52 Hình 3.2: Đường lũy tích lưu lượng tính toán và thực đo tại các trạm thủy văn trên lưu vực sông Ba ..... KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Luận văn đã thiết lập mô hình thủy văn, thủy lực để tính to
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Trang 2BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Cán bộ hướng dẫn chính: PGS.TS Trần Hồng Thái
Cán bộ chấm phản biện 1: PGS.TS Lã Văn Chú
Cán bộ chấm phản biện 2: TS Nguyễn Lan Châu
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:
HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Ngày 26 tháng 12 năm 2017
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Mạc Đình Nam
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung nghiên cứu của mình
Hà Nội,ngày 05 tháng 12 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Học viên thực hiện
Mạc Đình Nam
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Học viên xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Hồng Thái đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, qua đây học viên cũng bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới ThS Hoàng Văn Đại đã có những định hướng bước đầu khi tác giả bắt đầu thực hiện luận văn, cùng các Thầy, Cô trong Trường Đại học tài nguyên và Môi trường Hà Nội Đặc biệt là các Thầy, Cô trong Khoa Khí tượng Thủy văn đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Nhân đây học viên cũng gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo, đồng nghiệp Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Đồng Bằng Bắc Bộ đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình tham gia khóa học và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Trong quá trình làm luận văn do giới hạn về thời gian cũng như hạn chế về nguồn số liệu thực đo nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự cảm thông và những ý kiến đóng góp quý báu của các Thầy, Cô để
em có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Mạc Đình Nam
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iiiii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH viiviii
THÔNG TIN LUẬN VĂN x
MỞ ĐẦU 1
I Tính cấp thiết 1
II Mục tiêuvà phương pháp nghiên cứu 2
1 Mục tiêu 2
2 Nội dung nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
III Cấu trúc luận văn 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan về các nghiên cứu lũ và ngập lụt 4
1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu lũ và ngập lụt trong và ngoài nước 4
1.1.2 Tổng quan về lũ và ngập lụt hạ lưu sông Ba 8
1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 8
1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên [11] 8
1.2.2 Chế độ khí hậu 17
1.2.3 Đặc điểm thủy văn [11] 25
1.2.4 Hệ thống hồ chứa và quy trình vận hành liên hồ chứa mùa lũ lưu vực sông Ba 26
1.2.5 Các hình thế thời tiết gây lũ và ngập lụt 29
1.2.6 Đặc trưng các trận lũ lớn điển hình 31
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ SỐ LIỆU 33
2.1 Phương pháp tính toán và đánh giá lũ và ngập lụt 33
Trang 72.2 Lựa chọn mô hình toán 33
2.2.1 Các mô hình toán thủy văn, thủy lực ứng dụng trong tính toán lũ, ngập lụt 33
2.2.2 Lựa chọn công cụ tính toán mô phỏng, đánh giá lũ và ngập lụt 35
2.3 Cơ sở lý thuyết và thiết lập mô hình thủy văn 36
2.3.1 Cơ sở lý thuyết 36
2.3.2 thiết lập mô hình 41
2.4 Cơ sở lý thuyết và thiết lập mô hình MIKE 11 43
2.4.1 Cơ sở lý thuyết 43
2.4.2 Thiết lập mô hình thủy lực 47
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN LŨ, NGẬP LỤT HẠ LƯU SÔNG BA 52
3.1 Tham số hóa mô hình mô phỏng thủy văn, thủy lực, ngập lụt 52
3.1.1 Hiệu chỉnh kiểm định mô hình thủy văn 52
3.1.2 Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy lực 55
3.1.3 Mô phỏng kiểm tra ngập lụt 59
3.2 Lựa chọn kịch bản biến đổi khí hậu hạ lưu sông Ba 61
3.2.1 Biến đổi của nhiệt độ không khí 61
3.2.2 Biến đổi của lượng mưa 64
3.2.3 Kịch bản nước biển dâng cho khu vực nghiên cứu 67
3.3 Đánh giá tác động của BĐKH đến lũ hạ lưu sông Ba 68
3.3.1 Dòng chảy mùa lũ 68
3.3.2 Lưu lượng đỉnh lũ 69
3.4 Tác động đến mực nước lũ 73
3.5 Tác động đến ngập lụt 75
3.6 Đề xuất giải pháp 78
KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
IPCC Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu
RCP4.5 Kịch bản nồng độ khí nhà kính trung bình thấp RCP8.5 Kịch bản nồng độ khí nhà kính cao
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tốc độ gió trung bình tháng và năm (Đơn vị: m/s) 18
Bảng 1.2: Nhiệt độ trung bình tháng và năm (Đơn vị: 0C) 20
Bảng 1.3: Một số năm đặc trưng mưa (Đơn vị: mm) 22
Bảng 1.4: Lượng mưa trung bình nhiều năm các tháng (Đơn vị: mm) 23
Bảng 1.5: Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng và năm (mb) 24
Bảng 1.6: Độ ẩm tương đối trung bình tháng và năm (Đơn vị: %) 25
Bảng 1.7: Lưu lượng lũ lớn nhất tại một số trạm trên lưu vực sông Ba 26
Bảng 1.8: Bảng thông số kỹ thuật chủ yếu của các hồ chứa chính lưu vực sông Ba 27 Bảng 1.9: Đặc trưng lượng mưa ngày lớn nhất 30
Bảng 1.10: Khả năng xuất hiện lũ lớn nhất năm tại một số trạm (%) 32
Bảng 2.1: Danh sách trạm mưa và bốc hơi dùng cho các lưu vực hiệu chỉnh và kiểm định 42
Bảng 2.2: Vị trí các mặt cắt ngang sông trong sơ đồ tính toán thủy lực 48
Bảng 2.3: Thông số chính đập dâng Đồng Cam 51
Bảng 3.1: Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình NAM tại các trạm thủy văn 53
Bảng 3.2: Bộ thông số mô hình NAM tại các lưu vực của các trạm thủy văn 53
Bảng 3.3: Kết quả chỉ tiêu Nash - Sutcliffe trạm thủy văn Củng Sơn 54
Bảng 3.4: Kết quả hiệu chỉnh trận lũ tháng 10/1993 tại trạm Phú Lâm 56
Bảng 3.5: Thông số nhám thủy lực 57
Bảng 3.6: Kết quả mô phỏng trận lũ tháng 11/1988, 11/2009 tại trạm Phú Lâm 57
Bảng 3.7: Diện tích ngập lụt ứng với mức ngập lớn nhất trong trận lũ 10/1993 59
Bảng 3.8: Biến đổi của nhiệt độ trung bình năm (0C) so với thời kỳ cơ sở 62
Bảng 3.9: Biến đổi của nhiệt độ trung bình mùa đông (0C) so với thời kỳ cơ sở 62
Bảng 3.10: Biến đổi của nhiệt độ trung bình mùa xuân (0C) so với thời kỳ cơ sở 63
Bảng 3.11: Biến đổi của nhiệt độ trung bình mùa hè (0C) so với thời kỳ cơ sở 63
Bảng 3.12: Biến đổi của nhiệt độ trung bình mùa thu (0C) so với thời kỳ cơ sở 64
Bảng 3.13: Biến đổi của lượng mưa năm (%) so với thời kỳ cơ sở 64
Bảng 3.14: Biến đổi của lượng mưa mùa đông (%) so với thời kỳ cơ sở 65
Trang 10Bảng 3.15: Biến đổi của lượng mưa mùa xuân (%) so với thời kỳ cơ sở 65
Bảng 3.16: Biến đổi của lượng mưa mùa hè (%) so với thời kỳ cơ sở 66
Bảng 3.17: Biến đổi của lượng mưa mùa thu (%) so với thời kỳ cơ sở 67
Bảng 3.18: Mực nước biển dâng theo kịch bản cho khu vực nghiên cứu 67
Bảng 3.19: Lưu lượng trung bình tháng các thời kỳ, kịch bản RCP8.5 tại các trạm thủy văn 68
Bảng 3.20: Lưu lượng trung bình tháng các thời kỳ, kịch bản RCP4.5 tại các trạm thủy văn 69
Bảng 3.21: Lưu lượng đỉnh lũ 1%, 5% trung bình ngày và tức thời tại một số trạm thủy văn trên hệ thống sông Ba theo kịch bản RCP8.5 70
Bảng 3.22: Lưu lượng đỉnh lũ 1%, 5% trung bình ngày và tức thời tại một số trạm thủy văn trên hệ thống sông Ba theo kịch bản RCP4.5 71
Bảng 3.23: Mực nước đỉnh lũ tại trạm Phú Lâm các kịch bản 73
Bảng 3.24: Diện tích ngập ứng với mức ngập lớn nhất các kịch bản 76
Bảng 3.25: Tác dụng điều tiết của hồ chứa (diện tích ngập lụt giảm) 76
Bảng 3.26: Thay đổi diện tích ngập ứng với mức ngập lớn nhất 76
Bảng 3.27: Thay đổi diện tích ngập ứng với mức ngập lớn nhất 77
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Bản đồ mạng lưới sông lưu vực sông Ba 10
Hình 1.2: Bản đồ khu vực tỉnh Phú Yên (Tỉ lệ 1:600 000) 11
Hình 1.3: Bản đồ địa hình lưu vực sông Ba 14
Hình 1.4: Bản đồ thổ nhưỡng lưu vực sông Ba 16
Hình 1.5: Bản đồ phân bố lượng mưa 24
Hình1.6: Bản đồ phân lượng mưa 24
Hình 2.1: Cấu trúc mô hình NAM [11] 38
Hình 2.2: Sơ đồ các lưu vực bộ phận trong lưu vực sông Ba 41
Hình 2.3: Sơ đồ sai phân hữu hạn 6 điểm ẩn Abbott 44
Hình 2.4: Sơ đồ sai phân hữu hạn 6 điểm ẩn Abbott trong mặt phằng x~t 44
Hình 2.5: Nhánh sông và các điểm lưới xen kẽ 45
Hình 2.6: Cấu trúc các điểm lưới xung quanh điểm nhập lưu 45
Hình 2.7: Cấu trúc các điểm lưới trong mạng vòng 45
Hình 2.8: Vị trí các đường quá trình lưu lượng gia nhập 48
Hình 2.9: Sơ đồ thủy lực lưu vực sông Ba 50
Hình 2.10: Sơ đồ tính toán thủy lực trong mô hình MIKE11 50
Hình 3.1: Đường duy trì lưu lượng tính toán và thực đo tại các trạm thủy văn trên lưu vực sông Ba 52
Hình 3.2: Đường lũy tích lưu lượng tính toán và thực đo tại các trạm thủy văn trên lưu vực sông Ba 53
Hình 3.3: Dòng chảy thực đo và tính toán trạm Củng Sơn (1980 - 1999) 55
Hình 3.4: Mực nước tính toán và thực đo trận lũ tháng 10/1993 tại Phú Lâm 56
Hình 3.5: Đường quá trình mực nước Phú Lâm năm 1988 58
Hình 3.6: Đường quá trình mực nước Phú Lâm năm 2009 58
Hình 3.7: Bản đồ nguy cơ ngập lớn nhất ứng với trận lũ 10/1993 60
Hình 3.8: Ngập lụt Phú Yên 05-11-2009 (Ảnh radar phân giải 6,25 m) 61
Hình 3.9: Dòng chảy mùa lũ tại một số lưu vực trên hệ thống sông Ba 69
Hình 3.10: Lưu lượng đỉnh lũ 1% và 5% thay đổi theo các kịch bản BĐKH 72
Trang 12Hình 3.11: Mực nước đỉnh lũ tại Phú Lâm thay đổi so với KBN 74
Hình 3.12: Mực nước đỉnh lũ tại Phú Lâm thay đổi so với KBN 75
Hình 3.13: Diện tích ngập thay đổi so với KBN trong trường hợp 77
Hình 3.14: Diện tích ngập thay đổi so với KBN trong trường hợp 77
Trang 13THÔNG TIN LUẬN VĂN
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Đánh giá được dòng chảy mùa lũ, mực nước lũ, đỉnh lũ, mức độ ngập lụt trong bối cảnh biến đổi khí hậu
- Đề xuất các giải pháp thích ứng và giảm thiểu rủi ro
Nghiên cứu đã sử dụng mô hình NAM, MIKE11, để đánh giá được dòng chảy mùa, lũ mực nước lũ, đỉnh lũ và sử dụng công cụ ArcGIS để phân tích mực nước lũ ảnh hưởng đến quá trình ngập lụt vùng hạ lưu Và bên cạnh đó, các phương pháp truyền thống cũng được sử dụng một cách linh hoạt để có được kết quả chính xác và khách quan Cụ thể luận văn đã sử dụng kết hợp phương pháp kế thừa, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, và phương pháp chuyên gia
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Luận văn đã thiết lập mô hình thủy văn, thủy lực để tính toán được dòng chảy mùa lũ cho toàn bộ lưu vực sông Ba Qua đó đánh giá được tác động của biến đổi khí hậu đến quá trình lũ, mực nước lũ và ngập lụt tại vùng hạ lưu sông Ba, đưa ra một cái nhìn tổng thể về tình trạng của lũ, ngập lụt ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội hiện tại và trong tương lai
Trang 14MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tài nguyên nước (TNN) trên phạm vi toàn cầu Các phân tích gần đây của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) cho thấy sự nóng lên toàn cầu đã gây ra các tác động tiêu cực đến TNN, bao gồm:
- Làm thay đổi về thời gian mưa và lượng mưa Những khu vực vĩ độ cao có lượng mưa gia tăng và dòng chảy mặt được sinh ra nhiều hơn Ngược lại, một số lưu vực ở vĩ độ thấp dòng chảy bị giảm và thiếu nước do sự kết hợp của sự gia tăng bốc hơi và giảm lượng mưa
- Những thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa có thể dẫn đến thay đổi lớn tỷ lệ dòng chảy, tăng khả năng và mức động nghiêm trọng của hạn hán và lũ lụt Chất lượng nước có thể bị suy giảm, nơi dòng chảy suy giảm sẽ gia tăng nguy cơ ô nhiễm
từ các nguồn tự nhiên và con người
- Các nghiên cứu đã cho thấy những thay đổi tương đối nhỏ về nhiệt độ và lượng mưa cũng có thể gây tác động lớn đối với dòng chảy Với lượng mưa không đổi, dòng chảy giảm khoảng 3 -12% nếu nhiệt độ tăng 20C, và 7-21% khi nhiệt độ tăng 40C
- Các nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đối với dòng chảy các sông
ở Việt Nam cho thấy với sự tăng nhiệt độ và bốc hơi, dòng chảy tăng vào mùa lũ - gây lũ lụt nghiêm trọng thêm và giảm vào mùa cạn gây hạn hán khốc liệt hơn[1]
- Lưu vực sông Ba là một trong những lưu vực được đánh giá có TNN vào loại không phong phú Dòng chảy trên lưu vực sông Ba không lớn, mô đun dòng chảy năm đạt khoảng 25,72 l/s.km2 Trong đó, lượng dòng chảy lại tập trung chủ yếu vào
3 - 4 tháng mùa lũ và chiếm khoảng 70-75% lượng dòng chảy năm [2] Do vậy, đề
tài luận văn “Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đến lũ và ngập lụt hạ lưu sông Ba” là cơ sở khoa học và thực tiễn ứng phó với lũ lụt trên lưu
vực sông góp phần giảm nhẹ thiên tai và phát triển kinh tế xã hội của lưu vực sông
Ba trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Trang 15II Mục tiêuvà phương pháp nghiên cứu
2 Nội dung nghiên cứu
Tổng quan về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế vùng nghiên cứu, đặc điểm mưa lũ trên lưu vực sông Ba,
Phương pháp, lựa chọn mô hình và thu thập số liệu
- Nghiên cứu một số mô hình toán thủy văn, thủy lực ứng dụng trong tính toán
lũ, ngập lụt
- Lựa chọn công cụ tính toán mô phỏng, đánh giá lũ và ngập lụt
- Thu thập số liệu khí tượng thủy văn
Thiết lập mô hình thủy văn, hiệu chỉnh mô hình và kiểm định mô hình
Thiết lập mô hình thủy lực diễn toán dòng chảy hạ lưu, hiệu chỉnh và kiểm định
Đánh giá được dòng chảy mùa lũ, mực nước lũ, đỉnh lũ, mức độ ngập lụt trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp tài liệu: Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu và số liệu thông tin có liên quan một cách có chọn lọc, từ đó, đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu
- Phương pháp mô hình hóa: Áp dụng mô hình toán thủy văn NAM, MIKE 11, MIKE FLOOD để mô phỏng lũ và tính toán ngập lụt cho lưu vực nghiên cứu
- Phương pháp bản đồ và GIS: Phương pháp bản đồ và GIS được sử dụng trong nghiên cứu này để thể hiện các kết quả nghiên cứu trong quá trình thực hiện (chỉ ra phạm vi, mức độ của các đối tượng bị ảnh hưởng)
Trang 16III Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận văn dự kiến gồm 3 chương:
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ SỐ LIỆU
Chương 3: ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN LŨ, NGẬP LỤT HẠ LƯU SÔNG BA
Trang 17CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về các nghiên cứu lũ và ngập lụt
1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu lũ và ngập lụt trong và ngoài nước
Thiên tai và những tác động của chúng đến kinh tế, xã hội và môi trường ngày càng gia tăng trên toàn thế giới với một tốc độ rất đáng báo động Con người, tài sản, xã hội và môi trường đang bị ảnh hưởng rất nhiều từ các hiểm họa tự nhiên Những sự thay đổi như: hiện tượng nóng lên toàn cầu, tăng dân số, tăng trưởng kinh
tế, đô thị hóa, công nghiệp hóa, phá rừng, mở rộng khu dân cư, di canh, di cư đã làm cho xã hội trở nên dễ bị tổn thương hơn trước từ các hiểm họa tự nhiên
a Các nghiên cứu lũ và ngập lụt nước ngoài
Viện Thủy lực Đan Mạch (DHI) xây dựng mô hình dự báo lũ bao gồm: Mô hình NAM tính toán và dự báo dòng chảy từ mưa; Mô hình Mike 11 tính toán thủy lực, dự báo dòng chảy trong sông và cảnh báo ngập lụt Mô hình này được áp dụng rộng rãi và thành công ở nhiều nước trên thế giới Trong khu vực Châu Á, mô hình
đã được áp dụng để dự báo lũ lưu vực sông Mun-Chi và Songkla ở Thái Lan, lưu vực sông ở Bangladesh và Indonesia Tác giả Wallingford kết hợp với Hacrow đã xây dựng phần mềm ISIS cho tính toán dự báo lũ và ngập lụt Phần mềm bao gồm các môđun: Mô hình đường đơn vị tính toán và dự báo dòng chảy từ mưa; mô hình ISIS tính toán thủy lực, dự báo dòng chảy trong sông và cảnh báo ngập lụt Phần mềm này đã được áp dụng khá rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, đã được áp dụng cho sông Mê Kông trong chương trình Sử dụng Nước do ủy hội Mê Kông Quốc tế chủ trì thực hiện Ở Việt Nam, mô hình ISIS được sử dụng để tính toán trong dự án
phân lũ và phát triển thủy lợi lưu vực sông Đáy do Hà Lan tài trợ [14,15]
Năm 2007, tác giả Edna Matthew Ruji đã sử dụng mô hình 2 chiều SOBEK tính toán ngập cho 1 nhánh sông dài 30 km của Sungai Sarawak huyện Sarawak tỉnh Malaysia Dữ liệu địa hình sử dụng là bản đồ số hóa DEM của LiDar Kết quả tính toán thể hiện được khu vực ngập [18]
Vào năm 2008, P.Vanderkimpen đã tiến hành nghiên cứu mô phỏng lũ bằng ứng dụng mô hình MIKE FLOOD để kịp thời cho công tác di tản dân cư ở khu vực đồng bằng ven biển của Bỉ Bằng mô hình thủy lực MIKE FLOOD, các chuyên gia
đã tìm ra được khả năng ảnh hưởng của lũ, diện ngập có thể xảy ra qua đó ước tính
Trang 18thiệt hại nhằm đưa ra công tác di tản 1 cách kịp thời nhất [20]
Daniel Jilles và Matthew Moore (2010) đã sử dụng mô hình thủy lực MIKE 11
và HEC-RAS để mô phỏng lũ tại Hà Lan, Bỉ and Anh Quốc Nghiên cứu đã ứng dụng các mô hình thủy lực để quản lý dòng chảy, duy trì mạng lưới cảnh báo và tiến hành thành lập hệ thống dự báo lũ cấp quốc gia Nghiên cứu đã đưa ra kết luận cho thấy hệ thống dự báo lũ có thể sử dụng dựa trên các mô hình thủy lực đơn giản, các
mô hình thủy lực 1 chiều (1D-1 Demension) là mô hình được khai thác chi tiết nhất trong công tác dự báo lũ theo thời gian thật [17]
Năm 2011 Kwasi Appeaning Addo & nkk đã sử dụng phương pháp mô hình hóa kết hợp với phần mềm GIS để xây dựng bản đồ ngập lụt theo các kịch bản nước biển dâng cho vực đô thị tại vùng vịnh Guinea của Ghana, từ đó đánh giá khả năng ảnh hưởng của nước biển dâng đến các loại đất khác nhau, trong đó có đất nông nghiệp theo các kịch bản nước biển dâng [19]
Nghiên cứu lũ gây ra do vỡ đập ứng dụng mô hình HEC-RAS và công cụ HECGeoRAS (Cameron T.Ackerman và Gary W.Brunner, 2011) đã cho thấy khả năng kết hợp tuyệt vời của mô hình HEC-RAS và công cụ HEC-GeoRAS để xây dựng 1 mô hình vỡ đập và các ảnh hưởng từ lũ gây ra bởi nó HEC-GeoRAS sẽ truy xuất các dữ liệu địa lý từ hệ thống bản đồ địa hình số và rồi chuyển các dữ liệu đó vào mô hình HEC-RAS HEC-RAS sẽ mô phỏng dòng chảy không ổn định từ quá trình vỡ đập, từ đó kết hợp với công nghệ GIS để thành lập bản đồ mô phỏng ngập lụt để có các công tác chuẩn bị, phòng tránh [16]
b Các nghiên cứu lũ và ngập lụt trong nước
Tại Việt Nam, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng mô hình toán thủy văn để tính toán và dự báo ngập lụt Một số mô hình được sử dụng phổ biến ở các cơ quan khác nhau như Viện Khí tượng Thủy văn, Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia, Viện Khoa học thủy lợi, Viện Cơ học có thể kể đến các mô hình: MIKE 11, SSARR, TANK, NAM, HEC-HMS, HEC-RAS,
Năm 2010, tác giả Hoàng Thái Bình tính toán ngập lụt hệ thống sông Nhật Lệ tỉnh Quảng Bình sử dụng mô hình MIKE FLOOD Các tài liệu lưu lượng đầu vào được mô phỏng từ mưa bằng mô hình NAM Bộ thông số mô hình kết nối 1-2 chiều được hiệu chỉnh và kiểm định bằng tài liệu thực đo mực nước hai trận lũ lớn năm
Trang 191999 và 2000 tại trạm Lệ Thủy nằm giữa khu vực nghiên cứu kết hợp với các tài liệu đo đạc diện ngập lụt của trận lũ lịch sử 1999 Kết quả tính toán bằng mô hình tương đối phù hợp với thực đo chứng tỏ khả năng ứng dụng của mô hình trong công tác xây dựng bản đồ ngập lụt và cảnh báo thiên tai lũ lụt cho khu vực hạ lưu [3] Năm 2012, tác giả Vũ Thị Thu Lan nghiên cứu biến động của thiên tai ngập lụt và hạn hán tỉnh Quảng Nam trong bối cảnh Biến đổi khí hậu bằng cách sử dụng
mô hình Mike 11 - GIS Kết quả tính toán cho thấy việc áp dụng mô hình Mike 11 – GIS là phù hợp với điều kiện tự nhiên, số liệu, tài liệu hiện có Mô hình được áp dụng trong quá trình dự báo, cảnh báo thiên tai nhằm quản lý rủi ro, giảm thiểu thiệt hại do lũ gây ra [4]
Năm 2012 tác giả Trần Ngọc Anh và nnk đã giới thiệu kết quả tính toán mức
độ ngập lụt tỉnh Hưng Yên từ các kết quả mô phỏng bằng mô hình thủy lực kết nối 1-2 chiều MIKE FLOOD Bộ mô hình được hiệu chỉnh và kiểm định với các đợt ngập lụt do mưa gây ra năm 2004 và 2008; sau đó tiến hành mô phỏng ngập lụt với các kịch bản mưa tần suất 1%, 5%, 10% Từ đó đánh giá nguy cơ ngập lụt các khu vực trũng trên địa bàn tỉnh, sản phẩm được thể hiện dưới dạng bản đồ ngập lụt, thuận tiện cho các cơ quan quản lý có kế hoạch phòng chống lũ, ngập úng cũng như
có kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cho từng vùng [5]
Năm 2013, tác giả Nguyễn Hồng Quân đã nghiên cứu tổng quan về một số phương pháp xây dựng bản đồ ngập cho tỉnh Long An trong điều kiện Biến đổi khí hậu và nước biển dâng Phương pháp được tác giả đề cập bao gồm các phương pháp GIS, mô hình 1 chiều ISIS, mô hình 1-2 chiều Mike Flood Phương pháp GIS: Cho kết quả tương đối nhanh, sau khi chuẩn bị cơ sở dữ liệu tốt Tuy nhiên, vẫn còn hạn chế khi áp dụng đối với những vùng có chế độ thủy lực phức tạp, những vùng có nhiều tương tác của con người (đê bao, cống, đập …) Mô hình thủy lực 1 chiều kết hợp GIS: được sử dụng phổ biến Tuy nhiên, vai trò của các khu chứa, đê bao trong vùng ngập lũ vẫn chưa được thể hiện trong mô hình Ngoải ra, khi nghiên cứu chi tiết tác động của các công trình thủy lợi đối với một khu vực cụ thể, phương pháp này cũng có những hạn chế nhất định Mô hình thủy lực 1, 2 chiều cho kết quả tính toán chi tiết Tuy nhiên, đối với các mô hình này đòi hỏi phải chuẩn bị dữ liệu chi tiết, thời gian tính toán lâu Cải thiện tốc độ máy tính khi sử dụng mô hình này bằng
Trang 20các kỹ thuật tính toán bậc cao (high performance computing) hay tính toán song song (parallel computing) để nâng cao hiệu quả mô hình [6]
Năm 2013, tác giả Phạm Văn Song và nnk đã sử dụng mô hình Mike Flood để nghiên cứu ảnh hưởng của việc xả lũ hồ chứa Dầu Tiếng lên hạ du sông Sài Gòn Các tài liệu lưu lượng đầu vào được mô phỏng từ mưa bằng mô hình NAM Bộ thông số mô hình kết nối 1-2 chiều được hiệu chỉnh và kiểm định với các chuỗi số liệu thực đo vào tháng 9, 10 các năm 2000 đến 2007 Ngoài ra mô hình cũng được kiểm định với các số liệu đo tăng cường vào các tháng 6 năm 2009 và tháng 4 năm
2013 Dựa trên các kết quả tính toán thủy lực ứng với các tổ hợp xả lũ hồ Dầu Tiếng với các điều kiện mưa và triều ở hạ du, bài báo sẽ xác định khu vực ảnh hưởng chính của xả lũ, triều hoặc vùng ảnh hưởng triều và lũ kết hợp trên sông Sài Gòn Việc phân vùng ảnh hưởng là cơ sở cho việc xây dựng quy trình vận hành đảm bảo
an toàn hạ du công trình của hồ Dầu Tiếng, cũng như hỗ trợ các cơ quan hữu quan đưa ra các giải pháp chống ngập thích hợp với từng vùng [7]
Nghiên cứu của Huỳnh Thị Lan Hương về “Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi” đã sử dụng mô hình MKIE 11 để tính toán khả năng ngập lụt vùng hạ lưu lưu vực sông Trà Khúc và sông Vệ do tá động của BĐKH Kết quả cho thấy, trong bối cảnh BĐKH, nước biển
có khả năng dâng cao, gây ngập lụt vùng đồng bằng ven biển Theo tính toán, BĐKH sẽ diễn ra ở Quảng Ngãi chủ yếu theo hướng tăng nhiệt độ trong các tháng mùa đông và thay đổi quy luật phân bố của nhiệt độ và mưa; các tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp của thể hiện chủ yếu qua sự suy giảm năng suất cây lúa và diện tích đất nông nghiệp có nguy cơ bị ngập do BĐKH và NBD lớn nhất theo kịch bản A2 giai đoạn 2080 - 2099 chiếm 6,21% tổng diện tích toàn tỉnh và 23,5% tổng diện tích đất nông nghiệp [8]
TS.Trần Duy Kiều và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trong đề tài:
“Nghiên cứu nhận dạng lũ lớn, phân vùng nguy cơ lũ lớn và xây dựng bản đồ ngập lụt phục vụ cảnh báo lũ lớn lưu vực sông Lam” Kết quả cho thấy, nhóm tác giả đã
áp dụng thành công một số phương pháp, mô hình nhận dạng lũ như HEC, SSARR, SCS cho lưu vực sông Lam một cách toàn diện cả về hình thế thời tiết gây mưa lũ lớn và lũ thượng nguồn với một số tiêu chí chủ yếu Kết quả nghiên cứu giữ một vai
Trang 21trò hết sức qua trọng trong việc nhận dạng lũ, phân vùng nguy cơ lũ lớn, góp phần vào công tác kiểm soát, cảnh báo lũ cũng như công tác phòng chống, giảm nhẹ thiên tai Đồng thời ứng dụng tốt các mô hình tính toán thủy văn, thủy lực phục vụ công tác hỗ trợ ra quyết định tính toán truyền lũ, đánh giá vai trò của các công trình nghiên cứu kết nối giữa quản lý lưu vực sông với kiểm soát lũ lớn [9]
Nói chung, các nghiên cứu về ứng dụng mô hình toán thủy văn để tính toán và
dự báo ngập lụt ở Việt Nam cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần quan trọng trong việc cảnh báo thiên tai lũ lụt, phòng chống giảm nhẹ thiên tai Hầu hết các nghiên cứu đều hướng đến việc sử dụng các mô hình toán để áp dụng trong quá trình dự báo, cảnh báo thiên tai nhằm quản lý rủi ro, giảm thiểu thiệt hại do lũ gây ra, ứng dụng trong quản lý lưu vực sông với kiểm soát lũ lớn
1.1.2 Tổng quan về lũ và ngập lụt hạ lưu sông Ba
Đối với vùng hạ lưu sông Ba hàng năm vào mùa mưa bão từ trung tuần tháng
9 đến trung tuần tháng 1 vùng này luôn bị mưa bão lũ lụt đe doạ nghiêm trọng và ngày càng diễn biến phức tạp gây nhiều thiệt hại lớn về tài sản và tính mạng người dân trong vùng Chỉ một thời gian ngắn liên tục trong 9 năm liền (1981, 1986, 1988,
1992, 1993, 1996, 1999, 2005, 2009) vùng này xẩy ra ngập lụt rất lớn, khu vực nội thị Tuy Hoà ngập khoảng 300ha, độ sâu ngập (0,5 - 2)m, hầu hết các đường nội thị ngập từ (1 - 2) ngày nước mới rút hết Năm 2009 mức thiệt hại lên đến 3000 tỷ đồng [10] Đặc biệt lũ đặc biệt lớn tháng 10/1993 xảy ra do 3 đợt bão liên tiếp đổ bộ vào Phú Yên gây mưa lớn trên diện rộng đã làm lũ sông Ba lên rất nhanh gây ngập hầu hết toàn bộ vùng hạ lưu sông Ba Nước lũ đã tràn qua kênh Bắc, Nam Đồng Cam gây ngập toàn bộ vùng lúa của huyện Tuy Hoà thuộc địa phận các xã Hoà Phong, Hoà Thịnh, Hoà Mỹ Đông, Hoà Đồng, Hoà Tân Tây… Trận lũ này cũng đã gây ngập rất sâu cho toàn bộ vùng hạ lưu sông Bàn Thạch
1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên [11]
a Vị trí địa lý
Lưu vực sông Ba nằm ở miền Trung Trung Bộ Việt Nam có hình dạng chữ L Phạm vi lưu vực ở: 12035’ đến 14038’ vĩ độ Bắc và 108000’ đến 109055’ kinh độ Đông
Trang 22Phía Bắc giáp lưu vực sông Trà Khúc; Phía Nam giáp lưu vực sông Cái và sông Sêrêpôk; Phía Tây giáp lưu vực sông Sêsan và sông Sêrêpôk; Phía Đông giáp lưu vực sông Kône, sông Kỳ Lộ và biển Đông
Diện tích tự nhiên toàn lưu vực là 14.132 km2 nằm trên địa phận hành chính của 15 huyện, thị thuộc 3 tỉnh Gia Lai, Đak Lăk và Phú Yên bao gồm hầu hết diện tích đất đai các huyện K‘bang, An Khê, KonchRô, Mưang Yang, A Yunpa, K.Rông
Pa, K.Rông H Năng, Mưa Rak, Sơn Hoà, sông Hinh, Tuy Hoà và thị xã Tuy Hoà và một phần diện tích các huyện Chư Sê, Ea H Leo, Krông Buk, Eaka Tổng diện tích nông nghiệp 352.811 ha
Phú Yên là một tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Bình Định, phía Nam giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc, phía Đông giáp Biển Đông Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.045 km2 giới hạn bởi tọa độ
12039’10’’ đến 13045’20’’ độ vĩ bắc, 108039’45’’ đến 109029’20’’ độ kinh Đông
Có đường Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam chạy qua, có sân bay Đông Tác, cảng biển Vũng Rô Đặc biệt phía Tây giáp ranh với vùng Tây Nguyên rộng lớn, được nối liền bằng quốc lộ 25, tỉnh lộ 645 và hưởng chung nguồn nước sông Ba Phía Đông giáp Biển Đông với nhiều loài hải sản phong phú, trữ lượng lớn, có thể đánh bắt quanh năm Bờ biển Phú Yên dài 198 km chạy từ Cù Mông đến Vũng Rô, một bên là núi một bên là biển với nhiều bãi tắm đẹp, cấu trúc khá đặc biệt xen kẽ rất nhiều đầm, vịnh, vũng, mũi điển hình như đầm Cù Mông, đầm Ô Loan, Vũng Rô và vịnh Xuân Đài đều là vị trí thuận lợi để phát triển du lịch và nuôi trồng hải sản
Trang 23Hình 1.1: Bản đồ mạng lưới sông lưu vực sông Ba
Trang 24Hình 1.2: Bản đồ khu vực tỉnh Phú Yên (Tỉ lệ 1:600 000)
b Đặc điểm địa hình
Địa hình lưu vực sông Ba biến đổi khá phức tạp, bị chia cắt mạnh mẽ bởi sự chi phối của dãy Trường Sơn Đường phân thuỷ của lưu vực có độ cao từ (500 -2000)m bao bọc 3 phía: Bắc, Đông, Nam và chỉ được mở rộng về phía Tây với cao nguyên rộng lớn Pleiku, Mưang Yang, Chư Sê Đồng thời mở ra biển qua vùng đồng bằng Tuy Hoà rộng trên 20.000 ha Đường chia nước phía Đông Bắc lưu vực thuộc giải Trường Sơn có cao độ từ (600 - 1.300)m (cá biệt có đỉnh Chư Trung Ari cao 1331 m) dải núi này chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam cho đến đèo An
Trang 25Khê sau đó chuyển hướng và kết thúc ở thượng nguồn sông Cà Lúi, sông Con ở độ cao (600 - 700)m Phía Nam là dãy núi Phượng Hoàng chạy sát ra biển theo hướng Đông Bắc đến Tây Nam và kết thúc tại đèo Cả có cao độ biến đổi (600 - 2000)m Điển hình có đỉnh Chưhơmu cao 2051 m Hai dãy núi phía Đông và phía Nam của lưu vực tạo thành bức tường chắn gió, cản trở việc hoạt động của hướng gió Đông
và Đông Nam Phía Tây Bắc có các đỉnh núi cao hơn ở phía Đông, nhưng bị chia cắt nhiều, không liên tục Độ cao các đỉnh núi biến động từ (700 - 1.700)m và chạy theo hướng Bắc Nam Các đỉnh như Ngọc Rô cao 1549 m, Kon Ka Kinh cao 1761
m, Chư Rơ Pan cao 1571 m Đến Cheo Reo, độ cao các đỉnh núi thấp dần (300 - 400)m Sau đó lại được nâng lên từ (700 - 1.200)m và chuyển hướng Tây Bắc - Đông Nam cho đến thượng nguồn sông KRông H Năng: Chư Tun cao 1215 m Do các dãy núi phía Tây bị chia cắt mạnh và không liên tục đã hình thành trên lưu vực các thung lũng An Khê, Cheo Reo, Phú Túc và vùng đồng bằng hạ lưu
Dưới tác động của các yếu tố địa hình phức tạp có thể chia lưu vực thành 5 vùng địa hình sau:
- Vùng núi cao: chiếm 60% diện tích lưu vực Độ cao bình quân trong vùng này (600 - 800)m, độ dốc địa hình từ thoải đến rất dốc
- Vùng thung lũng: kéo dài từ An Khê đến Phú Túc Cao độ phổ biến ở thung lũng An Khê (400 - 500)m, thung lũng Cheo Reo (150 - 200)m và Phú Túc (100 -150)m Địa hình bằng phẳng, tập trung thành những cánh đồng lớn dọc theo hai bờ sông
- Vùng cao nguyên: có cao độ phổ biến từ (300 - 500)m
- Vùng gò đồi: chủ yếu là vùng An Khê, Sơn Hoà, hạ lưu sông Hinh và lưu vực sông Krông H Năng
- Vùng đồng bằng: tập trung ở hạ lưu sông Ba, cao độ (5 - 7)m
Phú Yên phía Đông giáp Biển Đông, ba mặt còn lại đều giáp núi, có dãy Cù Mông ở phía Bắc, dãy Vọng Phu - Đèo Cả ở phía Nam, phía Tây là rìa đông của dãy Trường Sơn Ở giữa sườn Đông của dãy Trường Sơn cũng có một dãy núi thấp hơn đâm ngang ra biển tạo nên cao nguyên Vân Hòa là ranh giới phân chia hai đồng bằng trù phú, màu mỡ do sông Ba, sông Kỳ Lộ bồi đắp Toàn tỉnh ngoại trừ vài đỉnh núi cao trên 1.000 m như Hòn Dù, Hòn Ông, Hòn Chùa phía Nam huyện Tuy Hòa,
Trang 26Chư Ninh, Chư Đan, Chư Hle nằm phía Đông Nam, Tây Nam huyện Sông Hinh, Núi La Hiên, Chư Treng, Hòn Rung Gia, Hòn Suối Hàm ở giáp ranh huyện Sơn Hòa và Đồng Xuân Còn lại núi, đồi ở Phú Yên chỉ cao phổ biến ở mức 300 đến 600
m phân bố rải rác các nơi Chính vì thế, Phú Yên là tỉnh có nhiều đèo dốc và có tất
cả các loại địa hình như đồng bằng, đồi, núi, cao nguyên, thung lũng xen kẽ nhau, thấp dần từ tây sang đông Tuy nhiên, yếu tố địa hình chi phối đến điều kiện khí hậu thủy văn chủ yếu là hai dãy núi Cù Mông, Đèo Cả, cao nguyên Vân Hòa, thung lũng sông Ba, sông Kỳ Lộ
Trang 27Hình 1.3: Bản đồ địa hình lưu vực sông Ba
c Đặc điểm địa chất thổ nhưỡng
Địa tầng: tham gia vào cấu trúc lãnh thổ tỉnh Phú Yên có mặt khá đa dạng các thành tạo trầm tích, trầm tích biến chất và phun trào có tuổi từ Proterozoi đến Kanozoi, theo thứ tự từ già đến trẻ gồm các phân vị địa tầng sau: giới Proterozoi, Paleozoi, Merozoi, Kainozoi
Trang 28Mác ma xâm nhập: trong phạm vi tỉnh Phú Yên phát triển khá phong phú và
đa dạng cả về không gian lẫn thời gian, chiếm trên 50% diện tích tự nhiên và có các phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn, Vân Canh, Tây Ninh, Định Quán, Đèo Cả, Cà Ná -Pha 1, Phan Rang, Cù Mông
Đặc điểm cấu trúc kiến tạo: hệ thống đứt gãy theo phương Đông Bắc - Tây Nam, điển hình là đứt gãy Vĩnh Long - Trung Hòa Hệ thống đứt gãy theo phương Tây Bắc - Đông Nam gồm nhiều đứt gãy quy mô nhỏ - vừa, điển hình là đứt gãy sông Ba, sông Kỳ Lộ Hệ thống đứt gãy theo phương á kinh tuyến là đứt gãy quy
mô nhỏ - vừa, phát triển chủ yếu ở phía Bắc
Đất đai Phú Yên được hình thành trên mẫu đất phù sa và ba loại đá chính là: Granit, Ba Zan, trầm tích gồm 8 nhóm phổ biến
Đất cát ven biển: chiếm 2,6% diện tích tự nhiên, phân bố dọc theo bờ biển từ sông Cầu đến Hòa Hiệp và dọc sông Đà Rằng, Kỳ Lộ Thành phần cơ giới chủ yếu
là cát, khả năng giữ nước và dinh dưỡng kém
Đất mặn phèn: chiếm 1,4% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở Hòa Tâm, Hòa Hiệp, Hòa Xuân và dọc ven biển từ Sông Cầu đến cửa sông Đà Rằng
Đất phù sa: chiếm 9,8% diên tích tự nhiên, tập chung chủ yếu ở huyện Phú Hòa, huyện Tuy Hòa và thị xã Tuy Hòa, rải rác ở Tuy An, Đồng Xuân, sông Cầu Đất xám: chiếm 6,9% diện tích tự nhiên được phân bố từ địa hình trung gian nơi tiếp giáp vùng núi và vùng thấp có địa hình chia cắt trung bình, tương đối bằng tập trung ở Sơn Hòa, Đồng Xuân, Sông Hinh và phía tây huyện Phú Hòa
Đất đen: chiếm 3,5% diện tích, phân bố ở phía nam huyện Tuy An, xã Bình Kiến, huyện Sông Hinh và một phần huyện Sơn Hòa
Đất đỏ vàng: chiếm 65% diện tích tự nhiên phân bố đều khắp ở vùng đồi núi Đất mùn vàng đỏ chiếm 2,2% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu trên núi cao từ 900
- 1000 m Đất dốc tụ chiếm 0,3% diện tích tự nhiên, phân bố rải rác ở địa hình thấp
Trang 29Hình 1.4: Bản đồ thổ nhưỡng lưu vực sông Ba
d Lớp phủ thực vật
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên năm 2002 có 363.948,2 ha đất lâm nghiệp chiếm 72% đất tự nhiên, độ che phủ rừng là 32% Trong đó rừng tự nhiên 144.664,6 ha, rừng trồng 18.324,3 ha, đất đồi trọc là 200.959 ha, còn lại là đất nông nghiệp canh tác theo thời vụ Thực vật gồm hai loại chính, thực vật tự nhiên
và thực vật trồng
Trang 30Thực vật tự nhiên được phân bố trên các kiểu rừng với mật độ và số lượng loài khác nhau gồm có:
Kiểu rừng nhiệt đới núi thấp có diện tích lớn nhất tỉnh, phân bố ở độ cao dưới
1000 m, nằm trong phạm vi vùng núi huyện Tuy Hòa, Sông Hinh, Sơn Hòa, Đồng Xuân Đặc điểm kiểu rừng này là rừng xanh quanh năm, ít thay lá tại vùng có địa hình khá cao, rừng thưa rụng lá và nửa rụng lá phân bố ở vùng thấp hơn
Kiểu rừng truông gai, cây bụi: đây là kiểu rừng tương đối đặc biệt, hình thành
do các yếu tố tổng hợp của khí hậu, đất đai, địa hình, hệ thực vật có tác động mạnh của nhân tố con người Đặc điểm kiểu rừng này là phần lớn cây cối gồm các loại cây chịu hạn, có gai, lá nhỏ, thường sống ở vùng có đất đai rất xấu, khô cứng, tầng mỏng, xói mòn mặt, thiếu nước nên mùa hè có hiện tượng héo lá khi trời nắng hạn Loại rừng này phân bố nhiều ở ven biển huyện Sông Cầu, Tuy An, thị xã Tuy Hòa Kiểu thực vật trên cát có diện tích khoảng 10.000 ha, chủ yếu là cỏ, vùng kín gió có một số cây gỗ như Cóc, Mù U Đặc biệt là Chai Lá Cong phân bố ở các huyện thị ven biển, nhiều nhất ở huyện Sông Cầu và Tuy Hòa Hiện nay một số lớn diện tích đã đưa vào canh tác, trồng rừng, xây dựng khu công nghiệp hoặc quy hoạch khu công nghiệp
Thực vật trồng: ngoài thực vật tự nhiên, thực vật trồng cũng rất phong phú, phân bố chủ yếu ở vùng có độ cao dưới 100 m gồm có các nhóm chính là cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, dược liệu theo thời vụ Cây lấy gỗ trồng theo chương trình, dự án, cây cảnh và cây phân tán ở hộ gia đình
1.2.2 Chế độ khí hậu
a Chế độ gió [11]
Gió cũng là một trong những nhân tố khí hậu quan trọng, nó phản ánh các điều kiện hoàn lưu khí quyển và tác động đến nhiều mặt trong tự nhiên Chế độ gió được nhiều ngành như: hàng không, hàng hải, xây dựng, nông nghiệp, năng lượng… quan tâm
+ Hướng gió
Chế độ gió ở Phú Yên thể hiện hai mùa rõ rệt Mùa đông thịnh hành một trong
ba hướng gió chính là: Bắc, Đông Bắc và Đông Mùa hạ là thời kỳ thịnh hành một trong hai hướng gió chính là Tây và Tây Nam Nhưng tùy thuộc vào địa hình mỗi
Trang 31nơi, hướng gió thịnh hành ngay trong cùng một vùng, một mùa cũng có thể khác nhau
Ngoài ra, trong hai mùa gió mùa, khi các trung tâm gió mùa hoạt động yếu thì tín phong hoặc gió địa hình chiếm ưu thế với hướng có thành phần Đông khá thịnh hành
+ Tốc độ gió
Ở Phú Yên tốc độ gió trung bình năm khá nhỏ từ 1,5 - 2,5 m/s, hàng tháng trung bình dao động từ 0,9 - 3,1 m/s (Bảng 1.1) Tháng có tốc độ gió trung bình lớn nhất vào tháng V, VI đạt 2,8 - 3,1 m/s, tháng nhỏ nhất vào tháng XII hoặc tháng 1 đạt 0,9 - 1,6 m/s Vùng ven biển, tốc độ gió trung bình vào thời kỳ gió mùa mùa đông lớn hơn so với thời kỳ gió mùa mùa hạ và lớn nhất vào tháng XI, tháng XII Ngược lại, các thung lũng thuộc vùng núi có tốc độ gió trung bình tháng vào thời kỳ gió mùa mùa hạ lớn hơn vào thời kỳ gió mùa mùa đông và lớn nhất vào tháng VII, VIII Trên cao nguyên thoáng gió, tốc độ gió trung bình lớn hơn đối với vùng thấp
và thung lũng kín gió Nếu ở cùng một độ cao, tốc độ gió ở vùng ven biển có xu hướng lớn hơn những vùng nằm sâu trong đất liền
Bảng 1.1: Tốc độ gió trung bình tháng và năm (Đơn vị: m/s)
Tháng
Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Tuy Hòa 2,2 2,0 1,9 1,8 1,7 2,5 2,4 2,5 1,6 1,8 3,0 3,1 2,2 Sơn Hòa 1,1 1,4 1,5 1,4 1,6 2,4 2,8 2,8 1,4 0,9 1,1 1,1 1,6 Miền Tây 2,0 2,0 2,6 2,7 3,0 3,0 2,5 2,2 2,4 2,2 1,8 1,8 2,3
Nguồn: Đài KTTV Khu vực NTB
b Bão và áp thấp nhiệt đới [11]
Ở Phú Yên, không phải bão đổ bộ trực tiếp vào tỉnh mới gây những hiện tượng thời tiết cực đoan, mà nhiều cơn bão đổ bộ vào những tỉnh lân cận cũng gây thời tiết nguy hiểm không kém Ví như cơn bão ngày 3/XI/1978 đổ bộ vào Khánh Hòa, tốc
độ gió đo được ở Tuy Hòa 20 m/s, Sơn Hòa 10m/s và Miền Tây 28 m/s Hay bão số
7 ngày 24/IX/1977 đổ bộ vào Bình Định; áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Ninh Thuận
Trang 322/XII/1986 cũng gây ra mưa lớn trong toàn tỉnh, mưa phổ biến 400 – 700 mm, mưa ngày lớn nhất từ 200 – 400 mm
Từ năm 1956 cho đến năm 2002, trung bình mỗi năm các tỉnh Nam Trung Bộ
có hơn 01 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào khu vực Nếu tính tất cả các cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Khánh Hòa và Bình Định đều ảnh hưởng trực tiếp đến PhúYên thì trung bình hàng năm Phú Yên ảnh hưởng trực tiếp 01 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới, trong đó đổ bộ vào địa bàn tỉnh gần 0,4 cơn bão Theo chuỗi số liệu từ 1976 - 2002 trung bình hàng năm Phú Yên có 0,54 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào khu vực tỉnh
Bão, áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Phú Yên nhiều nhất là các năm 1980, 1983,
1990, 2001 nhưng cũng đều không quá 02 cơn và cũng có năm không có cơn bão hay áp thấp nhiệt đới nào đổ bộ như các năm 1982, 1985, 1986, 1989, 1991, 1994,
1997, 1999, 2000 Nếu xét trong phạm vi ảnh hưởng của bão thì năm 1998 là nhiều nhất, có tới 4 cơn Thời tiết do bão và áp thấp nhiệt đới gây ra trong thời đoạn ngắn, nhưng nhiều khi lại làm biến đổi cả các đặc trưng khí hậu trước đó, nhất là yếu tố mưa và gió mạnh
c Chế độ nhiệt [11]
Ở Phú Yên, những vùng có độ cao dưới 100 m nhiệt độ trung bình năm thường dao động trong khoảng 26 - 270C, ở độ cao từ 100 – 300 m nhiệt độ năm thường dao động từ 24 - 250C Càng lên cao nhiệt độ không khí càng giảm Ở độ cao trên 400 m, nhiệt độ trung bình năm giảm xuống còn 23 - 240C, trên 1000 m nhiệt độ trung bình năm giảm xuống dưới 210C
Tổng nhiệt độ năm giữa các vùng đều chênh lệch tương tự như nhiệt độ trung bình năm Vùng đồng bằng ven biển, ở độ cao dưới 100 m tổng nhiệt độ năm đạt
95000C - 98000C, vùng núi ở độ cao dưới 400 m giảm còn trên dưới 85000C -
95000C, ở độ cao 1000 m chỉ còn trên dưới 75000C
Hàng năm, nhiệt độ thấp nhất thường xảy ra vào tháng I (21 - 230C), sau đó tăng dần và thường đạt cực đại vào tháng VI (26 - 290C) rồi lại giảm dần đến tháng
I năm sau Tuy nhiên, đây là tình hình chung của nhiều năm Từng năm cụ thể tháng lạnh nhất trong mùa đông có thể là tháng XII hoặc tháng I Tháng nóng nhất có thể
là tháng VI, tháng VII hoặc tháng VIII Ta có thể nhận thấy rằng, biến trình năm
Trang 33nhiệt độ ở Phú Yên khá thống nhất với biến trình năm ở các nơi khác thuộc duyên hải Trung Bộ và có dạng nhiệt đới, đạt cực đại vào tháng VII và cực tiểu vào tháng I nhưng còn mang dáng dấp biến trình năm dạng xích đạo, tức là cực đại hơi lệch về đầu mùa hè
Nguồn: Đài KTTV Khu vực NTB
Nhiệt độ tối cao hàng ngày thường xảy ra vào lúc sau trưa (13 - 14 giờ) Ở Phú Yên nơi có độ cao dưới 300m nhiệt độ tối cao trung bình năm đạt từ 29 - 320C, nhiệt độ tối cao trung bình các tháng dao động từ 25 - 350C Cao nhất xảy ra trong tháng VII ở ven biển, tháng V ở vùng núi đạt 33 - 360C, thấp nhất xảy ra vào tháng XII hoặc tháng I đạt 25 - 270C (Bảng 1.2)
Trang 34trong khoảng 100 - 200 giờ, trung bình mỗi ngày 5 - 6 giờ Tháng ít nắng nhất là tháng XII, trung bình hàng tháng từ 100 - 112 giờ nắng Như vậy, số giờ nắng của tháng ít nắng nhất chỉ xấp xỉ bằng một nửa số giờ nắng của tháng cực đại Sự chênh lệch số giờ nắng này cũng phản ánh rõ nét sự tương phản giữa hai mùa: mùa khô và
mùa mưa ẩm
e Bốc hơi [11]
Tổng lượng bốc hơi năm ở Phú Yên tương đối ổn định Năm nhiều nhất và năm ít nhất không quá 30% so với tổng lượng bốc hơi trung bình Hàng năm tổng lượng bốc hơi đạt từ 1100 - 1400 mm, phân bố không đều trong các tháng Từ tháng
X năm trước đến tháng III năm sau, tổng lượng bốc hơi hàng tháng trung bình từ 50 đến dưới 100 mm, riêng thung lũng Sơn Hòa tháng II dến tháng III hàng tháng trung bình 120 - 130 mm, trong đó thấp nhất là tháng X và XI chỉ đạt từ 50 - 80 mm tháng
Từ tháng IV đến tháng IX, trung bình hàng tháng đạt 100 - 200 mm, trong đó cao nhất là tháng VII, tháng VIII từ 150 - 200 mm Càng lên cao bốc hơi khả năng
có xu hướng giảm Điển hình, tại Sông Hinh ở độ cao 200 m, qua số liệu khảo sát tổng lượng bốc hơi năm chỉ còn 1100 mm, tháng bốc hơi nhiều nhất cũng không vượt quá 160 mm và tháng thấp nhất chỉ đạt 31 mm Tuy nhiên đây là vùng mưa lớn nhất tỉnh, do đó ở cùng độ cao với các khu vực khác, nhưng nhìn chung ở đây có tổng lượng bốc hơi khả năng năm lớn hơn 1100 mm Biên độ bốc hơi năm dao động
40 – 60 mm, bốc hơi ngày lớn nhất 11 - 12 mm, nhỏ nhất 0,4 - 0,5 mm, trung bình 2,5 - 4,0 mm
f Chế độ mưa [11]
Lượng mưa trung bình nhiều năm trong khoảng 1200 - 2600 mm, trung bình
1700 mm Trung tâm mưa lớn là vùng núi cao đón gió Chư Mu, Đèo Cả, trên 2000
mm Vùng mưa thấp nhất là thung lũng sông Ba: Krông Ba 1200 mm, và tâm thấp thứ hai là vùng thung lũng sông Kỳ Lộ: Xuân Phước 1330 mm Nhìn chung lượng mưa tăng dần từ các thung lũng sông đồng bằng ven biển đến vùng núi cao và núi cao đón gió
Trang 35Bảng 1.3: Một số năm đặc trưng mưa (Đơn vị: mm)
Trạm Mưa trung
bình năm
Năm mưa lớn nhất
Năm xuất Hiện
Năm mưa Nhỏ nhất
Năm xuất Hiện
Nguồn: Đài KTTV Khu vực NTB
Phân phối không gian của lượng mưa ở Phú Yên rất không đồng đều Lượng mưa năm trung bình đo đạc được ở nơi nhiều mưa nhất và ít mưa nhất chênh lệch nhau 579 mm Dãy núi Vọng Phu đèo Cả và khu vực cách chân của dãy núi này trên dưới 10 km về phía Bắc là vùng mưa lớn nhất tỉnh, với tổng lượng mưa năm trung bình từ 2200 - 2600 mm Vùng mưa lớn thứ hai là đồi núi thuộc trung lưu sông Kỳ
Lộ có lượng mưa năm từ 1900 - 2200 mm, tiếp đến là vùng đồng bằng ven biển phía nam từ 1800 - 2100 mm Những vùng còn lại như vùng ven biển phía Bắc, thung lũng sông Kỳ Lộ và sông Ba lượng mưa năm trung bình đạt 1600 - 1800 m trong đó tâm mưa thấp nhất là khu vực Chí Thạnh với lượng mưa năm trên dưới
1600 mm (Bảng1 3)
Phân bố lượng mưa theo mùa
Bốn tháng mùa mưa, lượng mưa trung bình nhiều năm khoảng 1200 - 1900
mm, chiếm từ 69 - 84% tổng lượng mưa năm Mùa mưa với đặc trưng nắng ít, mưa nhiều, trời dịu mát Đối lập là mùa khô kéo dài suốt tám tháng còn lại, trời nắng nóng, lại thiếu những nhiễu động mạnh như bão, dải hội tụ nội chí tuyến do đó, ít
có khả năng tạo cho hơi ẩm có thể ngưng tụ Cho nên mùa khô là thời kỳ thời tiết trong sáng, nhiệt độ cao, nguồn ẩm nghèo nàn, bốc hơi mạnh và chỉ được bổ sung phần nào bằng lượng mưa ít ỏi, thất thường Mùa khô mặc dù ổn định hơn mùa mưa nhưng không giữ nguyên sắc thái mà có năm dài, năm ngắn, năm khô nhiều, năm
Trang 36khô ít; phụ thuộc vào dao động mùa mưa hàng năm cũng như vào tính chất của gió mùa Tổng lượng mưa mùa khô khoảng 300 - 700 mm, chiếm 16 - 31% lượng mưa năm, trong đó ở vùng núi thường chiếm 24 - 31%, ven biển thường chiếm 16 - 22% lượng mưa năm (Bảng 1.4)
Bảng 1.4: Lượng mưa trung bình nhiều năm các tháng (Đơn vị: mm)
Tháng
Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Phú Lạc 48 21 43 33 80 48 36 49 245 637 517 258 Hòa Đồng 72 28 56 45 109 80 58 63 246 679 614 324 Sơn Thành 46 17 54 52 124 100 77 76 235 621 563 272 Sông Hinh 58 21 68 65 155 125 97 95 237 626 567 274 Miền Tây 22 10 34 36 125 106 80 107 213 447 409 155 Sơn Hòa 23 10 36 38 132 112 84 113 209 469 402 152 Củng Sơn 21 9 38 35 89 113 75 106 180 487 399 154
Hà Bằng 31 12 26 35 112 75 63 77 225 517 462 159 Xuân Lãnh 43 17 36 48 155 104 87 107 239 550 491 169
Cù Mông 59 26 34 31 96 74 44 81 269 594 607 315 Sông Cầu 26 11 13 30 83 81 34 66 244 534 487 193 Chí Thạnh 20 8 10 23 62 61 26 50 226 495 452 179 Tuy Hòa 47 18 35 30 94 60 42 56 288 656 549 215 Phú Lâm 40 19 32 30 89 56 39 51 267 612 498 200
Nguồn: Đài KTTV Khu vực NTB
Trang 37Hình 1.5: Bản đồ phân bố lượng mưa Hình1.6: Bản đồ phân lượng mưa
mùa mưa (tỉ lệ 1: 100 000) mùa khô (tỉ lệ 1: 100 000)
Trị số trung bình năm có xu hướng giảm theo độ cao, vùng ven biển khoảng
27 - 28 mb, vùng đồng bằng dưới 27 mb, vùng núi thấp dưới 25 mb và ở độ cao khoảng 700 - 800 m điểm tuyệt đối trung bình năm khoảng 21 mb
Thời kỳ từ tháng IV đến tháng IX chủ yếu tập trung vào các tháng mùa nóng
và ít mưa, độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng ở vùng thấp khoảng 28 - 30 mb và ở vùng núi khoảng 25 - 27 mb Từ tháng X đến tháng III năm sau hầu như trùng với các tháng mùa mưa nhiệt độ hạ xuống, độ ẩm tuyệt đối xuống thấp dần, vùng đồng bằng ven biển khoảng 23 - 27 mb, vùng núi 20 - 25 mb và càng lên cao càng giảm
Bảng 1.5: Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng và năm (mb)
Tháng
Tuy Hòa 23,5 24,6 26,5 29,2 30,3 29,6 29,2 29,0 295 28,9 27,0 24,0 27,6 Sơn Hòa 22,7 23 25,2 27,8 29,5 29,0 28,3 28,5 29,0 28,7 26,4 23,4 28,8 Miền Tây 20,6 20,6 23,4 25,2 26,9 27,0 26,4 27,2 26,8 25,2 22,8 21,3 24,5
Trang 38 Độ ẩm tương đối
Độ ẩm tương đối trung bình năm ở Phú Yên khoảng 80 - 85% Phân bố không gian của yếu tố này thể hiện quy luật tăng theo độ cao địa hình, vùng đồng bằng và ven biển độ ẩm tương đối trung bình năm là 80 - 82%, vùng núi thấp 83 - 85%, trên cao nguyên đến 1000 m đạt 85 - 90%
Cùng với thời kỳ kết thúc mưa là thời kỳ độ ẩm giảm liên tục, đến tháng IV độ
ẩm giảm mạnh hơn do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam cho đến tháng VII đạt giá trị thấp nhất khoảng dưới 75% ở vùng thấp và dưới 80% ở vùng cao Từ tháng VIII đến tháng IX giai doạn kết thúc của mùa khô, bắt đầu chuyển qua mùa mưa độ ẩm tương đối tăng vọt với biên độ 5 - 10% trong khi các tháng khác có biên độ 2 - 3% Biên độ năm của độ ẩm tương đối trung bình ở Phú Yên khoảng 8 - 10%
Bảng 1.6: Độ ẩm tương đối trung bình tháng và năm (Đơn vị: %)
Tháng
Trạm I II III IV V VI VII VII IX X XI XII Năm
Tuy Hòa 84 85 83 82 78 75 74 75 81 85 85 83 81 Sơn Hòa 86 83 80 78 77 76 75 76 93 95 89 88 82 Miền Tây 84 84 82 79 79 81 80 81 87 88 88 87 84
1.2.3 Đặc điểm thủy văn [11]
Trong và lân cận lưu vực sông Ba có 15 trạm đo đạc thuỷ văn, trong đó có 13 trạm đo cả yếu tố lưu lượng và mực nước và có 2 trạm chỉ đo yếu tố mực nước Vùng hạ lưu sông Ba có trạm Củng Sơn và Sông Hinh đo yếu tố Q, H, với thời gian quan trắc từ năm 1976 tới nay và trạm Phú Lâm chỉ đo yếu tố H với thời gian quan trắc từ năm 1977 tới nay
Lưu vực sông Ba có thời gian mùa lũ kéo dài 4 tháng từ tháng 9 tới tháng 12, nhưng do đặc điểm mưa nên lưu vực có 4 thời kỳ lũ khác nhau:
- Thời kỳ lũ tiểu mãn: thường xảy ra vào tháng 5, 6;
- Thời kỳ lũ sớm: thường xảy ra vào tháng 8, 9;
- Thời kỳ lũ chính vụ: thường xảy ra vào tháng 10, 11;
- Thời kỳ lũ muộn: thường xảy ra vào tháng 12, 1;
Qua thống kê thủy văn cho thấy thời gian xuất hiện đỉnh lũ tại các trạm thủy
Trang 39văn hầu hết vào tháng 10 và tháng 11 hàng năm
Đặc điểm dòng chảy lũ
Vùng hạ lưu lưu vực sông Ba luôn đối mặt với bão lũ và mức độ lũ ở đây rất lớn Trong vòng 60 năm trên lưu vực sông Ba xảy ra 3 trận lũ đặc biệt lớn, đó là lũ năm 1943 (Qmax = 24000 m3/s), lũ năm 1964 (Qmax = 21800 m3/s) và lũ năm 1993 (Qmax = 20700 m3/s) Đường quá trình lũ trên lưu vực sông Ba nếu gặp các hình thế thời tiết gây mưa chỉ do 1 trong 4 yếu tố bão, áp thấp nhiệt đới, giải hội tụ nhiệt đới hoặc gió mùa Đông Bắc gây ra thì hình dạng lũ nhọn và lên nhanh, rút nhanh Nếu
tổ hợp đầy đủ các hình thể thời tiết nêu trên thì hình dạng lũ sẽ có nhiều đỉnh kế tiếp nhau Phân tích kết quả đo đạc lũ lớn nhất tại Củng Sơn (Flv 12400 km2) từ năm
1977 tới 1999 cho thấy lưu lượng lũ lớn nhất trung bình nhiều năm là 7020 m3/s, lũ lớn nhất 20700 m3/s đo được vào ngày 4/X/1993 và những trận lũ lớn kế tiếp vào các năm 1988, 1981, 1992 đều xảy ra vào tháng X và tháng 11 Bảng 1.7 thống kê lưu lượng lũ lớn nhất của một số trận lũ lớn tại các trạm đo lưu lượng hạ lưu lưu vực sông Ba Do lưu vực sông Ba có độ dốc lớn, đặc điểm các sông ngắn và dốc nên thời gian lũ trên lưu vực thường chỉ trong khoảng 3 - 5 ngày và tổng lượng lũ 1 ngày lớn nhất chiếm tới 30 - 35% tổng lượng toàn trận lũ Tổng lượng lũ 7 ngày lớn nhất tại Củng Sơn đạt 2770.10 m3 năm 1981, đạt 2612.106 m3 tháng 10/1993
Bảng 1.7: Lưu lượng lũ lớn nhất tại một số trạm trên lưu vực sông Ba
Tên trạm Qmax (m 3 /s) Thời gian xuất hiện
Nguồn: Đài KTTV Khu vực NTB
1.2.4 Hệ thống hồ chứa và quy trình vận hành liên hồ chứa mùa lũ lưu vực sông
Ba
Là một trong những lưu vực có tiềm năng thủy lợi, thủy điện, nên hệ thống
hồ chứa trên lưu vực sông Ba phát triển mạnh Tính đến nay, trên toàn lưu vực có
Trang 40khoảng 198 hồ chứa thủy lợi, thủy điện lớn, nhỏ Trong đó có 39 hồ chứa thủy điện còn lại chủ yếu là các hồ chứa thủy lợi Tổng dung tích của các hồ chứa trên lưu vực khoảng 1560,2 triệu m3 Các hồ chứa và các công trình đi kèm thường có nhiều mục tiêu và nhiệm vụ khác nhau Các mục tiêu quan trọng là phát điện, cấp nước, góp phần giảm lũ hạ du Và dưới đây là một số thông tin chính các hồ chứa như sau:
Hồ Ayun Hạ được xây dựng trên sông Ayun năm 1989 có diện tích lưu vực 1.670 km2, MNDBT 204 m, MNC 195 m, Wc = 52x106 m3, Whd = 201x106 m3 Đập cao 36 m, dài 366 m Năng lực tưới thiết kế 13.500 ha đã phát huy tưới 8.500
ha đạt 63% năng lực thiết kế Nhà máy thủy điện Ayun Hạ bắt đầu vận hành từ đầu năm 2001
Hồ sông Hinh khống chế lưu vực 722 km2 với MNDBT 209 m, MNC 196 m, Wtb = 357x106 m3, công suất lắp máy 70 MW, điện lượng cung cấp hàng năm 315.000 kwh đồng thờităng cường lượng nước mùa kiệt từ 2427 m3/s, đảm bảo tưới ổn định cho hệ thống thủy nông Đồng Cam Thủy điện Sông Hinh bắt đầu được xây dựng từ năm 1993 và hoàn thành vào năm 2001
Hồ Sông Ba Hạ được xây dựng có diện tích lưu vực 11.115 km2, cao trình MNDBT 105 m, MNC 101 m, dung tích toàn bộ 349,7 triệu m3, dung tích chết 183,8 triệu m3, phát điện với công suất lắp máy 220 MW Hiện tại, hồ thủy điện Sông Ba Hạ đã đi vào vận hành từ cuối năm 2009
Công trình thủy điện An Khê - Kanak được khởi công ngày 26/XI/2005 với công suất lắp máy 173 MW
Nhà máy thủy điện Krông H’năng được khởi công ngày 19/V/2005 với công suất lắp máy 64 MW và chính thức vận hành vào ngày 12/IX/2010
Tổng hợp thông số kỹ thuật của các hồ chứa chính được thể hiện trong Bảng 1.8
Bảng 1.8: Bảng thông số kỹ thuật chủ yếu của các hồ chứa chính lưu vực
Sông
Ba
Hạ
Sông Hinh KaNa