Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, hơn hai mươi năm qua nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng trên mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Trong đó, chủ trương phát triển kinh tế gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội, giảm chênh lệch giàu, nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, làm cơ sở hình thành tương đối đồng bộ các chính sách xã hội với mục tiêu vì người nghèo đã trở thành hiện thực. Trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội
Trang 1Thực trạng thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo tỉnh Thanh Hoá -
Thực trạng và giải pháp
Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, hơn hai mươi nămqua nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng trên mọimặt của đời sống kinh tế - xã hội Trong đó, chủ trương phát triển kinh tế gắn liềnvới tiến bộ, công bằng xã hội, giảm chênh lệch giàu, nghèo, thu hẹp khoảng cáchphát triển giữa các vùng miền, làm cơ sở hình thành tương đối đồng bộ các chínhsách xã hội với mục tiêu vì người nghèo đã trở thành hiện thực Trợ giúp pháp lý chongười nghèo và đối tượng chính sách xã hội là biện pháp pháp lý trong việc thựchiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta Xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa Việt Nam, của dân, do dân, vì dân, đòi hỏi tăng cường quản lý xã hộibằng pháp luật; theo nguyên tắc Hiến định: "Mọi công dân đều bình đẳng trước phápluật" Dịch vụ tư vấn pháp luật là một loại dịch vụ phát sinh và trở thành khá phổbiến trong nhà nước pháp quyền tư sản và xã hội công dân Dịch vụ này tạo điềukiện cho mọi tổ chức và công dân tham gia các quan hệ pháp luật được đúng đắn và
hiệu quả nhất Tư vấn pháp luật có các dạng hoạt động cơ bản: Một là, đưa ra lời
khuyên để "khách hàng" lựa chọn pháp luật, làm theo pháp luật một cách đúng đắn
nhất, có lợi nhất; hai là, đưa ra lời khuyến cáo để "khách hàng" không làm những gì
mà pháp luật cấm; ba là, hướng dẫn hoặc làm thay "khách hàng" trong việc soạn thảo các loại văn bản pháp lý, trong đó chủ yếu là văn bản hợp đồng; bốn là, tham
Trang 2gia các quá trình tố tụng với tư cách là luật sư, bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của "khách hàng" Các hoạt động trên thực hiện theo hợp đồng và có thu tiềncông tư vấn ở nước ta, người nghèo và đối tượng chính sách xã hội cần được hưởngcác dịch vụ tư vấn pháp luật, song họ ít hoặc không có tiền nên phải được ưu tiênbằng việc được trợ giúp pháp lý miễn phí, không phải trả tiền công Vì vậy, Ban Bíthư Trung ương Đảng khoá VIII đã chỉ đạo: "Mở rộng loại hình tư vấn pháp luật phothông, đáp ứng nhu cầu rộng rãi, đa dạng của các tầng lớp nhân dân nhằm góp phầnnâng cao ý thức pháp luật và ứng xử pháp luật của công dân trong quan hệ đời sốnghàng ngày cần nghiên cứu hệ thống dịch vụ tư vấn pháp luật không lấy tiền đểhướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật" [56] Nghị quyết Hội nghị lầnthứ 3 Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII tiếp tục khẳng định cần: "tạo điều kiện chongười nghèo được hưởng dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí ".
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 vềviệc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách.Đặc biệt là, ngày 29/6/2006, Luật Trợ giúp pháp lý đã được kỳ họp thứ 9 Quốc hộikhoá XI thông qua, theo đó ngày 12/01/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số07/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật trợ giúp pháp lý.Như vậy, ở Việt Nam pháp luật về trợ giúp pháp lý đã được xây dựng và có thể coi
là khá hoàn chỉnh Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện pháp luật ấy trong đời sống xãhội
Thực hiện pháp luật nói chung là một trong những phạm trù pháp lý được coi làthành tựu của khoa học về lý luận chung về nhà nước pháp luật Song, thành tựu nàychưa phải là đích cuối cùng bởi những yêu cầu từ thực tế của đời sống xã hội Nóimột cách khác, phạm trù "thực hiện pháp luật" cần được cụ thể hoá trong từng lĩnhvực của đời sống xã hội Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo vàđối tượng chính sách là một lĩnh vực thực hiện pháp luật cụ thể Do đó, coi đây làmột đối tượng nghiên cứu cần thiết
Trang 3Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý đã hỗ trợ một bộ phận không nhỏ dân
cư như là người nghèo, các đối tượng chính sách được trợ giúp pháp lý Hoạt độngtrợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội thời gian qua đã cónhững đóng góp quan trọng vào việc phố biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật miễnphí cho hàng triệu người Trợ giúp pháp lý tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực phápluật như: Dân sự, hôn nhân - gia đình, đất đai, việc làm và các chế độ chính sách Nhiều vụ việc phức tạp, vượt cấp, kéo dài nhiều năm, đã được các tố chức trợ giúppháp lý hướng dẫn, giải quyết dứt điểm; trật tự an toàn xã hội, an ninh được giữvững; thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Vì thế, tính ưu việt của chế độ xã hội chủnghĩa được khẳng định trong thực tế cuộc sống; niềm tin của nhân dân đối với Đảng
và Nhà nước không ngừng được củng cố và nâng cao
Tuy nhiên, thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đốitượng chính sách là một lĩnh vực mới mẻ còn nhiều hạn chế, bất cập do nhiềunguyên nhân cả về khách quan và chủ quan Nên việc thực hiện pháp luật chưa đivào nề nếp, quy củ, các đối tượng người nghèo ở nước ta khó xác định về định lượng
và định tính Việc thành lập và quản lý các tố chức trợ giúp pháp lý còn lỏng lẻo, thủtục, trình tự được thụ hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý còn bất cập, nhận thức về phápluật của người dân còn thấp và không đồng đều
Thanh Hoá là một tỉnh đông dân, theo số liệu thống kê năm 2006, dân số trên3,7 triệu người Trong đó, người nghèo và đối tượng chính sách xã hội chiếm tỷ lệđáng kể khoảng 33% Vì vậy, vấn đề trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượngchính sách được đặt ra cả về mặt lý luận và tống kết thực tiễn cũng như việc đề xuấtcác giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật trên lĩnh vực này
Với những lý do phân tích trên, tôi chọn đề tài: " Thực hiện phỏp luật về trợ giỳp phỏp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách ở tỉnh Thanh
Hoá - Thực trạng và giải pháp " làm luận văn thạc sĩ Luật học.
ĩ
Chương 1
Cơ sở lý luận của thực hiện pháp luật về Trợ giúp pháp lý cho người nghèo
Trang 41.1 Khái niệm nội dung pháp luật về Trợ giúp pháp lý cho người nghèo
1.1.1 Khái niệm nội dung trợ giúp pháp lý
Khái niệm nội dung trợ giúp pháp lý là vấn đề rất quan trọng trong thực hiệnpháp luật về trợ giúp pháp lý Chính vì vậy, từ khái niệm nội dung trợ giúp pháp lýcho ta cơ sở để nghiên cứu những vấn đề về lý luận cũng như về thực tiễn thực hiệnpháp luật trợ giúp pháp lý
ở Việt Nam, thuật ngữ "Trợ giúp pháp lý" chính thức được quy định trongtrong Quyết định 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thànhlập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách
Theo nghĩa rộng, trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp
lý miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người được hưởng chính sách
ưu đãi và một số đối tượng khác do pháp luật quy định Bằng các hoạt động tư vấnpháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổbiến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cậnpháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội
Theo nghĩa hẹp, trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp
lý miễn phí của các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước cho người nghèo vàngười được hưởng chính sách ưu đãi thông qua hình thức tư vấn pháp luật, đại diện,bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục phápluật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phầnthực hiện công bằng xã hội
Khái niệm "trợ giúp pháp lý" nêu trên đã chỉ rõ mục đích của hoạt động trợgiúp pháp lý là nhằm hướng tới bảo đảm thực hiện công bằng xã hội, phù hợp vớiđiều kiện ngân sách Nhà nước phải chi trả cho hoạt động trợ giúp pháp lý
Tại điều 3 - Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN ViệtNam khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 quy định: Trợ giúp pháp lý làviệc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy
Trang 5định của luật này, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp phápcủa mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; gópphần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xãhội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.
Từ phân tích trên, xác định nội dung trợ giúp pháp lý bao gồm:
Thứ nhất, thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý của Trung trâm Trợ giúp
pháp lý nhà nước; tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức tư vấn pháp luật và cá nhân
Thứ hai, thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý miễn phí, tức là không thu tiền
với các hình thức trợ giúp pháp lý như: Tư vấn pháp lý; làm văn bản như làm đơnkhiếu nại, tố cáo, các văn bản p háp lý khác cho đối tượng được trợ giúp pháp lý; bàochữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của đối tượng được trợ giúp pháplý
Thứ ba, đối tượng được trợ giúp pháp lý là người nghèo và đối tượng chính
sách xã hội
1.1.1.2 Khái niệm người nghèo
- Người nghèo trong xã hội là một hiện t ượng xã hội: Có hai loại nghèo, nghèo
về vật chất và nghèo về tinh thần (về tri thức), nghèo thường thiếu ăn, thiếu các điềukiện vật chất phục vụ cho cuộc sống hàng ngày Cho nên các mục tiêu ăn, ở, mặc, đilại, học hành là không được bảo đảm Nghèo về tinh thần, nó hạn chế về nhận thức,hạn chế về thông tin Trong điều kiện đổi mới ở nước ta, đặc biệt là vận dụng cơ chếthị trường tất yếu dẫn đến việc phân hoá giàu nghèo Nguyên nhân dẫn đến nghèo thì
có những nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến nghèo
Về nguyên nhân khách quan: Do môi trường kinh tế, môi trường xã hội, môi
trường địa lý; thất nghiệp dẫn đến nghèo là vấn đề tất yếu trong xã hội
Về nguyên nhân chủ quan: Do năng lực tự thân, nhận thức, kiến thức, kỹ năng
lao động của con người hạn chế Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta, bản chất của Nhà nước ta là nhằm vào con người, xây dựng con người phát triển
Trang 6toàn diện và đó cũng là động lực để phát triển xã hội; mục tiêu cơ bản là xây dựng xãhội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Do đó, Đảng và Nhànước ta có chính sách giúp đỡ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn Trongđiều kiện quốc tế, vấn đề xoá đói giảm nghèo trở thành vấn đề toàn cầu Ngườinghèo ở nước ta được xác định theo các tiêu chí như: mức thu nhập, điều kiện sinhhoạt Mục đích chính sách của Nhà nước là trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đốitượng chính sách miễn phí nhằm giúp cho các đối tượng trên tham gia các quan hệpháp luật, thực hiện nghĩa vụ công dân như mọi người khác Để bảo đảm quyền, lợiích hợp pháp cho họ, bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của mọi người, bảo đảm trật
là những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người từ 200.000đ/người/tháng(2.400.000 đ/năm) trở xuống đối với khu vực nông thôn và từ 260.000đ/người/tháng(3.120.000đ/năm) trở xuống đối với khu vực thành thị Hộ nghèo được cơ quan nhànước có tham cấp giấy chứng nhận hộ nghèo, tức là sổ hộ nghèo, để họ được hưởngcác chính sách ưu đãi của Nhà nước nói chung và hưởng chính sách trợ giúp pháp lýnói riêng
Đối tượng chính sách: Theo quy định tại điều 10 - Luật Trợ giúp pháp lý, đốitượng chính sách gồm: người có công với cách mạng, người già cô đơn không nơinương tựa, người tàn tật không nơi nương tựa, trẻ em không nơi nương tựa, ngườidân tộc thiểu số thường trú ở vùng mà điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăntheo quy định của Chính phủ phù hợp với từng giai đoạn
Trang 71.1.2.1 Khái niệm, nội dung pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người
nghèo
1.1.2.2 Khái niệm pháp luật xã hội chủ nghĩa
Để tiếp cận pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chínhsách xã hội, chúng ta tìm hiểu khái niệm pháp luật XHCN nói chung để từ đó nhậndiện nó trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý
Pháp luật XHCN là hệ thống quy phạm pháp luật thể chế hoá đường lối, chủtrương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân lao động, được Nhà nước ban hành vàbảo đảm thực hiện trên cơ sở giáo dục, thuyết phục nhằm điều chỉnh các quan hệ xãhội theo định hướng XHCN
1.1.2.3 Khái niệm về pháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo
Để đi đến xây dựng khái niệm về pháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo
và đối tượng chính sách xã hội, cần tiếp cận các quan điểm sau đây: Một là, theo
quan điểm truyền thống một ngành luật phải có đối tượng điều chỉnh riêng và cóphương pháp điều chỉnh đặc trưng Pháp luật trợ giúp pháp lý là toàn bộ các quyphạm pháp luật điều chỉnh hoạt động trợ giúp pháp lý Như vậy, có thể xác định đốitượng điều chỉnh của pháp luật này là các quan hệ xã hội sau đây:
Thứ nhất, mối quan hệ giữa người tổ chức hoặc cá nhân trợ giúp pháp lý với
đối tượng được trợ giúp pháp lý nhằm giúp đỡ các đối tượng này hiểu rõ nội dungbản chất các quy phạm pháp luật để họ lựa chọn phương pháp xử sự đúng theo phápluật và có lợi
Thứ hai, mối quan hệ xã hội giữa người trợ giúp pháp lý với đối tượng được trợ
giúp pháp lý nhằm cảnh báo họ để họ hiểu biết pháp luật mà không thực hiện cáchành vi trái pháp luật, tránh được các vi phạm pháp luật và các trách nhiệm pháp lýdẫn đến hậu quả bất lợi cho họ
Thứ ba, mối quan hệ xã hội giữa người trợ giúp pháp lý với đối tượng được trợ
giúp pháp lý nhằm giúp họ trực tiếp hoặc hướng dẫn họ lập di chúc, hợp đồng dân
sự, lao động và các loại đơn từ, văn bản pháp lý khác
Trang 8Thứ tư, mối quan hệ trợ giúp pháp lý của luật sư theo yêu cầu của người nghèo
và đối tượng chính sách xã hội trong quan hệ tố tụng dân sự, lao động, hôn nhân giađình, tố tụng hành chính và tố tụng hình sự
Phương pháp điều chỉnh bốn loại quan hệ trên là phương pháp điều hành củaluật hành chính và phương pháp điều chỉnh của luật dân sự
- Phương pháp hành chính thể hiện trong trách nhiệm của các công ty tư vấn,trung tâm tư vấn pháp lý phải thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý mà không đượclấy tiền công Tiền công này do Nhà nước chi trả và làm theo sự uỷ thác của Nhànước
- Phương pháp điều chỉnh của Luật Dân sự là phương pháp thoả thuận, bìnhđang Trong mối quan hệ trợ giúp pháp lý thực hiện theo hợp đồng dân sự giữangười và đối tượng chính sách xã hội với người trợ giúp pháp lý
Như vậy, có thể coi pháp luật trợ giúp pháp lý cho Nhà nước và đối tượngchính sách xã hội là một ngành luật
Hai là, theo khái niệm Luật Dân sự: thì các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt
động trợ giúp pháp lý nêu ở trên đều là đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự Có thểcoi các quan hệ xã hội phát sinh trong trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượngchính sách xã hội là quan hệ hợp đồng dân sự Nội dung của hợp đồng loại này làcung ứng các dịch vụ pháp lý
Ba là, theo quan điểm tong hợp hai quan điểm trên, nghĩa là tong hợp những
căn cứ hợp lý của quan điểm một và quan điểm hai Đồng thời có tính đến hoạt độngtrợ giúp pháp lý với tư cách là giúp đỡ người nghèo trong các quan hệ tố tụng đặcbiệt là quan hệ tố tụng dân sự và quan hệ tố tụng hình sự Theo đó có thể xác địnhpháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội là mộtlĩnh vực pháp luật độc lập tương đối, tuy nhiên có sự đan xen ít nhiều với các ngành
và lĩnh vực pháp luật khác
Căn cứ vào thành tựu lập pháp, các văn bản pháp luật hiện hành về trợ giúppháp lý ở Việt Nam hiện nay; chủ yếu là Luật Trợ giúp pháp lý năm
Trang 92006 có thể đưa ra khái niệm pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đốitượng chính sách như sau: pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đốitượng chính sách là tổng thể các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc tổ chức vàhoạt động trợ giúp pháp lý, đó là việc cung cấp các dịch vụ pháp lý và bảo vệ cácquyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo và đối tượng chính sách.
1.1.2 Nội dung pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo
Nghiên cứu pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chínhsách cho thấy, Luật Trợ giúp pháp lý đã thể hiện rõ nội dung, quan điểm cơ bản củapháp luật về trợ giúp pháp lý trong điều kiện đổi mới và xây dựng Nhà nước phápquyền Tại Điều 3 Luật Trợ giúp pháp lý đã xác định trợ giúp pháp lý là việc cungcấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo các hình thức,thủ tục quy định cụ thể trong luật Như vậy, nội hàm của khái niệm trợ giúp pháp lýgồm ba nội dung chủ yếu, thứ nhất là dịch vụ pháp lý miễn phí, thứ hai là giành chongười được trợ giúp pháp lý và thứ ba là có hình thức, thủ tục phù hợp với quy địnhcủa Luật Trợ giúp pháp lý Từ ba đặc trưng cơ bản trên luật đã thể hiện được bảnchất của trợ giúp pháp lý Theo đó, trợ giúp pháp lý được xác định là một loại hìnhdịch vụ pháp lý dành cho những đối tượng nhất định thuộc diện Nhà nước và xã hộiphải quan tâm, giúp đỡ Xuất phát từ nền tảng đó dịch vụ pháp lý ở đây được thựchiện miễn phí và người được trợ giúp pháp lý không phải chi trả bất cứ một khoảnchi phí nào Điều quan trọng là cung ứng các dịch vụ pháp lý phải tuân theo các quyđịnh chặt chẽ trong luật, như các vấn đề liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý, hìnhthức trợ giúp pháp lý, phạm vi, thủ tục trợ giúp pháp lý Luật trợ giúp pháp lý, phạm
vi điều chỉnh bao gồm các vấn đề như: người được trợ giúp pháp lý, tổ chức thựchiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý,quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý Luật Trợ giúp pháp lý đã xác định phạm vi cácđối tượng thuộc diện được hưởng lợi ích từ chính sách trợ giúp pháp lý So với cácquy định của pháp luật hiện hành, Luật Trợ giúp pháp lý đã có những thay đổi phạm
Trang 10vi diện người được trợ giúp pháp lý Nếu như trước đây chỉ người nghèo, đối tượngchính sách và một số đối tượng khác mới được trợ giúp pháp lý thì Luật Trợ giúppháp lý đã bổ sung thêm đối tượng là người già cô đơn, người tàn tật và một số đốitượng thuộc diện có công với cách mạng.
Quy định mới này, một mặt là cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về bảođảm quyền cho một số đối tượng cần được Nhà nước và xã hội quan tâm, giúp đỡ,mặt khác khẳng định sự nhất quán trong các chính sách xã hội của Đảng và Nhànước ta, đặc biệt là chính sách xoá đói, giảm nghèo, chính sách ưu đãi người có côngvới cách mạng, chính sách dân tộc, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước và bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN ở Việt Nam Luật Trợ giúp pháp
lý xác định tương đối rõ các vấn đề về tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và ngườithực hiện trợ giúp pháp lý, Điều 13 Luật quy định các tổ chức thực hiện trợ giúppháp lý là Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước và các tổ chức tham gia trợ giúppháp lý Trong đó các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý gồm có: Tổ chức hành nghềluật sư, tổ chức tư vấn pháp luật, thuộc tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức chính trị, xãhội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp thực hiện đăng ký tham gia trợ giúppháp lý Tại Điều 20 Luật quy định người thực hiện trợ giúp pháp lý là trợ giúp viênpháp lý và người tham gia trợ giúp pháp lý là cộng tác viên của Trung tâm; Luật sư,
tư vấn viên pháp luật làm việc trong các tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chínhtrị, xã hội, tổ chức chính trị, xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp Để phùhợp với bản chất của trợ giúp pháp lý, Luật Trợ giúp pháp lý đã xác định phạm vicần điều chỉnh là các vấn đề mang tính nền tảng của hoạt động trợ giúp pháp lý nhưcác nguyên tắc hoạt động, vụ việc trợ giúp pháp lý, phạm vi thực hiện trợ giúp pháp
lý, các hình thức trợ giúp pháp lý và quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý Điều 4Luật Trợ giúp pháp lý quy định các nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý như:không thu phí, lệ phí, thù lao từ người được trợ giúp pháp lý; Trung thực, tôn trọng
sự thật khách quan; Sử dụng các biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật đểbảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý; tuân thủ
Trang 111pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý; nguyên tắc chịu trách nhiệm trướcpháp luật về nội dung trợ giúp pháp lý Đây là những quan điểm chỉ đạo mang tínhxuyên suốt hoạt động trợ giúp pháp lý, buộc các chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lýđều có trách nhiệm tuân thủ và trở thành kim chỉ nam cho hoạt động trợ giúp pháp
lý Điều 5 Luật Trợ giúp pháp lý xác định những vụ việc liên quan đến quyền, lợi íchhợp pháp của người được trợ giúp pháp lý mà không thuộc lĩnh vực kinh doanh,thương mại thì mới được trợ giúp pháp lý để đảm bảo nguồn lực và giải quyết cóchất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý Điều 27 Luật trợ giúp pháp lý quy định rõ hìnhthức trợ giúp pháp lý, bao gồm: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tốtụng và các hình thức trợ giúp pháp lý khác Trong đó, hình thức tư vấn pháp luậtđược xác định là hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật,giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý Còn hình thức thamgia tố tụng được xác định là việc trợ giúp viên pháp lý, luật sư tham gia tố tụng hình
sự để bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý là người bị tạm giữ, bị can, bị cáohoặc để bảo vệ quyền lợi của người được trợ giúp pháp lý là người bị hại, nguyênđơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sựhoặc tham gia tố tụng dân sự, tố tụng hình sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp củangười được trợ giúp pháp lý trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính Các hình thứctrợ giúp pháp lý khác bao gồm giúp đỡ người được trợ giúp pháp lý hoà giải, thựchiện những công việc liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại và các hoạt độngkhác theo quy định của pháp luật Luật Trợ giúp pháp lý còn làm rõ những yêu cầutrong hoạt động quản lý đối với lĩnh vực đặc thù này thông qua các quy định liênquan đến nội dung quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý và thiết lập hệ thống tráchnhiệm của cơ quan chức năng thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý
Về chính sách trợ giúp pháp lý: cùng với việc xác định phạm vi điều chỉnh,Điều 6 - Luật Trợ giúp pháp lý đã thiết lập nội dung chính sách trợ giúp pháp lý củaViệt Nam trong từng giai đoạn hiện nay Theo đó, trợ giúp pháp lý là trách nhiệmcủa Nhà nước Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện
Trang 12trợ giúp pháp lý; đồng thời Nhà nước có nhiệm vụ khuyến khích tạo điều kiện đểMặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư vàluật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện, đóng góp, hỗ trợ hoạtđộng trợ giúp pháp lý Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp Việt Nam, Nhànước ta đã công khai tuyên bố trước toàn thể nhân dân và quốc tế về trách nhiệm củamình trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận và sử dụng pháp luật của công dân,nhất là khi họ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt cần có sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội,đồng thời xác định rõ trợ giúp pháp lý không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước màcòn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Nhằm bảo đảm thực thivai trò nòng cốt của Nhà nước trong việc thực hiện và tổ chức thực hiện trợ giúppháp lý, Luật đã kiện toàn, củng cố và tăng cường vai trò của các Trung tâm Trợgiúp pháp lý thuộc Sở Tư pháp, kiện toàn và chuan hoá đội ngũ người thực hiện trợgiúp pháp lý làm việc tại các Trung tâm Trợ giúp pháp lý Trong Điều 14 và Điều 16Luật quy định Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước do UBND tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương quyết định thành lập, Trung tâm trợ giúp pháp lý là một đơn vịtrực thuộc Sở Tư pháp, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng Giámđốc Trung tâm trợ giúp pháp lý do Chủ tịch UBND cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm,cách chức Trung tâm trợ giúp pháp lý có thể có chi nhánh, chi nhánh là đơn vị phụthuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Việc thành lập chi nhánh do Chủ tịch UBND cấptỉnh quyết định Quán triệt quan điểm xã hội hoá hoạt động trợ giúp pháp lý, LuậtTrợ giúp pháp lý đã thiết lập cơ chế tham gia trợ giúp pháp lý của các tổ chức hànhnghề luật sư và tổ chức tư vấn pháp luật Như vậy, cùng với việc mở rộng diện ngườiđược trợ giúp pháp lý Luật Trợ giúp pháp lý đã mở rộng hơn diện tổ chức thực hiệntrợ giúp pháp lý, cho phép tổ chức hành nghề luật sư và Luật sư, Trung tâm tư vấnpháp luật tham gia trợ giúp pháp lý Trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tựtrang trải và từng bước xã hội hoá trợ giúp pháp lý, giảm gánh nặng cho Nhà nước
về đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý Luật trợ giúp pháp lý đã xác định ngườithực hiện trợ giúp pháp lý phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện, tiêu chuan nhất
Trang 133định; trong đó chú trọng xây dựng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và đội ngũ cộng tácviên, đồng thời huy động các luật sư, tư vấn viên pháp luật tham gia trợ giúp pháp
lý Đa dạng hoá người thực hiện trợ giúp pháp lý và phù hợp với nguồn lực hiện cócủa Việt Nam Luật Trợ giúp pháp lý đã pháp điển hoá các quy định pháp luật hiệnhành về chế độ cộng tác viên theo hướng mở rộng thêm những người có bằng đạihọc khác Điều 22 Luật Trợ giúp pháp lý đã quy định: công dân Việt Nam thườngtrú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có pham chất đạo đức tốt, có đủsức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, tự nguyện tham gia trợ giúp pháp
lý mà không thuộc các trường hợp cấm theo quy định tại Điều 20 Luật Trợ giúppháp lý thì được Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, công nhận và cấp thẻ cộng tác viên
Để phù hợp với trình độ chuyên môn, thực hiện việc phân công chủ thể thực hiện trợgiúp pháp lý căn cứ vào tính chất phức tạp của từng vụ việc, Luật Trợ giúp pháp lýquy định cộng tác viên không phải là luật sư chỉ tham gia trợ giúp pháp lý bằng hìnhthức tư vấn pháp luật
Về các đảm bảo để công tác trợ giúp pháp lý phát triển ổn định và vững chắc:
Về nội dung này, ngoài vấn đề bảo đảm về tổ chức, cán bộ, Luật Trợ giúp pháp lý đãxác định một cơ chế đồng bộ về chỉ đạo điều hành để Luật Trợ giúp pháp lý đi vàocuộc sống Luật đã xác định trách nhiệm và nội dung quản lý nhà nước về trợ giúppháp lý, trách nhiệm của Chính phủ, trách nhiệm của Bộ Tư pháp, các bộ và cơ quanngang bộ trong phối hợp thực hiện quản lý Nhà nước về trợ giúp pháp lý Xác địnhtrách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong việc quản lý nhà nước, bảo đảm biên chế, kinhphí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc cho tổ chức thực hiện trợgiúp pháp lý ở địa phương có khó khăn về kinh tế Nguồn tài chính của quỹ gồm cácđóng góp tự nguyện, tài trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân, hỗ trợ từ ngân sách nhànước và các nguồn hợp pháp khác Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận,được miễn thuế Việc thành lập, quản lý, sử dụng quỹ do Chính phủ quy định cụ thể
1.1 Khái niệm, đặc điểm và các hình thức thực hiện pháp Luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội
Trang 141.2.1 Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội
1.2.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội
Theo quan điểm của Trường Đại học Luật Hà Nội thì "thực hiện pháp luật làhoạt động có mục đích nhằm hiện thực hoá các quy định của pháp luật, làm chochúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thểpháp luật "[28, tr.463] Hay diễn đạt một cách khác: "thực hiện pháp luật là quá trìnhhoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thựctrong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể phápluật" [31]
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, trách nhiệm thực hiện pháp luật mangtính nguyên tắc do Hiến pháp quy định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật,không ngừng tăng cường pháp chế XHCN" Các cơ quan nhà nước, to chức kinh tế,
to chức xã hội, đơn vị vũ trang và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiếnpháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiếnpháp và pháp luật Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi íchhợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật [43]
Quản lý nhà nước bằng pháp luật đòi hỏi Nhà nước phải ban hành pháp luật.Nếu pháp luật ban hành nhiều nhưng ít đi vào cuộc sống, hiệu quả điều chỉnh của cácquy phạm pháp luật không cao, chứng tỏ quản lý nhà nước kém hiệu quả Do đó, xâydựng pháp luật và thực hiện pháp luật là đòi hỏi khách quan của quản lý nhà nước,tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Thực hiện pháp luật là hành vi pháp lý (hành động và không hành động) củacon người phù hợp với yêu cầu của pháp luật Hành vi xử sự của con người trong
hoạt động thực hiện pháp luật có hai tính chất Thứ nhất, nó mang tính xã hội, vì
Trang 15thực chất các quan hệ pháp luật trước hết là quan hệ xã hội; thứ hai nó mang tính
pháp lý vì các quan hệ xã hội này do pháp luật tác động điều chỉnh tới
Thực hiện pháp luật được thể hiện dưới 4 hình thức đó là: tuân thủ pháp luật,chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật Mặc dù thực hiện phápluật được thể hiện ở nhiều hình thức nhưng nó đều là hành động có mục đích nhằmđưa pháp luật vào cuộc sống Từ nghiên cứu trên, chúng tôi hiểu khái niệm thực hiệnpháp luật như sau: thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làmcho các quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sởpháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật
Khái niệm thực hiện pháp luật nói chung và các nội dung pháp luật về trợ giúppháp lý đã nêu ở trên, là cơ sở để nghiên cứu khái niệm thực hiện pháp luật về trợgiúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách Để nâng cao kiến thức phápluật, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người nghèo và đốitượng chính sách, Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các quy phạm pháp luậtquy định về trợ giúp pháp lý nhằm điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong lĩnh vựchoạt động trợ giúp pháp lý Từ các quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý, Nhànước giữ vai trò cốt yếu trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện pháp luật về trợ giúppháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách, khuyến khích tạo điều kiện đểMặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư,luật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp, hỗ trợ thực hiện pháp luật vềtrợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách Ngoài ra, các cơquan, tổ chức, trong phạm vi quyền hạn của mình khuyến khích, tạo điều kiện để cán
bộ, công chức, viên chức, hội viên và các cá nhân khác tham gia làm cộng tác viêntrợ giúp pháp lý; các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan, các tổ chức khác có liênquan đến hoạt động trợ giúp pháp lý phối hợp tạo điều kiện, cung cấp thông tin, tàiliệu để thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và đốitượng chính sách Pháp luật về trợ giúp pháp lý quy định cụ thể đối tượng được
Trang 16hưởng quyền từ việc thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý miễn phí cho ngườinghèo và đối tượng chính sách và một số đối tượng khác.
Từ những lý giải trên có thể định nghĩa: Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp
lý cho người nghèo và đối tượng chính sách là quá trình hoạt động có mục đích của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và các chủ thể khác nhằm đưa pháp luật về trợ giúp pháp lý đi vào cuộc sống với mục đích giúp đỡ về mặt pháp lý bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội theo yêu cầu của họ và miễn phí.
1.2.1.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội
Chính sách xã hội có thể được hiểu là: Nhà nước có trách nhiệm đề ra và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội Chính sách xã hội về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội khi đã được cụ thể hoá thành pháp luật trợ giúp pháp lý nhà nước là chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật này Nhưng nhà nước (các cơ quan nhà nước) không trực tiếp thực hiện Mà Nhà nước giao cho các
cơ quan tư pháp, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội khác thực hiện trợ giúp pháp lý Nhà nước khuyến khích các tổ chức phi chính phủ và tư nhân đăng
ký hoạt động thực hiện pháp luật trợ giúp pháp lý.
Nghiên cứu khái niệm thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo
và đối tượng chính sách, chúng ta thấy nó có những đặc điểm của thực hiện phápluật nói chung, đồng thời có những đặc điểm riêng Cụ thể, những đặc điểm riêngcủa thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sáchđược thể hiện ở một số nội dung sau đây:
Một là, Nhà nước là chủ yếu trong quá trình thực hiện pháp luật về trợ giúp
pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội
Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (khoá IX) về chiếnlược cải cách tư pháp đã chỉ rõ: "đẩy mạnh công tác trợ giúp pháp lý cho ngườinghèo và đối tượng chính sách theo hướng xã hội hoá" Để thực hiện nhiệm vụ trọng
Trang 177yếu của mình Nhà nước đã thông qua các cơ quan chức năng có thẩm quyền như Bộ
Tư pháp, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Trung tâm Trợgiúp pháp lý Nhà nước nhằm tổ chức thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý chongười nghèo và đối tượng chính sách
Hai là, đối tượng được hưởng các quyền và lợi ích từ thực hiện pháp luật về trợ
giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách chủ yếu là những ngườinghèo, người có công với cách mạng, người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em khôngnơi nương tựa, người dân tộc thiểu số và một số đối tượng khác mà không phải trảtiền
Thi hành Quyết định số 734/TTg ngày 06/7/1997 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách,Thông tư số 52/TTLT/TP - TC - TCTP - LĐTBXH ngày 14/01/1998 hướng dẫn thihành Quyết định số 734/TTg đã quy định: Đối tượng được hưởng các lợi ích từ thựchiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách và một
số đối tượng, vụ việc khác Đối tượng được miễn án phí quy định tại khoản 1, điều13; điểm a, b, khoản 1 điều 26; điểm a, c khoản 1 điều 31 Nghị định số 70/NĐ - CPngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí toà án; Nghị định số 36/2005/NĐ -
CP ngày 13/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sốđiều của Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, phụ nữ bị bạo lực gia đình ngườinước ngoài theo các điều ước quốc tế đã ký kết mà Việt Nam là thành viên
Ba là, thực hiện pháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính
sách cũng là một hoạt động bổ trợ tư pháp, trợ giúp viên pháp lý là một trong cácchủ thể thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chínhsách Do vậy, việc tham gia của trợ giúp viên pháp lý với tư cách là bào chữa, đạidiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo và đối tượng chínhsách tại các cơ quan tiến hành tố tụng nhất là tham gia tại Toà án, đây được coi làmột chủ thể hỗ trợ cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng
Trang 18Bốn là, thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng
chính sách xã hội, Nhà nước đã khuyến khích, động viên và huy động lực lượng xãhội rộng rãi tham gia thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý, về hình thức trợ giúppháp lý hết sức phong phú Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo
và đối tượng chính sách Nhà nước luôn giữ vị trí nòng cốt, nhưng để huy động sứcmạnh của toàn xã hội, Nhà nước đã khuyến khích động viên Mặt trận To quốc ViệtNam và các to chức thành viên, to chức hành nghề luật sư, luật sư, cơ quan, to chức,
cá nhân khác tham gia thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo vàđối tượng chính sách Về hình thức thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý rất phongphú: Tư vấn, đại diện, bào chữa bảo vệ quyền, lợi ích của người được trợ giúppháp lý miễn phí
1.2.2 Các hình thức thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội
Thứ nhất: Chấp hành pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối
tượng chính sách Đây là một hình thức thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong
đó các chủ thể thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo phải thựchiện nghĩa vụ trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật như:
- Các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội nghềnghiệp có nghĩa vụ thành lập, chỉ đạo các tổ chức trợ giúp pháp lý, cụ thể là:
Chính phủ, ban hành chính sách, pháp luật để thống nhất quản lý nhà nước vềtrợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách trong phạm vi toàn quốc
Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về trợgiúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách thông qua cục trợ giúp pháp
lý Cụ thể như: Bộ Tư pháp chủ trì và phối hợp với các bộ, các ngành hữu quan,UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thường xuyên tiến hành rà soát cácvăn bản pháp luật về trợ giúp pháp lý đã lạc hậu, xây dựng văn bản pháp luật mớicho phù hợp, để đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật
về trợ giúp pháp lý; xây dựng các đề án quy hoạch mạng lưới trung tâm và các chi
Trang 199nhánh của trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước giai đoạn 2007-2010; xây dựng chiếnlược hoàn thiện, phát triển hoạt động tổ chức pháp lý đến năm 2020 trình Thủ tướngChính phủ ban hành; Bộ Tư pháp hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ, chỉ đạo pháttriển trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên pháp lý trong toàn quốc, kiểm tra chấtlượng vụ việc trợ giúp pháp lý, chỉ đạo hướng dẫn các địa phương kiện toàn, củng cốtrung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, thành lập chi nhánh của trung tâm, bổ nhiệm vàcấp thẻ trợ giúp viên, bảo đảm ổn định các hoạt động trợ giúp pháp lý, tăng cườngkiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo nguồn ngân sách nhà nước giành cho công tác trợgiúp pháp lý đến đúng các đối tượng là người nghèo và đối tượng chính sách; Bộ Tưpháp thống nhất với bộ tài chính ban hành quy chế tổ chức và hoạt động quỹ trợ giúppháp lý; Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sátnhân dân tối cao, Bộ Công an, ban hành văn bản hướng dẫn về trợ giúp pháp lý tronghoạt động tố tụng, tạo điều kiện thuận lợi để luật sư và trợ giúp viên pháp lý tham gia
tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý
Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính ban hành các vănbản hướng dẫn về tổ chức, biên chế cán bộ, cơ sở vật chất của trung tâm, chi nhánhcủa trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, hướng dẫn chế độ tiền lương, chế độ phụcấp cho trợ giúp viên pháp lý; ban hành mã ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ trợ giúppháp lý sau khi thống nhất với Bộ Tư pháp
Bộ Lao động thương binh và xã hội ban hành văn bản xác định hộ nghèo theotừng giai đoạn
Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật của Chính phủ và các cơ quan,
tổ chức hữu quan, UBND cấp tỉnh tổ chức phổ biến rộng rãi pháp luật về trợ giúppháp lý đến các tầng lớp nhân dân và cán bộ, đặc biệt chú trọng vùng sâu, vùng xa,vùng đồng bào dân tộc thiểu số
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quanchuyên môn của địa phương thực hiện việc rà soát, củng cố, kiện toàn tổ chức, cán
Trang 20bộ, đảm bảo biên chế kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, tăng cườngnăng lực hoạt động cho trung tâm và các chi nhánh của
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, căn cứ nhu cầu và điều kiện thực tế của địaphương mà thành lập các chi nhánh trợ giúp pháp lý nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầutrợ giúp pháp lý của người dân, tiến hành rà soát tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý ởđịa phương để tổ chức này hoạt động phù hợp với quy định của pháp luật về trợ giúppháp lý; làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra và công tác thi đua khen thưởng tronghoạt động trợ giúp pháp lý
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, động viên, giới thiệunhững người trong tổ chức mình có đủ tiêu chuan, điều kiện tham gia làm cộng tácviên trợ giúp pháp lý, khuyến khích các trung tâm tư vấn pháp luật tham gia trợ giúppháp lý
Các cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, khuyếnkhích, tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức, thành viên, hội viên và cá nhânkhác làm việc tại cơ quan, tổ chức mình làm cộng tác viên trợ giúp pháp lý
- Nghĩa vụ và thực hiện nghĩa vụ của các trung tâm trợ giúp pháp lý, tổ chứchành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật khi thực hiện pháp luật về trợ giúp pháplý
* Nghĩa vụ của các trung tâm trợ giúp pháp lý
Các trung tâm trợ giúp pháp lý có các nghĩa vụ sau đây: Thực hiện trợ giúppháp lý; đề nghị cơ quan tổ chức hữu quan phối hợp, cung cấp thông tin, tài liệu về
vụ việc trợ giúp pháp lý; bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra khi thực hiện trợgiúp pháp lý; thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về trợ giúp pháp lý; giải quyếtkhiếu nại theo quy định tại Khoản 1 Điều 49 Luật Trợ giúp pháp lý; giải quyết tranhchấp trong trợ giúp pháp lý; kiến nghị những vấn đề có liên quan đến thi hành phápluật
Nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật khi tham giatrợ giúp pháp lý đó là: thực hiện trợ giúp pháp lý theo giấy đăng ký tham gia trợ giúp
Trang 211pháp lý; đề nghị cơ quan tổ chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến
vụ việc trợ giúp pháp lý; bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong khi thựchiện trợ giúp pháp lý; thực hiện chế độ báo cáo, thống kê; giải quyết tranh chấp trongtrợ giúp pháp lý; kiến nghị về những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật
Điều 17 - Luật Trợ giúp pháp lý quy định: Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức
tư vấn pháp luật có nghĩa vụ đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý, cụ thể là: Tổ chứchành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý phải đăng kýbằng văn bản về phạm vi, hình thức, lĩnh vực trợ giúp pháp lý với Sở Tư pháp nơi đãcấp giấy đăng ký hoạt động; đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý được thực hiện theomẫu thứ nhất và phù hợp với phạm vi, hình thức, lĩnh vực pháp luật được ghi tronggiấy đăng ký hoạt động
Thứ hai: áp dụng pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo về đối tượng
chính sách
áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật do các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền tiến hành áp dụng pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước trongthực hiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong các trường hợp sau:
- Cho phép hay nói cách khác là thành lập và cấp phép hoạt động trợ giúp pháp
lý cho các trung tâm trợ giúp pháp lý, các công ty tư vấn, công ty luật, văn phòngluật sư
- Căn cứ vào luật trợ giúp pháp lý bác bỏ các hành vi của các tổ chức, cá nhânkhông đủ điều kiện thực hiện trợ giúp pháp lý
- Quyết định có tính chất ra lệnh cấm các tổ chức không đủ điều kiện hoạt độngtrợ giúp pháp lý hoặc hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo nhưng thu tiền
- Tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động trợ giúp pháp lý;yêu cầu xử lý hoặc trực tiếp xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động trợ giúppháp lý
Trang 22- Cưỡng chế hành chính đối với các hoạt động trợ giúp pháp lý như cưỡng chếphòng ngừa, ngăn chặn, phạt tiền, thu hồi giấy phép hoạt động, cưỡng chế bồithường thiệt hại do hoạt động trợ giúp pháp lý gây ra.
- Yêu cầu xử lý hình sự đối với việc lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý dẫnđến tội phạm
Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý, trong đó các cơ quan nhà nước, các tổchức xã hội, các cá nhân được Nhà nước giao quyền căn cứ vào quy định của phápluật về trợ giúp pháp lý để ban hành các văn bản hoặc các quyết định áp dụng phápluật, từ đó làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật về hoạt động trợgiúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách Cụ thể như, Khoản 4 Điều
47 - Luật Trợ giúp pháp lý quy định: "UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW trongphạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp
lý tại địa phương có trách nhiệm bảo đảm biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất, trangthiết bị làm việc cho trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; thực hiện thanh tra, kiểmtra giải quyết khiếu nại tố cáo, khen thưởng, kỷ luật và xử lý vi phạm về trợ giúppháp lý trong phạm vi địa phương" [47] Chỉ thị số 35/ 2006/ CT-TTT ngày13/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành luật trợ giúp pháp
lý quy đinh:" b) Bộ Tư pháp xây dựng đề án quy hoạch mạng lưới trung tâm và chinhánh của trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước giai đoạn
2007 - 2010; xây dựng chiến lược hoàn thiện, phát triển hoạt động trợ giúp pháp lýđến năm 2020 trình Thủ tướng Chính phủ ban hành; c) Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợpvới Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính ban hành văn bản hướng dẫn về tổ chức, biên chế cán
bộ và cơ sở vật chất của trung tâm, chi nhánh của trung tâm trợ giúp pháp lý nhànước, hướng dẫn về chính sách tiền lương, chế độ phụ cấp của trợ giúp viên pháp lý
để thực hiện nghị định của Chính phủ; d) Bộ Nội vụ ban hành mã ngạch và tiêuchuan nghiệp vụ viên chức trợ giúp pháp lý sau khi thống nhất với Bộ Tư pháp e)
Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ ban hành văn bản hướng dẫnchế độ phụ cấp hàng tháng bồi dưỡng đối với cộng tác viên trợ giúp pháp lý "
Trang 23"2/ Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW có trách nhiệm chỉ đạo các
cơ quan chuyên môn ở địa phương các công việc sau:
a Hoàn thành việc rà soát củng cố, kiện toàn tổ chức cán bộ, đảm bảo biên chế,kinh phí, cơ sở vật chất trang thiết bị làm việc, tăng cường năng lực cho trung tâmtrợ giúp pháp lý nhà nước và các chi nhánh của trung tâm;
b Căn cứ vào nhu cầu trợ giúp pháp lý và điều kiện thực tế của địa phươngthành lập các chi nhánh của trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước nhằm đáp ứng kịpthời, nhu cầu tại chỗ trợ giúp pháp lý của người dân ở quận, huyện, thị xã, thành phốthuộc tỉnh, các phường, xã, thị trấn xa trung tâm;
c Rà soát tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý ở địa phương để đảm bảo các tổchức này hoạt động phù hợp với luật trợ giúp pháp lý"
áp dụng pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách,UBTW MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm là: Tích cực độngviên, giới thiệu những người trong tổ chức của mình có đủ tiêu chuẩn, điều kiệntham gia làm cộng tác viên trợ giúp pháp lý; khuyến khích các trung tâm tư vấn phápluật của tổ chức mình đang ký tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợgiúp pháp lý
Đối với Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc TW có trách nhiệm: Củng
cố, kiện toàn về tổ chức bộ máy của trung tâm trợ giúp pháp lý theo hướng chuyênmôn hoá, mỗi lĩnh vực trợ giúp pháp lý đều có trợ giúp viên pháp lý chuyên trách và
có năng lực chuyên môn sâu về lĩnh vực được giao để đảm bảo chất lượng trợ giúppháp lý, tránh việc phải bồi thường do trợ giúp pháp lý sai; tổ chức khảo sát, đánhgiá nhu cầu trợ giúp pháp lý và điều kiện thực tế của địa phương, dự kiến số lượng,địa điểm thành lập các chi nhánh của trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước trình Chủtịch UBND cấp tỉnh thành lập; tổ chức rà soát đánh giá tiêu chuan đội ngũ cán bộviên chức làm việc tại trung tâm trợ giúp pháp lý để có kế hoạch bố trí đủ biên chế
và đảm bảo tiêu chuan nghiệp vụ cho trung tâm và chi nhánh của trung tâm trợ giúppháp lý; đồng thời, quy hoạch nguồn cán bộ để bồi dưỡng, trình Chủ tịch UBND cấp
Trang 24tỉnh bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý; xây dựng đề án đảm bảo trụ sở làm việc và tăngcường kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho trung tâm trợ giúp pháp lý
và các chi nhánh của trung tâm trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt; rà soát hoạtđộng của các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật ở địa phương tronghoạt động tham gia trợ giúp pháp lý, phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội chủquản, tổ chức tư vấn pháp luật tự nguyện tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý đăng kýhoạt động và thực hiện các quy định khác đảm bảo có đủ các điều kiện để hoạt độngtrợ giúp pháp lý theo quy định của luật trợ giúp pháp lý; hướng dẫn hoạt động trợgiúp pháp lý của các tổ chức này
Đối với Trung tâm Trợ giúp pháp lý thông qua nhiệm vụ và các hình thức trợgiúp pháp lý để thực hiện tốt áp dựng pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo
và đối tượng chính sách, cụ thể là: Thực hiện trợ giúp pháp lý; đề nghị cơ quan, tổchức hữu quan phối hợp, cung cấp thông tin, tài liệu về vụ việc trợ giúp pháp lý; bồithường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong khi thực hiện trợ giúp pháp lý; thựchiện chế độ báo cáo, thống kê về trợ giúp pháp lý; giải quyết khiếu nại theo quy địnhtại Khoản 1 Điều 49 Luật Trợ giúp pháp lý; giải quyết tranh chấp trong trợ giúp pháplý
Điều 3 quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lýnhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 244/ 1999/ QĐ - BTP ngày 05/8/1999của Bộ Tư pháp, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước có chức năng và nhiệm vụsau đây: Trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách theo các lĩnhvực pháp luật như, hình sự và tố tụng hình sự; dân sự, hôn nhân gia đình và tố tụng;hành chính, khiếu nại tố cáo; đất đai và nhà ở, lao động, việc làm và các lĩnh vựckhác liên quan đến quyền lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của công dân không thuộclĩnh vực kinh doanh thương mại; tham gia phổ biến giáo dục pháp luật cho các đốitượng trợ giúp pháp lý; theo dõi hoạt động trợ giúp pháp lý của cộng tác viên củatrung tâm; đề xuất kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc sửa đổi, bổsung, thay thế các văn bản pháp luật không còn phù hợp với thực tế được phát hiện
Trang 255trong quá trình thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý; tổ chức bồi dưỡng chuyênmôn, nghiệp vụ và trao đổi kinh nghiệm cho chuyên viên và cộng tác viên thực hiệntrợ giúp pháp lý; đề xuất việc khen thưởng cho tập thể, cá nhân có thành tích trongcông tác; quản lý cán bộ, công chức, tài chính và cơ sở vật chất của trung tâm trợgiúp pháp lý nhà nước theo phân cấp của giám đốc Sở Tư pháp và các quy định khác
có liên quan
Ngoài các nhiệm vụ đã được quy định trước đây, luật trợ giúp pháp lý quy định,hàng năm trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước phải xây dựng chương trình, kế hoạchtrợ giúp pháp lý trình Giám đốc Sở Tư pháp phê duyệt và có trách nhiệm thực hiệncác chương trình, kế hoạch đó, theo dõi hoạt động trợ giúp pháp lý của trợ giúp viênpháp lý, cộng tác viên và các cán bộ khác của trung tâm theo thẩm quyền; quản lýchi nhánh và các câu lạc bộ trợ giúp pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý và các chinhánh của Trung tâm tiến hành, tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đốitượng chính sách thông qua các hình thức trợ giúp pháp lý đó là: Tư vấn pháp luật;tham gia tố tụng; đại diện ngoài tố tụng; các hình thức trợ giúp pháp lý khác Trong
đó hình thức tư vấn pháp luật được xác định là việc hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ýkiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc trợgiúp pháp lý Còn hình thức tham gia tố tụng được xác định là việc trợ giúp pháp lý,luật sư tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý làngười bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi của người được trợ giúppháp lý là người bị hại,nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan đến vụ án hình sự hoặc tham gia tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, đểbảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý trong vụ, việc dân sự
vụ án hành chính Các hình thức trợ giúp pháp lý khác bao gồm: Giúp đỡ người đượctrợ giúp pháp lý hoà giải; thực hiện những công việc liên quan đến thủ tục hànhchính, khiếu nại và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật
Trang 26Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật khi tham gia trợ giúp pháp
lý, áp dụng pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sáchtrong phạm vi đăng ký trợ giúp pháp lý đã được Sở Tư pháp cấp
Thứ ba: Tuân thủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động tổ chức pháp lý cho
người nghèo và đối tượng chính sách
Tuân thủ pháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách làmột hình thức thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượngchính sách, yêu cầu các chủ thể thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho ngườinghèo và đối tượng pháp lý không thực hiện những hành vi mà pháp luật về trợ giúppháp lý cấm Tại Điều 9 - Luật Trợ giúp pháp lý quy định: " 1 Nghiêm cấm tổ chứcthực hiện trợ giúp pháp lý người thực hiện trợ giúp pháp lý thực hiện các hành vi sauđây: a Xâm phạm danh dự, nhân pham, quyền và lợi ích hợp pháp"
b Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người được trợ giúp pháp lý; sách nhiễu người được trợ giúp pháp lý;
c Tiết lộ thông tin, bí mật về vụ việc trợ giúp pháp lý, về người được trợ giúppháp lý, trừ trường hợp người được trợ giúp pháp lý đồng ý bằng văn bản hoặc phápluật có quy định khác;
d Từ chối, hoặc không tiếp tục trợ giúp pháp lý trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 45 luật này và theo quy định của pháp luật về tố tụng; đ Lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý để trục lợi; e Lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp
lý gây rối trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của con người, xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
Trang 27Thứ tư: Sử dụng pháp luật của người nghèo và đối tượng chính sách xã hội Sử dụng
pháp luật về trợ giúp pháp lý của người nghèo và đối tượng chính sách cũng là mộthình thức thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượngchính sách Điều 11 - Luật Trợ giúp pháp lý quy định: “Quyền của người được trợ
3 Thay đối, rút yêu cầu trợ giúp pháp lý
4 Yêu cầu giữ bí mật về nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý
5 Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật
6 Khiếu nại tố cáo về trợ giúp pháp lý
Cụ thể là:
Quyền tự mình hoặc thông qua người thân thích người đại diện để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình, người thuộc diện được trợ giúp pháp lý khi cóyêu cầu trợ giúp pháp lý thuộc phạm vi, lĩnh vực và hình thức trợ giúp pháp lý có thể
tự mình trực tiếp đến tố chức thực hiện trợ giúp pháp lý yêu cầu hoặc gửi đơn yêucầu trợ giúp pháp lý cho tố chức thực hiện trợ giúp pháp lý qua đường bưu điện kèmtheo bản sao giấy xác nhận mình là người được trợ giúp pháp lý và những tài liệu,
Trang 28giấy tờ có liện quan đến vụ việc được trợ giúp pháp lý (nếu có) Trường hợp ngườiđược trợ giúp pháp lý không thể trực tiếp đến tố chức thực hiện trợ giúp pháp lý yêucầu thì có thể thông qua người thân thích: ông, bà, cha, mẹ, anh chị em ruột, con đẻcon nuôi hợp pháp Trường hợp không có người thân thích thì có yêu cầu trợ giúppháp lý thông qua người đại diện theo uỷ quyền của người được trợ giúp pháp lý.Người được uỷ quyền yêu cầu trợ giúp pháp lý phải xuất trình giấy uỷ quyền củangười được trợ giúp pháp lý.
Quyền lựa chọn người trợ giúp pháp lý; yêu cầu thay đối người trợ giúp pháp
lý khi người đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 45 củaLuật Trợ giúp pháp lý:
Khi yêu cầu thực hiện trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý có quyềnlựa chọn người thực hiện trợ giúp pháp lý (trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư, tư vấnviên pháp luật hoặc người khác là cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý),thực hiện trợ giúp pháp lý cho mình Trường hợp người được trợ giúp pháp lý khônglựa chọn được người trợ giúp pháp lý cho mình thì Trung tâm Trợ giúp pháp lý sẽ cửngười thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý Trong quá tìnhthực hiện trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý có quyền yêu cầu thay đổingười thực hiện trợ giúp pháp lý cho mình trong các trường hợp sau: a Người thựchiện trợ giúp pháp lý đã hoặc đang thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợgiúp pháp lý là một bên có quyền lợi đối lập với mình trong cùng một vụ việc, trừtrường hợp hoà giải, giải đáp pháp luật; b Người thực hiện trợ giúp pháp lý cóquyền và lợi ích hợp pháp hoặc có người thân thích liên quan đến vụ việc trợ giúppháp lý; c Người thực hiện trợ giúp pháp lý đã từng là người giải quyết vụ việc củamình; d Có căn cứ cho rằng người thực hiện trợ giúp pháp lý có thể không kháchquan trong việc thực hiện trợ giúp pháp lý
Quyền thay đổi, rút yêu cầu trợ giúp pháp lý.
Trang 299Trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý cótoàn quyền định đoạt trong việc thay đổi hoặc rút yêu cầu trợ giúp pháp lý vào bất cứthời điểm nào Nếu có yêu cầu thay đổi hoặc rút yêu cầu trợ giúp pháp lý, thì ngườiđược trợ giúp pháp lý làm đơn nêu rõ yêu cầu thay đổi hoặc rút yêu cầu trợ giúppháp lý gửi tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.
Quyền yêu cầu giữ bí mật về nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý.
Khi tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý đã thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý,người được trợ giúp pháp lý có quyền yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý giữ
bí mật về nội dung việc trợ giúp pháp lý Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý vàngười thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm giữ bí mật về nội dung vụ việc trợgiúp pháp lý của người được trợ giúp pháp lý
Quyền được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp người được trợ giúp pháp lý có đủ căn cứ chứng minh việctrợ giúp pháp lý không phù hợp với pháp luật của người thực hiện trợ giúp pháp lý
đã gây thiệt hại cho mình thì có quyền yêu cầu to chức trợ giúp pháp lý nơi ngườithực hiện trợ giúp pháp lý làm việc hoặc trực tiếp người thực hiện trợ giúp pháp lýbồi thường thiệt hại do lỗi của người thực hiện trợ giúp pháp lý gây ra Đe đảm bảothực hiện quyền này của người được trợ giúp pháp lý, luật trợ giúp pháp lý quy địnhnguyên tắc người thực hiện trợ giúp pháp lý phải “chịu trách nhiệm trước pháp luật
về nội dung trợ giúp pháp lý” (Khoản 5 Điều 4); Trung tâm trợ giúp pháp lý nhànước có “Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong khi thực hiệntrợ giúp pháp lý” (Khoản 3 Điều 15) và tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấnpháp luật khi tham gia trợ giúp pháp lý “Phải bồi thường thiệt hại do lỗi của mìnhgây ra” (Khoản 3 Điều 18)
Quyền khiếu nại, tố cáo về trợ giúp pháp lý.
Pháp luật về trợ giúp pháp lý quy định: Người được trợ giúp pháp lý có quyềnkhiếu nại đối với các hành vi sau đây của trung tâm trợ giúp pháp lý, trợ giúp viên
Trang 30pháp lý, cộng tác viên khi có căn cứ cho rằng hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạmquyền và lợi ích hợp pháp của mình: Từ chối thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý; khôngthực hiện trợ giúp pháp lý; thay đổi người trợ giúp pháp lý Giám đốc trung tâm trợgiúp pháp lý nhà nước có trách nhiệm giải quyết khiếu nại trong thời hạn 3 ngày làmviệc, ke từ ngày nhận được khiếu nại; trường hợp không đồng ý với giải quyết khiếunại của giám đốc trung tâm trợ giúp pháp lý, người khiếu nại có quyền khiếu nại đếngiám đốc Sở Tư pháp Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan có nhà nước có thẩmquyền về hành vi xâm phạm các quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý Việc tốcáo và giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.
1.2 Vai trò của thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội
1.3.1 Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội có vai trò nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội
Quá trình thực hiện về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chínhsách xã hội có vai trò trong việc đẩy mạnh công tác phố biến, tuyên truyền giáo dụcpháp luật, góp phần từng bước nâng cao nhận thức pháp luật của nhân dân nóichung, người nghèo và đối tượng chính sách nói riêng, tạo ra sự công bằng trongnhận thức và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, giúpngười nghèo và đối tượng chính sách từng bước hoàn thiện hành vi ứng xử của mìnhphù hợp với quy định của pháp luật, bảo đảm các đối tượng trợ giúp pháp lý là ngườinghèo và đối tượng chính sách sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của mình được pháp luật bảo vệ
Chính vì vậy, để pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượngchính sách xã hội đi vào cuộc sống, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, tăng cường
và đẩy mạnh công tác phố biến, giáo dục pháp luật, với nhiều hình thức tuyên truyền
Trang 311phong phú để đưa pháp luật đến với nhân dân nói chung, người nghèo và đối tượngchính sách nói riêng.
1.3.2 Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội có vai trò trong việc thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm công bằng, xã hội
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “Tăng trưởng kinh
tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội” [27], phấn đấu vì một xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh, mội người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cóđiều kiện pháp triển toàn diện Thực tế qua 10 năm thực hiện pháp luật về trợ giúppháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý đã góp phần quan trọng trong việc hướng dẫnpháp luật cho người nghèo và đối tượng chính sách, bảo đảm cho họ được tiếp cận,
sử dụng pháp luật miễn phí góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cho người nghèo
và đối tượng chính sách xã hội Giúp người nghèo và đối tượng chính sách bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình, tạo điều kiện để thực hiện công bằng xã hội,bảo vệ công lý, bảo vệ quyền bình đang của mọi công dân trước pháp luật
1.3.3 Thực hiện về trợ giúp pháp lý góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội
Thông qua việc thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo vàđối tượng chính sách xã hội nhằm bảo đảm thực hiện chính sách nhất quán của Đảng
ta là đặc biệt quan tâm đến người có hoàn cảnh khó khăn, người nghèo, đối tượngchính sách xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của họ
1.3.4 Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách góp phần tăng cường đoàn kết toàn dân, thực hiện chiến lược
“xoá đói, giảm nghèo” của Chính phủ
Thông qua hoạt động hoà giải tại cơ sở là một hình thức trợ giúp pháp lý chongười nghèo và đối tượng chính sách, từ hoạt động hoà giải để vận động, phân tích,
Trang 32thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết các mâu thuẫn, vướng mắc trên cơ sởtình làng nghĩa xóm và các quy định của pháp luật Thực hiện trợ giúp pháp lý chongười nghèo và đối tượng chính sách xã hội còn có vai trò quan trọng là bảo vệ sựcông bằng, tự do, nhân đạo, niềm tin của người dân vào lẽ phải Từ vai trò đó củathực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý đã tạo thêm nguồn lực thực hiện thắng lợi sựnghiệp đổi mới do Đảng
Cộng sản Việt nam khởi xướng và lãnh đạo, thực hiện mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
1.3.5 Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội góp phần cải cách hành chính, thực hiện pháp chế xã hội con người
Các vụ việc được các tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượngchính sách xã hội tiến hành như: Tư vấn, đại diện, kiến nghị, đề xuất với các cơquan nhà nước có thẩm quyền được xem xét và giải quyết kịp thời, đúng quy địnhcủa pháp luật Thông qua thực pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đốitượng chính sách xã hội đã giúp cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý hiểu đượccác thủ tục về hành chính tối thiểu về hành chính, hạn chế đi lại nhiều gây tốn kémcông sức và tiền bạc của nhân dân Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý giúp cácchính quyền các cấp tháo gỡ khó khăn trong giải quyết công việc của địa phương,liên quan đến pháp luật nói chung trong đó có pháp luật về trợ giúp pháp lý chongười nghèo và đối tượng chính sách xã hội, góp phần làm cho chính quyền gần dânhơn nhân dân hiểu chính quyền hơn Đồng thời thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp
lý còn giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết các vụ việc khách quan,công bằng và đúng quy định của pháp luật, mở rộng điều kiện tranh tụng trước toà
Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chínhsách xã hội góp phần giúp người dân và các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hộituân thủ pháp luật nói chung trong có pháp luật về trợ giúp pháp lý Thông qua thựchiện pháp luật về trợ giúp pháp lý các tổ chức trợ giúp pháp lý đã phát hiện nhiều bất
Trang 333cập từ các quy định của pháp luật, nhất là pháp luật liên quan đến người nghèo vàđối tượng chính sách xã hội Từ đó có kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền để sửađổi, bổ sung, xây dựng mới các văn bản pháp luật, nhằm hoàn thiện hơn các cơ chế,chính sách và pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước của khuvực và thế giới Hơn 10 năm qua từ thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý chongười nghèo và đối tượng chính sách xã hội đã có những đóng góp rất quan trọngtrong việc cung cấp các cơ sở về khoa học pháp lý và thực tiễn cuộc sống Góp phầnquan trọng trong công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúppháp lý cho người nghèo nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung, phục vụ thắnglợi sự nghiệp đổi mới.
Chương 2 thực trạng thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách ở tỉnh thanh hoá (từ năm 1999 đến nay)
2.1 Một số nét về đặc điểm kinh tế, xã hội ở Tỉnh Thanh Hoá ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội
2.1.1 Về địa lý tỉnh Thanh Hoá
Thanh Hoá là một tỉnh nằm ở cực Bắc Miền Trung, cách thủ đô Hà Nội 150 km
về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.560 km, phía Bắc giáp với 3 tỉnh Sơn
La, Hoà Bình, Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh HủaPhăn (nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào), phía Đông là Vịnh Bắc Bộ ThanhHoá nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung Bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liềnBắc Bộ với Trung Bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi như: Đường sắt xuyên Việt,đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217, cảng biển nước sâu Nghi Sơn-Tĩnh Gia và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho lưu thông Bắc Nam với các vùng trongtỉnh và đi quốc tế Hiện tại Thanh Hoá có sân bay Sao Vàng và đang dự kiến mởthêm sân bay quốc tế sát biển phục vụ cho khu kinh tế Nghi Sơn và khách du lịch
Trang 34Thanh Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt, hướng giópho biến mùa Đông là Tây Bắc và Đông Nam, mùa hè Đông và Đông Nam Đặcđiểm khí hậu và thời tiết với lượng mưa lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào là điềukiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Thanh Hoá có diện tích
tự nhiên 1.112.033 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 245.367 ha, đất sản xuấtlâm nghiệp 553.999 ha, đất nuôi trồng thuỷ sản 10.157 ha, đất chưa sử dụng 153.520
ha với các nhóm đất thích hợp cho phát triển cảng lương thực, cây lâm nghiệp, câycông nghiệp và cây ăn quả Thanh Hoá có địa hình đa dạng, thấp dần từ Tây sangĐông, chia làm 3 vùng rõ rệt:
- Vùng núi và vùng trung du có diện tích đất tự nhiên 839.037 ha, chiếm75,44% diện tích toàn tỉnh
- Vùng đồng bằng có diện tích đất tự nhiên là 162.341 ha chiếm 14,61% diệntích toàn tỉnh, được bồi tụ bởi các hệ thống sông Mã, sông Bạng, sông Y ên và sôngHoạt Đồng bằng sông Mã có diện tích lớn đứng thứ 3 sau đồng bằng sông Cửu Long
Thanh Hoá là một trong những tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện tích đất córừng là 484.246 ha, trữ lượng khoảng 16,64 triệu m3 gỗ, hàng năm có thể khai thác50.000 - 60.000 m3 Rừng ở Thanh Hoá chủ yếu là rừng cây lá rộng, có hệ thực vậtphong phú đa dạng về họ, loài, có các loại gỗ qúy, hiếm như: lát, pơma, samu, limxanh, táu, sến, vàng tâm, dổi, tre, chò chỉ Ngoài ra còn có: mây, sóng, dược liệunhư quế, cánh kiến đỏ có diện tích trồng luồng lớn nhất cả nước với diện tích
Trang 35550.000 ha Rừng Thanh Hoá cũng là nơi quần tụ và sinh sống của nhiều loài động vậtnhư: hươu, nai, hoẵng, vượn, khỉ, lợn rừng, các loài bò sát và các loài chim Đặc biệt
ở vùng phía Nam của tỉnh có rừng quốc gia Bến En, phía Tây Bắc có khu bảo tồnthiên nhiên Pù Ha, Pù Luông, Xuân Hiên Thanh Hoá là một trong số ít tỉnh ở ViệtNam có nguồn tài nguyên, khoáng sản phong phú và đa dạng: có 296 mỏ và điểmkhoáng sản với 42 loại khác nhau, nhiều loại có trữ lượng lớn so với cả nước
2.1.2 Về dân cư
Thanh Hoá là một tỉnh đất rộng, người đông, toàn tỉnh có 27 đơn vị hành chính,trong đó có một thành phố là thành phố Thanh Hoá và hai thị xã (thị xã Sầm Sơn vàthị xã Bỉm Sơn) Như đã nêu ở phía trên Thanh Hoá có địa hình tương đối phức tạp
có vùng núi cao, vùng ven biển, trung du và đồng bằng
Dân số trên 3,7 triệu người, có 7 dân tộc anh em cùng chung sống đó là: Dântộc Kinh, Mường, Thổ, H'mông, Dao, Hoa, Thái, trong đó dân tộc Mường trên 300ngàn người, dân tộc Thái trên 200 ngàn người Đồng bào dân tộc miền núi ThanhHoá có trên 1 triệu người chiếm gần 30% dân số toàn tỉnh, dân cư tập trung chủ yếu
ở 11 huyện miền núi Thanh Hoá Gồm: 1 huyện vùng cao, 222 xã miền núi, trên 100
xã vùng cao, có 13 xã giáp nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Tỉnh Thanh Hoá
có khoảng 275.000 hộ nghèo, 113.000 người có công với cách mạng, gần 162.000người tàn tật, khoảng 9.600 người gốc cô đơn không nơi nương tựa, khoảng 10.470trẻ em mồ côi, người dân tộc thiểu số vùng 135 khoảng 200.000 người, ước tính sốlượng người nghèo và đối tượng chính sách tỉnh Thanh Hoá khoảng 33% dân số củatỉnh
2.1.3 Về đặc điểm truyền thống
Thanh Hoá có bề dày lịch sử hào hùng và truyền thống văn hoá độc đáo Vào
sơ kỳ thời đại đá cũ, bằng sự phát hiện và khai quật khảo cổ các di chỉ núi Đọ, núiQuan Yên, núi Nuông đã khẳng định Thanh Hoá là nơi sinh sống của người nguyênthuỷ, đặc biệt hang Con Mong là nơi chứng kiến các giai đoạn phát triển liên tục của
Trang 36con người từ hậu kỳ đá cũ sang thời đại đá mới Quá trình chinh phục đồng bằng trênđất Thanh Hoá của dân cư đồ đá mới đã để lại một nền văn hoá Đa Bút, là một nềnvăn hoá khoả cổ tiến bộ cùng thời trong khu vực cách đây 6.000 năm Sang đầu thờiđại kim khí, thuộc thời đại đồ đồng, qua các bước phát triển với các giai đoạn trướcvăn hoá Đông Sơn, Thanh Hoá đã trải qua một tiến trình phát triển với các giai đoạnvăn hoá: Cồn Chân Tiên, Đồng Khởi - Quí Chữ tương đương với các văn hoá PhùngNguyên - Đồng Dậu - Gò Mun ở lưu vực sông Hồng Đó là quá trình chuẩn bị mọimặt để đến văn minh Văn Lang, cách đây hơn 2.000 năm lịch sử, văn hoá Đông Sơn
ở Thanh Hoá đã toả sáng rực rỡ trong đất nước của các Vua Hùng Suốt mấy ngànnăm lịch sử dựng nước và giữ nước, Thanh Hoá đã xuất hiện nhiều anh hùng dântộc, danh nhân tiêu biểu như: Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê Lợi, Khương Công Phụ, Lê VănHưu, Đào Duy Từ Cùng với những trang lịch sử oai hùng, Thanh Hoá có 1.535 ditích trong đó có 134 di tích được xếp hạng quốc gia, 412 di tích đã xếp hạng cấp tỉnhvới các di tích nổi tiếng như: Núi Đọ, Đông Sơn, Khu di tích Bà Triệu, Lê Hoàn,Thành Nhà Hồ, Lam Kinh, Ba Đình, Hàm Rồng càng khang định xứ Thanh là một
vùng "Địa linh nhân kiệt".
Xuất phát từ vị trí địa lý, về đặc điểm dân cư và truyền thống lịch sử ThanhHoá, trong quá trình thực hiện sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo cũng như một sốđịa phương khác trong cả nước, Thanh Hoá đã và đang có những bước phát triểnkhá, đạt được các thành tựu quan trọng về kinh tế - văn hoá - xã hội, đời sống nhândân từng bước được cải thiện Song cũng không tránh khỏi những khó khăn, hạn chế
do tác động của mặt trái cơ chế thị trường, phân hoá giàu nghèo, sự chênh lệch giữacác vùng miền ngày càng rõ nét, nó không chỉ dừng lại ở lĩnh vực kinh tế mà còn ở
cả các lĩnh vực về xã hội Nhất là về nhận thức, hiểu biết phát luật của nhân dân vàcán bộ, đặc biệt là về nhận thức và thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho ngườinghèo và đối tượng chính sách xã hội
2.2 Thực trạng về thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội ở Tĩnh Thanh Hoá
Trang 37cố, kiện toàn và tăng cường năng lực hoạt động theo chức năng để giúp bộ trưởng Bộ
Tư pháp trong việc quản lý, điều hành, hướng dẫn và hỗ trợ hoạt động trợ giúp pháp
lý trong toàn quốc ở các địa phương trong cả nước, ngày đầu mới có 2 Trung tâmTrợ giúp pháp lý đó là Trung tâm của tỉnh Cần Thơ và Trung tâm của tỉnh Hà Tây(nay thuộc thủ đô Hà Nội) được thành lập thí điểm, trước khi Thủ tướng Chính phủban hành Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 Đến năm 2001 toàn quốc đã thànhlập được 61 Trung tâm Trợ giúp pháp lý, năm 2003 đã có 64 Trung tâm Trợ giúppháp lý được thành lập Thực hiện Chỉ thị số 05/2000/CT - TTg của Thủ tướngChính phủ về tăng cường công tác trợ giúp pháp lý, chủ trương hướng hoạt động trợgiúp pháp lý về cơ sở nhằm tạo điều kiện cho người nghèo và đối tượng chính sách,đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa để tiếp cận với pháp luật Bộ Tư pháp
đã chỉ đạo thành lập các chi nhánh trợ giúp pháp lý hoặc tổ trợ giúp pháp lý ở cấphuyện ở các địa phương có địa bàn rộng, giao thông đi lại khó khăn, thí điểm các môhình trợ giúp pháp lý ở cấp xã như: Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, hộp thư trợ giúppháp lý, trợ giúp ở các điểm bưu điện văn hoá xã, tại các chùa của người Khơme,phối hợp trợ giúp pháp lý và hoạt động hoà giải ở cơ sở, với sự nỗ lực cố gắng củachính quyền và cơ quan tư pháp cơ sở đã thành lập 118 chi nhánh trợ giúp pháp lý,
881 tổ trợ giúp pháp lý thuộc các Trung tâm Trợ giúp pháp lý, đặt tại Phòng Tư phápcấp huyện, 680 điểm trợ giúp pháp lý về 701 câu lạc bộ trợ giúp pháp lý cấp xã.Sau khi Luật Trợ giúp pháp lý được ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày01/01/2007, thực hiện Chỉ thị số 35/2006/ CT- TTg ngày 13/10/2006 của Thủ tướngChính phủ về việc triển khai thi hành luật trợ giúp pháp lý và ngày 12/01/2007
Trang 38Chính phủ ban hành Nghị định số 07/2007/ NĐ - CP quy định chi tiết thi hành một
số điều của luật trợ giúp pháp lý Đến nay, Bộ Tư pháp đã rà soát, đánh giá và chỉđạo xây dựng đề án kiện toàn tổ chức, bộ máy của Cục Trợ giúp pháp lý thuộc Bộ
Tư pháp, theo hướng bảo đảm phù hợp với yêu cầu mới về chuyên môn và khốilượng công việc của trợ giúp pháp lý ở các địa phương trong toàn quốc sau khi cóLuật Trợ giúp pháp lý, UBND cấp tỉnh đã chỉ đạo Sở Tư pháp xây dựng đề án kiệntoàn tổ chức, cán bộ, biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc củacác Trung tâm Trợ giúp pháp lý theo hướng chuyên sâu Theo từng lĩnh vực phápluật như (hình sự, dân sự, hành chính, lao động, hôn nhân, gia đình, khiếu nại, tốcáo, đất đai, nhà ở ) các Trung tâm Trợ giúp pháp lý thuộc Sở Tư pháp có các(phòng, ban, bộ phận ) chuyên môn nghiệp vụ, trong đó mỗi lĩnh vực trợ giúp pháp
lý đều có trợ giúp viên trợ giúp pháp lý chuyên trách Các địa phương đã tiến hànhkhảo sát nhu cầu trợ giúp pháp lý về diều kiện thực tế của địa phương để thành lậpchi nhánh của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước theo mô hình cấp huyện hoặcliên huyện
Luật Trợ giúp pháp lý ra đời đã khang định và kiện toàn mô hình chi nhánh trợgiúp pháp lý và câu lạc bộ trợ giúp pháp lý Chi nhánh trợ giúp pháp lý là đơn vị phụthuộc trung tâm trợ giúp pháp lý đặt tại cấp huyện có trợ giúp viên pháp lý, thay vìcán bộ tư pháp kiêm nhiệm, chi nhánh có chức năng thực hiện tư vấn pháp luật, đạidiện, bào chữa, hoà giải cho người được trợ giúp pháp lý Câu lạc bộ trợ giúp pháp
lý được thành lập ở cấp xã là hình thức sinh hoạt pháp luật cộng đồng lồng ghép tưvấn pháp luật Từ chỗ toàn quốc có 3 tỉnh thí điểm thành lập câu lạc bộ, đến nay toànquốc đã có hàng trăm câu lạc bộ trợ giúp pháp lý
Mô hình trợ giúp pháp lý ở cơ sở ra đời thể hiện tính năng động, sáng tạo củađịa phương, là những cánh tay nối dài của các trung tâm trợ giúp pháp lý, gần dân,sát dân hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho dân Đa dạng về mô hình đã giúp ngườinghèo có nhiều kênh để lựa chọn trợ giúp pháp lý Ngoài ra để hỗ trợ, giúp đỡ phápluật cho phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình và tội buôn bán phụ nữ, Bộ Tư
Trang 399pháp đã thành lập điểm văn phòng trợ giúp pháp lý cho phụ nữ ở một số địa phươngnhư: Hà Nội, Bắc Giang, Khánh Hoà, Hà Tây, Thái Bình.
Để thu hút đông đảo lực lượng xã hội tham gia trợ giúp pháp lý với mục đích
đa dạng địa chỉ trợ giúp pháp lý cho nhân dân, do chưa có văn bản pháp luật cụ thể,
Bộ Tư pháp đã hướng dẫn, khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xãhội nghề nghiệp thành lập thí điểm Trung tâm Tư vấn pháp luật miễn phí và chothành viên, hội viên tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo
và đối tượng chính sách Chủ trương này của Bộ Tư pháp đã được Trung ương HộiNông dân Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Trungương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam,Trung ương Hội Luật gia Việt Nam tích cực hưởng ứng và triển khai thực hiện, tổchức này đã góp phần làm phong phú hệ thống trợ giúp pháp lý ở Việt Nam Thờigian qua các Sở Tư pháp tại các tỉnh đ ã tiến hành rà soát và tạo các điều kiện cầnthiết để các tổ chức chính trị - xã hội đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý trên tinh thần
tự nguyện theo quy định của luật trợ giúp pháp lý Các Trung tâm Tư vấn pháp luậtthí điểm của các tổ chức này sẽ chuyển đổi sang mô hình trung tâm tư vấn pháp luật
để tham gia trợ giúp pháp lý
Như vậy, mặc dù trợ giúp pháp lý còn là một lĩnh vực mới ở nước ta, nhưngcho đến nay hệ thống tổ chức, bộ máy trợ giúp pháp lý của Nhà nước đã được hìnhthành theo mô hình đa dạng và tương đối hoàn chỉnh trong phạm vi toàn quốc Đã có
sự tham gia bước đầu của tổ chức xã hội: Luật sư, tố chức tư vấn pháp luật miễn phí,tạo thành các kênh đồng bộ có sự tham gia của Nhà nước và của xã hội trong hoạtđộng trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách Hệ thống tố chứctrợ giúp pháp lý ở Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng, thể hiện một thiết chếhữu hiệu gắn dịch vụ pháp lý miễn phí với quyền và lợi ích của người nghèo và đốitượng chính sách
Trang 40Thực hiện Quyết định số 734/ TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ
về việc thành lập tố chức trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo về đối tượngchính sách, theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 52/ TTLT/ TP
- TC - TCCP - LĐTBXH ngày 14/01/1998 của Liên Bộ Tư pháp, tài chính, tố chứccán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ), lao động thương binh xã hội, UBND tỉnhThanh Hoá đã ban hành Quyết định số 452/ QĐ - UB ngày 23/3/1999 về việc thànhlập trung tâm trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sáchthuộc Sở Tư pháp Thanh Hoá gọi tắt là Trung tâm Trợ giúp pháp lý Thanh Hoá.Ngay sau khi có quyết định thành lập của UBND tỉnh, Sở Tư pháp Thanh Hoá
đã chủ động phối hợp với Sở Nội vụ, Sở Tài chính - vật giá, văn phòng UBND tỉnhThanh Hoá và các cơ quan hữu quan kịp thời triển khai, bố trí nhân sự, trụ sở làmviệc và các điều kiện cần thiết khác để cho ra mắt và đi vào hoạt động của Trung tâmTrợ giúp pháp lý Từ khi mới thành lập (tháng 6/1999) Trung tâm Trợ giúp pháp lýThanh Hoá về tố chức, bộ máy trung tâm có giám đốc, một phó giám đốc, một kếtoán và một cán sự trong đó giám đốc và kế toán kiêm nhiệm của,trung tâm có 9cộng tác viên tham gia trợ giúp pháp lý Có thể khẳng định rằng: Từ khi thành lậpđến nay Trung tâm Trợ giúp pháp lý Thanh Hoá luôn được quan tâm củng cố vàkiểm toàn về tố chức và bộ máy, bước đầu đã đáp ứng yêu cầu trợ giúp pháp lý chongười nghèo và đối tượng chính sách của địa phương
Thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý, Nghị định số 07/2007/HĐ - CP ngày12/1/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều củaLuật Trợ giúp pháp lý Đến nay, to chức bộ máy về trợ giúp pháp lý ở Thanh Hoá đãtương đối hoàn chỉnh, được tổ chức chặt chẽ: Trung tâm được tỉnh phân bố 18 biênchế, trong đó có giám đốc, một phó giám đốc trung tâm, trung tâm trợ giúp pháp lýThanh Hoá tổ chức theo 3 phòng ban gồm: Phòng nghiệp vụ 1, phòng nghiệp vụ 2,phòng hành chính - tổng hợp Trung tâm Trợ giúp pháp lý Thanh Hoá có đội ngũcông tác viên đông đảo gồm 120 người, trong đó có 22 người thường xuyên làm việctại trung tâm