâm và coi đó như một tiêu chí để lựa chọn cho phù hợp với ngành nghề đầu tư Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam vẫn trong giai đoạn tiếp nhận công nghệ của nước ngoài và sử dụng yếu tố nguồn lực con người là chính

Nguồn lao động dồi dào và có trình độ là yếu tố để thu hút vốn đầu tư với mục tiêu là tận dụng nguồn lao động tại chỗ với giá nhân công rẻ Phát triển nguồn lao động là một trong những tiêu chí cạnh tranh của tỉnh nói chung, khu công nghiệp nói riêng Nếu xét trên góc độ vĩ mô về năng lực cạnh tranh của tỉnh có đặt các Khu công nghiệp trên địa bàn, cùng có số điểm tương đương nhưng nếu có lợi thế hơn về nguồn lao động, chắc chắn các nhà đầu tư sẽ chọn tỉnh có nguồn lao động phát triển và dồi dào

- Tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp KCN

Việc phát triển nguồn lao động cho khu công nghiệp cũng tạo ra lợi thế cạnh tranh riêng cho doanh nghiệp KCN Trong bối cảnh hiện nay, mặc dù lao động Việt nam rất dồi dào nhưng nguồn lao động phục vụ cho khu công nghiệp đang gặp khó khăn do chưa tạo được sự hấp dẫn đối với lao động trên tất cả các lĩnh vực Chính vì vậy, phát triển nguồn lao động phục vụ cho các doanh nghiệp ổn định lâu dài cũng

là một bước đi quan trọng giúp doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh riêng của mình trên thị trường Đội ngũ lao động lành nghề, có trình độ ổn định không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí đào tạo nguồn lao động mà đó cũng là một nguồn vốn vô hình tạo nên sức mạnh cho doanh nghiệp trong việc marketing thương hiệu của mình Hàng năm, ngoài việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cũng phải xây dựng kế hoạch đào tạo, phát triển nguồn lao động của riêng mình, tạo thế mạnh cho doanh nghiệp đồng thời giữ chân những lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật gắn bó lâu dài với doanh nghiệp

- Tạo môi trường lao động ổn định

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Nguồn lao động phát triển sẽ tạo nên một môi trường lao động ổn định Người lao động có trình độ, có năng lực sẽ có sự lựa chọn an toàn và kinh tế, phù hợp với nhu cầu và mong muốn của mình Điều đó sẽ giảm được lượng lao động di chuyển không ổn định giữa các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, giữa các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp và trong khu công nghiệp, giữa các bộ phận lao động làm nông nghiệp vào làm việc trong khu công nghiệp

Khi mới hình thành các KCN, ngoài lực lượng lao động được đào tạo bài bản

từ các trường nghề, trung cấp nghề thì đa số là lực lượng lao động di cư từ nông thôn, nông nghiệp chuyển sang với hy vọng có một công việc ổn định, có thu nhập

ổn định mà không phải “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” Quan niệm trên đã tạo nên là sóng di cư lớn giữa các tỉnh, các vùng đặt biệt là vùng mới hình thành khu công nghiệp Đầu những năm 90, khi các KCN, KCX của Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Đồng Nai hình thành và đi vào hoạt động với nhu cầu về lao động lớn đã thu hút lao động không chỉ ở các tỉnh lân cận mà các tỉnh miền Bắc, trung du Bắc

bộ cũng lũ lượt kéo nhau vào Nam làm việc

Tuy nhiên cho tới thời điểm này, khu công nghiệp được mở rộng ở hầu khắp các tỉnh, chính sách lương và thu hút lao động đã có sự cân bằng và ổn định, lao động của địa phương di cư làm ăn ở các tỉnh cũng có nhu cầu tìm về quê hương làm việc với mong muốn một cuộc sống ổn định, thu nhập đảm bảo và đặc biệt là không phải chi phí thuê nhà

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng lao động trong các Khu công nghiệp

Thứ nhất: Các nhân tố xã hội

Trong nền kinh tế thị trường, mặc dù người lao động có nhiều cơ hội lựa chọn việc làm theo khả năng của mình, song họ cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, thậm chí là thất nghiệp, bởi xét đến cùng sự ổn định về việc làm chỉ mang tính tương đối, do vậy, người lao động cần phải được đào tạo, tái đào tạo để có được trình độ chuyên môn, kỹ năng tay nghề giỏi hơn, có sức khỏe và tác phong làm việc tốt hơn nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động, vì vậy, quy luật giá trị đặt ra yêu cầu tiên quyết là vấn đề chất lượng lao động Còn đối với quy

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

luật cạnh tranh, thì đó là động lực của mọi sự phát triển Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có vai trò to lớn, nó thúc đẩy người lao động phải thường xuyên trao dồi kiến thức để thích ứng với công nghệ mới, phương thức quản lý mới Còn đối với quy luật cung-cầu, thì đó là mối quan hệ giữa người bán và người mua, là quan hệ không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường Quan hệ cung-cầu trên thị trường sức lao động là một cân bằng động Do vậy, khi nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực cần phải chú ý đến tính cân bằng giữa cung và cầu lao động, bởi đây là nhân tố rất quan trọng giúp cho việc hoạch định các chính sách trở nên thiết thực và có hiệu quả hơn Như vậy, mối quan

hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và kinh tế-xã hội là mối quan hệ nhân quả, quan

hệ qua lại hai chiều Kinh tế-xã hội càng phát triển thì khả năng đầu tư của nhà nước

và xã hội cho phát triển nguồn nhân lực ngày càng tăng, tạo mọi cơ hội và môi trường thuận lợi cho phát triển nguồn nhân lực Ngược lại, nguồn nhân lực của quốc gia, địa phương được phát triển tốt sẽ góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội

và trong vòng xoáy ốc thuận chiều này nhân tố nọ kích thích nhân tố kia phát triển

Thứ hai: Đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước trong phát triển các KCN

Chính sách của Đảng và Nhà nước là kim chỉ nam để phát triển đến chất lượng nguồn lao động trong các khu công nghiệp Trong quá trình phát triển, các khu công nghiệp việc xây dựng một kế hoạch cụ thể và hợp lý Để làm được điều này, các khu công công nghiệp cần dựa vào các chính sách của Đảng và nhà nước

để đề ra các biện pháp cụ thể hóa các mục tiêu và chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Những tác động của Nhà nước bao gồm các chính sách pháp luật có liên quan tới điều kiện sống và làm việc của người lao động trong KCN, trong đó các chính sách quy định về tiền lương tối thiểu, điều kiện lao động, phát triển giáo dục đào tạo nhằm hướng tới hình thành một lực lượng lao động có tri thức và thể chất đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tác động của nhà nước còn thể hiện thông qua các chương trình

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

qua các chương trình nhằm nâng cao trí lực và thể lực của người lao động, đặc biệt khuyến khích các cấp, các ngành, các địa phương, các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp và đặc biệt các cơ sở đào tạo trong việc đào tạo lao động phục vụ cho

sự phát triển của các ngành công nghiệp Dạy nghề phải gắn với giải quyết việc làm, đào tạo phải gắn với sử dụng Để giải quyết mâu thuẫn cung - cầu về lao động cho KCN, nhà nước có thể tác động tới sự phát triển của thị trường lao động cùng với chính sách nhằm tạo ra sự cân đối giữa đào tạo và sử dụng, đào tạo theo địa chỉ để người học nghề tốt nghiệp có việc làm ngay Đồng thời gắn phát triển KCN với sự phát triển các độ thị

Nâng cao chất lượng lao động trong KCN không phải là công việc nhất thời

mà phải trở thành sự quan tâm lâu dài của các cấp chính quyền và toàn thể xã hội Những điều kiện cần thiết cho sự phát triển lực lượng lao động không chỉ gắn với lợi ích trước mắt như nâng cao trình độ, sinh hoạt, các hoạt động nâng cao thể lực

và trí lực Phát triển lực lượng lao động đòi hỏi cần phải quan tâm tới sự thay thế các thế hệ người lao động, do vậy Nhà nước cần phải quan tâm đến các thế hệ tương lai của người lao động từ đây, các vần đề như trường học, điều kiện sinh hoạt của con em người lao động trong KCN cũng dần trở thành vấn đề chủ đạo mà Nhà nước cần quan tâm giải quyết

Ba là, các nhân tố về chất lượng giáo dục đào tạo

Đào tạo nguồn lao động; nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có

hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình Đối với các doanh nghiệp thì nhu cầu đào tạo không thể thiếu được bởi vì không phải lúc nào các doanh nghiệp cũng tuyển được những người mới có đủ trình độ, kỹ năng phù hợp với những công việc đặt ra

+ Đối với doanh nghiệp: Đào tạo được xem là một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu, chiến lược của tổ chức Chất lượng nguồn nhân lực trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của các doanh nghiệp Nó giúp doanh nghiệp giải quyết được các vấn đề về tổ chức, chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn kế cận, và giúp cho doanh nghiệp thích ứng kịp thời với sự thay đổi của xã hội Quá trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực thành công sẽ mang lại những lợi ích sau:

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Cải tiến về năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc, giảm bớt được sự giám sát,

vì khi người lao động được đào tạo, trang bị đầy đủ những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết họ có thể tự giám sát được, tạo thái độ tán thành và hợp tác trong lao động, đạt được yêu cầu trong công tác kế hoạch hoá nguồn nhân lực, giảm bớt được tai nạn lao động

+ Đối với người lao động: Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực không chỉ đem lại nhiều lợi ích cho tổ chức mà nó còn giúp cho người lao động cập nhật các kiến thức, kỹ năng mới, áp dụng thành công các thay đổi về công nghệ, kỹ thuật Nhờ có đào tạo và phát triển mà người lao động tránh được sự đào tạo trong quá trình phát triển của tổ chức, xã hội Và nó còn góp phần làm thoả mãn nhu cầu phát triển cho người lao động

Thứ tư: Trình độ cán bộ quản lý thuộc Ban quản lý các khu công nghiệp

Ban Quản lý các khu công nghiệp các là cơ quan thực hiện chức năng quản

lý nhà nước trực tiếp đối với các KCN theo quy định của pháp luật; quản lý, tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong KCN Bởi vậy, Ban quản lý dự án sẽ phải thực hiện nhiều nhiệm vụ được giao như: Tham gia

ý kiến, xây dựng và trình các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện các công việc (Xây dựng chương trình, kế hoạch về xúc tiến đầu tư phát triển KCN, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện, xây dựng kế hoạch hàng năm và 5 năm về phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu KCN, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện, dự toán ngân sách, kinh phí hoạt động sự nghiệp và vốn đầu tư phát triển hàng năm của cơ quan trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước

và pháp luật có liên quan…)

Thực tế cho thấy, việc thực thi, tháo gỡ các vướng mắc nảy sinh từ các doanh nghiệp trong KCN hiệu quả hay không có vai trò rất lớn của cán bộ quản lý của BQL các KCN Vì vậy, chất lượng lượng đội ngũ cán bộ của BQL chính là nhân tố chủ chốt nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý các vấn đề trong KCN.Do đó, trình độ

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

của cán bộ quản lý thuộc ban quản lý các khu công nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với sự nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các khu công nghiệp

Năm là, Chính sách sử dụng, khuyến khích, y tế, chăm sóc sức khỏe, đãi ngộ (môi trường làm việc) đối với người lao động trong các KCN

Chế độ chính sách đối với người lao động là một nội dung quan trọng gắn

liền với quyền lợi thiết thực của người lao động Nội dung này luôn là mối quan tâm hàng đầu của các cơ quan, đơn vị và người lao động thuộc các ngành nghề khác nhau Các nhà quản trị đều hiểu rằng cần phải xây dựng và thực hiện đồng bộ các chính sách hướng đến động viên, khích lệ cán bộ nhân viên làm việc hiệu quả, duy trì phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong DN Cụ thể là phải thiết lập và

áp dụng các chính sách hợp lý về lương bổng, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, hoàn thiện môi trường, điều kiện làm việc, thực hiện các chế độ về y tế, bảo hiểm và an toàn lao động Ở đây nhiều vấn đề được quy định bằng pháp luật lao động Vì vậy,

DN cần thực hiện tốt chế độ, chính sách để tạo mối quan hệ bền vững với NLĐ, tránh xảy ra mâu thuẫn giữa hai bên mà hậu quả là các cuộc gây rối mất trật tự có thể xảy ra Thực tế cho thấy, một số DN đã thực hiện các chính sách này bằng cách tạo nên những nét đặc trưng văn hoá của tổ chức mình Tuy nhiên, nhiều lãnh đạo các DN hàng đầu vẫn trăn trở với vấn đề làm thế nào giữ được nhân viên giỏi, ổn định lao động trước sức hút ngày càng mạnh mẽ từ các đối tác khác

Môi trường làm việc có vai trò quan trọng trong việc quyết định thức cũng

như khả năng phát huy sức lao động của người công nhân Đối với những lao động làm trong môi trường độc hại, cần phải có trang thiết bị bảo hộ, kiến thức để đảm bảo sức khỏe cho họ, tránh tình trạng mất an toàn trong quá trình lao động

Đối với môi trường làm việc ít độc hại người lao động lại quan tâm đến niềm

vui ở nơi làm việc, động lực khiến người lao động tới công ty mỗi ngày Vì vậy, các

DN cần tạo điều kiện thuận lợi, phương tiện làm việc và trang thiết bị phải đảm bảo đầy đủ cơ hội cho mọi người trong đơn vị đều có thể phát huy hết khả năng trí tuệ của mình, có cơ hội thăng tiến như nhau, tạo một bầu không khí làm việc dân chủ, bình đẳng, lành mạnh, vui vẻ, thân thiện để mọi người cảm thấy phấn khởi và tự tin

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

khi làm việc, người lao động xem DN như là ngôi nhà thứ hai của mình Điều này

sẽ giúp cho chất lượng công việc tốt hơn và sẽ thu hút được lao động chất lượng cao

từ nơi khác đến nhiều hơn

Đối với lao động có trình độ chuyên môn cao, doanh nghiệp cần có môi trường làm việc riêng đáp ứng nhu cầu của những lao động này như các trang thiết

bị, phòng thí nghiệm, phòng máy, cộng tác việc có trình độ chuyên môn cao…điều này giúp họ các thể phát huy được hết khả năng của mình

Đãi ngộ về vật chất đối với người lao động đó là những kích thích về mặt

tài chính Đãi ngộ vật chất bao gồm: đãi ngộ vật chất trực tiếp và đãi ngộ vật chất gián tiếp Đãi ngộ trực tiếp là tiền lương, tiền thưởng, hoa hồng… Đãi ngộ gián tiếp

là bảo hiểm, trợ cấp xã hội, phúc lợi… đây chính là thu nhập đối với người lao động

và nó là động lực rất lớn tác động đến chất lượng làm việc của NLĐ Các tổ chức,

DN thường có quan điểm, mục tiêu khác nhau khi xếp đặt hệ thống trả công, nhưng nhìn chung họ đều hướng tới bốn mục tiêu cơ bản là: thu hút lao động; duy trì và giữ được những người giỏi; kích thích động viên đội ngũ lao động; đáp ứng yêu cầu của luật pháp

Đãi ngộ tinh thần cho người lao động hay đó chính là những đãi ngộ phi

tài chính Tại các doanh nghiệp hiện nay đãi ngộ phi tài chính ngày càng trở nên quan trọng hơn Đó chính là bản thân công việc và môi trường làm việc Bản thân công việc có hấp dẫn không, có thách đố đòi hỏi sức phấn đấu không, người lao động có được trao trách nhiệm hay không, có cơ hội được cấp trên nhận biết thành tích của mình hay không, bầu không khí tâm lý xã hội trong tập thể thế nào và họ có

cơ hội thăng tiến không Khung cảnh công việc cũng là một yếu tố quan trọng trong

xã hội hiên nay trên thế giới Đó là các chính sách hợp lý, việc kiểm tra khéo léo, đồng nghiệp hợp tính, các biểu tượng địa vị phù hợp, các điều kiện làm việc thoải mái, giờ làm việc uyển chuyển, chia sẻ công việc, nhà ở, ăn

Thực hiện tốt các mục tiêu này sẽ giúp cho các DN có nguồn lao động có chất lượng Đồng thời, việc quan tâm nâng cao đời sống tinh thần cho đội ngũ lao động cũng là một vấn đề khiến các DN phải quan tâm hàng đầu Tạo bầu không khí

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

tốt lành trong DN khiến người lao động vui vẻ trong lúc làm việc, coi DN như một

bộ phận của cuộc đời mình để gắn bó, để đoàn kết, để gắng sức làm việc cũng góp phần nâng cao CLLĐ

Cơ hội thăng tiến của người lao động Nhiều lao động làm việc không phải vì

tiền mà vì niềm yêu thích đối với công việc, đúng với nguyện vọng và năng lực bản

thân, thêm vào đó họ có cơ hội thăng tiến trong công việc của mình

Phát triển trở thành lãnh đạo của một doanh nghiệp, đó là mong muốn của nhiều người lao động trong công ty Bởi vậy, cơ hội thăng tiến không những có ảnh hưởng tới động lực lao động của người lao động đó mà còn ảnh hưởng rất lớn tới động lực lao động của những người lao động khác Nếu doanh nghiệp chọn đúng người có khả năng, có thành tích xứng đáng, những người lao động nhìn thấy cơ hội thăng tiến của mình Điều này giúp lại lợi ích lớn cho công ty mà còn tạo cho người lao động đó một động lực làm việc rất lớn Không những thế những người lao động khác cũng sẽ nỗ lực phấn đấu theo gương người đó để đạt được kết quả lao động tốt hơn Chính sách thăng tiến càng rõ ràng, càng hấp dẫn càng kích thích được người lao động làm việc hiệu quả, nâng cao NSLĐ Vì thế, để hiệu quả tạo động lực cho người lao động cao nhất các doanh nghiệp phải kết hợp tạo động lực thông qua thăng tiến với các hình thức khác Chỉ khi đó mới có thể kết hợp kích thích sự thoả mãn nhu cầu về mọi mặt cho người lao động

Thứ sáu: Xu hướng hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bởi những nhân tố này đã tạo điều kiện cho các quốc gia, địa phương kết hợp tốt nhất sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, phát huy được nội lực và mọi tiềm năng sáng tạo; đồng thời, tranh thủ được tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho phát triển Xu thế hội nhập quốc tế có tác động nhiều mặt và đặt

ra những yêu cầu mới đối với việc phát triển nguồn nhân lực ở các khu công nghiệp

Do đó, địa phương và Ban quản lý các khu công nghiệp phải chuẩn bị cho mình những tiềm lực lao động đáp ứng yêu cầu của một hệ thống ngành nghề mới đang phát triển phù hợp với xu thế thời đại Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các quốc gia còn phải hướng đến việc phát triển những con người thích ứng

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

với thời đại cạnh tranh ồ ạt và khốc liệt để phát triển Có thể nhận ra rằng, tác động của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đối với việc điều chỉnh, lựa chọn chiến lược phát triển của các khu công nghiệp, mà trong đó có cả nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là rất mạnh mẽ và sâu sắc Phát triển một thế hệ lao động mới có trí thức, những người lao động có trình độ chuyên môn cao, có tay nghề vững vàng, có năng lực quản lý, sản xuất, kinh doanh để có thể giành phần thắng trong cuộc cạnh tranh trước bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Trong đó kinh tế tri thức hiện nay cũng được xem là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến phát triển nguồn nhân lực, bởi sức lan tỏa mạnh mẽ và được xem như là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế-

xã hội nói chung, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nói riêng, nó thúc đẩy sự tăng nhanh năng suất lao động, sở hữu cá nhân và sở hữu xã hội, tạo ra bước đột phá về chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao

Bảy là, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động

Tác phong làm việc phải xuất phát từ ý thức chủ quan của đội ngũ lao động

Nâng cao CLLĐ không chỉ xuất phát từ yêu cầu sản xuất, mà còn xuất phát từ chính nhu cầu của con người muốn nâng cao chất lượng cuộc sống Bởi việc tăng cường sức khỏe, mở rộng tri thức, nâng cao trình độ tay nghề không chỉ do kết quả của quá

trình phát triển sản xuất, mà còn xuất phát từ chính bản thân của con người

Các doanh nghiệp cần có những chính sách, phương thức để khuyến khích người lao động tự giác, đây là động lực mạnh mẽ giúp người lao động thay đổi tư duy, thay đổi nhận thức của bản thân trong công việc của mình Khi người lao động

có mục tiêu rõ ràng, có điều kiện phát triển thì người lao động sẵn sàng hoàn thiện bản thân, tư giác học tập và nâng cao trình độ Người lao động tự giác nâng cao chất lượng, điều này giúp doanh nghiệp có được người lao động trung thành cần mẫn, ngoài ra còn nâng cao năng suất, tạo ra những sản phẩm mới, tăng tính cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Đối với người lao động, họ đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của công việc, ngoài ra còn có thể tăng thu nhập và thăng tiến trong công việc

mà mình đa đảm nhiệm

Kỷ luật lao động: Thông qua việc duy trì kỷ luật lao động, người sử dụng

lao động có thể bố trí sắp xếp lao động một cách hợp lý để ổn định sản xuất, ổn định

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

đời sống người lao động và trật tự xã hội nói chung Nếu xác định được nội dung hợp lý, kỷ luật lao động còn là một nhân tố quan trọng để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu

Tuân thủ kỷ luật lao động, người lao động có thể tự rèn luyện để trở thành người công nhân của xã hội hiện đại, có tác phong công nghiệp, là cơ sở để họ đấu tranh với những tiêu cực trong lao động sản xuất

Trật tự, nề nếp của một doanh nghiệp và ý thức tuân thủ kỷ luật của người lao động là những yếu tố cơ bản để duy trì quan hệ lao động ổn định, hài hòa Đó cũng là điều kiện để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, xuất khẩu lao động, giúp cho người lao động không bị bỡ ngỡ khi làm việc trong các điều kiện khác biệt

1.1.5 Nội dung nâng cao chất lượng lao động cho các Khu công nghiệp

- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn lao động cho

các KCN Căn cứ vào chiến lược phát triển của địa phương, các KCN xây dựng

chiến lược phát triển cho mình nhằm đảm bảo các điều kiện để phát triển nhanh và bền vững Bên cạnh đó, để có một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp tại các KCN thì các KCN cũng cần phải xây dựng chiến lược phát triển của mình, dự báo được nguồn nhân lực cần thiết để phục

vụ sản xuất kinh doanh Sau đó cần xây dựng quy hoạch và kế hoạch cụ thể để phân

bố nguồn lao động này Khi mà có kế hoạch cụ thể và rõ ràng, các KCN sẽ đưa ra được các biện pháp quy hoạch tổng thế các KCN đảm bảo vừa phát triển kinh tế địa phương cũng như đảm bảo đời sống người lao động trong các khu công nghiệp này

- Phát triển về số lượng nhưng luôn đặt vấn đề chất lượng làm trọng tâm:

Thông qua các chính sách thu hút và tuyển dụng lao động: với kế hoạch phát triển KCN, số lượng và ngành nghề các dự án mới đầu tư vào KCN, khả năng mở rộng sản xuất của các dự án, nhu cầu lao động của các doanh nghiệp đang hoạt động để

từ đó đưa ra các chính sách thu hút các lao động trên địa bàn và ngoài địa bàn Với chính sách thu hút hiệu quả sẽ giúp cho KCN đảm bảo được số lượng lao động cần thiết và doanh nghiệp đảm bảo sản xuất kinh doanh Chính sách thu hút cũng là một trong những công cụ mạnh trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp khác, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Sau khi đã tuyển dụng được nguồn lao động chất

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

lượng cao, các doanh nghiệp cần đưa ra các biện pháp duy trì nguồn lao động hiện

có bằng các chế độ, chính sách đãi ngộ: lương, thưởng, ăn ca, bảo hiểm, nhà ở, trạm

y tế, hoạt động giải trí để người lao động yên tâm làm việc, cống hiến cho DN

Với việc lấy chất lượng làm trung tâm thì việc thay đổi cơ cấu nguồn lao động trong các khu công nghiệp là cần thiết đó là: theo hướng tăng tỷ lệ nguồn lao động có trình độ chuyên môn cao, tăng tỷ lệ lao động trong các ngành nghề đổi hỏi trình độ chuyên môn cao như cơ khí chế tạo, điện tử Tạo dựng các chính sách thu hút người lao động có trình độ cao và khuyến khích người lao động tự nâng cao trình độ bản thân mình để phù hợp với quá trình phát triển kinh tế

Các chế độ chính sách đối với lao động nhằm đảm bảo chất lượng nguồn lao động luôn coi trọng Xây dựng kế hoạch hằng năm, căn cứ vào tình hình thực tế, xu hướng phát triển kinh tế, sự đa dạng hóa của ngành nghề mà Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có những chính sách phù hợp để đảm bảo tốt nhất đời sống người lao động như: lộ trình tăng lương tối thiểu hàng năm, chính sách Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế hay bảo hiểm xã hội và công đoàn Đảm bảo mức lương tối thiểu cho người lao động và không có sự phân biệt giữa lương làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước và nước ngoài để người lao động yên tâm sản xuất, có thu nhập đảm bảo mức sống tối thiểu trong sự biến động lớn về giá cả Thường xuyên cập nhật chế độ chính sách mới để có cơ sở pháp lý hướng dẫn đồng bộ việc thực hiện chế độ cho người lao động Đặc biệt là việc thực hiện đăng ký, chi trả bảo hiểm thất nghiệp, tránh gây những phiền hà rắc rối khi người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển kinh tế thời kỳ hội nhập cũng phát sinh những vấn đề mới khiến luật lao động có một số điều không còn phù hợp

- Tạo lập và nâng cao tác phong làm việc công nghiệp cho người lao động trong các KCN Nâng cao nhận thức cho người lao động có ý nghĩa rất quan trọng đối

với người lao động, điều này thể hiện phong cách chuyên nghiệp cũng khả năng chuyên môn của họ Các doanh nghiệp có tác phong làm việc tốt sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất và tạo được lợi thế cạnh tranh hơn so với các doanh nghiệp khác Để thực hiện được điều này, các doanh nghiệp cần tổ chức các buổi tập huấn, tuyên truyền chính sách pháp luật, tập huấn về an toàn vệ sinh lao động để

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

người lao động có kiến thức tự bảo vệ mình khi làm việc tránh những rủi do và thiệt hại không đáng có; tạo điều kiện cho người lao động trong doanh nghiệp được tham gia các khóa đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp

- Nâng cao việc đào tạo trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật cho người

lao động Giáo dục – đào tạo người lao động: thông qua hệ thống các trường cao

đẳng, trung cấp nghề và cơ sở đào tạo ngoài công lập trên địa bàn tỉnh để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp cũng như nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động kết hợp với việc đào tạo lại, đào tạo mới bằng cách kèm cặp tại chỗ qua đó người lao động có thể vừa làm vừa cải thiện được trình độ của mình, đáp ứng cho nhu cầu ngày càng cao của công việc Bên cạnh đó, với việc dựa trên cơ sở nhu cầu của các doanh nghiệp, các KCN đưa ra các chính về đào tạo đối với người lao động, cũng như xây dựng các kế hoạch đào tạo nâng cao chất lượng người lao động Ngoài việc thành lập các trung tâm, của người lao động đi học, các doanh nghiệp cũng cần có chính sách khuyến khích người lao động tự học và nâng cao trình độ bản thân đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công việc

1.2 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng lao động trong các Khu công nghiệp

1.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng lao động trong các Khu công nghiệp của một số địa phương trong nước

1.2.1.1 Kinh nghiệm của Hải Phòng

Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã có 12 khu công nghiệp (KCN) được thành lập Trong đó, KCN Nomura cơ bản được lấp đầy, thu hút hơn 40.000 lao động Khi 12 KCN được lấp đầy với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp công nghệ cao, dịch vụ cao, nhu cầu lao động dự báo khoảng 150.000 người Theo

đó, lao động có trình độ quản lý bậc cao, bao gồm tiến sỹ, thạc sỹ, kỹ sư và cử nhân giàu kinh nghiệm khoảng 3%, tương ứng 4500 người Lao động quản lý có trình độ bậc trung, bao gồm các thợ bậc cao, cử nhân cao đẳng nghề, kỹ sư thực hành… khoảng 7% tương ứng 10.500 người Công nhân kỹ thuật và người lao động đã qua đào tạo khoảng 40% tương ứng với 60.000 người Số còn lại là lao động phổ thông làm việc tại các bộ phận lắp ráp, các dây chuyền chế biến, đóng gói, thủ công… khoảng 50%, tương ứng 75.000 người

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trên đây là số liệu về nhu cầu nguồn lao động tại thành phố Hải Phòng nhưng cũng phản ánh nhu cầu chung của các KCN trên cả nước trước nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Trước tình hình cơ cấu kinh tế thế giới sẽ thay đổi theo hướng phát triển các ngành sản xuất có giá trị gia tăng cao, đòi hỏi lực lượng lao động phải có trình độ kỹ thuật cao hơn Tuy nhiên, thực trạng nguồn lao động, cách thức tuyển dụng và sử dụng lao động tại các doanh nghiệp trong KCN lại bộc lộ nhiều điểm yếu:

Một là, các địa phương hiện nay có khá nhiều các cơ sở đào tạo và dạy nghề Tuy nhiên, số cơ sở đào tạo những nghề mà các doanh nghiệp thực sự cần là thiếu, chưa đồng bộ và dàn trải, nội dung đào tạo chưa thực sự phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp

Hai là, nhiều doanh nghiệp tự tuyển dụng lao động rồi tự tổ chức đào tạo riêng theo tiêu chí của họ cũng là một vấn đề bất cập Điều này dẫn đến tình trạng tiêu cực và dễ phát sinh mất an ninh trật tự và tạo nhiều khó khăn cho các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp

Ba là, sự phối hợp giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp còn thiếu tính gắn kết, vì vậy còn có những khoảng cách lớn giữa đào tạo và thực tiễn nên dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp không tin tưởng các học viên tại các cơ sở đào tạo nên cơ hội thực tập của học viên tại các doanh nghiệp là hạn chế do các doanh nghiệp lo ảnh hưởng tới năng suất hay hỏng hóc trang thiết bị trong quá trình thực hành, thực tập…

Từ những hạn chế nêu trên, yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải có kế hoạch đào tạo mới, đào tạo lại nguồn lao động hiện có Ban quản lý các KCN cần tiếp tục tuyên truyền sâu rộng về nhu cầu, yêu cầu lao động việc làm trên địa bàn địa phương nói chung và các KCN nói riêng Cùng với đó, tạo sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo, trước hết là cơ sở đào tạo của địa phương với các doanh nghiệp trong KCN, thực hiện đào tạo theo nhu cầu Các cán bộ, chuyên gia của doanh nghiệp cũng có thể trở thành người dạy trực tiếp, nâng cao kỹ năng thực hành

và giúp sinh viên làm quen dần với môi trường làm việc, tác phong công nghiệp

1.2.1.2 Kinh nghiệm của Vĩnh Phúc

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Hiện nay, các KCN trên địa bàn tỉnh hiện có tổng số 37.981 lao động đang làm việc, phân bố chủ yếu ở các KCN Khai Quang (29.979 lao động), KCN Bình Xuyên (7.350 lao động), KCN Bá Thiện (652 lao động) Trong đó, số lao động là người Vĩnh Phúc chiếm 85% (32.378 lao động) Theo ý kiến đánh giá của các nhà tuyển dụng, nguồn lao động trong tỉnh khá dồi dào, cần cù, chịu khó, có tác phong công nghiệp, có ý thức cao trong việc chấp hành nội quy của doanh nghiệp và quy định của Luật Lao động hiện hành Tuy nhiên, năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động nhìn chung còn nhiều hạn chế Số lao động có trình độ đại học, cao đẳng trở lên chỉ chiếm 11%; lao động có trình độ Trung cấp chiếm 6%; công nhân kỹ thuật chiếm 30%; lao động phổ thông chiếm 53% Từ những con số trên cho thấy, số lao động có chuyên môn, tay nghề cao chiếm tỷ lệ thấp, chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề Để tận dụng nguồn lao động tại chỗ, các doanh nghiệp thường tuyển dụng lao động có tố chất, sau đó đào tạo lại theo các chuyên môn, lĩnh vực cụ thể Điều này khiến các doanh nghiệp chịu không ít tốn kém về chi phí tài chính và thời gian

Việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Từ việc cải thiện chất lượng nguồn lao động giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, đảm bảo chất lượng sản phẩm, đưa doanh nghiệp đứng vững trên thị trường Tuy nhiên, đây là việc làm khó khăn, đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa nhiều giải pháp Do đó, để nâng cao chất lượng lao động thì việc cần làm trước tiên là làm cho người lao động hiểu, ý thức được việc nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề không chỉ làm lợi cho bản thân mà còn đóng góp cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, công tác đào tạo cần được chú trọng, không chỉ ở các cơ sở đào tạo, dạy nghề mà còn ở tại doanh nghiệp Cụ thể, theo chị Dinh, các cơ sở đào tạo, dạy nghề cần dự báo chính xác nhu cầu của doanh nghiệp để có hướng đào tạo phù hợp; đồng thời tiếp tục đổi mới phương thức đào tạo linh hoạt, đa dạng, tăng cường phối hợp với các doanh nghiệp trong công tác đào tạo, tổ chức cho sinh viên thực tập và tuyển dụng Về phía doanh nghiệp, cần có sự phối kết hợp chặt chẽ với các cơ sở đào tạo, dạy nghề trong việc xác định nhu cầu nhân lực; đánh giá chất lượng sinh viên tốt nghiệp để cung cấp các ý kiến phản hồi tới các cơ sở đào tạo;

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

xây dựng kế hoạch quản lý và phát triển nhân lực của doanh nghiệp Bên cạnh đó, mỗi doanh nghiệp cần thực hiện tốt chế độ trả lương, thưởng cho lao động, các chế

độ về phúc lợi xã hội; có những chính sách thu hút nhân tài, trọng dụng lao động làm được việc…

Thời gian qua, giữa doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo nghề trong tỉnh có sự kết hợp chặt chẽ nhằm từng bước nâng cao trình độ, tay nghề đội ngũ lao động; từ

đó, nâng cao hiệu quả sản xuất, giúp doanh nghiệp đứng vững trên thị trường Thời gian tới, các doanh nghiệp và các trường, cơ sở đào tạo nghề cần đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của doanh nghiệp

1.2.1.3 Kinh nghiệm của Hải Dương

Thực hiện đường lối phát triển kinh tế của Đảng, nhằm đưa nền kinh tế nước ta theo hướng CNH, HĐH để đến năm 2020 nước ta căn bản trở thành một nước công nghiệp Từ năm 2003, tỉnh Hải Dương đã triển khai xây dựng các KCCN theo mô hình mới và đã thu được những kết quả nhất định Các KCCN ở Hải Dương không chỉ với mục tiêu thu hút vốn đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài; tiếp cận công nghệ, phương pháp quản lý tiên tiến; chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và phân công lại lao động phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao tỷ trọng công nghiệp trong GDP và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.Tỉnh Hải Dương có 18 KCN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục quy hoạch phát triển các KCN Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, với tổng diện tích là 3.517 ha Đến nay có 10 KCN đã được thành lập và thực hiện dự án xây dựng - kinh doanh hạ tầng, với tổng diện tích theo quy hoạch chi tiết 1.697,32 ha, trong

đó tổng diện tích đất quy hoạch xây dựng các nhà máy là 1.148,94 ha Các KCN này nằm dọc trục Quốc lộ 5,18, thuộc địa phận các huyện Cẩm Giàng, Kim Thành, thị xã Chí Linh và thành phố Hải Dương.Tất cả các KCN hoạt động đều có chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong đó có 2 KCN chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài (Phú Thái, Kenmark) Tổng vốn đầu tư đăng ký xây dựng cơ sở hạ tầng là 6.448,021 tỷ đồng, tổng vốn đã đầu

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

tư xây dựng cơ sở hạ tầng là 5.668,501 tỷ đồng Ngoài KCN Kenmark chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng sẵn cả nhà xưởng để cho thuê nên tỷ lệ vốn đầu tư/ha là 34.35 tỷ VNĐ/ha, còn nói chung chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng bình quân cho 01 ha đất tại các KCN Hải Dương là 3,98 tỷ VNĐ.Tính đến 31/6/2014, theo báo cáo của Ban quản lý các KCN, các KCN của tỉnh đã thu hút được 181 dự án thứ cấp (bao gồm 144 dự án FDI và 37 dự án DDI) được cấp giấy chứng nhận đầu

tư vào các KCN, trong đó có 150 dự án đã đi vào hoạt động, 12 dự án đang triển khai, 14 dự án đã cấp phép chưa triển khai và 5 dự án không có khả năng triển khai (số dự án này đang trong quá trình xem xét thu hồi giấy chứng nhận đầu tư), với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 2.554,76 triệu USD và 1.342 tỷ VNĐ Quy mô bình quân một dự án là 8,20 triệu USD và 3,24 triệu USD/ha Các KCN Tân Trường, Đại An (giai đoạn 1), Phúc Điền là những KCN thu hút được nhiều dự án đầu tư nước ngoài, tốc độ lấp đầy nhanh Theo kết quả khảo sát, các KCN của tỉnh

đã thu hút được các dự án đầu tư từ nhiều quốc gia: Châu Âu, Châu Á, Mỹ và các nước ASIAN, trong đó đứng đầu là Nhật Bản với số lượng 47 dự án, Trung Quốc (bao gồm Trung Quốc lục địa, Hồng Kông, Đài Loan) 42 dự án, Hàn Quốc 22 dự

án, các vùng, lãnh thổ khác là 33 dự án và 37 dự án có vốn đầu tư trong nước Các ngành nghề đầu tư vào các KCN của tỉnh cũng rất đa dạng… Đã có những ngành nghề mới phát triển như: dịch vụ Logistics đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển của các KCN tỉnh Năm 2014, GTSXCN của các doanh nghiệp trong KCN đã chiếm 50,60% GTXSCN của toàn ngành công nghiệp tỉnh số lao động làm việc trực tiếp trong các KCN theo tổng hợp của Ban quản lý các KCN năm 2014 là 72.706 người Lao động có trình độ trên đại học là 804 người; đại học là 4.132 người; cao đẳng, trung cấp là 4.594 người; công nhân kỹ thuật là 7.794 người; dạy nghề thường xuyên 47.342 người; lao động phổ thông (chưa qua đào tạo nghề) là 9.040 người, chiếm 12,26% trong tổng số lao động Số lao động phổ thông được các doanh nghiệp trong KCN tuyển dụng tự đào tạo, kèm cặp và trở thành lao động có tay nghề là 47.342 người Kết quả trên cho thấy, các KCN hoạt động trên địa bàn tỉnh đã đóng góp rất lớn cho việc giải quyết việc làm, đảm bảo thu nhập ổn định cho người lao động, trực tiếp tham gia đào tạo và đào

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

tạo lại nguồn nhân lực, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Hải Dương

1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Bắc Ninh

Từ kinh nghiệm phát triển nguồn lao động của một số tỉnh có nét tương đồng với Bắc Ninh đã cho một số bài học về phát triển nguồn lao động cho các Khu công nghiệp như sau:

Từ kinh nghiệm phát triển nguồn lao động của một số tỉnh có nét tương đồng với Bắc Ninh đã cho một số bài học về phát triển nguồn lao động cho các Khu công nghiệp như sau:

Thứ nhất: Thông tin tuyển dụng lao động cần được quảng bá rộng dãi Thông

tin doanh nghiệp dễ dàng tìm hiểu để có nhiều lao động nộp hồ sơ dự tuyển

Thứ hai: Phát triển nguồn lao động theo đường lối chủ chương của Đảng và

Nhà nước Thông qua các chương trình, mục tiêu quốc gia về lao động của từng ngành, nghề, địa phương cụ thể gắn với chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh

Thứ ba: Chất lượng đào tạo ngày càng phải nâng cao Chiến lược phát triển

nguồn lao động đầu tiên là đầu tư – phát triển hệ thống giáo dục trên mọi lĩnh vực Không chỉ đào tạo con người về ngành nghề, ứng dụng khoa học công nghệ mà giáo dục con người cả về nhân cách để hình thành được phẩm chất đạo đức tốt đẹp

Thứ tư: Ban quản lý các khu công nghiệp thường xuyên kiểm tra giám sát

các công ty đang hoạt động trên địa bàn Trình độ cán bộ quản lý các khu công nghiệp cần được nâng cao, đáp ứng nghiệp vụ chuyên môn ngày càng cao

Thứ năm:Các chế độ chính sách cần được nghiêm chỉnh thực hiện, đãi ngộ

người lao động phù hợp nâng cao đời sống người lao động

Thứ sáu: Người lao động cần hòa nhập với thế giới, nâng cao trình độ, học

hỏi các kỹ thuật tiên tiến trên thế giới Đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp trên địa bàn

Thứ bảy: Tác phong làm việc người lao động cần có sự chuyên nghiệp hơn,

từ bỏ tư duy lạc hậu, đặc biệt tạo môi trường làm việc thân thiện và cởi mở

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

2.1 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết các nội dung của để tài, cần phải nghiên cứu để trả lời các câu hỏi sau:

- Thực trạng chất lượng lao động trong các KCN tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn vừa qua như thế nào?

- Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân trong việc nâng cao chất lượng lao động trong các KCN tỉnh Bắc Ninh là gì?

- Tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động trong các KCN tỉnh Bắc Ninh như thế nào?

- Để nâng cao chất lượng lao động trong các KCN tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tới cần phải thực hiện các giải pháp nào?

2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

2.2.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Luận văn thu thập số liệu sơ cấp bằng cách dùng mẫu phiếu chuẩn bị sẵn để

điều tra trực tiếp người lao động của một số doanh nghiệp đang hoạt động tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh; Phương pháp thu thập cụ thể như sau:

+ Xác định số lượng mẫu:

Để có được một kết quả có cơ sở thống kê và hạn chế tối đa những sai sót trong quá trình chọn mẫu, mẫu được lựa chọn dựa trên công thức xác định cỡ mẫu của Slovin như sau:

Ngày đăng: 30/01/2018, 14:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w