MỞ ĐẦUCon đ¬ường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước Việt Nam là vấn đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản, trọng yếu chí phối các hoạt động tưởng và lý luận của chúng ta hiện nay. Nó liên quan đến nhận thức, ý cách mạng mà còn liên quan đến đường lối chính sách, giải pháp thực hiện. Còn là vấn đề trân trọng trong quá khứ, kế thừa công lao của các thế hệ đi tr¬ớc sự hy sinh hàng chục triệu con ng¬ời của cả dân tộc đã chiến đấu ròng rã trong hơn 70 năm. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đề cập ở đây là chủ nghĩa xã hội khoa học dựa trên cơ sở học thuyết Mác Lênin và t¬ tưởng Hồ Chí Minh là yếu tố chính trị này có vai trò quyết định trong việc thu hút và chuyển hoá nhân tố thời đại thành nguồn lực bên trong để đi lên Việt Nam xã hội ngay cả trong điều kiện cụ thể ở nước ta hiện nay có khả năng pháp triển kinh tế của nư¬ớc ta cũng đang đứng tr¬ước những điều kiện mới, cơ hội mới, ngay nay, cũng với ý chí độc lập, tự lực, tự cư¬ờng qua bao kinh nghiệm lịch sử được phát huy cao độ và quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trang 1MỞ ĐẦU
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước Việt Nam là vấn đề lý luận
và thực tiễn rất cơ bản, trọng yếu chí phối các hoạt động tưởng và lý luậncủa chúng ta hiện nay Nó liên quan đến nhận thức, ý cách mạng mà còn liênquan đến đường lối chính sách, giải pháp thực hiện Còn là vấn đề trân trọngtrong quá khứ, kế thừa công lao của các thế hệ đi trớc sự hy sinh hàng chụctriệu con ngời của cả dân tộc đã chiến đấu ròng rã trong hơn 70 năm
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đề cập ở đây là chủ nghĩa xãhội khoa học dựa trên cơ sở học thuyết Mác- Lênin và t tưởng Hồ Chí Minh
là yếu tố chính trị này có vai trò quyết định trong việc thu hút và chuyển hoánhân tố thời đại thành nguồn lực bên trong để đi lên Việt Nam xã hội ngay
cả trong điều kiện cụ thể ở nước ta hiện nay có khả năng pháp triển kinh tếcủa nước ta cũng đang đứng trước những điều kiện mới, cơ hội mới, ngaynay, cũng với ý chí độc lập, tự lực, tự cường qua bao kinh nghiệm lịch sửđược phát huy cao độ và quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trang 2NỘI DUNG
I NỘI DUNG VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Chủ nghĩa xã hội là những nhu cầu và hoạt động thực tiễn của đa sốnhân dân trong sản xuất ngày càng xã hội hoá(hoạt động do đông ngời thamgia và đông ngời cùng hởng thành quả) và thực hiện dân chủ với đúng nghĩalà: quyền lực của dân(những nhu cầu và hoạt động có tính xã hội chủ nghĩanày của nhân dân có từ trớc Công nguyên hàng trăm năm, trong chế độ cộngsản nguyên thuỷ- cha có giai cấp và nhà nước, đặc biệt là ở Hy Lạp và La
mã cổ đại)
Chủ nghĩa xã hội còn là những phong trào thực tiễn của nhân dân đấutranh chống chế độ tư hữu- áp bức bóc lột, bất công và mọi tội ác để giànhlại dân chủ Thực tiễn này có từ chế độ nô lệ, đó là các cuộc khởi nghĩa củanhân dân lao động chống giai cấp và nhà nước chủ nô Giai cấp này đãchiếm quyền dân chủ của nhân dân, áp bức bóc lột rất tàn bạo đối với nhândân lao động, coi những ngời nô lệ(đa số trong xã hội) là “công cụ biết nóicủa chủ nô” và “không có tính ngời” Tuy các cuộc đấu tranh này đều thấtbại, những mục đích, tính chất của nó đã mang tính chất xã hội chủ nghĩa sơkhai
Chủ nghĩa xã hội còn là những mơ ước, lý tưởng của nhân dân lao động
về một chế độ xã hội trong đó nhân dân làm chủ và có quyền lực để cùngnhau xây dựng cuộc sống ngày càng bình đẳng, văn minh, hạnh phục chomọi người
Chủ nghĩa xã hội còn là những tư tưởng, lý luận, học thuyết về giảiphóng con người, giải phóng xã hội khỏi chế độ tư hữu, áp bức bóc lột, bấtcông, nghèo khổ, lạc hậu Trớc Mác, “tư tưởng xã hội chủ nghĩa không
Trang 3tưởng” có cả những giá trị và hạn chế nhất định; từ Mác đến nay có “chủnghĩa xã hội khoa học” là lý luận xã hội chủ nghĩa có những cơ sở khoa học
và cơ sở thực tiễn để nhận thức, cải tạo và giải phóng xã hội
Chủ nghĩa xã hội còn là một chế độ xã hội mà nhân dân xây dựng trênthực tế về mọi mặt, dới sự lãnh đạo của đảng tiên phong của giai cấp côngnhân (thực tế này chỉ có từ sau Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nganăm 1917)
Vậy chủ nghĩa xã hội không phải là do chủ nghĩa Mác- Lênin tạo ra mà
là sản xuất lâu đới của toàn nhân loại, qua những nấc thang phát triển từ thấpđến cao Chủ nghĩa Mác- Lênin, trong đó có chủ nghĩa xã hội khoa học là sự
kế thừa, phát triển và tìm ra những cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn để hớngdẫn nhân dân tự giải phóng Ngày nay, quan niệm về “xây dựng chủ nghĩa
xã hội” là xây dựng cả 5 nội dung cơ bản đó trên thực tế mỗi nước, trong đó
có Việt Nam Từ khi có đường lối đổi mới, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ởnước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn
II TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI
1./ Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam
Nước Việt Nam là một nước phong kiến, nông nghiệp lạc hậu kéo dàinhiều thế kỷ Từ nửa cuối thế kỷ XIX, Việt Nam trở thành thuộc địa củathực dân Pháp Vấn đề đạt ra cho dân tộc Việt Nam là bằng con đường nào
để giải phóng dân tộc và đất nước tiếp tục phát triển Phát huy truyền thốngyêu nước của dân tộc Việt Nam nhân dân Việt Nam ở khắp nơi từ Nam raBắc, từ Bắc vào Nam đã liên tiếp nổi dậy chống thực dân Pháp gây chochúng nhiều thiệt hại nặng nề với tinh thần được Nguyễn Trung Trực kháiquát “khi nào người Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì khi đó mới hết ngườiNam chống người Tây” Nhưng cuối cùng đều bị thất bại1
Trang 4Tiếp đến, nhiều nhà yêu nước đã ra nước ngoài để tìm con đường giảiphóng dân tộc nhưng lần lượt bị thất bại Tiêu biểu như phong trào Tây ducủa cụ Phan Chu Trinh, phong trào Đông du của cụ Phan Bội Châu Nhưngđúng như cụ Phan Bội Châu đã thừa nhận: “trong đời tôi chứng kiến trămlần thất bại chưa có một lần thành công” Cụ Nguyễn Thái Học cũng nói:
“Không thành công thì cũng thành nhân”
Đúng, dân tộc Việt Nam đã ghi nhận trong lịch sử của mình rằng các
cụ là những nhà yêu nước vĩ đại đầu thế kỷ XX, tên tuổi các cụ được đặt chocác đường phố lớn, các trường học lớn, các công trình lớn của đất nước.Nhưng cũng đúng là sự nghiệp của các cụ đã không thành
Đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam chìm đắm trong sự thống trị hàkhắc của chủ nghĩa thực dân Pháp cấu kết với thế lực phản động trong giaicấp địa chủ, phong kiến người Việt Nam, nhân dân sống trong cuộc sống nô
lệ tối tăm Đất nước tưởng như không có đường ra
Cũng vào thời điểm ấy, sau nhiều năm trăn trở theo dõi các phong tràoyêu nước của các thế hệ trước Năm 1911, Nguyễn Tất Thành - Anh Ba, saunày là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước với lòngyêu nước, thương dân và những suy nghĩ về sự thất bại của các phong tràoyêu nước suốt nửa thế kỷ qua
Sau 10 năm (1911-1920) bôn ba qua 4 châu lục, gần 30 quốc gia dântộc bao gồm cả những nước thuộc trung tâm của chủ nghĩa tư bản như Anh,Pháp, Mỹ đến hệ thống các nước thuộc địa của nó ở châu á châu Phi cùngvới việc nghiên cứu lý luận và hoạt động trong phong trào công nhân, trongĐảng xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã từng bước nhận thức, hình thành tưduy và đã tiếp cận với chân lý thời đại: “Giải phóng dân tộc gắn liền với giảiphóng xã hội, giải phóng con người”
Trang 5Đó là cơ sở cho sự biến đổi về chất trong tư duy của Người vào năm 1920khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất đề cương những vấn đề dân tộc và thuộc địa”của V.I.Lênin Người đã mừng phát khóc khi tìm ra con đường giải phóngdân tộc mình.
2./ Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Hồ Chí Minh không chỉ là người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Lênin vào Việt Nam, bến nó thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọihạnh động của nhân dân ta mà còn làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin có thêmsức sống, trở nên dễ hiểu, phù hợp với tư duy đơn giản và thiết thực của conngười trong một xã hội chủ yếu là nông dân Một mặt, Người không xuấtphát từ ước mơ, tức không ảo tưởng hoặc chủ quan duy ý chí khi đề ra mụctiêu tiến hành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội khi ở nước ta chưa đủđiều kiện Mặt khác, và có thể đây mới là mặt quan trọng nhất thể hiện rõ tưtưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ, Người thấy không thể ngồi chờ các điều kiệnxây dựng chủ nghĩa xã hội có đủ mới nghĩ đến việc tiến hành xây dựng chủnghĩa xã hội ở Việt Nam, mà phải căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể vàđặc điểm văn hoá dân tộc; nghĩa là kháng chiến phải gắn với kiến quốc, vàkiến quốc theo Hồ Chí Minh là thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa Đó
Mác-là một định hướng sáng suốt, thể hiện ý thức cách mạng không ngừng củahoạt động, mặc dù trước đây chỉ nói đến hai ngọn cờ là độc lập dân tộc vàchủ nghĩa xã hội
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủnghĩa xã hội ở Việt Nam bắt ngồn từ lý tưởng về một xã hội công bằng, bìnhđẳng, nhân dân được sống trong tự do, hạnh phúc Người cho rằng các vấn
đề dân tộc cơ bản chỉ có thể được giải quyết triệt đề trong chủ nghĩa xã hội,ngược lại, chủ nghĩa xã hội chỉ có thể trở thành hiện thực trên cơ sở những
Trang 6quyền cơ bản của dân tộc được giải quyết một cách triệt để Đó là hai mặtcủa một sự nghiệp cách mạng chân chính nhằm giải phóng dân tộc, giảiphóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Đó cũng chính làthực chất chủ nghĩa xã hội theo cách hiểu của Hồ Chí Minh Cho nên, khiđịnh nghĩa chủ nghĩa xã hội là gì, Người đã giải thích một cách dễ hiểu rằng:
“chủ nghĩa xã hội là mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”,
“chủ nghĩa xã hội là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháuchúng ta ngày càng sung sướng” “ Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủnghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng,làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnhphúc” Tóm lại, “ chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh” Đó
là những luận điểm rất cơ bản, sâu sắc phản ánh những đặc trưng bản chấtcủa chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta phấn đấu theo mục tiêu chung là “độclập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh” như Nghị quyết Đại hội IX của Đảng ta đề ra
Hồ Chí Minh cũng không bao giờ nghĩ rằng việc xây dựng chủ nghĩa
xã hội là đơn giản, dể dàng Người nói: “ Biến đổi một xã hội cũ thành một
xã hội mới, không phải là một chuyện dễ Nhưng đó là sự khó khăn trong sựtrưởng thành Toàn Đảng, toàn dân đồng sức, đồng lòng thì khó khăn gìcũng nhất định khắc phục được” Người nói: “ Xã hội chủ nghĩa là tất cả mọingười phải ra sức lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa xã hội xâydựng được mọi người mới sung sướng, ấm no”
Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến “ đặc điểm to nhất của Đảng ta trongthời kỳ quá độ từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thằng lên chủ nghĩa xãhội không phải kinh qua giai đọan phát triển tư bản chủ nghĩa” Người chỉrõ: “ Nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vậtchất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa
Trang 7xã hội, có Công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học tiêntiến Trong qúa trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nềnkinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốtlâu dài” Người còn căn dặn: “ Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội,tiết kiệm là một chính sách lớn, một đạo đức lớn, một nếp làm việc và nếpsống không bao giờ được lơ là Kẻ thù chính của nó là: tệ tham ô, lăng phí,bệnh phô trương, hình thức và lối làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm”.
Hiểu rõ đặc điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và đặt trọngtâm vào nông nghiệp nên Người đặc biệt quan tâm đến vai trò của nôngnghiệp và nông thôn trong nền kinh tế nước ta Người nói: “ Nông nghiệpchiếm bộ phận lớn trong nền kinh tế, mà sản xuất nhỏ lại chiếm bộ phận lớntrong nông nghiệp, nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực và nguyênliệu, đồng thời là nguồn xuất khẩu quan trọng, nông thôn là thị trường tonhất hiện nay” Từ đặc điểm đó, Hồ Chí Minh đặt vấn đề cải tạo nôngnghiệp thành nhiệm vụ trọng tâm ở nước ta khi xây dựng chủ nghĩa xã hội.Người cho rằng: “phải có một nền nông nghiệp phát triển thì Công nghiệpmới có thể phát triển mạnh” “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu Nôngnghịêp ta thịnh”
Khẳng định vị trí của nông nghiệp và vai trò của nông dân nhưng Hồ ChíMinh không bao giờ coi nhẹ vị trí của công nghiệp và vai trò của giai cấpcông nhân cũng như tầng lớp trí thức Người cho rằng: “Công nghiệp pháttriển thì nông nghiệp mới phát triển Cho nên Công nghiệp và nông nghiệpphải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khoẻ và điđều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích Thế là thực hiệnliên minh công- nông để xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm
no sung sướng cho nhân dân”
Trang 8III ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦNGHĨA XÃ HỘI.
1 cơ sở lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
2 Từ đó khẳng định sự ra đời của hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa là một qúa trình lịch sử- tự nhiên.
Mác viết: “Tôi coi sự phát triển của hình thái kinh tế- xã hội như làmột qúa trình lịch sử- tự nhiên”
“Hình thái kinh tế- xã hội là một khái niệm của triết học Mác xít nóilên một xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định, trong đó quan hệ sản xuất
là biểu hiện đặc trưng cơ bản của xã hội đó phù hợp với lực lượng sản xuấtnhất định và một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên quan
hệ sản xuất ấy”
a./ Hình thái kinh tế- xã hội được hợp thành một cách biện chứng của yếu tố đó là: lực lượng sản xuất; quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng.
Chủ nghĩa Mác-Lênin tổng kết lịch sử phát triển của loài người đã chỉ
ra rằng: lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử phát triển của cáchình thái kinh tế- xã hội, mà mỗi hình thái kinh tế- xã hội đều được cấuthành bởi ba yếu tố cơ bản: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúcthượng tầng trong một sự thống nhất biện chứng
Trang 9Lực lượng sản xuất bao gồm các yếu tố: người lao động, công cụ laođộng và đối tượng lao động Con người lao động luôn là yếu tố quyết địnhlực lượng sản xuất, công cụ lao động đánh dấu trình độ kỹ thuật của lựclượng sản xuất cũng là kỹ thuật và kỹ năng của người lao động, do chính conngười sáng tạo trong qúa trình sản xuất, qúa trình chinh phục thiến nhiênmột cách liên tực Lực lượng sản xuất phản ánh vị thế của con người đối với
tự nhiên
Lực lượng sản xuất của nhân loại có qúa trình phát triển qua nhiềuthời đại như thời đại đồ đá (đã cũ, đá mới) thời đại đồ đồng, Có thể kháiquát thành hai thời đại với hai trình độ kỹ thuật hoàn toàn khác nhau về chất:
kỹ thuật của công cụ thủ công từ giữa thế kỷ XVIII về trước và kỹ thuật củamáy móc hiện đại từ giữa thế kỷ XVIII đến nay
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong qúa trình sảnxuất- quan hệ xã hội trong sản xuất- bao gồm quan hệ con người trong sởhữu tư liệu sản xuất, quan hệ trong qúa trình tổ chức và quản lý sản xuất,quan hệ trong phân phối và hưởng thụ thành quả lao động Những quan hệnày tạo lập địa vị kinh tế, địa vị xã hội (trong xã hội có giai cấp còn là địa vịchính trị) của mỗi người, mỗi cộng đồng, mỗi giai cấp Trong ba hình tháikinh tế- xã hội tồn tại trên cơ sở chế độ tư hữu (nô lệ, phong kiến, tư bản)địa vị xã hội của các giai cấp thật rõ ràng (giai cấp chủ nô chiếm hữu lựclượng sản xuất trong đó có cả người lao động- nô lệ, giai cấp nô lệ là giaicấp bị trị; giai cấp địa chủ là chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộngđất, giai cấp nông dân làm thuê, bị bóc lột qua hình thức tổ chức; trong chế
độ tư bản chủ nghĩa; giai cấp tư sản sở hữu tư bản bóc lột công nhân bằnghình thức giá trị thặng dư, giai cấp công nhân là người làm thuê) Vì thế,Mác kết luận quan hệ sản xuất có vị trí cơ bản trong hình thái kinh tế- xã
Trang 10hội, nói lên bản chất của một hình thái kinh tế- xã hội và là cơ sở để phânbiệt sự khác nhau giữa các hình thái kinh tế- xã hội.
Kiến trúc thượng tầng bao gồm nhiều yếu tố hợp thành Kiến trúcthượng tầng chính trị, mà bộ phận cốt yếu của nó là Nhà nước và hệ tưtưởng của giai cấp thống trị hợp thành bản chất của chế độ chính trị (Nhànước chủ nô và hệ tư tưởng của chủ nô, Nhà nước phong kiến và hệ tư tưởngphong kiến, Nhà nước tư sản và hệ tư tưởng tư sản) vừa phản ánh bản chấtcủa quan hệ sản xuất, vừa là công cụ sắc bén để bảo vệ cơ sở hạ tầng quan
hệ sản xuất Cùng với hạ tầng cơ sở, kiến trúc thượng tầng hợp thành bảnchất của một hình thái kinh tế- xã hội phản ánh địa vị thống trị của một giaicấp trên hai lĩnh vực cơ bản nhất của đời sống xã hội: kinh tế và chính trị, từ
đó là giai cấp thống trị trên mọi lĩnh vực của xã hội Với ý nghĩa ấy, bỏ quachế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua việc xác lập sự thống trị của quan hệ sảnxuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa
b./ Hình thái kinh tế- xã hội tư bản chủ nghĩa chuyển lên hình thái kinh tế- xã hội như một tất yếu khách quan.
+ Hình thái kinh tế- xã hội tư bản chủ nghĩa ra đời và phát triển qua 3thời kỳ: hợp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp Xét trênlĩnh vực chính trị giai cấp tư sản đã giành được thắng lợi cơ bản ở châu Âu
và châu Mỹ vào thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX qua các cuộc cách mạng tưsản Hà Lan 1581, cách mạng tư sản Anh 1640, Mỹ 1776, Pháp 1789, Đức,
Áo Hung, Ba La, đầu thế kỷ XIX Nhưng chủ nghĩa tư bản chỉ giành đượcthắng lợi hoàn toàn vào giữa thế kỷ XIX, khi nền công nghiệp hiện đại đãxác lập
Mặt khác, nền sản xuất Công nghiệp hiện đại được hình thành và pháttriển trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa một cách khách quan lại chính lànhân tố phủ định chủ nghĩa tư bản
Trang 11Thật vậy, nền sản xuất Công nghiệp hiện đại được giai cấp tư sản thúcđẩy một cách khách quan từ chính yêu cầu của giai cấp tư sản là đạt được lợinhuận tối đa Nền đại Công nghiệp là nền sản xuất tập trung cao tư liêu sảnxuất với quy mô lớn trong tay số ít nhà tư bản Từ những chủ công trườngthủ công (tư sản bậc trung) biến thành các triệu phú công nghiệp; từ nhữngtriệu phú thành các tỷ phú (Bảng Anh, Mác Đức, Ph Răng Pháp, Đô LaMỹ ); nền sản xuất đại Công nghiệp là nền sản xuất có kỹ thuật hiện đạidựa trên những phát minh khoa học mới nhất và thường xuyên được cáchmạng hoá (cách diễn đạt của Mác- Lênin, thường xuyên được đổi mới (diễnđạt hiện đại) Quan hệ kinh tế sản xuất với khoa học đạt tới độ để Mác có thểkết luận “khoa học ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp”; đó lànền sản xuất xã hội hoá ngày càng cao thể hiện ở trình độ phân công và hợptác sản xuất, kinh tế theo hướng quốc tế hoá Trình độ xã hội hoá cao haythấp tuỳ thuộc vào trình độ hiện đại của lực lượng sản xuất một cách kháchquan (kỹ thuật sản xuất); Mác nhận xét về tính xã hội hoá theo hướng quốc
tế hoá như sau: “Một chiếc máy được sản xuất ra ở nước Anh đã cướp cơm(làm thất nghiệp) hàng ngàn công nhân ở Tung Quốc và Ấn Độ, làm đảo lộncác quan hệ xã hội”; đó là nền sản xuất tạo ra năng suất lao động xã hội cao
và tăng với tốc độ rất nhanh “một thế kỷ bằng tất cả các thời đại cộng lại”
Lực lượng sản xuất đại công nghiệp chính là tiền đề kinh tế kỹ thuậtcho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học, tiền đề kinh tế kỹ thuật cho sự
ra đời của chủ nghĩa xã hội hiện thực- giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủnghĩa Bởi lẽ lực lượng sản xuất xã hội hoá không thể tương dung với quan
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất xã hội hoángày càng cao với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa biểu hiện về mặt xã hội
là mâu thuẫn giứa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản ngày càng trở thànhgay gắt Giải quyết mâu thuẫn ấy tất yếu dẫn đến việc xoá bỏ quan hệ sản
Trang 12xuất tư bản chủ nghĩa, thiết lập quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn, phù hợpvới lực lượng sản xuất xã hội hoá, đó là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa,giai đoạn đầu của quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa.
Với ý nghĩa ấy, C Mác và Ph Ăngghen chỉ rõ sự phát triển của đạiCông nghiệp đã phá sập chính ngay cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đãxây dựng lên chế độ sản xuất và chế độ chiếm hữu của nó Giái cấp tư sảnkhông những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình mà còn tạo ra người sử dụng
vũ khí ấy, những công nhân hiện đại, giai cấp vô sản Rằng: “sự sụp đổ củagiai cấp tư sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”
c./ lịch sử xã hội loại người đã và đang phát triển qua 5 hình thái kinh tế- xã hội Đó là hình thái kinh tế- xã hội cộng sản nguyên thủy, hình thái chiếm hữu nô lệ, hình thái phong kiến, hình thái kinh tế- xã hội
tư bản chủ nghĩa và hiện nay đang hình thành hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa (giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa) ở một số nước.
Xét trên bình diện toàn bộ sự phát triển của xã hội loài người nhấtthiết phải trải qua đủ 5 hình thái kinh tế- xã hội theo quy luật quan hệ xã hộiphù hợp với tính chất trình độ lực lượng sản xuất, kién trúc thượng tầng phùhợi với cơ sở hạ tầng từ thấp đến cao những xét từng dân tộc, từng quốc giariêng biệt, ta thấy trong lịch sử phát triển của loài người đã có một số dân tộc
bỏ qua một giai đoạn phát triển, tức là bỏ qua hình thái kinh tế- xã hội
Ở thế kỷ XX cũng đã xuất hiện một số nước lạc hậu phát triển theocon đường xã hội chủ nghĩa bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Về khả năngdiễn ra sự biến đổi nhảy vọt của mốt số nước kinh tế lạc hậu bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa do chính chủ nghĩa tư bản tạo ra, Mác, Ăngghen, Lênin đều
có khá nhiều luận chứng mang tính tổng kết