SKKN Bàn thêm về việc ra đề – chấm – trả bài Tập làm vănSKKN Bàn thêm về việc ra đề – chấm – trả bài Tập làm vănSKKN Bàn thêm về việc ra đề – chấm – trả bài Tập làm vănSKKN Bàn thêm về việc ra đề – chấm – trả bài Tập làm vănSKKN Bàn thêm về việc ra đề – chấm – trả bài Tập làm vănSKKN Bàn thêm về việc ra đề – chấm – trả bài Tập làm vănSKKN Bàn thêm về việc ra đề – chấm – trả bài Tập làm vănSKKN Bàn thêm về việc ra đề – chấm – trả bài Tập làm vănSKKN Bàn thêm về việc ra đề – chấm – trả bài Tập làm vănSKKN Bàn thêm về việc ra đề – chấm – trả bài Tập làm vănSKKN Bàn thêm về việc ra đề – chấm – trả bài Tập làm vănSKKN Bàn thêm về việc ra đề – chấm – trả bài Tập làm văn
Trang 1MỤC LỤC
e.Kết quả khảo nghiệm và giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu Trang 22
Trang 2Thậm chí một số giáo viên chấm không đủ bài Tập làm văn theo quy định.Hiệnnay có quá nhiều học sinh viết văn kém.Tình trạng đó chính là hậu quả của việcchấm bài chưa đầy đủ tinh thần trách nhiệm của giáo viên.
Đối với giáo viên chưa lo đến việc chấm bài thì phương pháp chấm cũng ít tácdụng đối với học sinh Giáo viên chưa yêu cầu học sinh tự chữa lỗi trong bài làmvăn của mình, chưa chú ý cân đối đến việc khích lệ những cố gắng và chỉ rõnhững sai sót về nội dung và hình thức diễn đạt trong bài làm của học sinh Giáoviên chưa thực hiện đúng yêu cầu quy định là cho học sinh làm bài vào vở (hoặclàm vào giấy rời thì đính vào từng tập) để giáo viên có thể theo dõi sát sựchuyển biến của học sinh qua từng bài làm”
Theo công văn hướng dẫn dạy- học môn Văn- Tiếng Việt đã nhấn mạnh: “Đối với phân môn Tập làm văn, giáo viên phải hình thành kĩ năng phân tích đề,tìm ý, lập dàn ý và kĩ năng hành văn cho học sinh Việc ra đề Tập làm văn phải
có đáp án, sát hợp với chương trình, làm sao đa số học sinh có học lực trungbình đều có thể làm được bài Việc chấm bài Tập làm văn phải được tiến hànhnghiêm túc, chú ý gạn đục, khơi trong, trân trọng những ý tưởng, những pháthiện mới lạ của học sinh Những bài làm hoàn chỉnh, hành văn lưu loát đáp ứngnhững yêu cầu của đề bài phải được cho điểm cao( thang điểm 9, 10) đề khuyếnkhích các em vươn lên trong học tập”
Qua quá trình giảng dạy, đã tiến hành dự giờ và tham khảo giáo án các đồngnghiệp tôi nhận thấy:
- Về giáo án, một số giáo viên ra đề Tập làm văn cho học sinh đáp án biểuđiểm chấm hết sức tùy tiện, qua loa đại khái(hình thức đối phó gọi là “có”) Từ
đó dẫn đến việc chấm bài một cách cảm tính, thiếu chính xác
- Về chấm bài, nhận xét, cho điểm qua loa đại khái thiếu tinh thần trách nhiệm:
+ Nhận xét chung chung không cụ thể: không sữa lỗi hoặc bỏ qua nhiềulỗi trong bài làm của học sinh, viết tắt, cẩu thả trong phần “lời phê”
+ Cho điểm: Chỉ tập trung điểm 4, 5, 6 ngại cho điểm 8 , 9, 10 làm chomột số học sinh có bài làm tốt thiệt thòi trong quá trình làm văn, góp phần làm
Trang 3cho tâm lí các em không thích học văn, vì cố gắng cũng chẳng bao giờ đạt điểmcao.
- Về trả bài: Tôi thấy một số thầy cô giáo chưa có sự chuẩn bị chu đáo để giờtrả bài thực sự có hiệu quả: Giáo án tiết trả bài sọan quá ngắn gọn với những lờinhận xét chung chung, bài nào cũng như bài nào, không có những nhận xét chonhững bài làm cụ thể Nên khi lên lớp giáo viên chưa có những nhận xét xácđáng, trả bài thiếu tính hệ thống, không có phần sữa lỗi trong bài làm của họcsinh
Do đó, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài “ Bàn thêm về việc ra đề - chấm - trả bàitập làm văn” để giáo viên Ngữ Văn cùng nhau bàn bạc thấu đáo để công việcnày thực sự có hiệu quả hơn
1.2.Mục đích nghiên cứu:
- Mục đích của đề tài này là theo dõi sự tiến bộ của các em qua từng bàilàm, khắc phục những hạn chế trong bài làm của các em để điều chỉnh phươngpháp dạy phù hợp với đối tượng học sinh.Giúp học sinh học sinh đúc rút kinhnghiệm, phân tích cái hay cái dở trong bài làm của mình, nêu phương hướngphấn đấu sửa chữa và vươn lên ở những bài sau.Từ đó phát huy tính tích cực chủđộng sáng tạo của các em góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Ngữvăn ở bậc THCS
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh khối 6 đến khối 9 của Trường THCS Đăk Drô
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu các tiết tập làm văn trong SGK, SGV, sách chuẩn kiến thức
kĩ năng môn Ngữ văn từ khối 6 đến khối 9
Đọc, nghiên cứu tài liệu từ các nguồn: sách, báo, internet
- Thu thập dẫn chứng qua tiết dạy của bản thân và đồng nghiệp
- Nghiên cứu và thực nghiệm việc ra đề, chấm , trả bài qua các tiết tập làmvăn cụ thể
1.5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:
Trang 4- Về môn Ngữ văn có rất nhiều vấn đề để nghiên cứu song ở đây tôi chỉchọn nghiên cứu việc ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn mà thôi.
2 NỘI DUNG:
2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề:
Làm văn là giờ học mang tính thực hành tổng hợp ở trình độ cao của ba phânmôn : Tiếng Việt- Đọc văn và làm văn.Đây là gờ học giờ học thể hiện rõ nhấtkết quả dạy và học môn ngữ văn của thầy và trò Nó góp phần quan trọng trongviệc trực tiếp hình thành mục tiêu : Phát triển năng lực tạo lập văn bản với yêucầu không những đúng mà còn phải hay cho học sinh Làm văn không nhữngrèn luyện cho học sinh kĩ năng dùng từ, đặt câu, thực hành và vận dụng những gì
đã học trong giờ Ngữ văn vào tạo lập một văn bản mà còn chứa đựng trong nó
cả nhận thức, tình cảm, cá tính, tâm hồn, năng lực tư duy của các em Mỗi bàiLàm văn là một sản phẩm tổng hợp về nhân cách cá tính của mỗi học sinh Do
đó ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn là khâu quan trọng để đánh giá khách quannhững sáng tạo nhỏ của các em học sinh, đánh khả năng tiếp thu bài học lýthuyết mà giáo viên truyền đạt cho để áp dụng vào thực hành Đây cũng là khâuquan trọng giúp cho học sinh nhận ra những ưu khuyết điểm trong bài làm củamình để rút kinh nghiệm cho những bài viết lần sau tốt hơn
Tuy nhiên trên thực tế, một số giáo viên còn coi nhẹ công tác ra đề - chấm- trảbài Tập làm văn Giáo viên ra đề chưa sát với đối tượng học sinh ở vùng miềnmình giảng dạy, chấm bài qua loa đại khái thiếu tâm huyết, tiết trả bài được thựchiên một cách đơn giản chưa có sự chuẩn bị chu đáo để giờ trả bài thực sự cóhiệu quả Giáo án tiết trả bài sọan quá ngắn gọn với những lời nhận xét chungchung, bài nào cũng như bài nào, không có những nhận xét cho những bài làm
cụ thể Do đó, khi lên lớp, giáo viên chưa có những nhận xét xác đáng, trả bàithiếu tính hệ thống, không có phần sữa lỗi trong bài làm của học sinh Từ đó,dẫn đến học sinh chưa ý thức đúng vai trò của tiết trả bài Chỉ mong ngóng mìnhđược bao nhiêu điểm để mà buồn mà vui thôi chứ chưa có ý thức phát huynhững mặt tốt và khắc phục những thiếu sót trong bài làm của mình
Trang 5Từ những vấn đề trên, để khắc phục những hạn chế của việc ra đề, chấm, trảbài Tập làm văn tôi mạnh dạn thực hiện đề tài “ Bàn thêm về việc ra đề - chấm -trả bài Tập làm văn”.
2.2.Thực trạng của vấn đề:
Từ năm học 2008-2009, tôi được phân công về công tác tại trường THCS
Đăk Drô – xã Đăk Drô – huyện Krông Nô Từ đó đến nay, tôi đã được giảng dạymôn Ngữ văn từ khối 6 đến khối 9 Qua quá trình giảng dạy, tôi thấy thực trạngcủa việc ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn như sau:
a.Thuận lợi khó khăn:
a.1.Thuận lợi:
Hiện nay, tất cả bộ môn nói chung và môn Ngữ văn nói riêng đang thực hiện
đổi mới một cách toàn diện trong đó có đổi mới phương pháp dạy học Phươngpháp dạy học mới đòi hỏi: “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” và “phát huytính tích cực chủ động, sáng tạo của người học” Để thực hiện tốt công tác đổimới phương pháp dạy học trong môn Ngữ văn, Phòng Giáo dục huyện Krông
Nô, trường THCS Đăk Drô thường xuyên tổ chức tập huấn, hội thảo chuyên đề
để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho giáo viên Qua các buổi tập huấnnày, tôi đã rút ra được nhiều bài học bổ ích phục vụ cho công tác giảng dạy mônNgữ văn cũng như thực hiện việc ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn
- Mặt khác, hiện nay công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, đây chính
là mảnh đất màu mỡ để tôi tự học hỏi, nghiên cứu khi thực hiện đề tài này
- Bên cạnh đó,ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quantâm, giúp đỡ tận tình của Ban giám hiệu nhà trường, các đồng nghiệp, các emhọc sinh đã tạo động lực to lớn cho tôi thực hiện đề tài này
a.2 Khó khăn:
- Học sinh yêu môn văn, học giỏi môn văn ngày ngày càng ít, giáo viêndạy văn không được học sinh hưởng ứng nhiều Chất lượng của các bài viết củahọc sinh chưa cao, chưa rèn luyện được kỹ năng hoàn thành một bài viết Bàiviết của học sinh mắc nhiều lỗi chính tả, không xác định được yêu cầu của đề
Trang 6đoạn …thiếu trong sáng và không hợp lí Học sinh chưa thấy được những điểmmạnh, điểm yếu trong bài làm của mình Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đếnquá trình thực hiện đề tài.
b.2 Hạn chế:
Một số học sinh chưa ý thức hết tầm quan trọng của tiết trả bài nên chưa có ý
thức rút kinh nghiệm cho bài viết lần sau của mình Do đó trong các bài làm vẫncòn mắc nhiều lỗi như dùng từ, đặt câu, triển khai các ý lộn xộn , sắp xếp bố cụcbài làm chưa khoa học…
c Mặt mạnh, mặt yếu.
c.1 Mặt mạnh :
Là giáo viên được trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở tất cả các khối lớpcủa bậc THCS, tôi có điều kiện để nắm rõ những mặt được và chưa được trongbài làm của học sinh Từ đó tôi luôn luôn có ý thức học tập trau dồi kiến thức,tìm hiểu nắm bắt đối tượng học sinh của mình để thực hiện công tác ra đề -chấm - trả bài Tập làm văn một cách tốt nhất
c.2 Mặt yếu:
Tài liệu tham khảo bồi dưỡng về công tác ra đề - chấm - trả bài Tập làm văncòn rất ít Công tác ra đề, chấm trả bài Tập làm văn hầu như không có một tàiliệu nào hướng dẫn cụ thể mà hầu hết giáo viên tự mày mò, tự học hỏi để thựchiện
d Các nguyên nhân, yếu tố tác động:
Trang 7Theo tác giả Lê Ngọc Trà, dạy văn tức là: “ khai trí, khai tâm”.Thật vậy, văn
có một tính chất đặc biệt, đó là tính toàn vẹn của nhận thức về thế giới, nó có cảnhận thức về lí trí và tình cảm Thực tế môn Ngữ văn có một vị trí quan trọngtrong nhà trường Học văn không chỉ học những tri thức về ngôn ngữ, về líluận ,về lịch sử văn chương mà cốt lõi của việc học văn là bồi dưỡng và pháthuy năng lực của mỗi con người: năng lực tư duy, năng lực cảm xúc và năng lựccảm thụ.Tầm quan trọng đó ai cũng biết Thế nhưng trên thực tế những năm gầnđây, học sinh yêu môn văn ngày càng ít đi Những giờ dạy văn không còn đượchọc sinh đón nhận một cách hứng thú say mê mà cảm thấy chán nản, gò bó.Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do nhiều nguyên nhân nhưng theo tôi chủyếu là bắt nguồn từ giáo viên.Một số giáo viên chưa biết cách dẫn dắt, hướngdẫn học sinh cảm nhận một vấn đề văn chương hay có chăng cũng thực hiện mộtcách qua loa không đến nơi đến chốn, không có sự động viên, khích lệ dù đó là
sự sáng tạo,cảm thụ rất nhỏ bé của các em
Đặc biệt trong việc ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn , một số giáo viênchưa thực sự đầu tư và quan tâm đúng mức Hơn nữa, giáo viên không có tàiliệu soạn mẫu hay mô hình bài soạn để tham khảo, thậm chí ngay cả các đợt tậphuấn việc soạn giáo án tiết trả bài như thế nào cũng không thấy đề cập Chưa có
sự thống nhất về cách soạn giảng và chưa coi trọng đến mục tiêu và nhiệm vụcủa công tác ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn Tiết trả bài ít khi được dựgiờ,đánh giá.Tổ chuyên môn chưa thực hiện đầy đủ vai trò, chức năng của mình.Mặt khác, học sinh có thói quen học vẹt bài văn mẫu mà không có kĩ năng viếtvăn Bài viết mắc nhiều lỗi chính tả, không xác định được yêu cầu của đề bài ,không biết triển khai bài viết theo hướng nào, cách dùng từ , đặt câu,dựng đoạn
…thiếu trong sáng và không hợp lí Học sinh chưa thấy được những điểmmạnh, điểm yếu trong bài làm của mình
Chính vì vậy công tác ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn cần phải được nhìnnhận đúng và thực hiện một cách nghiêm túc để đạt hiệu quả tốt hơn
e Phân tích, đánh giá thực trạng:
Trang 8Theo khảo sát Ngữ văn năm 1991-1992 của sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nộicho thấy trong số 897 bài chỉ có 2% không có lỗi chính tả, 0,6% không có lỗi vềcâu và chỉ có 4,5% viết sạch sẽ không tẩy xóa
Còn bản thân tôi, khảo sát số học sinh trong hai năm học: 2011-2012,
2014-2015 thì: năm học 2011-2012: Trong 78 học sinh chỉ có 2,6% không có lỗichính tả, 0% không mắc lỗi về câu, 3,8% viết sạch đẹp không tẩy xóa Năm2014-2015: Trong 64 học sinh tôi khảo sát có 1,6% không có lỗi chính tả,1,6%không mắc lỗi về câu, 3,1% viết sạch đẹp không tẩy xóa Chất lượng của các bàiviết của học sinh chưa cao, chưa rèn luyện được kỹ năng hoàn thành một bàiviết Bài viết mắc nhiều lỗi chính tả, không xác định được yêu cầu của đề bài,không biết triển khai bài viết theo hướng nào, cách dùng từ , đặt câu, dựng đoạn
…thiếu trong sáng và không hợp lí Học sinh chưa thấy được những điểmmạnh, điểm yếu trong bài làm của mình
Trong thực tế, nhiều giáo viên chưa thật sự đầu tư thời gian và tâm sức vàoviệc ra đề, chấm và trả bài Tập làm văn
Để đỡ mất thời gian, giáo viên thường lấy những đề có sẵn trong sách giáokhoa, sách những bài văn mẫu và ở các tài liệu khác để ra cho học sinh màkhông cần quan tâm đến đối tượng học sinh của mình Đáp án, biểu điểm lập rarất sơ sài ,không khoa học mà để đối phó, để gọi là cho có
Bên cạnh đó việc chấm bài, giáo viên cũng thực hiện chấm qua loa và thiếuchuẩn xác:
- Chấm bài theo cảm tính, điểm thiếu chính xác, do không có đáp án vàbiểu điểm chấm bài cụ thể
- Chấm bài thiếu chính xác do không đọc kỹ, thiếu tôn trọng kết quả, côngsức làm bài của học sinh Có khi chỉ đọc mở bài, kết bài, liếc sơ qua phần thânbài rồi cho điểm
- Nhận xét bài làm của học sinh qua loa đại khái, đôi khi không nhận xétchỉ cho điểm Nhiều giáo viên còn viết tắt, viết láu trong phần lời phê và bỏ quaphần gạch lỗi trong bài làm của học sinh ( Đến lỗi chính tả cũng không gạchchân…)
Trang 9Giờ trả bài,so với các giờ khác, có lẽ giờ trả bài lại là giờ hiệu quả kémnhất, giáo viên thực hiện tùy tiện nhất, học sinh làm việc uể oải nhất Hầu nhưgiáo viên trả bài không theo một hệ thống nào cả, trúng bài nào nhận xét bài đó,
có giáo viên chỉ tập trung cho học sinh lập dàn ý mà không nhận xét một cách cụthể, không cho học sinh sửa lỗi, trong khi đó lời phê lại rất chung Kết quả làhọc sinh chẳng nắm được ưu, khuyết điểm cụ thể trong bài làm của mình là gì đểbiết hướng sửa chữa và tiến bộ Các em chỉ ngồi chờ giáo viên phát bài, xemmình được điểm mấy để mà buồn hoặc vui.Một số giáo viên cho học sinh làmbài trên giấy không chịu đính lại thành tập Còn có tình trạng học sinh xé bàilàm,vứt bài bị điểm xấu một cách vô thức Phần lớn là do giờ trả bài chưa làmtrọn yêu cầu của nó
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi mạnh dạn : Bàn thêm về việc ra đề chấm
-trả bài Tập làm văn như sau.
2.3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
- Mục tiêu của đề tài này là theo dõi sự tiến bộ của các em qua từng bàilàm, khắc phục những hạn chế trong bài làm của các em để điều chỉnh phươngpháp dạy phù hợp với đối tượng học sinh Giúp học sinh học sinh đúc rút kinhnghiêm, phân tích cái hay cái dở trong bài làm của mình, nêu phương hướngphấn đấu sửa chữa và vươn lên ở những bài sau.Từ đó phát huy tính tích cực chủđộng sáng tạo của các em góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Ngữvăn ở bậc THCS
Để đạt được mục tiêu đó tôi đã thực hiện các giải pháp sau:
b.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
b.1.Ra đề:
Trước đây, tất cả các giáo viên Ngữ văn đều phải ra đề, lập đáp án biểu điểmchấm mới thấy được cái khó của việc ra đề tập làm văn.Ra được một đề vănkhông có gì sai sót là việc đã khó rồi, tự mình lập một đáp án chính xác và lậpbiểu điểm chấm cho đúng với trình độ của học sinh mình lại càng khó hơn Đó
Trang 10là cái khó của một thời ít các loại sách dàn bài, sách những bài văn mẫu, các bộđề.
Ngày nay, các nhà sách bán nhan nhản các loại sách ra đề, có đáp án sẵn, giáoviên chỉ cần dựa vào đề và đáp án có sẵn để ra đề và đánh giá học sinh Làm nhưvậy rất thuận tiện cho giáo viên và đỡ được bao nhiêu công sức của giáo viên.Nhưng có lẽ chúng ta cần xem xét lại vì tôi thiết nghĩ: Việc giáo viên tự ra đềdựa trên thực tiễn học sinh của mình, dựa vào yêu cầu của chương trình, hoàncảnh dạy và học theo đúng hoàn cảnh vùng miền, từ tình hình chính trị, văn hóa
xã hội… Để ra một đề văn rồi xây dựng đáp án biểu điểm chấm thích hợp sẽ cótác dụng bổ ích về nhiều mặt cho giáo viên học sinh
Ví dụ:Thay vì những có sẵn về văn thuyết minh như: “Cây lúa Việt Nam”,
“Chiếc nón lá việt Nam” , “Tà áo dài Việt Nam”… Giáo viên huyện Krông Nô
có thể ra đề : “Cây cà phê trên quê hương Đăk Nông” thật gần gũi và bổ ích cho
cả giáo viên lẫn học sinh
Tiếc rằng đến nay số giáo viên tự ra đề Tập làm văn không nhiều Bởi hầu hếtchúng ta chỉ chú ý đến sự tiện lợi, đỡ mất thời gian trong khâu ra đề mà quênmất rằng : Ra đề là một thước đo năng lực văn chương, năng lực sư phạm vàtrình độ nhiều mặt khác của người giáo viên Ngữ văn” (Giáo sư Phan TrọngLuận)
Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến trong hội nghị đổi mới phương pháp dạy họcvăn và những vấn đề bức thiết về dạy Tập làm văn ở bậc Trung học: “Đã đến lúcngười giáo viên cần nhận thức rõ : “Ra đề cho học sinh làm bài là một khâu hếtsức quan trọng cần được tiến hành một cách nghiêm túc và có tính toán kĩ”
b.2 Yêu cầu của việc ra đề Tập làm văn:
“Cần đảm bảo tính tư tưởng, tính khoa học, tính sư phạm và vừa sức , xuấtphát từ kiến thức trung bình trong sách giáo khoa và trình độ trung bình của họcsinh trong từng lớp.Tránh tình trạng ra đề mà nhiều học sinh bị điểm dưới trungbình.”
- Ra đề Ngữ văn phải kiểm tra được học sinh về các kĩ năng sau:
Trang 11+ Kĩ năng sử dụng ngôn từ: dùng từ, đặt câu, lựa chọn ngữ liệu, sử dụngdấu câu.
+ KĨ năng văn học: Bài làm của học sinh là kết quả cụ thể của việc học tậpvăn học ( các tiết văn bản) và ngôn ngữ ( các tiết tiếng Việt) của học sinh cũngchính là kết quả cuối cùng để đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn Muốnvậy, đề phải đạt những yêu cầu sau:
Thứ nhất: Đề Tập làm văn trước hết phải có tính tư tưởng:
Đề làm văn trước hết phải giáo dục cho học sinh một điều gì đó trong cuộcsống Đối với văn miêu tả, kể chuyện vấn đề không chỉ là tả cái gì, kể cái gì? Màquan trọng hơn là tả nhằm mục đích gì? Kể nhằm mục đích gì? Mục đích phảinằm ngay trong điều mà các em tả, trong câu chuyện mà các em kể Đối với vănnghị luận cũng vậy: Mục đích về tư tưởng phải nằm ngay trong vấn đề ra chocác em nghị luận
Muốn vậy cần ra những đề gắn liền với những sự việc, hiện tượng mà các emgần gũi, những câu chuyện mà các em thấy và nghe được; những vấn đề vănhọc, chính trị , xã hội có tính giáo dục các em về lòng yêu tổ quốc, yêu quêhương , yêu đồng bào, yêu bạn bè…
Lưu ý: Tính tư tưởng của bài phải phù hợp với nội dung cần tả, cần kể hoặc
cần nghị luận, không có tính chất gò ép
- Tính tư tưởng cũng cần gắn với đời sống của các em trong hoàn cảnh đấtnước hiện nay
Ví dụ: Ra đề miêu tả, mục đích miêu tả cần nằm ngay trong đối tượng được
lựa chọn miêu tả Thường là cảnh, vật, con người… tươi vui, đẹp đẽ, đáng yêu,đáng mến:
“Tả một người thầy(cô) giáo mà em yêu quý”
“Tả một người thân yêu trong gia đình”
“Tả cảnh ngôi trường em đang học”
“Tả cảnh bình minh trên quê hương em vào một buổi sáng đẹp trời”
Ra đề kể chuyện:
Trang 12“Kể lại một buổi sinh hoạt lớp đầy ý nghĩa”.
“Kể lại niềm vui của em trong ngày khai trường”
Kể cả những chuyện tưởng tượng cũng cần lưu ý dến tính tư tưởng :
“Cái bàn tự kể lại cuộc đời phục vụ các bạn học sinh học tập tốt”
“Chiếc khăn quàng tự kể về cuộc đời mình”
Ra đề thuyết minh:
“Cây bút nhỏ bé mà thật tiện ích Hãy thuyết minh về cây bút”
“ Cây cà phê trên quê hương Đắk Nông”
Ra đề nghị luận:
“ Hãy phân tích một tác phẩm văn học mà em yêu thích”
“ Một hiện tượng khá phổ biến hiện nay là vứt rác ra đường hoặc nhữngnơi công cộng làm ảnh hưởng tới môi trường Em hãy đặt một nhan đề cho hiệntượng ấy và viết bài văn nêu suy nghĩ của mình”
Thứ 2: Đề Tập làm văn phải có tính khoa học:
* Về nội dung:
Vấn đề mà đề bài nêu ra phải cụ thể , phạm vi giới hạn vấn đề phải rõ ràng.Ngoài ra, vấn đề của đề bài còn phải phù hợp với thể loại văn (Đối với đề miêu
tả cần phải nêu rõ tả cái gì? Ở đâu? Lúc nào? Đối với văn kể chuyện phải nêu rõ
kể việc gì? Của ai? Lúc nào? Ở đâu? Đối với văn thuyết minh : thuyết minh đốitượng nào? Yêu cầu thuyết minh là gì? Đối với văn Nghị luận phải nêu rõ: Nghịluận vấn đề gì? Phạm vi nghị luận (Vấn đề đưa ra nghị luận của tác giả nào?Ởsách nào hay ở đâu? Vấn đề nghị luận thuộc lĩnh vực nào trong đời sống? )
*Về hình thức:
Từ ngữ trong đề bài phải chọn lọc, trong sáng, dễ hiểu, tránh dùng những từngữ chung chung mơ hồ làm học sinh dễ bị hiểu lầm Kết cấu câu văn phải rõràng, đúng ngữ pháp và không được sai chính tả Nếu có xuất xứ (đối với bàivăn nghị luận ) thì phải tra cứu cẩn thận, không được ghi vào đề những điều màgiáo viên chỉ nhớ mang máng, thiếu xác thực
Thứ 3: Đề Tập làm văn phải có tính sư phạm và tính vừa sức:
Trang 13Đầu tiên, đề Tập làm văn phải gây hứng thú cho học sinh Điều đó thể hiệntrước hết trong nội dung đề bài Đó là nội dung vừa nâng cao vốn hiểu biết, vốnsống cho học sinh, vừa phát triển tư duy, giáo dục thẩm mĩ, tư tưởng cho các em Một đề văn có tính sư phạm cao còn thể hiện ở chỗ nó phù hợp với vốn hiểubiết, vốn sống, vốn ngôn ngữ sẵn có của học sinh.Trước đề bài học sinh tự thấynếu mình cố gắng làm bài thì có thể làm được bài hay.
Một đề văn vừa sức cần thể hiện: đúng trọng tâm chương trình, sát đối tượnghọc sinh, vừa với mức độ trung bình thực học của học sinh trong từng lớp, ởtừng thời gian cụ thể: Kết hợp kiểm tra hiểu biết với khả năng vận dụng kiếnthức, gắn với đời sống xã hội và tâm lí lứa tuổi…
Một đề văn vừa sức học sinh cũng là đề văn được diễn đạt sáng rõ, ngắn ,không thừa ý, thừa lời, không tạo sự hiểu lầm làm học sinh xa đề, lạc đề khi làmbài
Một đề văn có tính sư phạm còn thể hiện ở chỗ nó tạo điều kiện cho học sinhsáng tạo, thể hiện cá tính của mình chứ không phải chép nguyên văn bài văn đã
có sẵn
Không ra những đề quá tầm suy nghĩ của các em, khiến các em phải cónhững suy nghĩ già trước tuổi ( nhất là văn nghị luận)
b.3 Hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu đề, tìm ý để định hướng cho học sinh:
- Tìm hiểu đề: Trước hết phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu thể, loại văn
của đề Thường thường, người ra đề nêu yêu cầu về loại, thể một cách trực tiếpnhưng đôi khi người ra đề yêu cầu một cách gián tiếp, học sinh sẽ lúng túng nếukhông được hướng dẫn
Ví dụ: Với văn miêu tả không nhất thiết phải cứ nêu rõ: “Hãy tả lại ” mà “ Hãy
ghi lại những điều quan sát của em về cảnh vật trên”, hoặc “ Cảnh vật trên đãhấp dẫn em như thế nào?”
- Xác định nội dung cơ bản của đề: Đây là việc quan trọng nhất trong quátrình tìm hiểu đề Nội dung cơ bản của đề thường thể hiện trong một số từ ngữquan trọng, cần được đặc biệt chú ý Học sinh cần tự hỏi: Đề yêu cầu tả cái gì?
Trang 14Kể cái gì? Thuyết minh về cái gì? Nghị luận vấn đề gì? Từ ngữ nào yêu cầu kể,
tả, thuyết minh, nghị luận đó?
Ví dụ: Đề ra: “Hãy tả lại vườn cà phê vào mùa hoa nở rộ”
Trong đề văn này có hai ý: Đối tượng miêu tả( vườn cà phê), thời điểm miêu tả(khi mùa hoa nở rộ)
- Xác định giới hạn đề: hiện nay, học sinh chưa có thói quen tìm hiểu đề mộtcách tỉ mỉ.Trước một đề văn, các em thường có thái độ coi thường cho là đề dễ,hoặc hoảng sợ cho là đề khó Nhất là văn nghị luận, các em có thể tìm được luậnđiểm chính song khi phân chia luận điểm thành các luận cứ với mối quan hệgiữa các luận cứ, các em lúng túng do không nắm chắc, giới hạn phạm vi vấn đề
Đề miêu tả thường giới hạn về mục đích miêu tả,phạm vi nội dung miêu tả, vềkhông gian và thời gian miêu tả…
Đề kể chuyện thường giới hạn nhân vật, tình tiết, mục đích…
Đề thuyết minh thường có giới hạn về vấn đề thuyết minh, đối tượng thuyếtminh, mục đích thuyết minh…
Đề Nghị luận thường giới hạn vấn đề nghị luận, đối tượng nghị luận, nội dungnghị luận, mục đích nghị luận
Nắm chắc phạm vi giới hạn của đề, học sinh sẽ không bị xa đề một cách đángtiếc
- Tìm ý: Phương pháp tự đặt câu hỏi và tự trả lời là phương pháp tìm ý tốt nhất.
Ví dụ: Đối với văn miêu tả : nên quan sát đối tượng miêu tả theo trật tự nào? (Trên xuống? Dưới lên? Hay từ xa đến gần?)
Theo từng trật tự quan sát ta thấy có những chi tiết nào? Chi tiết nào đáng chú
ý nhất? Chi tiết có hình dáng , màu sắc , âm thanh gì? Nó diễn tả điều gì?Dùng từ ngữ, cách so sánh nào để diễn tả chi tiết đó?
Đối với văn kể chuyện: Câu chuyện cần có sự việc gì? Có nhân vật nào? Sựviệc, nhân vật chính nào? Cần sắp xếp theo thứ tự sự việc của các nhân vật nhưthế nào để câu chuyện hấp dẫn? Cần mở đầu và kết thúc câu chuyện ra sao? Sau khi tìm ý xong giáo viên hướng dẫn học sinh sắp xếp các ý thành dàn ý, để
từ đó viết thành bài văn dựa trên dàn ý đã có Đến đâ, điều chủ yếu là tập cho
Trang 15học sinh viết đúng chính tả, dùng từ, đặt câu, dùng dấu câu cho đúng và chothích hợp với từng thể, loại văn.
Trong khâu diễn đạt, cần luyện cho học sinh biết chấm xuống dòng, biết dùng từngữ chuyển đoạn , biết sơ kết đoạn, ý Đặc biệt đối với phần mở bài và kết bàiyêu cầu học sinh viết nháp thành văn trước khi viết vào bài)
Cuối cùng là hướng dẫn các em đọc, kiểm tra lại bài viết của mình Yêu cầuhọc sinh dành khoảng 10 phút để thực hiện khâu này Đây là khoảng thời giancần thiết giúp các em xem lại nội dung, chính tả, cách dùng từ, đặt câu để kịpthời chỉnh sửa, bổ khuyết trước khi nộp bài Rất nhiều học sinh coi thường, bỏqua khâu này nên sau khi nộp bài, trong bài làm của các em vẫn còn đầy rẫy lỗichính tả, dùng từ, đặt câu, dấu câu…
Lưu ý: Phần hướng dẫn học sinh làm bài giáo viên chỉ nên làm trong
khoảng thời gian từ 5 đến 7 phút, còn lại dành thời gian cho học sinh chủ độnglàm bài
b.4 Chấm bài:
Chấm bài là để phát hiện những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, đánhgiá kết quả, rút ra bài học kinh nghiệm, đồng thời vạch phương hướng phấn đấucho học sinh trong mỗi bài làm của các em
Trong thực tế, nhiều giáo viên chưa thật sự đầu tư thời gian và tâm sức vàoviệc chấm bài, chấm qua loa và thiếu chuẩn xác:
- Chấm bài theo cảm tính, điểm thiếu chính xác, do không có đáp án vàbiểu điểm chấm bài cụ thể
- Chấm bài thiếu chính xác do không đọc kỹ, thiếu tôn trọng kết quả, côngsức làm bài của học sinh Có khi chỉ đọc mở bài, kết bài, liếc sơ qua phần thânbài rồi cho điểm
- Nhận xét bài làm của học sinh qua loa đại khái, đôi khi không nhận xétchỉ cho điểm Nhiều giáo viên còn viết tắt, viết láu trong phần lời phê và bỏ quaphần gạch lỗi trong bài làm của học sinh( Đến lỗi chính tả cũng không gạchchân…)
Trang 16Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của giáo sư Phan Trọng Luận: “ Để khắc phụctình trạng chấm bài chưa tốt phải đi từ những vấn đề có ý nghĩa lí luận Trướchết phải bàn đến quan điểm, thái độ ứng xử của nhà giáo đối với bài làm của họcsinh Thường thường giáo viên chỉ thấy bài làm như một kết quả học tập của họcsinh phải nộp cho giáo viên với nghĩa vụ là học trò Và giáo viên có nghĩa vụchấm bài đó Trong khi đó bài làm của các em là một sản phẩm lao động, mộtsản phẩm sáng tạo cực nhọc của các em Tiếp xúc với bài làm của các em là tiếpxúc với một tiếng nói, một con người, đằng sau các dòng chữ các em đang hồihộp chờ mong từng giâ, từng phút, từng giờ, thầy cô giáo công bố kết quả laođộng của mình Với một cách nghĩ như vậy về học sinh, giáo viên khi chấm bài
sẽ có được một thái độ ứng xử đẹp đẽ, đúng đắn trước mọi điều hay dở trong bàilàm của học sinh Nên trân trọng tìm tòi, cảm thông từng sai sót, vừa nghiêmkhắc vừa độ lượng trước từng khuyết điểm của học sinh….Thiếu cảm thông trântrọng là điều cần tránh, đồng thời cần tránh thái độ gò ép cách suy nghĩ của giáoviên cho học sinh Giáo viên phải đọc kỹ, lắng nghe, tìm từng chữ, từng lời, từng
ý của học sinh trên bài làm Không nên lấy cách nghĩ của mình để gạt bỏ phêphán học sinh Cần trân trọng những ý nghĩ độc đáo của học sinh để biểudương , khuyến khích… Tình trạng không hiểu học sinh, không thông cảm vớihọc sinh, thiếu trân trọng người làm bài văn nhiều khi đã tạo ra một thói quenquá khắt khe trong đánh giá… Giáo viên thường lấy mình làm chuẩn để phánxét những bài văn của học sinh, lấy tư duy mình để đánh giá cách suy nghĩ củahọc sinh, lấy ngôn ngữ mình để đòi hỏi học sinh, khiến học sinh xa cách vớigiáo viên, ngại công việc làm văn trong nhà trường”
Do đó , khi chấm bài, giáo viên cần lưu ý một số việc như sau:
Thứ nhất: Phải có thái độ đúng đắn với bài làm học sinh Phải coi bài làm
của học sinh dù là học sinh yếu cũng là kết quả lao động sáng tạo của các em,trong đó thể hiện những nét cá biệt về tâm hồn,hiểu biết của từng em học sinh
Sự đánh giá đúng sẽ làm cho các em phấn khởi tin tưởng ở việc học của mình
mà cố gắng vươn lên
Trang 17Thứ hai: Phải chuẩn bị tốt đáp án và biểu điểm ( tiêu chuẩn cho điểm) Nếu
giáo viên chuẩn bị tốt tiêu chuẩn cho điểm thì việc chấm sẽ nhanh và chính xác Tiêu chuẩn chấm Tập làm văn là phải căn cứ vào yêu cầu của đề bài vào trình độcủa học sinh Vì vậy trước khi làm biểu điểm chấm, giáo viên cần nghiên cứu kỹ
đề bài rồi đặt ra tiêu chí cho hai mặt của bài làm: Nội dung của bài làm ( kiếnthức cần đạt) hình thức bài làm của học sinh ( chính tả, dùng từ, đặt câu, bố cục,trình bày ) Từ đó mới vạch ra yêu cầu của từng thang điểm Nếu giáo viên nào
kỹ lưỡng thì nên đọc lướt một số bài làm của học sinh trước khi làm thang điểmchấm bài trong biểu điểm Vì biểu điểm càng sát với tình hình thực tế bài làmcủa học sinh bao nhiêu càng dễ chấm bấy nhiêu
* Kỹ thuật chấm bài:
Biết chấm chưa đủ, còn phải biết chấm như thế nào?
Thứ nhất: Phát hiện ưu điểm và phát hiện lỗi trong bài làm của học sinh.
Chấm văn thì không thể đọc lướt qua mà đọc kỹ từ đầu đến cuối bài văn Cóthế, giáo viên mới phát hiện được từng lời hay, ý đẹp, từng cách trình bày diễnđạt tốt cũng như từng lỗi về nội dung kiến thức đến lỗi hình thức như sai chính
tả, dùng từ đặt câu…
Việc phát hiện để tuyên dương những ưu điểm trong bài làm của học sinh: Các
em có ý văn hay, nội dung sáng tạo hay cách dùng từ đặt câu độc đáo, cách lậpluận sắc sảo, cách xây dựng hình ảnh sinh động cần được thể hiện rõ trong bàichấm để kịp thời động viên các em trong quá trình làm bài tập làm văn
Bên cạnh đó là việc chữa lỗi cho học sinh gồm các khâu: Phát hiện lỗi, nêutên lỗi, giúp học sinh chữa lỗi ( Trong tiết trả bài sau)
Cần chú ý là không nên sửa lỗi ngay trong bài làm của học sinh ngay cả vớilỗi chính tả
Muốn làm tốt phần này, giáo viên cần có một hệ thống ký hiệu chấm bài( Được quy ước thống nhất giữa giáo viên với học sinh ngay từu đầu năm học).Việc đặt ra kí hiệu chấm văn nhằm tiết kiệm thời gian cho giáo viên Mặt khác,
ký hiệu còn gúp cho giáo viên tổng kết một cách nhanh chóng và khoa học tình
Trang 18hình mắc lỗi của học sinh để đưa vào bài soạn của tiết trả bài Vì vậy kí hiệu cần
có tính khoa học: gọn, giá trị biểu thị rõ
Ví dụ: Gạch chân dưới chữ viết: Ký hiệu sai chính tả, gạch hai gạch dưới từ
dùng rồi ghi ngoài lề chữ “dt”: Ký hiệu lỗi dùng từ, “dđ”: Ký hiệu lỗi diễn đạt,gạch chéo trên chữ: Ký hiệu lỗi dư từ, khoanh tròn chữ cái : Ký hiệu lỗi viết tắt,viết hoa sai quy định, đánh dấu ngoặc ngoài lề rồi ghi “ý hay” hoặc “đạt”: Kýhiệu nội dung viết tốt hoặc diễn đạt hay đáng khen
* Lưu ý: Giáo viên chỉ được dùng ký hiệu ( viết tắt ) trong quá trình chấm trong
bài làm của học sinh còn khi ghi lời phê không được viết tắt, không được dùng
kí hiệu
Chấm bài chính là vấn đề chuẩn bị một cách khoa học cho việc soạn tiết trảbài và tiến hành trả bài cho học sinh sau đó Nếu không kết hợp một cách khoahọc cho việc chấm bài và chuẩn bị trả bài cho học sinh thì giáo án trả bài sẽ hếtsức sơ sài, bỏ sót nhiều ưu khuyết điểm của học sinh, kém tính khái quát, dẫnđến giờ trả bài trở nên khô khan hình thức thậm chí trở nên vô bổ đối với họcsinh
Để lưu lại những ưu khuyết điểm trong bài làm của học sinh đưa vào giáo ántiết trả bài, trong quá trình chấm bài, giáo viên nên có một quyển sổ tổng hợpcác ưu khuyết điểm, ghi lại những lỗi chính tả, lỗi dùng từ, diễn đạt… điển hình
để tiện cho việc chữa lỗi trong tiết trả bài cho học sinh
Thứ hai: Việc ghi lời phê trong bài làm của học sinh:
Chấm bài xong phải ghi nhận xét trong phần “ lời phê” trước khi ghi điểm Lờiphê vừa biểu dương khen ngợi những mặt tốt, vừa chỉ ra những thiếu sót chínhtrong bài làm của học sinh Cần tránh những nhận xét quá chung chung, ít bổ íchcho học sinh Cũng nên tránh những lời phê không khích lệ được học sinh
Do đó, lời phê cần chu đáo thiết thực với học sinh Lời phê cần đạt một số yêucầu sau:
- Khoa học: Đánh giá đúng,cụ thể những ưu khuyết điểm riêng của bàilàm bằng những câu nhận xét ngắn gọn, đủ ý nghĩa…
Trang 19Hình thức, câu chữ phải ngay ngắn, rõ, đẹp: Câu văn ngắn gọn nhưng khôngđược sai ngữ pháp ,chính tả, cách dùng từ.
-Tư tưởng : Nghiêm khắc, đúng mực nhưng vẫn động viên được các emhọc sinh
* Có thể phê theo trình tự sau:
+ Nhận xét tổng quát về ưu, khuyết điểm( nội dung, hình thức)
+ So sánh sự tiến bộ so với bài trước
+ Vạch hướng phấn đấu trước mắt để học sinh cố gắng trong bài tiếp theo
Giáo sư Phan Trọng Luận từng nói: “ Xem lời phê có thể đoán được người dạyvăn đó như thế nào” Do đó, giáo viên Ngữ văn chúng ta cần hết sức lưu ý trongviệc ghi lời phê cho học sinh Nên nhớ rằng những lời phê này không chỉ đánhgiá sự tiến bộ trong quá trình học Ngữ Văn của các em mà sẽ theo các em, lưudấu ấn trong cuộc đời học sinh của các em Và đôi khi những lời phê ấy khôngphải chỉ có học sinh đọc mà còn cả cha mẹ các em và những người khác nữacùng đọc, cùng suy ngẫm
Thứ ba: Việc ghi điểm:
Lời phê rất quan trọng nhưng “điểm” lại có sức hấp dẫn học sinh ( kể cả họcsinh lớn như học sinh lớp 8, 9) Điểm phải tương ứng với lời phê, không thể lờiphê tốt mà lại điểm yếu hay ngược lại ngược lại lời phê không tốt mà lại đạtđiểm cao
Phải cho điểm dứt khoát không nên kí hiệu (-) hay (+)
Không nên chữa đi chữa lại điểm đã cho
Cần bỏ thói quen e ngại việc cho điểm tối đa ( thang điểm 9 hoặc 10) vì đọc
kỹ những yêu cầu trong thang điểm tối đa của bài Tập làm văn, không bao giờyêu cầu bài làm của học sinh phải tuyệt đối hoàn hảo
Trang 20có thể phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh trong việc tham gia xâydựng dàn ý và sửa lỗi.
Thế nhưng hiện nay giờ trả bài, so với các giờ khác có lẽ giờ trả bài lại là giờhiệu quả kém nhất, giáo viên thực hiện tùy tiện nhất, học sinh làm việc uể oảinhất Hầu như giáo viên trả bài không theo một hệ thống nào cả, trúng bài nàonhận xét bài dó, có giáo viên chỉ tập trung cho học sinh lập dàn ý mà khôngnhận xét một cách cụ thể, không cho học sinh sửa lỗi, trong khi đó lời phê lại rấtchung Kết quả là học sinh chẳng nắm được ưu, khuyết điểm cụ thể trong bàilàm của mình là gì để biết hướng sửa chữa và tiến bộ Các em chỉ ngồi chờ giáoviên phát bài, xem mình được điểm mấy để mà buồn hoặc vui Một số giáo viêncho học sinh làm bài trên giấy không chịu đính lại thành tập Còn có tình trạnghọc sinh xé bài làm, vứt bài bị điểm xấu một cách vô thức Phần lớn là do giờtrả bài chưa làm trọn yêu cầu của nó Muốn trả bài tốt cần thực hiện hai khâu:
Khâu thứ nhất: Chuẩn bị cho giờ trả bài:
Giáo viên chuẩn bị nội dung cho tiết trả bài thật tốt trên giáo án( tiết trả bài)
với các mục đích sau:
a Mục tiêu cần đạt
b Xác định lại yêu cầu của đề bài( xây dựng dàn bài)
c Khái quát ưu, nhược điểm của bài làm với những dẫn chứng điển hình
d Các lỗi điển hình cần sửa chữa ( lưu tên học sinh phạm lỗi cụ thể ở từngphần để nhận xét)
e Bài văn hay ghi rõ bài của em nào, lớp nào
Các ưu và khuyết điểm, các lỗi hình thức về chính tả, dùng từ đặt câu trongquá trình chấm, giáo viên chịu khó lưu vào một quyển sổ riêng, giúp giáo viêntổng hợp và hệ thống lại trong bài soạn một cách nhanh chóng, chính xác, khôngmất thời gian lục lại bài làm của học sinh ( Vừa mất thời gian vừa không hiệuquả)
Khâu thứ hai:Trả bài trên lớp:
Từ giáo án đã soạn, giáo viên có thể trả bài theo trình tự sau:
a Giáo viên ghi lại đề trên bảng, học sinh ghi lại đề vào vở
Trang 21b Giáo viên yêu cầu học sinh xác định lại yêu cầu của đề bài, xây dựng dànbài( lưu ý: phần này chỉ làm từ 5 đến 7 phút).
Giáo viên nhận xét ưu khuyết điểm, nêu dẫn chứng điển hình ( giáo viên tổngkết bài làm của học sinh về mọi mặt: tinh thần bài làm, những ưu điểm chính,những cá nhân đáng biểu dương, những câu văn hay, những hiện tượng đáng chúý…)
- Giáo viên hướng dẫn học sinh sửa lỗi: chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn
đạt…( thuộc những lỗi điển hình trong thực tế bài làm của học sinh)
- Hướng dẫn học sinh về nhà sữa những lỗi còn lại trong bài làm mà giáoviên đã nhận xét, đánh dấu ( yêu cầu sửa bằng bút chì)
d Phát bài, cho học sinh hỏi trực tiếp giáo viên về bài làm của mình, kể cả thắcmắc về số điểm
đ Công bố tỉ lệ điểm, động viên, khích lệ học sinh làm bài chưa được, có điểmkém Tuyên dương khen ngợi những bài làm tốt, cho học sinh đọc những bài vănhay
Điều cần chú ý khi trả bài Tập làm văn là làm thế nào cho học sinh tích cựctham gia xây dựng trả bài, mạnh dạn nêu ý kiến và xung phong chữa lỗi, tránhtình trạng học sinh chỉ mong ngóng, xem điểm mà không quan tâm gì đến việcxây dựng dàn ý và sửa chữa lỗi, kể cả lỗi trong bài làm của mình
c Điều kiện thực hiện các giải pháp, biện pháp:
Bất kì một công việc nào muốn thành công con người ta phải có tâm huyếtphải có ý chí nghị lực Do đó để công việc ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn cóhiệu quả đòi hỏi người giáo viên Ngữ văn phải có tâm huyết, có trình độ chuyênmôn vững chắc, thường xuyên học hỏi và trau dồi chuyên môn nghiệp vụ chobản thân mình Bằng tâm huyết, bằng trình độ của mình hãy khơi dậy trong họcsinh niềm say mê, sự hứng thú đối với mỗi giờ học văn.Để mỗi bài viết văn củacác em không chỉ là nơi thể hiện sự tiếp thu kiến thức mà còn là nơi bồi dưỡngnhững phẩm chất, tâm hồn, tình cảm tốt đẹp cho các em
2.4 Kết quả thu được:
Trang 22Qua thực tế nghiên cứu giảng dạy, rút kinh nghiệm,tôi nhận thấy: Khi thựchiện đúng yêu cầu của việc ra đề - chấm - trả bài như tôi đã trình bày ở trên , kếtquả chất lượng bài viết Tập làm văn của học sinh tiến bộ rõ rệt qua từng bài viết:
- Thái độ của học sinh qua các tiết trả bài:
+ Ở tiết trả bài số 1: Đa số học sinh không quan tâm đến việc nhận xét ưukhuyết điểm trong bài làm mà giáo viên nêu ra: chỉ mong ngóng chờ phát bài,xem điểm
+ Đến bài viết số 2: Các em có ý thức hơn trong việc đóng góp ý kiến xâydựng lại dàn bài, chịu khó hơn trong việc nghe giáo viên nhận xét ưu khuyếtđiểm trong bài làm văn song vẫn còn một số em nôn nóng chờ điểm
+ Đến bài viết số 3: Đại đa số học sinh có tiến bộ rõ rệt trong việc đónggóp ý kiến xây dựng lại dàn bài, chủ động, tích cực trong việc sửa chữa trongbài làm văn mà giáo viên đã nêu ra trong phần nhận xét, không có tình trạng họcsinh mong ngóng chờ điểm
Điều quan trọng hơn cả là sau khi thực hiện xong đề tài này, các em học sinhkhông còn thờ ơ đối với môn Ngữ văn mà có niềm say mê hứng thú hơn trong
Trang 23học tập bộ môn Những bài văn hay ngày càng nhiều Tâm hồn, tình cảm của các
em đã thực sự đã được bồi đắp lớn lên thêm Các em biết yêu thương bạn bè,kính trọng thầy cô cha mẹ… biết sống có trách nhiệm Đó cũng chính là kết quả
lớn nhất mà tôi - người kĩ sư tâm hồn đạt được khi thực hiện đề tài này
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
3.1 Kết luận:
Việc “Ra đề - chấm – trả bài Tập làm văn” đã nhiều người bàn bạc, Bộ Giáodục và Đào tạo cũng đã bao lần định hướng, bao giáo viên Ngữ văn đã từng trăntrở , nhưng trên thực tế, công việc này vẫn là một bài toán nan giải Bởi thực tế
nó vẫn mang sẵn 3 “kh”: khó khô, khổ Để vượt qua nó, mỗi giáo viên chúng taphải “lao tâm, khổ tứ” Mỗi học sinh là mỗi cách làm văn khác nhau, ưu điểm,nhược điểm riêng Nếu giáo viên không có trình độ làm văn, nhất định sẽ khôngđánh giá được những ưu khuyết điểm của học sinh, không khuyến khích haysửa chữa được bài làm của học sinh, không giúp học sinh dần dần nâng caonăng lực, trình độ viết văn của mình Chỉ có tinh thần cầu thị , chịu khó học hỏi,nâng cao kiến thức mới thực sự giúp ích cho mỗi giáo viên Ngữ văn trong quátrình dạy Tập làm văn cho học sinh
Tôi xin phép được mượn lời của giáo sư Trần Thanh Đạm để thay cho lời kết
đề tài này:
“Trong dạy văn nói chung, dạy làm văn nói riêng, không có “cẩm nang” thíchứng cho mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp, không có tài liệu hướng dẫn, bồidưỡng nào thay thế được sự học tập thường xuyên của thầy cô giáo về các vấn
đề cơ bản của Ngữ học và văn học Cũng không có thầy giáo dạy văn nào có thểhiểu biết mọi điều và giải quyết được mọi vấn đề thực tiễn làm văn văn đặt ra,mọi thắc mắc của việc viết văn và mọi thắc mắc của học sinh Học sinh có thểhọc tập ở thầy cô tinh thần thường xuyên học tập để giải quyết các vấn đề xuấthiện trong giảng dạy Theo tôi, đó là thái độ nên có trong môn dạy khó khăn
Trang 24khó nhất, khổ nhất trong quá trình dạy Tập làm làm văn, đòi hỏi mỗi giáo viênNgữ văn phải thực sự nỗ lực, tận tụy, tự rút kinh nghiệm trong quá trình giảngdạy.”
3.2 Kiến nghị:
Kính mong phòng GD- ĐT huyện Krông Nô mở hội thảo, chuyên đề về việc
“Ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn ở trường THCS” cho giáo viên trong toànhuyện cùng thảo luận đóng góp ý kiến để tìm ra phương pháp tốt hơn trong việc
“Ra đề - chấm - trả bài Tập làm văn ở trường THCS”
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đăk Drô, Ngày 25 tháng 12 năm 2016
Người thực hiện
Trần Thị Tâm
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ sách giáo khoa ngữ văn 6,7,8,9; NXB Giáo dục
2 Bộ sách chuẩn kiến thức kĩ năng môn lớp 6 đến lớp 9 , NXB Giáo dục.
3 Hướng dẫn dạy họcTập làm văn ở trường Phổ thông cấp II- tập I của viện
khoa học giáo dục
4 Phan Trọng Luận(Chủ biên) , Phương pháp giảng dạy văn học
5 Tài liệu hội nghị : Đổi mới phương pháp dạy học văn và những vấn đề bức
thiết về dạy Tập làm văn bậc THPT.
Trang 25SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM XẾP LOẠI:………
Ngày……tháng……năm 2017
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
(Ký tên, đóng dấu)
Trang 26NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP HUYỆN
………
………
………
………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM XẾP LOẠI:………
Ngày……tháng……năm 2017
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
(Ký tên, đóng dấu)