Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến một số chỉ tiêu năng suất của giống đậu tương DT84 và DT96 .... Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến hàm lượng một số chất trong hạt của giống
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ THANH THỦY
ĐẾN MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ, HÓA SINH, NĂNG SUẤT CỦA 2 GIỐNG ĐẬU TƯƠNG DT 84 VÀ DT 96 TRÊN
NỀN ĐẤT THUẬN THÀNH – BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ THANH THỦY
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CÔNG THỨC BÓN PHÂN LÂN (P2O5) ĐẾN MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ, HÓA SINH, NĂNG SUẤT CỦA 2 GIỐNG ĐẬU TƯƠNG DT 84 VÀ DT 96 TRÊN
NỀN ĐẤT THUẬN THÀNH – BẮC NINH
Chuyên ngành: Sinh học
Mã số: 60 42 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Nguyễn Văn Đính
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin được
gửi lời cảm ơn đến Thầy: PGS TS Nguyễn Văn Đính người đã dành nhiều
thời gian tâm huyết, trực tiếp hướng dẫn tận tình, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn chỉnh bản Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Sinh học thực nghiệm này
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều
tổ chức cá nhân trong và ngoài nhà trường Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể các thầy cô giáo phòng sau đại học trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Công nghệ Sinh học trường ĐHSP Hà Nội 2, người dân và UBND xã Thanh Khương, UBND huyện Thuận Thành…đã giúp
đỡ, tạo điều kiện và cung cấp những số liệu, tài liệu cần thiết để nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, nhà trường và bạn bè đã động viên, khích lệ, sẻ chia, giúp đỡ và đồng hành cùng tôi trong cuộc sống cũng như trong quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin chân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày …tháng ….năm 2016
Tác giả Luận văn
Nguyễn Thị Thanh Thủy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được ai công bố
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho luận văn này và các trích dẫn
trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương 4
1.1.1 Yêu cầu về nhiệt độ 4
1.1.2 Yêu cầu về độ ẩm 4
1.1.3 Yêu cầu về ánh sáng 5
1.1.4 Yêu cầu về đất đai 5
1.1.5 Yêu cầu về dinh dưỡng 6
1.2 Vai trò của cây đậu tương 7
1.3 Tình hình sản suất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 8
1.3.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 8
1.3.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 9
1.4 Một số nghiên cứu về đậu tương trên thế giới và Việt Nam 11
1.4.1 Những nghiên cứu trên thế giới 11
1.4.2 Những nghiên cứu ở Vệt Nam 15
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu 23
2.1.1 Đối tượng thực vật 23
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu 24
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 24
2.2.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 25
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu thí nghiệm 26
Trang 6CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống đậu tương DT84 và DT96 27
3.1.1 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến khối lượng tươi, khô của thân giống đậu tương DT84 và DT96 27
3.1.2 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến khối lượng tươi, khô của lá giống đậu tương DT84 và DT96 31
3.1.3 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến chiều cao cây giống đậu tương DT84 và DT96 36
3.1.4 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến đường kính thân cây giống đậu tương DT84 và DT96 38
3.2 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến một số chỉ tiêu lên quan tới quang hợp của giống đậu tương DT84 và DT96 40
3.2.1 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến diện tích lá giống đậu tương DT84 và DT96 40
3.2.2 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến hàm lượng diệp lục giống đậu tương DT84 và DT96 43
3.3 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến số lượng nốt sần của giống đậu tương DT84 và DT96 45
3.4 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến một số chỉ tiêu năng suất của giống đậu tương DT84 và DT96 47
3.5 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến hàm lượng một số chất trong hạt của giống đậu tương DT84 và DT96 51
3.5.1 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến hàm lượng protein tổng số trong hạt của giống đậu tương DT84 và DT96 51
3.5.2 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến hàm lượng tinh bột và đường trong hạt của giống đậu tương DT84 và DT96 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC 1
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên toàn thế giới 9 Bảng 2 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến khối lượng tươi của thân giống đậu tương DT84 và DT96 27 Bảng 3 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến khối lượng khô của thân giống đậu tương DT84 và DT96 30 Bảng 4 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến khối lượng tươi của lá giống đậu tương DT84 và DT96 32 Bảng 5 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến khối lượng khô của lá giống đậu tương DT84 và DT96 34 Bảng 6 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến chiều cao cây giống đậu tương DT84 và DT96 36 Bảng 7 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến đường kính thân cây giống đậu tương DT84 và DT96 39 Bảng 8 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến diện tích lá giống đậu tương DT84
và DT96 41 Bảng 9 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến số lượng nốt sần của giống đậu tương DT84 và DT96 45 Bảng 10 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến một số chỉ tiêu năng suất của giống đậu tương DT84 và DT96 49 Bảng 11 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến hàm lượng protein tổng số trong hạt của giống đậu tương DT84 và DT96 51 Bảng 12 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến hàm lượng tinh bột và đường trong hạt của giống đậu tương DT84 và DT96 53
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 8Hình 1 Biểu đồ so sánh khối lượng tươi của thân GĐ ra hoa 28 Hình 2 Biểu đồ so sánh khối lượng tươi của thân GĐ ra hoa rộ 28 Hình 3 Biểu đồ so sánh khối lượng tươi của thân GĐ quả chắc 28 Hình 4 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến khối lượng khô của thân giống đậu tương DT 84 30 Hình 5 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến khối lượng khô của thân giống đậu tương DT 96 31 Hình 6 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến khối lượng tươi của
lá giống đậu tương DT84 33 Hình 7 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến khối lượng tươi của
lá giống đậu tương DT96 33 Hình 8 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến khối lượng khô của
lá giống đậu tương DT84 35 Hình 9 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến khối lượng khô của
lá giống đậu tương DT96 35 Hình 10 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến chiều cao thân giống đậu tương DT84 37 Hình 11 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến chiều cao thân giống đậu tương DT96 37 Hình 12 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến đường kính thân giống đậu tương DT84 40 Hình 13 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến đường kính thân giống đậu tương DT96 40
Trang 9Hình 14 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến diện tích lá giống đậu tương DT84 42 Hình 15 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến diện tích lá giống đậu tương DT96 43 Hình 16 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến số lượng nốt sần giống đậu tương DT84 46 Hình 17 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến số lượng nốt sần giống đậu tương DT96 46 Hình 18 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến số quả/cây; số quả chắc/cây và NSTT giống đậu tương DT84 50 Hình 19 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến số quả/cây; số quả chắc/cây và NSTT giống đậu tương DT96 50 Hình 20 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến hàm lượng protein
và lipit trong hạt giống đậu tương DT84 và DT96 52 Hình 21 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các công thức bón lân đến hàm lượng đường khủ và tinh bột trong hạt giống đậu tương DT84 và DT96 54
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
AVRDC: Trung tâm phát triển rau mùa Châu Á
KHKTNN: Khoa học kỹ thuật nông nghiệp
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cây đậu tương [Glycine max (L.) Merr.] là cây công nghiệp ngắn ngày,
có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, gồm có: Protein, lipit, hydratcacbon và cac chất khoáng, trong đó protein và lipit là hai thành phần quan trọng nhất, protein chiếm khoảng 30 – 40%, lipit 18 – 20% Protein có giá trị cao không những về hàm lượng lớn mà còn đầy đủ và cân đối axit amin cần thiết đặc biệt là giàu lysin và tritophan (là hai loại axit amin không thay thế cần thiết cho cơ thể người và gia súc) Trong hạt đậu tương còn có khá nhiều loại vitamin: B1, B2, PP, A, E,…và các loại muối khoáng Với giá trị dinh dưỡng cao như vậy nên trong công nghiệp chế biến, hạt đậu tương có thể được chế biến thành rất nhiều loại thực phẩm khác nhau đáp ứng nhu cầu trong khẩu phần ăn của cong người Cùng với tác dụng hiệu quả tổng hợp của các hợp chất trong đậu tương khi dùng làm thực phẩm, isoflavone có trong đậu tương giúp làm giảm nguy cơ ung thư và được coi là thực phẩm gia tăng nữ tính, bảo vệ phụ nữ giảm chứng bệnh như: tim mạch, loãng xương, ung thư,… Thân lá cây đậu tương có thể dùng làm thức ăn gia súc, gia cầm rất tốt Bột đậu tương sau khi đã ép lấy dầu, bã dùng làm nguyên liệu chế biến thức ăn tinh hỗn hợp giàu đạm để nuôi gia súc, gia cầm theo hướng công nghiệp Cũng như những cây họ đậu khác, đậu tương có khả năng tích lũy đạm của khí trời để cung cấp nguồn nitơ cho cơ thể và làm giàu đạm cho đất nhờ vào sự cộng sinh giữa vi khuẩn nốt sần ở bộ rễ Ngoài ra thân lá đậu tương làm phân xanh rất tốt Do vậy, cây đậu tương có tác dụng tích cực trong việc cải tạo và bồi dưỡng đất Với những ưu thế như trên cộng với thời gian sinh trưởng ngắn, đáp ứng được yêu cầu tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây
Trang 122
trồng trong nông nghiệp, đậu tương ngày càng có một vai trò quan trọng trong
cơ cấu giống cây trồng của thế giới và Việt Nam
Ở Việt nam, cây đậu tương đã được gieo trồng ở nhiều vùng trong cả nước Trong những năm gần đây diện tích và sản lượng đậu tương liên tục tăng, tuy nhiên, do nhu cầu sử dụng ngày càng cao, nhiều năm qua nước ta đã phải nhập khẩu đậu tương với số lượng lớn Vì vậy, trong sản xuất nông nghiệp một vấn đề cấp thiết đặt ra là làm tăng năng suất đậu tương trên một đơn vị diện tích, chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa
để đáp ứng được nhu cầu chế biến thực phẩm và thức ăn chăn nuôi trong nước Tuy nhiên, muốn trồng và sản xuất đậu tương hiệu quả kinh tế cao, cần phải có các giống mới năng suất và chất lượng cao đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh hợp lý Trong các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất thì việc xác định liều lượng phân bón hợp lý và cân đối với từng thời vụ, điều kiện đất đai, yêu cầu cụ thể của từng giống là một trong những biện pháp hàng đầu đẩy mạnh sản xuất Để giải quyết vấn đề trên, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Ảnh hưởng của các công thức bón phân lân
(P2O5) đến một số đặc điểm sinh lý, hóa sinh, năng suất của 2 giống đậu tương DT 84 và DT 96 trên nền đất Thuận Thành – Bắc Ninh”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng cứu của các công thức bón lân (P2O5) đến một
số chỉ tiêu sinh lý, hóa sinh, năng suất của 2 giống đậu tương DT 84 và DT 96 trên nền đất huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh để xác định được công thức bón lân phù hợp nhất cho cây đậu tương trên vùng đất này
Trang 133.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp một phần vào việc xác định công thức bón phân lân phù hợp cho giống đậu tương DT 84 và DT 96 trên nền đất huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, ngoài ra đề tài còn góp phần giúp cho học sinh THPT tăng cường trải nghiệm, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học
Trang 144
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương
1.1.1 Yêu cầu về nhiệt độ
Đậu tương là một cây trồng có khả năng thích ứng rộng nên được phân
bố ở khắp các châu lục Tuy nhiên, đậu tương không phải là cây chịu rét, khi nghiên cứu về vấn đề này nhiều tác giả cho rằng đậu tương là cây ưa ấm Tổng tích ôn của cây đậu tương là 1.888 – 2.7000C tùy giống chín sớm hay muộn mà lượng tích ôn tổng số cũng khác nhau
Cũng như các cây trồng khác, mỗi giai đoạn sinh trưởng khác nhau mà đậu tương yêu cầu một khoảng nhiệt độ khác nhau Theo Lowell (1975) [30], nhiệt độ tối thấp sinh học cho sự sinh trưởng sinh dưỡng của hạt đậu tương từ
8 – 120C, cho sự sinh trưởng sinh thực từ 15 – 180C, nhiệt độ cần thiết cho sự
ra hao của đậu tương từ 25 – 290C
1.1.2 Yêu cầu về độ ẩm
Chế độ mưa đóng vai trò quan trọng tạo nên độ ẩm đất, nhất là vùng chịu ảnh hưởng chủ yếu của nước trời Lượng mưa và độ ẩm là yếu tố hạn chế chủ yếu đối với sản xuất đậu tương
Nhu cầu nước của cây đậu tương thay đổi tùy theo điều kiện khí hậu,
kỹ thuật trồng trọt và thời gian sinh trưởng Đậu tương cần lượng mưa từ 350
mm đến 600 mm cho cả quá trình sinh trưởng
Thực tế cho thấy, việc xác định thời vụ hợp lý là do điều kiện cung cấp
đủ nước cho cây Đối với đậu tương cần bố trí thời vụ sao cho có mưa từ giai đoạn ra hoa đến phát triển quả, sau đó chấm dứt mưa 2 – 3 tuần trước khi thu hoạch sẽ cho năng suất và phẩm chất hạt tốt nhất
Trang 15Đậu tương có phản ứng với độ dài ngày nhưng có rất ít giống không nhạy cảm với quang chu kỳ (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [10]
Để ra hoa kết quả được, cây đòi hỏi phải có ngày nắng, nhưng các giống khác nhau phản ứng với độ dài ngày khác nhau Mỗi giống yêu cầu độ dài ngày nhất định để ra hoa kết quả Độ dài ngày cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ đậu quả và tốc độ tích lũy chất khô ở quả Sau khi ra hoa nếu gặp điều kiện ngày dài, nhiệt độ không khí cao, đậu tương rụng quả, ít hạt Phản ứng quang chu kỳ của cây đậu tương cho phép xác đinh vùng thích hợp nhất với các giống
1.1.4 Yêu cầu về đất đai
Đậu tương có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau như: đất sét, đất thịt nặng, đất thịt nhẹ, đất cát pha Tuy nhiên, thích hợp nhất là đất cát pha và đất thịt nhẹ với độ pH 6 – 7 sẽ tạo điều kiện cho cây sinh trưởng, phát triển và hình thành nốt sần Trên đất cát pha, đậu tương thường cho năng suất không
ổn định, trên đất thịt nặng đậu tương khó mọc, nhưng sau khi mọc lại thích ứng tốt hơn so với các loại cây màu khác
Tuy nhiên, đa số đất trồng ở Việt Nam lượng mùn trong đất còn thiếu
do rửa trôi và do tập quán canh tác nên năng suất đạu tương cò thập, do đó việc bón nhiều phân hữu cơ cho đậu tương chẳng những có giá trị thực tiễn làm tăng năng suất đậu tương, mà còn đem lại lợi ích lâu dài trong canh tác và duy trì năng suất ổn định
Trang 166
1.1.5 Yêu cầu về dinh dưỡng
Cũng như các cây họ đậu khác, trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển đậu tương cần được cung cấp đầy đủ về lượng và đúng tỷ lệ các yếu tố dinh dưỡng thiết yếu, trong đó quan trọng nhất là các yếu tố đa lượng như N,
P, K
* Đạm: Là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng của cây đậu tương Trong
cây đậu tương đạm được tích lũy khá nhiều ở thời kỳ ban đầu nhưng nhu cầu đạm tăng nhiều nhất vào thời kỳ ra hoa, kết quả, đắc biệt từ hoa rộ đến khi hạt nảy mầm Thời kỳ ra hoa tạo quả nếu không cung cấp đủ đạm thì số hoa, quả rụng nhiều hoặc bị lép, trọng lượng hạt giảm thấp Tuy nhu cầu đạm của cây đậu tương lớn, nhưng do cây đậu tương sống cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm ở vùng rễ nên cây đậu tương có thể lấy đạm từ 3 nguồn: Nguồn đạm trong đất, đạm từ phân bón và đạm do vi khuẩn sống cộng sinh cố định được Nguồn đạm cộng sinh có thể đáp ứng cho cây 60% lượng đạm cây cần
* Lân: Là yếu tố quan trọng tới dinh dưỡng của đậu tương Lân có tác
dụng xúc tiến phát triển bộ rễ và hình thành nốt sần, các cơ quan sinh sản, hoa, quả, hạt… Đủ lân số lượng và trọng lượng nốt sần tăng lên rõ rệt, số quả
và hạt chắc tăng, tăng trọng lượng hat Lân tham gia vào thành phần nucleotit, axit nucleoic, nucleoproteit, photpholipit Lân có mặt trong thành phần hệ thống men có ý nghĩa trong tao đổi gluxit, sự cố định đạm tổng hợp protit, lipit và chuyển hóa năng lượng trong quá trình quang hợp và hô hấp Lân làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tố không thuận lợi: chống ret, chống hạn, chịu độ chua của đất, chống một số loại sâu bệnh hại
* Kali: Đóng vai trò quan trọng trong trao đổi đạm, trong chuyển hóa
gluxit cũng như hang loạt các phản ứng khác của cây Ka li đóng vai trò điều hòa cân bằng nước, tổng hợp protein, tăng tính chống chịu bệnh, chịu lạnh và
Trang 177
chống đổ Cây hút kali trong suất quá trình sinh trưởng phát triển, nhưng nhiều nhất là ở thời kỳ ra hoa Thời kỳ cuối kali chuyển từ thân lá về hạt Kali làm tăng phẩm chất nông sản và góp phần làm tăng năng suất của cây
1.2 Vai trò của cây đậu tương
Đậu tương không những là cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao, được sử dụng làm thực phẩm cho người, làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, làm thức ăn cho gia súc mà còn là cây có giá trị về mặt y học, sinh học Về mặt sinh học, đậu tương là cây cải tạo đất, nó là loại cây trồng trước mang lại hiệu quả cho cây trồng sau
Đậu tương là cây trồng có khả năng thích ứng rộng, thời gian sinh trưởng ngắn, đáp ứng được yêu cầu tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp Do vậy, đậu tương ngày càng có một vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng của thế giới và Việt Nam
Ở Việt Nam với điều kiện nhiệt đới thích hợp cho cây đậu tương sinh trưởng, phát triển và thuận lợi cho chế độ trồng trọt nhiều vụ trong năm, tùy từng vùng và tập quán của từng địa phương
- Vụ Xuân (gieo cuối tháng 2 đầu tháng 3) chủ yếu ở miền núi, miên Trung và Tây Nguyên và trên đất bãi, đất vàn cao không cấy lúa ở vùng đồng bằng
- Vụ hè giữa 2 vụ lúa (gieo cuối tháng 5 đầu tháng 6) chủ yếu chỉ phát triển ở một số tỉnh như: Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc… và thường trồng những giống ngày ngắn
- Vụ Đông (gieo hạt vào giữa tháng 9 đến đầu tháng 10) trên đất bãi sau khi rút nước, trên đất vàn cao trong đê không được cấy lúa mùa, diện tích này cũng hạn chế
Trước đây với các phương pháp canh tác truyền thống với bộ giống năng suất thấp, sản xuất nhỏ lẻ, lãi suất thấp là nguyên nhân khiến cho nông
Trang 188
dân không mặn mà với cây đậu tương, làm cho diện tích, sản lượng đậu tương nước ta phát triển chậm Hiện nay, tại Việt Nam sản xuất đậu tương hang năm mới đạt khoảng 0,3 triệu tân, đáp ứng 15% nhu cầu, hiện đang càng ngày phụ thuộc nhiều vào nguồn đậu tương nhập khẩu (Mai Quang Vinh, 2007) [43]
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đậu tương ở nước ta thì việc mở rộng diện tích và tăng năng suất là việc làm vô cùng cần thiết Đặc biệt trong chiến lược thâm canh tăng vụ, việc đưa vào luân canh những cây trồng có giá trị cải tạo đất là một vẫn đề thiết yêu nhằm nâng cao năng suất cây trồng và sử dụng bền vững
1.3 Tình hình sản suất đậu tương trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Đậu tương là một trong 8 cây lấy dầu quan trọng bậc nhất thế giới Hạt đậu làm thực phẩm cho con người, làm thức ăn cho gia súc Cây đậu tương còn có giá trị về mặt y học và sinh học Do giá trị nhiều mặt của cây đậu tương và do nhu cầu sử dụng nguồn protein thực vật ngày càng cao, đồng thời đậu tương có khản năng thích ứng khá rộng nên được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Hiện nay trên thế giới cây đậu tương được xếp vào hang thứ 4 sau lúa mỳ, lúa nước, ngô (Chu Văn Tiệp, 1981) [23] và có tốc độ tăng trưởng cao cả về diện tích, năng suất và sản lượng
Trong các cây lấy dầu của thế giới sản lượng đậu tương tăng từ 32% năm 1965 tới 50% vào những năm 1980 Ngược lại sản lượng của lạc giảm từ 18% xuống còn 11% trong cùng thời kỳ (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [10]
Số liệu thống kê về diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương toàn thế giới được tổng hợp tại bảng 2.1
Trang 19Sản lượng (Triệu tấn)
Nguồn: Tổng Cục thống kê năm 2009
1.3.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam
Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương Việt Nam qua một số năm có
sự biến động khá lớn Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005 diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương nước ta tăng lien tục: Diện tích từ 124,1 nghìn ha năm 2000 tăng lên đến 204,1 ngìn ha năm 2005; năng suất từ 12,0 tạ/ha năm
2000 lên 14,3 tạ/ha năm 2005; Sản lượng năm 2000 là 149,3 nghìn tấn, đến
2005 đạt 292,1 nghìn tấn Như vậy sau 5 năm, diện tích đậu tương cả nước tăng 8,0 nghìn ha (tăng 64,5%), năng suất bình quân tăng 2,3 tạ /ha (tăng 19,2%) và sản lượng tăng 143,4 nghìn tấn (gần gấp 2 lần)
Tuy nhiên, từ năm 2006 đến 2008 diện tích có biến động giảm, theo số liệu đánh giá sơ bộ của tổng Cục Thống kê thì năm 2008 diện tích trồng đậu tương chỉ còn 191,5 nghìn ha giảm 12,6 nghìn ha so với năm 2005, năng suất
Trang 2010
chỉ đạt 14,0 tạ/ha, điều này do nhiều nguyên nhân như điều kiện thiên tai ảnh hưởng (bão, úng ), diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do dử dụng vào mục đích công nghiệp, quy mô sản suất vẫn còn nhỏ lẻ Sau đó diện tích có xu hướng lại tăng dần, nhưng sản lượng đậu tương của cả nước vẫn tương đối ổn định Điều đó cho thấy khoa học công nghệ mới vè giống và lý thuật canh tác đối với cây đậu tương của nước ta đã có ảnh hưởng lớn đến sản xuất
Qua số liệu thống kê, cả nước chia thành 8 cùng sản xuất đậu tương lớn Trong đó, các vùng trồng nhiều đậu tương và có sản lượng lớn là: vùng đồng bằng Sông Hồng đạt 107,30 nghìn tấn (năm 1006) chiếm 41,57% sản lượng đậu tương cả nước, đến năm 2009 sản lượng giảm đạt 56,2 nghìn tấn (chiếm 26,31% sản lượng cả nước); vùng Đông Bắc năm 2006 đạt 46,00 nghìn tấn (chiếm 17,82%) và đến năm 2009 sản lượng tăng lên đạt 56,40 nghìn tấn (chiếm 26,40%) tổng sản lượng cả nước; vùng Tây Bắc đạt 26,90 nghìn tấn (năm 2006) chiếm 10,42% đến năm 2009 sản lượng đạt 25,80 nghìn tấn (chiếm 12,07%); vùng đồng bằng song Cửu Long năm 2006 đạt 24,80 nghìn tấn (chiếm 9,61%) và năm 2009 đạt 18,90 nghìn tấn (chiếm 8,85% tổng sản lượng đậu tương cả nước); các vùng còn lại chiếm diện tích à sản lượng thấp [42]
Theo Nguyễn Chí Bửu, Phạm Đồng Quảng, Nguyễn Thiên Lương, Trịnh Khắc Quang (2005)[3] cả nưức năm 2003 có 78 giống đậu tương được gieo trồng, trong đó có 13 giống chủ lực với diện tích gieo trồng trên 1.000 ha được phân bố như sau: DT84, Bông Trắng (>10.000ha); MTDD176, DT99, 17A (5.000 – 10.000ha); AK03, DT12, Nam Vang, DDH4, V74, AK05, VX93 (1.000 – 5.000ha) Cũng theo các tác gải trên, 7 giống được công nhận chính thức giai đạn 2001 – 2004 được gieo trồng trên diện tích 7.097 ha làm tăng sản lượng 944 tấn làm lợi cho sản xuất 4,8 tỷ đồng
Hiện nay ở miền Bắc đã hình thành cơ cấu 3 vụ/năm bao gồm:
Trang 2111
+ Vụ đậu tương xuân gieo sớm 10/2 – 10/3 Vùng Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tĩnh có thể gieo sớm hơn từ 20/1 – 10/2 để tránh gió Tây cuối tháng
4, cùng Tây bắc Bắc bộ (Sơn La, Lai Châu) gieo muộn hơn từ 1/3 – 20/3
+ Vụ đậu tương hà gieo 25/5 – 20/6 (một số tỉnh có tập quán gieo đậu tương hè giữa 2 vụ lúa thì phải gieo kết thúc trước 1/6 và dùng giống ngắn ngày như DDT12 với thời gian sinh trưởng 75 ngày )
+ Vụ đậu tương đông gieo 05/9 – 05/10 ở vùng Đồng bằng sông Hồng (Cục Nông Nghiệp, 2005) [8]
Ở các tỉnh phía Nam: thường chỉ có 2 vụ đậu tương/năm và tùy từng vùng địa lý cụ thể có thời vụ trồng thích hợp Vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ vụ 1 gieo tháng 4, 5 thu hoạch tháng 7, 8 (hay gặp mưa, chất lượng hạt kém), vụ 2 gieo tháng 7, 8 thu hoạch tháng 10, 11
1.4 Một số nghiên cứu về đậu tương trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Những nghiên cứu trên thế giới
* Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống cây đậu tương: Trên thế giới đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu ứng dụng về chọn tạo giống đậu tương và đạt được những thành tựu đáng kể
Hiện nay mục tiêu chọn tạo giống đậu tương của các nước trên thế giới tập trung theo hướng chủ yếu như tạo ra giống có năng suất hạt cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, kháng bệnh gỉ sắt, kháng thuốc trừ cỏ Đậu tương là một trong những cây trồng được sử dụng để chuyển gen, công nghệ chuyển gen đã thu được những thành tựu đáng kể, các nhà khoa học đã tạo ra những giống đậu tương chống chịu chất diệt cỏ, giống đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao (như hàm lượng cao protein, axittoleic,…)
Mỹ luôn là nước đứng đầu thế giới về diện tích và sản lượng đậu tương nhờ các phương pháp chọn lọc, nhập lội, gây đột biến và chuyển gen Những
Trang 2212
dòng nhập nội có năng suất cao đều được sử dụng làm vật liệu trong các chương trình lai tạo vào chọn lọc Giai đoạn từ 1928 – 1932 trung bình mỗi năm nước Mỹ nhập nội trên 1.190 dòng từ các nước khác nhau Hiện nay đã đưa vào sản xuất trên 100 dòng, giống đậu tương, đã lai tạo ra một số giống
có khả năng chống chịu tốt với bệnh Rhizoctnia và thích ứng rộng như: Amsoy71 Lec36, Clark63, Herkey63 Hướng chủ yếu của công tác nghiên cứu chọn giống là sử dụng các tổ hợp lai cũng như nhập nội, thuần hóa trở thành giống thích nghi với từng vùng sinh thái, đặc biệt là nhập nội để bổ sung vào quỹ gen
Từ 1976 đến nay Trung tâm nghiên cứu giống nội địa quốc gia Braxin
đã chọn từ tập đoàn 1.500 dòng đậu tương khác nhau để tạo ra những giống thích hợp Nhiều giống tốt đã được tạo ra như DoKo, Numbaira, Cristalina trong đó năng suất cao nhất là giống Cristalina đạt 38 tạ/ha
Tại trung tâm phát triển rau mùa Châu Á (AVRDC) đã thiết lập hệ thống đánh giá (Soybean- Evaluation trial – Aser) giai đoạn 1 phân phát được trên 200.00 giống đến 546 nhà khoa học của 164 quốc gia nhiệt đới và Á nhiệt đới Những năm gần đây các vườn giống đã được thành lập tại các tổ chức, các cơ quan như: Viện Nghiên cứu Nông Nghiệp Nhiệt đới (IITA), Trung tâm đào tạo nghiên cứu nông nghiệp cho vùng Đông Nam Á (SEARCA), Chương trình hợp tác nghiên cứu cây thực phẩm các nước Trung Mỹ (PPCCMA), Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IIRI) và nhiều trường đại học khác nhau Châu
Á là khu vực sản xuất đậu tương có vai trò quan trọng, nơi đây nhận được sự quan tâm của nhiều cơ quan nghiên cứu về đậu đỗ Trung tâm nghiên cứu và phát triển Rau màu Châu Á đã và đang nghiên cứu chọn tạo các giống đậu tương có tiềm năng năng suất rất cao trên 70 tạ/ha như G2120
Viện khoa học nông nghiệp Đài Loan đã bắt đầu chương trình chọn tạo giống từ năm 1961 và đã đưa vào sản xuất các giống Kaohsing3, Tainung 3,
Trang 2313
Tainung4 … Một số giống đột biến Tainung1 và Tainung2 có năng suất cao hơn giống khởi đầu và vỏ quả không bị nứt
Ấn Độ cũng là nước rất chú trọng phát triển đậu tương Ngay từ năm
1963, Ấn Độ đã bắt đầu khảo nghiệm các giống địa phương và nhập nội tại trường Đại học Tổng hợp Pathaga Năm 1967 thành lập chương trình đậu tương toàn Ấn Độ với nhiệm vụ lai tạo vào thử nghiệm giống mới, học đã tạo
ra được một số giống mới có triển vọng như: Birsasoil, DS74-24-2, DS73-16
Tổ chức AICRPS (The All India Coordinated Research Project on Soybean)
và NRCS (Nation research Center for Soybean) đã tập trung nghiên cứu vè genotupe, phát hiện 50 tính trạng phù hợp vớ điều kiện khí hậu nhiệt đới, đồng thời chọn tạo và phát triển một số giống có khả năng chống chịu cao với các bệnh khẩm virus
Khi nghiên cứu hệ thống rễ của dồng đậu tương dại PI 407155 và đậu tương Essen, Yayun Chen và cộng sự (2006) [36] cho rằng, đậu tương dại PI
407155 duy trì độ ẩm và tích lũy chất khô tốt hơn giống Essex nên có khả năng chống chịu hạn tốt hơn so với Essex Vì vậy PI 407155 là nguồn gen đậu tương mới có tiềm năng cho sự phát triển các giống đậu tương chịu hạn
T.C.Helm, B.J Werk, B.D Nelson and E.Deckard (2007) [35] nghiên cứu sự chịu đựng được đất bão hòa nước và việc kháng bệnh thối rễ của đậu tương cho rằng có nhiều kiểu gen đậu tương chịu đựng được các điều kiện đất
úng khác nhau, bệnh thối rễ do nấm Phytophthora sojae và sự chống chịu
Phytophthora sojae là một nhân tố quan trọng làm tăng sức chịu đựng đối với
đất bão hào nước
Hiện nay có rất nhiều cơ quan, tổ chức quốc tế, các nhà hoạch định nông nghiệp của nhiều quốc gia đã ưu tiên cho việc nghiên cứ giống đậu tương với quy mô lớn Nhiều tập đoàn giống đậu tương đã được khảo nghiệm
ở các vùng sinh thái khác nhau Đã có được nhiều thành công trong việc xác
Trang 2414
định các dòng tốt, giống tốt, có tính ổn định và khả năng thích ứng với các điều kiện sinh thái khác nhau
* Kết quả nghiên cứu về phân bón trên cây đậu tương
Cùng với công các nghiên cứu về giống thì trên thế giới, nhiều quốc gia, nhiều tác giả cũng đã tiến hành nghiên cứu phân bón cho cây đậu tương
Theo kết quả nghiên cứu của Harper (1974) cho thấy nếu NO3 dư thừa
có hại tới năng suất vì lúc đó sự cố định N2 bị ức chế Bón đạm quá nhiều hoặc không bón đúng thời kỳ sẽ ức chế sự hình thành, phát triển và hoạt động của vi khuẩn nốt sần Việc cố định N2 và sử dụng Nitrate (NO3) có ý nghĩa hết sức quan trọng với cây đậu tương để thu được năng suất tối đa
Porter và cộng sự (1981) thấy rằng trên đất giàu dinh dưỡng đáp ứng đủ nhu cầu NO3 cho cây thì bón đạm không có tác dụng tăng năng suất, tuy nhiên trên những đất nghèo chất hữu cơ, kém thoát nước thì bón đạm với lượng 50 - 110 kg/ha có tác dụng tăng năng suất
Bón lân cho đậu tương làm giảm tỷ lệ rụng nụ, rụng hoa, tăng tỷ lệ hạt chắc và tăng năng suất rõ rệt Dickson và cộng sự (1987) [28] đã tiến hành những thí nghiệm về bón phân lân cho các cánh đồng tại Queen Sland (Australia) và cho rằng năng suất đậu tương được tăng lên đáng kể khi được bón phân lân, sự mẫn cảm của đậu tương đối với phân lân phụ thuộc vào độ chua của đất, hàm lượng chất hữu cơ và thành phần với phân lân phụ thuộc độ chua của đất, hàm lượng chất hữu cơ và thành phần cơ giới đất
Nhiều tác giả còn cho rằng đất nhiệt đới giàu Fe, Al thì Supe lân sẽ
bị cố định thành photphat sắt, nhôm khó hòa tan nên cây trồng khó sử dụng được Như vậy đối với đất chua việc nâng cao pH bằng bón vôi sẽ làm tăng hàm lượng lân dễ tiêu cho cây tạo điều kiện cho cây hút được lân Khi bón lân cho cây làm tăng năng suất đậu tương thì các đòi hỏi Kali của cây cũng tăng lên
Trang 2515
Tại Nigieria (1990 - 1991) qua 6 công thức nghiên cứu về hiệu quả tác động của việc kết hợp giữa phân khoáng N, P, K đã đưa ra kết luận rằng: Hiệu quả kinh tế đạt cao nhất ở công thức: 60 tấn phân chuồng + 200kg N, P, K (15: 15: 15) cho 1 ha
Theo Lê Xuân Đính [39] đã đưa ra khuyến cáo bón phân cho đậu tương vùng Rio Grande do Sul và Santa Catarina của Brazil khuyến cáo như sau: Lượng P2O5 cần bón từ 10 – 140 kg/ha (trung bình khoảng 50 kg/ha P2O5); lượng K2O từ 40 -120 kg/ha Bón vôi: nếu pH nhỏ hơn hoặc bằng 6.0 Bón phân vi lượng khi pH thấp và 8 - 10g/ha Mo sẽ được dùng xử lý hạt Trong khi đó ở Sao Paulo cũng thuộc Brazil thì cần bón P2O5: 20-80 kg/ha; K2O là
60 kg/ha và cần bón thêm vôi
1.4.2 Những nghiên cứu ở Vệt Nam
* Kết quả nghiên cứ về chọn tạo giống đậu tương
Ở Việt Nam, công tác chọn tạo giống đậut tương cũng là một trong các hướng nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm Đã có rất nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân tiến hành nghiên cứu chọn tạo ra các
Công tác chọn tạo giống ở nước ta đã được tiến hành ở các cơ sở nghiên cứu theo nhiều phương pháp khác nhau như: Lai hữu tính, tạo giống đột biến, chọn lọc từ các giống địa phương và giống nhập nội Mặc dù mỗi phương pháp đều có những thành công riêng, nhưng thành công nhất phải kể đến là phương pháp lai hữu tính, đây là hướng nghiên cứu cơ bản để tạo ra các đột biến, biến dị tổ hợp phục vụ cho chọn lọc Nhờ đó có thể phối hợp được các đặc tính và tính trạng có lợi của các dạng bố mẹ và con lai
Trong 20 năm (1985 - 2005) chương trình nghiên cứu đậu đỗ thông qua các đề tài đã thu thập, nhập nội trên 5.000 mẫu giống đậu tương trong đó có trên 300 mẫu địa phương Đã khảo sát đánh giá 4188 mẫu dòng/giống đậu tương chủ yếu nhập từ Viện nghiên cứu cây trồng trên toàn Liên Bang Nga
Trang 2616
mang tên Vavilop (VIR), ngoài ra một số mẫu nhập từ Trung tâm nghiên cứu phát triển rau màu Châu Á (AVRDC), Úc, Nhật, Mỹ và Viện cây trồng nhiệt đới Quốc tế (IITA) Phân lập các dòng giống có các tính trạng đặc biệt khác nhau như thời gian sinh trưởng ngắn, chịu hạn, chịu rét, kháng bệnh rỉ sắt phục vụ cho công tác chọn giống (Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh, 2005) [18]
Khi nghiên cứu tập đoàn đậu tương Vũ Đình Chính (1995) [4] đã phân lập các chỉ tiêu làm 2 nhóm theo mức độ quan hệ của chúng với năng suất hạt Nhóm thứ nhất gồm các chỉ tiêu không tương quan chặt chắc, số đốt mang quả, số nốt sần, diện tích lá ) Nhóm thứ hai gồm các chỉ tiêu tương quan nghịch với năng suất đó là 5 chỉ tiêu (tỷ lệ quả 1 hạt, tỷ lệ quả lép, tỷ lệ bệnh virút, tỷ lệ bệnh đốm vi khuẩn và tỷ lệ sâu đục quả) từ đó tác giả đưa ra mô hình cây đậu tương có năng suất cao là: số quả/cây nhiều, tỷ lệ quả chắc cao, khối lượng 1000 hạt lớn, tỷ lệ quả 2 – 3 hạt cao, diện tích lá thời kỳ quả mẩy lướn và nốt sần trên cây nhiều
Năm 1987 Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam chọn được giống AK03 từ dòng G2261 nhập nội có thời gian sinh trưởng 80 - 85 ngày, năng suất bình quân 13 - 16 tạ/ha, thích hợp cho vụ đông và cũng từ dòng G2261 chọn được giống AK05 có thời gian sinh trưởng 90 - 95 ngày năng suất 15 - 18 tạ/ha, kháng bệnh gỉ sắt, thích hợp vụ đông ở vùng đồng bằng sông Hồng
Giống HL-2 do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam chọn lọc từ tập đoàn nhập nội AVRDC có năng suất 18 - 20 tạ/ha thích hợp cho các tỉnh phía Nam
Giống ĐT12 (nhập nội từ Trung Quốc) có thời gian sinh trưởng cực ngắn: vụ hè từ 71 - 81 ngày, rất thích hợp cho vụ hè giữa 2 vụ lúa, năng suất
17 - 20 tạ/ha
Trang 2717
Giống ĐT21 (nhập nội từ Australia) có thời gian sinh trưởng 95 - 100 ngày, năng suất từ 20 - 28 tạ/ha, có khả năng chịu hạn và chống sâu bệnh hại tốt, thích hợp cho vụ xuân và thu đông ở đồng bằng, vụ hè ở các tỉnh miền núi
Bộ môn Cây công nghiệp Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam năm 1996 đã chọn từ tổ hợp lai (dòng 821X134 Nhật Bản) tạo giống ĐT93, thích hợp cho vụ hè năng suất 15- 18 tạ/ha
Bằng phương pháp lai hữu tính tác giả Vũ Đình Chính đã lai tạo giống đậu tương D140 từ tổ hợp lai DL02 x ĐH4 Giống D140 có khả năng thích ứng rộng, có thể gieo trồng được cả 3 vụ trong năm và cho năng suất cao 15 -
27 tạ/ha
Viện nghiên cứu Ngô là cơ quan chuyên nghiên cứu về chọn tạo các giống ngô cũng tham gia vào công tác chọn tạo giống đậu tương Kết quả đã lai tạo và chọn lọc được giống đậu tương ĐVN5, ĐVN6, ĐVN10 Giống ĐVN5 là giống phân cành nhiều, cây cao trung bình, sai quả, kích cỡ hạt trung bình, màu sắc quả và vỏ hạt đẹp, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng ĐVN5 có năng suất cao ở cả 3 vụ gieo trồng (Xuân - Hè - Đông, năng suất tương ứng là 19,03 tạ/ha; 18,52 tạ/ha; 15,37 tạ/ha) có thể thay thế 1 phần các giống đậu tương cũ như V74, VX93 (Đào Quang Vinh và cs, 2006) [25]
Sau 7 năm khảo nghiệm liên tục (1998 - 2004) tại nhiều vùng sinh thái khác nhau, Viện Di truyền Nông nghiệp đã sản xuất thành công giống đậu tương chịu hạn mới DT96 Giống đậu tương DT96 do nhóm tác giả Mai Quang Vinh và cộng sự chọn tạo bằng phương pháp phối giống đậu tương DT90 và DT84 Đậu tương DT96 kết hợp được nhiều đặc tính tốt của 2 giống này: chịu nóng tốt như DT84, chịu lạnh như DT84, là giống có năng suất cực cao, chống chịu sâu bệnh tốt, đặc biệt có có khả năng chịu hạn cực tốt do vậy
Trang 2818
thích hợp cho các vùng đất khô hạn, có thể trồng được 2 vụ/năm
Ngoài công tác chọn giống bằng con đường tuyển chọn từ tập đoàn nhập nội, lai hữu tính thì chọn giống bằng xử lý đột biến trong những năm qua cũng đạt được nhiều thành tựu đáng kể
Năm 1978, tác giả Trần Đình Long dùng tia Y và các loại hóa chất gây đột biến tác động vào vật liệu từ đó phân lập các dòng, đánh giá lựa chọn được một số giống có năng suất cao, chịu được khí hậu nóng Đáng chú ý nhất là giống M103 chọn tạo từ dòng đột biến của giống V70 năm 1987 thích hợp cho vụ hè và vụ thu
Cũng bằng phương pháp xử lý đột biến dung tia Y, nguồn 1985 tác giả Mai Quang Vinh và cộng sự đã tạo ra giống đậu tương DT84 từ dòng lai 8 -
33, DT84 có thời gian sinh trưởng 80 - 85 ngày, năng suất 15 - 20 tạ/ha, trồng được 3 vụ/năm, thích hợp vụ hè Hiện nay DT84 là một trong 10 giống được trồng diện tích lớn nhất [5]
Một nghiên cứu chuyển nạp gen ở đậu tương và tạo dòng đậu tương biến đổi gen kháng sâu mới đang được tiến hành tại Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long nhằm tăng năng suất đậu tương Việt Nam Việc chuyển nạp gen và tạo dòng đậu tương biến đổi gen kháng sâu được tác giả Trần Thị Cúc Hòa tiến hành bằng phương pháp nốt lá mầm lây nhiễm với vi khuẩn thực hiện trên 4 giống đậu tương trong đó có 2 giống đang trồng ở Việt Nam Kết quả, trong 91 giống đã xác định được các giống có tiềm năng sử dụng được trong chuyển nạp gen đậu tương (gồm 5 giống đậu tương đang trồng ở Việt Nam và
3 giống nhập nội) [43]
Ở Việt Nam, công tác chọn tạo giống và phát triển sản xuất đậu tương đang tập trung vào các hướng chính sau đây :
- Tiếp tục nhập nội các nguồn gen quý hiếm ở trên thế giới
- Sử dụng các phương pháp chọn tạo giống truyền thống (chọn lọc, lai
Trang 2919
tạo, xử lý đột biến)
- Đối với đậu tương còn tập trung chọn tạo giống có hàm
* Nghiên cứu về phân bón
Cũng như các cây trồng khác, cây đậu tương cần được cung cấp đầy đủ
về lượng và đúng tỷ lệ các yếu tố dinh dưỡng thiết yếu để phát huy tiềm năng của giống ở mức cao nhất đậu tương có khả năng cố định Nitơ trong không
khí nhờ sự cộng sinh của vi khuẩn Rhizobium Japonicum với nốt sần ở bộ rễ
Do vậy mặc dù nhu cầu đạm của cây đậu tương là rất lớn, nhưng lượng phân đạm bón cho cây đậu tương không cần nhiều, bởi nguồn đạm cộng sinh đáp ứng 40 - 60% nhu cầu của cây, nguồn đạm này được tăng dần từ khi cây có 3
lá kép (nốt sần bắt đầu hình thành) và đạt tối đa khi cây ra hoa, làm quả sau
đó giảm dần
Theo Nguyễn Văn Bộ (2001) [1] nếu bón riêng rẽ đạm chỉ cho bội thu 1,4 tạ/ha, trong khi đó cũng bón lượng đạm như vậy lại cho bội thu 2,3 tạ/ha trên nền có bón lân, 3,1 tạ/ha trên nền có bón kali và 5,4 tạ/ha trên nền bón cả lân và kali Một quy luật tương tự cũng thấy với kali Bón riêng rẽ, kali cho bội thu 1,4 tạ/ha trên nền đạm cho bội thu 4,3 tạ/ha Nhìn chung mức bón tối
đa cho đậu tương là 40kg N (tương đương 87kg urê/ha hay 3kg/sào Bắc Bộ)
và 60kg K2O (100kg kali clorua/ha hay 3 - 4 kg/sào) Nói chung công thức bón phân cân đối cho đậu tương thay đổi theo vùng Mức bón 30kg N, 60kg
P2O5, 6kg K2O cho đất bazan; 20kg N, 60kg P2O5, 60kg K2O cho đất bạc màu
và 30kg N, 90kg P2O5, 60kg K2O/ha cho vùng đất xám
Khi nghiên cứu về phân bón cho đậu tương tác giả Vũ Đình Chính (1998) [4] cho rằng bón kết hợp N, P trên đất bạc màu nghèo dinh dưỡng với mức 90kg P2O5/ha trên nền 40 kg N/ha làm tăng số lượng nốt sần, số quả chắc/cây và năng suất hạt Cũng theo tác giả trong điều kiện vụ hè trên đất bạc màu (Hiệp Hòa - Bắc Giang) bón cho giống đậu tương Xanh đóng vai trò
Trang 3020
quan trọng cho đậu tương xuân Bón lân đã ảnh hưởng đến chỉ số diện tích lá, tích lũy chất khô, số lượng nốt sần, số lượng quả và năng suất hạt Liều lượng lân bón thích hợp cho cả hai giống D140 và DDt22 trên đất Gia Lâm – Hà Nội là 90kg P2O5/ha Hiệu quả của bón lân cho đậu tương từ 3,90 – 8,82 kg đậu tương/ 1kg P2O5
Để đánh giá khả năng cung cấp đạm cho cây người ta phải dựa vào hàm lượng đạm tổng số và đạm thủy phân có ở trong đất Hàm lượng đạm tổng số (%) được đánh giá là: Rất cao > 0,300%, cao từ 0,226% - 0,300%, trung bình 0,126% - 0,225%, thấp 0,050% - 0,125%, rất thấp < 0,050%
- Đất nghèo đạm là đất có hàm lượng đạm thủy phân < 4mg: đất này cần bón đạm, bón đạm sẽ có hiệu quả
- Đất trung bình đạm có 4 - 8mg: bón đạm có hiệu lực trung bình
- Đất giàu đạm có > 8mg: bón đạm không có hiệu quả
Để đánh giá khả năng cung cấp lân trong đất cho cây trồng cần dựa vào hàm lượng lân dễ tiêu Theo phương pháp đang dùng hiện nay trên thế giới (Phương pháp Olsen) tính theo P2O5 dễ tiêu (mg/100g đất):
- Nghèo lân: < 2,5mg: đất nghèo lân, rất cần bón lân, bón lân sẽ cho hiệu quả kinh tế cao
- Trung bình: 2,5 - 5,0mg: đất có lân trung bình cần bón lân, nếu bón lân có hiệu lực khá
- Khá giàu: 5 – 9 mg: đất có lân khá, bón lân cho hiệu quả thấp
- Giàu: > 9 mg: đất giàu lân, bón lân ít hoặc không có hiệu lực
Dựa vào kết quả phân tích trên ta có thể đánh giá sự thiếu hụt lân trong đất, đó là một cơ sở rất quan trọng để xây dựng được một phương thức tính toán lượng phân lân cần thiết để thêm vào đất một lượng lân
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân lân trên đất Gia Lâm –
Hà Nội nhằm mục tiêu xác định liều lượng lân thích hợp để cây đậu tương có
Trang 3121
thể sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao trong điều kiện vụ xuân Kết quả nghiên cứu của thí nghiệm đã xác định được phân lân đóng vai trò quan trọng cho đậu tương xuân Bón lân đã ảnh hưởng đến chỉ số diện tích lá, số lượng qủa và năng suất hạt Liều lượng lân bón thích hợp cho cả 2 giống đậu tương D140 và ĐT 22 trên đất Gia Lâm – Hà Nội là 90 kg P2O5/ha
Khi tìm hiểu ảnh hưởng liều lượng lân bón cho đậu tương xuân trên đất Gia Lâm - Hà Nội, tác giả Vũ Thị Thu Hiền và Đoàn Thị Thanh Nhàn (2009) [15] đã cho rằng: Phân lân đóng vai trò quan trọng cho đậu tương xuân Bón lân đã ảnh hưởng đến chỉ số diện tích lá, tích lũy chất khô, số lượng nốt sần, số lượng quả và năng suất Liều lượng lân bón thích hợp cho hai giống đậu tương D140 và ĐT22 trên đất Gia Lâm - Hà Nội là 90 kg
P2O5/ha (trên nền bón phân phối hợp 8 tấn phân chuồng + 40 kg N và 60 kg
K2O) Hiệu suất của bón lân cho đậu tương từ 3,90 - 8,82 kg đậu tương/1kg
Như vậy, ngoài việc nghiên cứu xác định bộ giống thích hợp cho từng
vụ, từng vùng sản xuất thì việc xác định liều lượng phân bón hợp lý và cân đối với từng thời vụ, điều kiện đất đai, yêu cầu cụ thể của từng giống là một trong những biện pháp hàng đầu đẩy mạnh sản xuất Từ đó góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh đậu tương và thúc đẩy việc mở rộng diện tích sản xuất đậu tương
Kết quả phân tích mẫu đất thí nghiệm
Lân tổng số trong các loại đất ở Việt Nam đều rất thấp Có thể xếp thành 3 nhóm:
Trang 3222
- Nhóm 1: Hàm lượng lân tổng số trong đất trên 0,03% là đất nâu đỏ bazan
- Nhóm 2: Hàm lượng lân tổng từ trong đất từ 0,08 đến 0,03 % thuộc đất nâu
đỏ trên đá vôi, đất phù sa sông Hồng, đất mặn trung tính
- Nhóm 3: Hàm lượng lân tổng từ trong đất nhỏ hơn 0,08 % thuộc tất cả các loại đất khác còn lại
Kết quả phân tích mẫu đất khu vực thí nghiệm thuộc huyện Thuân Thành , tỉnh Bắc Ninh có hàm lượng lân tổng số trung bình đạt 0,0246 % Như vậy đất thí nghiệm của chúng tôi thuộc nhóm 2 đặc chưng cho đất phù sa
cổ sông Hồng
(Kết quả phân tích mẫu đất trong phụ lục)
Trang 3323
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng thực vật
- Giống đậu tương DT84 do lai giữa DH4 x DT80 + đột biến γ – Co 60 Năng suất của DT84 đạt 1,5 – 3,5 tấn/ha, thời gian sinh trưởng từ 85 – 90 ngày, khả năng chống chịu sâu bọ tốt, chất lượng sản phẩm tốt
- Giống đậu tương DT96 lai đột biến DT90 x DT84 Năng suất đạt từ 1,8 – 3,5 tấn/ha, thời gian sinh trưởng từ 90 – 95 ngày, khả năng chống chịu sâu bọ khá, chất lượng tốt
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
* Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón lân (P2O5) đến một số chỉ tiêu sinh lí, sinh hóa của giống đậu tương DT84 và DT96 thông qua một số chỉ tiêu cụ thể sau:
- Các chỉ tiêu về sinh trưởng: khả năng tích lũy sinh khối tươi, khô của thân, lá;
- Các chi tiêu về quang hợp: chỉ số diện tích lá; hàm lượng diệp lục;
* Địa điểm nghiên cứu
- Thí nghiệm ngoài đồng ruộng được bố trí tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Trang 34- Đối chứng (ĐC) cho cả 2 giống: bón 55 kg P 2O5 trên nền 5 tấn phân chuồng + 30 kg N + 55 kg K2O + 300 kg vôi Đây là liều lượng được phòng Nông nghiệp huyện Thuận Thành khuyến cao để trồng đậu tương
- Thí nghiệm 1 (TN1) cho cả 2 giống: bón 60 kg P 2O5 trên nền 5 tấn phân chuồng + 30 kg N + 55 kg K2O + 300 kg vôi
- Thí nghiệm 2 (TN2) cho cả 2 giống: bón 65 kg P 2O5 trên nền 5 tấn phân chuồng + 30 kg N + 55 kg K2O + 300 kg vôi
- Thí nghiệm 3 (TN3) cho cả 2 giống: bón 70 kg P 2O5 trên nền 5 tấn phân chuồng + 30 kg N + 55 kg K2O + 300 kg vôi
* Phương pháp bón phân, tưới nước, chăm sóc đảm bảo đồng đều giữa các ô thí nghiệm
- Bón lót: toàn bộ phân chuồng + lân
- Bón thúc:
Đợt 1: khi cây có 2 – 3 lá thật: ½ đạm + ½ kali Kết hợp với sới xáo, phá váng
Trang 35* Thời gian sinh trưởng: tính từ khi trồng đến khi thu hoạch
* Các chỉ tiêu sinh trưởng và khả năng hình thành nốt sần được xác định vào
3 thời điểm: Thời kì bắt đầu ra hoa (50% số cây trong ô thí nghiệm ra hoa); thời kì ra hoa rỗ (100% số cây ra hoa) và thời kì quả chắc (trên 90% số cây có quả chắc) Mỗi công thức xác định ở 10 cây ngẫu nhiên
- Chỉ số diện tích lá: xác định bắng phương pháp cân [20]
- Khối lượng tươi, khô của thân, lá: xác định bằng phương pháp cân băng cân phân tích Satorius [20]
- Khả năng sinh thành nốt sần: xác định bằng cách đếm trực tiếp và cân khối lượng bằng cân phân tích Satorius
- Các yếu tố cấu thành năng suất:
+ Tổng số quả/cây; tỷ lệ quả 1 hạt/quả, 2 hạt/quả và trên 3 hạt/quả: Xác định bằng cách đếm trực tiếp 10 cây ở các ô thí nghiệm
+ Khối lượng 1000 hạt: Xác định bằng cách cân bằng cân kỹ thuật Satorius + Năng suất lý thuyết (NSLT) = Số cây/m2 x Khối lương hạt/cây x khối lượng
1000 hạt : 1000.000
- NSTT (tấn/ha) = năng suất thu được trên ô thí nghiệm sau đó qui đổi ra ha
- Hàm lượng một số chất trong hạt
+ Hàm lượng tinh bột, đường khử: bằng phương pháp Lane- Eynon
+ Hàm lượng protein tổng số: Hàm lượng protein tổng số xác định bằng phương pháp MicroKjeldahl
Cân 100mg mẫu được nghiền nhỏ bằng cối chày sứ trong noti lỏng + 1ml đệm Tris để tách protein Ly tâm lạnh 16000vòng/ phút trong 20 phút ở 40C
Trang 36* Xử lý số liệu thí nghiệm
Số liệu thí nghiệm được xử lý nhờ phần mềm thống kê Excel 2007 với các thông số (Chu Huy Mẫn và CS, 2001) và chương trình thống kê sinh học IRRISTART 4.0 của IRRI
So sánh td với t lấy từ bảng phân phối Student Fisher với (n1 + n2 –2) bậc
Trang 3727
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống đậu tương DT84 và DT96
3.1.1 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến khối lượng tươi, khô của thân giống đậu tương DT84 và DT96
* Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến khối lượng tươi của thân
Khối lượng tươi, khô của thân là một trong các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng Khả năng tích lũy sinh khối của cây đậu tương chịu sự chi phối của giống và các
kỹ thuật chăm sóc như bón phân, tưới nước v.v Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón lân đến khối lượng tươi và khô của thân giống đậu tương DT84 và DT 96 được thể hiện ở bảng 2
Bảng 2 Ảnh hưởng của các công thức bón lân đến khối lượng tươi của thân giống đậu tương DT84 và DT96
Đơn vị: g/cây
thức
Các giai đoạn phát triển