1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM 1954 1975 – CÁCH NHÌN TỪ NHIỀU PHÍA

22 441 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 48,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ đến khi quân dân ta ở hai miền Nam Bắc đoàn kết chiến đấu, giành thắng lợi vang dội trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1975, bắt sống toàn bộ nội các của chính quyền Sài G

Trang 1

CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM 1954-1975 – CÁCH NHÌN TỪ NHIỀU PHÍA

đế quốc Mĩ trong suốt 21 năm, tức là hơn 1/5 thế kỉ, từ năm 1954 đến năm 1975 Một sự thật tưởng như hiển nhiên và sẽ được mọi người công nhận như vậy nhưng vẫn có rất nhiều cách nhìn, hướng nhìn khác nhau từ nhiều phía: phía Chínhphủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (tiền thân là Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) cùng với nhân dân Việt Nam; phía Chính phủ Mĩ và Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn); phía nhân dân Mĩ, phía dư luận quốc tế Cách nhìn của các bên trong thời điểm cuộc chiến tranh đang diễn ra và sau khi cuộc chiến tranh

đã qua đi cũng khác nhau

Vì vậy, việc tìm hiểu những cách nhìn khác nhau sẽ cho chúng ta có thêm cái nhìn

đa chiều hơn, sâu sắc hơn về cuộc chiến Đặc biệt, với người giáo viên giảng dạy môn Lịch sử điều này càng trở nên cần thiết để giúp giáo viên giảng dạy tốt hơn những nội dung liên quan đến Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975 – một giai đoạn hết sức quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, ý thức cho thế hệ trẻ và quan trọng trong quá trình ôn luyện giúp các em đạt kết quả cao ở các kì thi học sinh giỏi các cấp và thi THPT Quốc gia

Vì những lí do trên, tôi chọn “Cuộc Chiến tranh Việt Nam 1954 - 1975 - cách nhìn từ nhiều phía” làm đề tài bước đầu tìm hiểu để trao đổi cùng các đồng

nghiệp tại trại hè Hùng Vương được tổ chức tại Lào Cai (2017)

1.2 Mục đích của đề tài

Mục đích của đề tài là tìm kiếm, sưu tầm tư liệu về cách nhìn cuộc chiến

Trang 2

tranh Việt Nam 1954 - 1975 từ các phía khác nhau, sau đó tổng hợp, khái quát, hệ thống lại những tri thức, cách nhìn quan trọng về cuộc chiến này để có thêm những

tư liệu quý báu phục vụ cho quá trình giảng dạy và trao đổi, chia sẻ với các đồng nghiệp

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện chuyên đề, tôi đã thực hiện các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp phân tích, so sánh

1.4 Cấu trúc của đề tài

Chuyên đề được cấu trúc thành ba phần

2.1.1 Về phía Chính phủ Mĩ và Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn)

2.1.2 Về phía Chính phủ và nhân dân Việt Nam

2.1.3 Về phía người dân và học giả Hoa Kì

2.1.4 Về phía các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc…) và nhân loại tiến bộ

2.1.5 Về phía Chính phủ một số nước phương Tây

2.2 Cách nhìn của Mĩ và Việt Nam sau cuộc chiến tranh (từ sau Đại thắng Mùa Xuân năm 1975 đến nay)

2.2.1 Về phía Chính phủ Mĩ

2.2.2 Về phía những người lính Mĩ thời hậu chiến

2.2.3 Về phía Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam

2.3 Vận dụng chuyên đề vào quá trình giảng dạy phần Lịch sử Việt Nam 1975

1954-KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

2 NỘI DUNG

2.1 Cách nhìn của các bên trong khi cuộc chiến đang diễn ra (1954-1975)

Mục tiêu của các bên trong Chiến tranh Việt Nam rất phức tạp và đa diện tùy theo lập trường của các bên

2.1.1 Về phía Chính phủ Mĩ và Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn)

Đối với các nhà lãnh đạo của Mĩ và Việt Nam Cộng hòa thì đây là cuộc chiến tranhgiữa hai hệ tư tưởng: chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa chống cộng; và cuộc chiến

Trang 3

tranh Việt Nam (1954-1975) được Mĩ tiến hành để góp phần thực hiện chiến lược toàn cầu, nhằm làm bá chủ thế giới.

Chính phủ Mĩ muốn ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam

Á nên đã thể hiện quyết tâm xâm lược rất cao

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (21-7-1954), Mĩ đã hất cẳng Pháp, nhảy vào miền Nam Việt Nam, dựng lên chính quyền tay sai (đầu tiên là chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm), thông qua viện trợ về kinh tế, quân sự và với vai trò cố vấn cho chính quyền tay sai tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới ở miền Nam Việt Nam Mĩ đã đầu tư một lực lượng lớn vũ khí và phương tiện chiến tranh, trang

bị kĩ thuật cho chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam tiến hànhcuộc chiến tranh chống lại Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc Những hành động của Mĩ khiến nhiều người không hiểu rõ bản chất của cuộc chiến

sẽ lầm tưởng rằng đây là một cuộc nội chiến giữa hai miền Nam – Bắc Việt Nam

và Mĩ chẳng qua chỉ vào để giúp miền Nam chống lại chủ nghĩa cộng sản ở miền Bắc để tiến hành thống nhất đất nước mà thôi

Quyết tâm xâm lược Việt Nam bằng mọi giá của Chính phủ Mĩ không chỉ dừng lại

ở việc họ đầu tư cho chính quyền Sài Gòn một khối lượng lớn tiền bạc, vũ khí và phương tiện chiến tranh mà còn thể hiện rõ nét ở những thời điểm quân đội Sài Gòn bị suy yếu, đứng trước nguy cơ tan rã, Mĩ đã phải trực tiếp đưa quân đội của mình và quân một số nước đồng minh vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, hòng “hà hơi tiếp sức” cho quân đội Sài Gòn

Cụ thể, trong giai đoạn 1965-1968, sau thất bại của quân đội Sài Gòn trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (giữa năm 1965), Mĩ đã trực tiếp đưa quân đội của mình và quân các nước Đồng minh (gồm 5 nước: Philíppin, Hàn Quốc, Thái Lan, Ốtxtrâylia, Niudilân) vào tham chiến tại Việt Nam trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”

Tuy nhiên, với thắng lợi của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm

1968 của nhân dân ta ở miền Nam đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh Cục bộ”của Mĩ, buộc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa” chiến tranh xâm lược, thừa nhận sự thất bại của “Chiến tranh Cục bộ” và chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1975), với lực lượng trực tiếp chiến đấu trên chiến trường

là quân đội Sài Gòn

Sau cuộc Tiến công chiến lược năm 1972 của quân dân miền Nam, Mĩ tuyên bố

“Mĩ hóa” trở lại chiến tranh Việt Nam: bắt đầu từ ngày 6-4-1972, chính thức từ ngày 16-4-1972 đến ngày 15-1-1973, Mĩ đã huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân để gây ra cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai Đặc biệt, trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 (từ 18 đến 29-12-1972), Mĩ đã tiến hành cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu ở miền Bắc, với ý đồ muốn dùng sức mạnh của vũ khí

để giành thắng lợi quân sự quyết định, tạo điều kiện thuận lợi trên bàn đàm phán,

Trang 4

buộc ta phải kí Hiệp định Pa-ri theo chiều hướng có lợi cho Mĩ.

Tuy nhiên, âm mưu của Mĩ đã không thể thực hiện được bởi quân dân ta ở miền Bắc đã đánh trả không quân Mĩ những đòn đích đáng, làm nên trận “Điện Biên Phủtrên không” vang dội trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pa-ri (27-1-1973) theo chiều hướng có lợi cho ta

Trên cơ sở đó, ngày 29-3-1973, Mĩ đã phải rút quân về nước, chấm dứt chiến tranhxâm lược Nhưng Mĩ vẫn để lại 2 vạn cố vấn quân sự đội lốt dân sự, tiếp tục viện trợ cho chính quyền và quân đội Sài Gòn tiến hành chiến tranh Thực chất đây là

sự tiếp tục chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” Chỉ đến khi quân dân ta ở hai miền Nam Bắc đoàn kết chiến đấu, giành thắng lợi vang dội trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1975, bắt sống toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, Mĩ mới chịu chấp nhận thất bại của họ.Như vậy, Mĩ đã dốc tối đa khả năng có thể về cả người và vật chất cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam với một đội quân viễn chinh gồm hơn 60 vạn tên (gồm quân Mĩ và quân 5 nước đồng minh của Mĩ) làm nòng cốt cho hơn 1 triệu quân độiSài Gòn Riêng về quân Mĩ, chúng đã huy động lúc cao nhất gần 70% lực lượng bộbinh, 60% lính thủy đánh bộ, hơn 30% lực lượng không quân chiến thuật, 50% lực lượng không quân chiến lược và đã tiêu tốn hơn 350 tỉ USD Mĩ ngoan cố theo đuổi chiến tranh Việt Nam trong suốt hơn 1/5 thế kỉ (21 năm), 5 đời Tổng thống

Mĩ phải “đau đầu bạc tóc” vì cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (gồm các Tổng thống: Ai-xen-hao, Ken-nơ-đi, Giôn-xơn, Ních-xơn, Pho); Mĩ áp dụng hầu hết các chiến lược chiến tranh xâm lược thực dân mới ở miền Nam Việt Nam (trừ chiến tranh tổng lực), từ “chiến tranh đơn phương”, “chiến tranh đặc biệt” đến “Chiến tranh Cục bộ”, rồi “Việt Nam hóa chiến tranh”, mở rộng ra cả Đông Dương, tiến hành “Đông Dương hóa chiến tranh” để phối hợp với “Việt Nam hóa chiến tranh”

Mĩ sử dụng cả thủ đoạn về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, ngoại giao

Mĩ huy động những vũ khí tối tân nhất, hiện đại nhất mà họ có (trừ vũ khí nguyên tử) như xe tăng, máy bay B52, máy bay F111, tàu chiến…Trong lịch sử chiến tranhthế giới, Việt Nam là đất nước bị ném nhiều bom nhất Số bom Mỹ ném xuống Việt Nam gần gấp 3 tổng số bom sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ thứ hai Nghiêm trọng hơn, Mỹ đã sử dụng vũ khí hoá học, tiến hành khai quang rừng núi

và đồng ruộng ở miền Nam, biến nhiều vùng rừng núi nhiệt đới rậm rạp với nhiều tầng thực vật khác nhau ở miền Nam Việt Nam thành đồi, núi trọc; biến nhiều vùng rừng ngập mặn thành các bãi hoang trống, triệt hạ các căn cứ của Quân Giải phóng và du kích; hủy diệt mùa màng, nhằm cắt nguồn tiếp tế của lực lượng cách mạng; đồng thời cưỡng bức, dồn dân vào các trại tập trung hoặc những vùng do

Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hoà kiểm soát

Tất cả những minh chứng trên rõ ràng cho thấy quyết tâm cao độ nhất định phải thắng Việt Nam của Mĩ Quyết tâm đó xuất phát từ quan điểm của họ về cuộc chiến tranh này là cần thiết, nếu thắng sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Mĩ về cả kinh tế

Trang 5

và chính trị.

Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ủng hộ Mĩ vì họ được Mĩ cho rất nhiều quyền lợi,

và một số người cho rằng cuộc chiến này là cuộc chiến để giữ miền Nam Việt Nam

và Đông Nam Á không thuộc về những người cộng sản, việc chống cộng là cần thiết nên chấp nhận là tay sai của Mĩ, thực hiện theo các kế hoạch mà Mĩ đã vạch ra

2.1.2 Về phía Chính phủ và nhân dân Việt Nam

Đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (sau là Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) và đại đa số nhân dân Việt Nam thì đây là cuộc chiến tranh nhằm thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân - một cuộc chiến chống ngoại xâm, chống lại chủ nghĩa thực dân mới mà Mỹ áp đặt tại miền Nam Việt Nam, với mục đích bảo vệ độc lập dân tộc, giải phóng lãnh thổ, giải phóng nhân dân, hoàn thành thống nhất đất nước, tạo tiền đề để cả nước tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa Đó

là những mục tiêu vẫn còn dang dở sau 9 năm kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mĩ (1945-1954) Vì vậy, cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) là một cuộcchiến tranh chính nghĩa, hết sức thiêng liêng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính thể hợp pháp duy nhất có chủ quyền trên toàn Việt Nam từ năm

1945 Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã lãnh đạo hai miền kháng chiến, trong khi Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là tổ chức đại diện cho nhân dân miền Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống lại kế hoạch chia cắt đất nước Việt Nam của Hoa Kỳ

Đại đa số những người dân miền Nam còn lại không quan tâm đến các hệ tư tưởng chính trị, họ chỉ muốn được yên ổn để làm ăn Theo quan điểm của nhiều sử gia, cuộc chiến này, do đó, mang tính dân tộc rất cao: nguyện vọng độc lập và thống nhất đất nước, sự ủng hộ của đa số nhân dân đã trở thành yếu tố quyết định giúp những người cộng sản thắng lợi dù họ là bên yếu thế hơn nhiều về trang bị quân

sự Hoa Kỳ đã thất bại vì không nhận ra đó là một cuộc "chiến tranh nhân dân" và người Việt Nam gắn bó với cách mạng bởi vì họ coi đó như là một cuộc chiến để bảo vệ gia đình, đất đai và tổ quốc mình

Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khi so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch có sự chênh lệch lớn về nhiều mặt mà ưu thế thuộc

về kẻ thù, một số bạn bè quốc tế đã nghi ngại đặt câu hỏi: Việt Nam có bao nhiêu

sư đoàn, bao nhiêu máy bay, tàu chiến, xe tăng, pháo hạng nặng? Nền kinh tế Việt Nam so với kinh tế Mỹ bằng bao nhiêu phần trăm? Từ đó, khuyên ta không nên đánh Mỹ mà hãy tập trung sức để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Nhưng

với ý chí tự lực “lấy sức ta mà giải phóng cho ta”; trên cơ sở nhận rõ tính chính

nghĩa và ưu thế tuyệt đối về mặt chính trị, tinh thần thuộc về nhân dân ta, Đảng ta khẳng định ý chí, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược Đảng ta tiến hành đường lối đúng đắn, sáng tạo, đó là thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng:

Trang 6

xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Đường lối đó thể hiện niềm tin tuyệt đối của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vào thắng lợi, như Bác Hồ tiên đoán:

“Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, “Nhân dân Việt Nam nhất định thắng! Giặc Mỹ nhất định thua”.

Vì nhận thức được đây là cuộc đấu tranh chính nghĩa, đấu tranh cho độc lập, tự do

mà nhân dân ta đã sẵn sàng hiến dâng cho Tổ quốc “tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải”, với lý tưởng, lẽ sống “cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến chống quân thù”, tinh thần “cả nước ra trận, toàn dân đánh giặc”, “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” và ý chí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” lại được phát huy cao độ Từ đây, ý chí quyết đánh Mỹ được thể hiện qua phong trào: “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công”, “Tìm Mĩ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” trên toàn miền Nam với tinh thần “còn cái lai quần cũng đánh”,v.v Đây chính là biểu hiện nổi bật của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt

Nam thời đại Hồ Chí Minh, là nét độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Cũng xuất phát từ nhận thức đúng tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến, nhân dânmiền Bắc đã ra sức xây dựng miền Bắc vững mạnh, trở thành hậu phương lớn, căn

cứ địa cách mạng của cả nước, chi viện nhiều nhất sức người sức của, chia lửa

chiến tranh với nhân dân miền Nam anh hùng với tinh thần, “Mỗi người làm việc bằng hai, tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” Hàng triệu thanh niên miền Bắc xung phong Nam tiến sẵn sàng

từ biệt gia đình lên đường vào Nam chiến đấu:

“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai”

Qua hai tuyến đường vận chuyển chiến lược Bắc – Nam mang tên đường

Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển, miền Bắc đã đưa vào miền Nam hàng chục nghìn cán bộ, bộ đội để tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, xây dựng kinh tế, văn hóa tại các vùng giải phóng Hàng chục vạn tấn vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, xăng dầu, lương thực, thực phẩm, thuốc men… cũng được gấp rút đưa vào miền Nam Nguồn chi viện cùng với thắng lợi trong chiến đấu và sản xuất của quân dân miền Bắc đã góp phần quyết định vào thắng lợi của quân và dân ta ở miền Nam trong chiến đấu chống các chiến lược chiến tranh của Mĩ

Từ niềm tin tất thắng dưới sự lãnh đạo của Đảng thì ý Đảng, lòng dân thống nhất, hòa quyện là một, thôi thúc ý chí quyết tâm: dám đánh, quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược Đây chính là sức mạnh của chính trị, tinh thần vô địch mà kẻ thù không có được Nhờ đó, nhân dân ta đã làm nên những chiến thắng vang dội

Trang 7

như “Đồng khởi” (1959-1960), Ấp Bắc (1963), Bình Giã, An Lão, Ba Gia, Đồng Xoài (1964-1965), thắng lợi trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân năm 1968, Cuộc tiến công chiến lược năm 1972, đặc biệt là trận “Điện Biên Phủ trên không” (từ ngày 18 đến 29-12-1972) và thắng lợi vĩ đại của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã lần lượt đánh bại các chiến lược “Chiến tranh đơn phương” (1954-1960), “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965), “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968), “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1975) của Mĩ, buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pari (27-1-1973) công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam và rút quân về nước (29-3-1973) tạo điều kiện thuận lợi cho ta tiến lên đánh cho

“ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975)

Có thể khẳng định: nhân tố chính trị, tinh thần là ưu thế tuyệt đối, là ngọn nguồn sức mạnh quyết định thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc

ta Đó là chiến thắng của truyền thống chống giặc ngoại xâm được phát huy cao độtrong thời đại Hồ Chí Minh Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

đã tạc vào Lịch sử Việt Nam một mốc son chói lọi của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đưa dân tộc ta sang một kỷ nguyên mới: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hộitrên cả nước Đồng thời, góp phần chứng minh luận điểm của V.I Lê-nin:

“Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường Lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh đời mình cho hạnh phúc của những người anh em, là yếu tố nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy” .

2.1.3 Về phía người dân và học giả Hoa Kì

Có hai chiều hướng chính:

Phía thứ nhất, tin vào Chính phủ Mĩ và ủng hộ cuộc chiến chống cộng của quân đội Hoa Kì nhưng số người ủng hộ Mĩ ngày càng giảm do họ cần hiểu được bản chất thực sự của cuộc chiến tranh không giống như những điều mà Chính phủ Mĩ tuyên truyền đến họ Số người ủng hộ cuộc chiến đã giảm khi cuộc chiến diễn ra trong suốt những năm 60 và đầu thập niên 70

William L Lunch và Peter W Sperlich đã sưu tầm ý kiến công chúng để xem thử mức độ ủng hộ cuộc chiến từ năm 1965–1971 Những người tham gia cuộc trưng

cầu ý kiến được hỏi: "In view of developments since we entered the fighting in Vietnam, do you think the U.S made a mistake sending troops to fight in

Vietnam?" ("Theo như sự leo thang từ khi chúng ta tham chiến ở Việt Nam, bạn có nghĩ nước Mỹ đã phạm sai lầm khi gửi quân đến Việt Nam?") . Họ đã ghi lại kết quả sau:

Thời gian Tỉ lệ người ủng hộcuộc chiến

tháng 8- 1965 52%

Trang 8

Sau tháng 5-1971 họ dừng việc hỏi câu hỏi trên.

Phía thứ hai cho rằng đây là cuộc chiến tranh xâm lược theo kiểu thực dân mới, còn Việt Nam Cộng hòa chỉ là một dạng chính phủ bù nhìn mà Hoa Kì kế thừa từ Pháp và chính sách chống cộng sản của Chính phủ Mĩ chỉ là cái cớ để phục vụ cho quyền lợi của những tập đoàn tư bản Mĩ

Từ hai cách nhìn đó, dẫn tới hai hướng hành động khác nhau:

Phía thứ nhất, sẵn sàng quyên góp tiền bạc và nhập ngũ đi tham chiến ở Việt Nam.Phía thứ hai, phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Việt Nam bằng các cuộc biểu tình, bằng các bài báo vạch trần tội ác của Mĩ ở Việt Nam và kêu gọi chấm dứt chiến tranh Đặc biệt, họ còn sẵn sàng hi sinh tính mạng của mình để ủng

hộ nhân dân Việt Nam chống Mĩ như tấm gương của anh Norman Morrison tự thiêu trước trụ sở Bộ Quốc phòng Mĩ để phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của

Mĩ ở Việt Nam Trong số những người Mĩ biểu tình có cả Tổng thống B.Clin-tơn sau này

Việc Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam cũng có đóng góp không nhỏ của các phóng viên chiến trường quốc tế, nhất là các nhà báo Mỹ Với những bài viết, hình ảnh chân thực từ nơi chiến sự, họ đã giúp người dân Mỹ và cộng đồng quốc tế hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tại Việt Nam, tạo nên sức ép công luận buộc chính phủ Mỹchấm dứt leo thang chiến tranh Ông David Lamb, phóng viên chiến trường của

Trang 9

hãng tin Mỹ UPI, nhớ lại:

“Trước khi đến Việt Nam, về cơ bản thì tôi ủng hộ chiến tranh, cho rằng đó là điều

Mỹ nên làm, tức là chống lại chủ nghĩa Cộng sản Nhưng trong 2 năm ở Việt Nam, quan điểm của tôi đã hoàn toàn đảo ngược Tôi nhận ra rằng đây là cuộc chiến

mà Mỹ sẽ không thể chiến thắng, cuộc chiến mà đáng lẽ Mỹ không nên tham gia”.

Có mặt tại khắp các chiến trường Việt Nam từ năm 1968 đến 1970, thời điểm khốcliệt nhất của cuộc chiến tranh, rồi sau đó trở lại vào những ngày cuối cùng của tháng 4/1975 để đưa tin về sự sụp đổ của chính phủ Việt Nam Cộng hòa, nhà báo David Lamb đã quá đủ trải nghiệm thực tế để hiểu lý do thất bại của người Mỹ:

“Một trong những sai lầm lớn nhất của chúng tôi là không hiểu người Việt Nam, không hiểu lòng kiên nhẫn, sự ngoan cường, chủ nghĩa dân tộc, khả năng chiến đấu, lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ của các bạn Đối với thắng bại trong chiến tranh thì đó là sự thiếu hiểu biết chết người Tôi ước rằng Mỹ đã có thể rút ra được bài học kinh nghiệm từ Việt Nam”.

Những quan điểm, nhìn nhận của những người Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam càng làm sáng tỏ giá trị của cuộc chiến lịch sử này

2.1.4 Về phía các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc…) và nhân loại tiến bộ

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, từ một liên minh cùng nhau chống phát xít trong Chiến tranh, Mĩ và Liên Xô đã nhanh chóng chuyển sang thế đối đầu – Chiến tranhlạnh, chủ yếu là do sự đối lập về mục tiêu và chiến lược giữa hai siêu cường Liên

Xô chủ trương duy trì hòa bình và an ninh thế giới, bảo vệ và phát triển thành quả của chủ nghĩa xã hội nên tích cực ủng hộ làn sóng cách mạng thế giới Còn Mĩ, hếtsức lo ngại trước ảnh hưởng to lớn của Liên Xô, nhất là khi chủ nghĩa xã hội đã trởthành một hệ thống trên thế giới, trải dài từ Đông Âu tới phía đông châu Á Từ đó,

Mĩ đã ra sức chống phá Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Thêm nữa, Mĩ bấy giờ đã vươn lên thành một nước tư bản giàu mạnh nhất, nắm độc quyền vũ khí nguyên tử nên Mĩ tự cho mình có quyền lãnh đạo thế giới

Từ đó, Mĩ đã phát động cuộc chiến tranh lạnh (với Thông điệp của Tổng thống Truman đọc trước Quốc hội Mĩ, ngày 12-3-1947) để chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa

Trong thời kì Chiến tranh lạnh ở nhiều khu vực đã diễn ra các cuộc chiến tranh cục bộ làm cho tình hình thế giới hết sức căng thẳng, như đứng bên bờ vực của một cuộc chiến tranh thế giới mới Và chiến tranh Việt Nam (1954-1975) đã trở thành cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất, phản ánh rõ nhất mâu thuẫn giữa hai phe: tư bản chủ nghĩa – xã hội chủ nghĩa Trong đó, Liên Xô, Trung Quốc cùng nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác đã đứng về phía nhân dân Việt Nam, giúp đỡ rất lớn về cả vật chất lẫn tinh thần cho nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mĩ đến thắng lợi hoàn toàn

Sở dĩ có sự giúp đỡ đó vì các nước xã hội chủ nghĩa một mặt muốn chống lại

Trang 10

âm mưu muốn thống trị thế giới của Mĩ, muốn bảo vệ và phát triển thành quả của chủ nghĩa xã hội; mặt khác, họ cũng nhận thức được rằng: Trong cuộc chiến tranh này, Việt Nam là nước bị xâm lược - là chính nghĩa, Mĩ là nước đi xâm lược – là phi nghĩa.

Cùng với yếu tố nội lực, ngoài sự giúp đỡ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa,chúng ta còn nhận được sự cổ vũ động viên, giúp đỡ của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới cả về vật chất và tinh thần Sự giúp đỡ quý báu

đó đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần vô cùng lớn cho quân và dân ta giành thắng lợi hoàn toàn; đồng thời, được Đảng ta khái quát thành bài học: giương cao ngọn cờ chính nghĩa, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

2.1.5 Về phía Chính phủ một số nước phương Tây

Chia thành hai hướng: một bộ phận cho rằng đây là cuộc chiến tranh cần thiết để tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản nên đã ủng hộ Mĩ trong cuộc chiến tranh Việt Nam như CHLB Đức, Anh…

Một số Chính phủ lúc đầu ủng hộ Mĩ nhưng sau đó lại phản đối như Pháp, Phần Lan, Thụy Điển…

2.2 Cách nhìn của Mĩ và Việt Nam sau cuộc chiến tranh (từ sau Đại thắng Mùa Xuân năm 1975 đến nay)

2.2.1 Về phía Chính phủ Mĩ

Cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) đã tạo ra sự chia rẽ trong xã hội và chính trị của nước Mĩ Trong thời gian đầu sau Chiến tranh (1975-1994), Chính phủ Mĩ vẫn giữ lập trường nhìn nhận cuộc chiến tranh mà họ đã tiến hành ở Việt Nam là đúng, cần thiết, phục vụ cho lợi ích của Hoa Kì Việc Việt Nam thắng Mĩ cũng đã

để lại một “hội chứng Việt Nam” trong lòng nước Mĩ Vì vậy, từ năm 1975 đến năm 1994, Hoa Kì đã cấm vận Việt Nam Trong thời gian này, Việt Nam và Hoa

Kì đã đàm phán bình thường hóa quan hệ nhưng không thành, một phần do Việt Nam yêu cầu Hoa Kì bồi thường những tổn thất mà họ gây ra ở Việt Nam, nhưng Hoa Kì đã bác bỏ

Tuy nhiên, sau đó, Mĩ đã dần thừa nhận những sai lầm của họ trong cuộc chiến ở Việt Nam và muốn khép lại quá khứ đau buồn trong mối quan hệ giữa hai nước những năm 1954-1975 Mắc Namara – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mĩ (1961-1968),người đầu tiên vạch ra các kế hoạch xâm lược Việt Nam bằng quân sự đã thừa

nhận trong tác phẩm “Nhìn lại quá khứ - Tấm thảm kịch và những bài học về Việt Nam” như sau:

“Nếu chúng ta muốn học từ kinh nghiệm của mình ở Việt Nam, trước tiên chúng ta phải chỉ ra những thất bại của chúng ta Có 11 nguyên nhân chính gây ra thảm họa của chúng ta tại Việt Nam.

Trang 11

1 Từ đó tới nay, chúng ta đã đánh giá sai các ý định địa – chính trị của đối

phương (trong trường hợp này là Bắc Việt Nam và Việt Cộng được Trung Quốc và Liên Xô ủng hộ) và chúng ta thì phòng những nguy cơ đối với nước Mĩ trước

những hành động của họ

2 Chúng ta đã đánh giá nhân dân và các nhà lãnh đạo Nam Việt Nam, theo kinh nghiệm của chính chúng ta đã nhìn chính ở họ niềm khát khao và quyết tâm chiến đấu giành tự do và dân chủ Chúng ta đã đánh giá hoàn toàn sai các lực lượng chính trị trong nước

3 Chúng ta đã đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc đấu tranh và hi sinh cho lí tưởng và các giá trị của nó, và cho đến nay, chúng

ta vẫn tiếp tục đánh giá thấp chủ nghĩa dân tộc ở nhiều nơi trên thế giới…”

(Trích lại theo “Tìm hiểu lịch sử Việt Nam qua hỏi đáp, tập 4, trang167)

Từ sự thay đổi hướng nhìn đó, Mĩ đã dần cải thiện mối quan hệ với Việt Nam.Năm 1994, Tổng thống Bill Clintơn tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận Việt Nam và lập cơ quan liên lạc giữa hai quốc gia Đặc biệt, ngày 11-7-1995, Tổng thống Bill Clintơn đã tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam,

mở ra một chương mới trong mối quan hệ giữa hai nước Văn phòng Liên lạc đượcnâng cấp thành Tòa đại sứ Mĩ đặt tại Hà Nội Việt Nam cũng đặt tòa đại sứ ở Washington D.C Hai nước đã thường xuyên mở rộng trao đổi chính trị, đối thoại

về nhân quyền và an ninh khu vực, đã kí Hiệp định Thương mại song phương 2000), có hiệu lực từ tháng 12-2001 Tháng 11-2007, Hoa Kì chấp thuận Quy chế Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn cho Việt Nam Ngày 23-5-2016, nhân chuyến thăm tới Việt Nam, Tổng thống Barack Obama công bố quyết định dỡ

(7-bỏ hoàn toàn cấm vận bán vũ khí sát thương với trong cuộc Hội đàm với Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đại Quang, mở ra mối quan hệ tốtđẹp và ấm dần lên giữa hai nước từng là cựu thù

Hoa Kì còn có nhiều hoạt động hỗ trợ nhân đạo và hàn gắn hậu quả chiến tranh.Qua các tổ chức phi chính phủ, Hoa Kì cũng thường xuyên viện trợ nhân đạo cho Việt Nam trong các lĩnh vực y tế, giáo dục Tháng 5-2007, Quốc hội Mĩ đã phân bổkhoản ngân sách 3 triệu USD nhằm khắc phục ảnh hưởng của chất độc màu da cam

và môi trường tại một số địa điểm ở Việt Nam; đến năm 2009, con số này đã tăng lên 6 triệu USD

Hoa Kì cũng có nhiều viện trợ về kinh tế và chuyển tiếp công nghệ cho Việt Nam Tháng 3 năm 2015, Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh ký kết tài trợ không hoàn lại cho công ty TNHH Xây dựng - thương mại - du lịch Công

Lý một khoản viện trợ lên đến gần 1 tỷ USD, để thực hiện chương trình nghiên cứukhả thi phát triển nhà máy điện gió Bạc có công suất 300MW Cũng trong khuôn khổ của chương trình hỗ trợ của Chính phủ Hoa Kỳ cho Việt Nam với thời gian kéo dài 15 năm, Cơ quan Phát triển Quốc tế của Hoa Kỳ (USAID) sẽ triển khai 75

dự án về các lĩnh vực như hạ tầng giao thông, giáo dục, y tế và đặc biệt là năng

Ngày đăng: 28/01/2018, 08:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w