Năng suất lao động: là sức sản xuất của lao động. Nó được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.NSLĐ tỷ lệ nghịch với lượng giá trị của hàng hoá.+ Ví dụ:1h sản xuất 10 móng ngựa à 6phút1móng ngựa1h sản xuất 20 móng ngựa à 3phút1móng ngựaNhư vậy, khi NSLĐ tăng lên, số lượng sản phẩm làm ra tăng lên, TGLĐ 1 đơn vị sản phẩm giảm xuống, lượng giá trị 1 sản phẩm giảm xuống, nhưng tổng giá trị không đổi.+ Năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố: trình độ thành thạo trung bình của người công nhân, mức độ phát triển của khoa học và công nghệ, mức độ ứng dụng những thành tựu đó vào sản xuất, trình độ tổ chức quản lý, quy mô và hiệu suất của TLSX, và các điều kiện tự nhiên
Trang 1Câu 1: Năng suất lao động? Cường độ lao động? Tăng NSLĐ, tăng CĐLĐ? Giải thích, chứng minh nhân tố con người và quản lý con người là nhân tố rất quan trọng để tăng NSLĐ? Liên hệ Việt Nam hiện nay?
Trả lời:
- Năng suất lao động: là sức sản xuất của lao động Nó được đo bằng sốlượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian laođộng hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
NSLĐ tỷ lệ nghịch với lượng giá trị của hàng hoá
+ Ví dụ:
1h sản xuất 10 móng ngựa à 6phút/1móng ngựa1h sản xuất 20 móng ngựa à 3phút/1móng ngựaNhư vậy, khi NSLĐ tăng lên, số lượng sản phẩm làm ra tăng lên, TGLĐ 1đơn vị sản phẩm giảm xuống, lượng giá trị 1 sản phẩm giảm xuống, nhưng tổnggiá trị không đổi
+ Năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố: trình độ thành thạotrung bình của người công nhân, mức độ phát triển của khoa học và công nghệ,mức độ ứng dụng những thành tựu đó vào sản xuất, trình độ tổ chức quản lý, quy
mô và hiệu suất của TLSX, và các điều kiện tự nhiên
- Cường độ lao động: chỉ mức độ hao phí SLĐ trong 1 đơn vị thời gian Nócho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc của lao động
+ Cường độ lao động tăng lên tức là mức hao phí sức lao động trong mộtđơn vị thời gian tăng lên, mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng củangười lao động tăng lên
Nếu cường độ lao động tăng lên thì số lượng hàng hoá sản xuất ra tăng lên
và sức lao động hao phí cũng tăng lên tương ứng, vì vậy giá trị của một đơn vịhàng hoá vẫn không thay đổi, vì tăng cường độ lao động, thực chất là việc kéo dàithời gian lao động
+ Cường độ lao động cũng phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lý, quy mô
và hiệu suất của tư liệu sản xuất, đặc biệt là nó phụ thuộc vào thể chất, tinh thầncủa người lao động
Như vậy, tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động giống nhau ở chỗ:
+ Chúng đều thuộc sức sản xuất của lao động
+ Đều dẫn đến số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên
Trang 2Nhân tố con người (lao động) là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất tácđộng đến năng suất lao động Năng suất lao động của mỗi quốc gia, ngành vàdoanh nghiệp phụ thuộc lớn vào trình độ văn hoá, chuyên môn, tay nghề, kỹ năng,năng lực của đội ngũ lao động
Trình độ văn hoá: là sự hiểu biết cơ bản của người lao động về tự nhiên và
xã hội Trình độ văn hoá tạo ra khả năng tư duy và sáng tạo cao Người có trình độvăn hóa sẽ có khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộkhoa học kỹ thuật vào sản xuất, đồng thời trong quá trình làm việc họ không nhữngvận dụng chính xác mà còn linh hoạt và sáng tạo các công cụ sản xuất để tạo rahiệu quả làm việc cao nhất
Trình độ chuyên môn: là sự hiểu biết khả năng thực hành về chuyên môn
nào đó, có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc một chuyên môn nhấtđịnh Sự hiểu biết về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ xảo nghề càng thànhthạo bao nhiêu thì thời gian hao phí của lao động càng được rút ngắn từ đó gópphần nâng cao năng suất lao động
Trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn có ảnh hưởng lớn đối với năngsuất lao động của con người.Trình độ văn hoá tạo khả năng tiếp thu và vận dụngmột cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Còn sự hiểubiết về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ sảo nghề càng thành thạo bao nhiêuthì thời gian hao phí của lao động càng được rút ngắn từ đó góp phần nâng caonăng suất Trình độ văn hoá và chuyên môn của người lao động không chỉ giúpcho người lao động thực hiện công việc nhanh mà góp phần nâng cao chất lượngthực hiện công việc
Đặc biệt trong thời đại ngày nay, khoa học ngày càng phát triển với tốc độnhanh, các công cụ đưa vào sản xuất ngày càng hiện đại, đòi hỏi người lao động cótrình độ chuyên môn tương ứng Nếu thiếu trình độ chuyên môn người lao động sẽkhông thể điều khiển được máy móc, không thể nắm bắt được các công nghệ hiện đại
Tình trạng sức khoẻ: Trạng thái sức khoẻ có ảnh hưởng lớn tới năng suất lao
động Nếu người có tình trạng sức khoẻ không tốt sẽ dẫn đến mất tập trung trongquá trình lao động, làm cho độ chính xác của các thao tác trong công việc giảmdần, các sản phẩm sản xuất ra với chất lượng không cao, số lượng sản phẩm cũnggiảm , thậm chí dẫn đến tai nạn lao động
Thái độ lao động : Thái độ lao động là tất cả những hành vi biểu hiện của
người lao động trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất và kinh doanh Nó cóảnh hưởng quyết định đến khả năng, năng suất và chất lượng hoàn thành công việccủa người tham gia lao động nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu khác nhau, cả kháchquan và chủ quan nhưng chủ yếu là:
- Kỷ luật lao động: Là những tiêu chuẩn quy định hành vi cá nhân của lao
động mà tổ chức xây dựng nên dựa trên những cơ sở pháp lý và các chuẩn mựcđạo đức xã hội Nó bao gồm các điều khoản quy định hành vi lao động trong lĩnhvực có liên quan đến thực hiện nhiệm vụ như số lượng, chất lượng công việc, antoàn vệ sinh lao động, giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi, các hành vi vi phạm pháp luậtlao động, các hình thức xử lý vi phạm kỷ luật…
- Tinh thần trách nhiệm: Được hình thành dựa trên cơ sở những ước mơ khát
khao, hy vọng cảu người lao động trong công việc cũng như với tổ chức Trong tổ
Trang 3chức, nếu người lao động thấy được vai trò, vị thế, sự cống hiến hay sự phát triển,thăng tiến của mình được coi trọng và đánh giá một cách công bằng, bình đẳng thị
họ cảm thấy yên tâm, phấn khởi, tin tưởng vào tổ chức, Đây là cơ sở để nâng caotính trách nhiệm, sự rèn luyện, phấn đấu vươn lên, cố gắng nâng cao chuyên mônnghiệp vụ, năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động
- Sự gắn bó với doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp ngoài mục đích lao động
để kiếm sống họ còn coi tổ chức như một chỗ dựa vững chắc về vật chất và tinhthần Nếu quá trình lao động và bầu không khí trong tập thể lao động tạo ra cảmgiác gần gũi, chan hoà, tin tưởng lẫn nhau giữa những người công nhân, tạo cảmgiác làm chủ doanh nghiệp, có quyền quyết định đến hiệu quả của hoạt động sảnxuất kinh doanh, tạo ra tính độc lập tự chủ sáng tạo, được quan tâm chăm lo đếnđời sống và trợ giúp khi gặp khó khăn… thì người lao động sẽ có lòng tin, hyvọng, sự trung thành và gắn bó với doanh nghiệp
* Liên hệ:
- Nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) vừa công bố cho thấynăng suất lao động của Việt Nam năm 2013 thuộc nhóm thấp nhất Châu Á - TháiBình Dương (những nơi có thể thu thập số liệu) - thấp hơn Singapore gần 15 lần,thấp hơn Nhật 11 lần và Hàn Quốc 10 lần
So với các nước láng giềng ASEAN có mức thu nhập trung bình, năng suấtlao động của Việt Nam vẫn có khoảng cách lớn, chỉ bằng 1/5 Malaysia và 2/5 TháiLan Đặc biệt, tốc độ tăng năng suất lao động giảm đi tại Việt Nam Trong giaiđoạn 2002-2007, năng suất lao động tăng trung bình 5,2% mỗi năm - mức cao nhấttrong khu vực Tuy nhiên, kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, tốc
độ tăng năng suất trung bình hàng năm của Việt Nam chậm lại, chỉ còn 3,3%
- Lý giải về thực trạng năng suất lao động của chúng ta còn thấp, có thể đưa
ra 5 nguyên nhân chủ yếu sau:
+ Thứ nhất, Việt Nam và các quốc gia khác có xuất phát điểm rất khác nhau từnhân lực, thiết bị công nghệ, cơ cấu nền kinh tế, mức độ hoàn thiện của pháp luật Sau chiến tranh, chúng ta mới bắt tay vào công cuộc này, trong khi những quốc giakhác đã có nhiều năm để phát triển Tại thời điểm năm 1975, khoảng cách về thu nhậptheo đầu người hay năng suất lao động giữa Việt Nam và các nước đã rất lớn Theo sốliệu của Liên hợp quốc khi đó, tổng sản phẩm quốc nội theo đầu người của nước tachỉ đạt 79 USD, trong khi Malaysia là 819 USD, gấp hơn 10 lần, Thái Lan gấp 4,6lần, Singapore gấp 32 lần, Hàn Quốc gấp 8 lần, và Nhật Bản gấp 58 lần Tuy nhiên,đến năm 2013, khoảng cách về thu nhập đầu người giữa Việt Nam và các nướctrên đã thu hẹp đáng kể Malaysia còn 5 lần, Thái Lan còn gấp 3 lần, Singaporegấp 20 lần Với xuất phát điểm thấp như vậy, việc nhanh chóng thu hẹp với cácnước đã là một thành tựu đáng ghi nhận
+ Lý do thứ 2 của tình trạng năng suất lao động thấp là do khả năng tích lũycủa nền kinh tế còn hạn chế Quá trình tăng năng suất lao động luôn đi đôi với điềukiện tăng mức trang bị công nghệ cho người lao động, và như vậy thì phải có vốnđầu tư Tuy nhiên, một nước nghèo thì khả năng đầu tư còn hạn chế, do vậy cầnquá trình tích lũy và đầu tư hàng chục năm
Từ 2000 đến 2013 tuy khoảng cách đầu tư vốn của người lao động của ViệtNam và các nước đã tăng lên đáng kể song chênh lệch vẫn lớn Nhật Bản từ gấp 76
Trang 4lần so với Việt Nam vào năm 2000 giảm xuống còn 20 lần 2013, Singapore từ gấp
+ Nguyên nhân thứ 4: nền kinh tế Việt Nam còn sử dụng nhiều lao độngtrong nông nghiệp và trình độ nhìn chung còn thấp Năm 2014, lao động trongnông nghiệp chiếm 47% Tỷ lệ đào tạo tăng dần nhưng vẫn thấp, năm 2000 là 16%,
2010 là 40%, 2013 đạt 49% Trong khi đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo củaSingapore, Hàn Quốc là 62%
+ Nguyên nhân thứ 5: khoa học còn chậm phát triển và đầu tư cho lĩnh vựcnày còn thấp Từ năm 2011, tỷ lệ đầu tư cho khoa học trên tổng sản phẩm nội địachỉ xung quanh 0,5% Trong vòng 11 năm tỷ lệ này tăng từ 0,48% lên 0,51%.Trong khi đó, các nước khu vực xung quanh đã đầu tư mạnh hơn như Malaysiatăng từ 0,47% GDP lên 1,07, Trung Quốc tăng từ 0,95 lên 1,84%, Hàn Quốc từ2,47 lên 4,07%
Ngoài 5 yếu tố trên, còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến năng suất laođộng của Việt Nam Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, lao động Việt Nam hoàntoàn có thể làm chủ được công nghệ hiện đại không thua kém các quốc gia, trongkhi chi phí chỉ bằng một phần mười hoặc một phần hai mươi nước khác
Năm 2013, nhà máy Samsung ở Bắc Ninh đã xuất khoảng 130 triệu điệnthoại di động và thiết bị khác, trị giá gần 24 tỷ USD Trong đó, họ sử dụng 45.000lao động và chỉ có 70 người Hàn Quốc Công ty này cũng quyết định đóng cửatrung tâm nghiên cứu tại Singapore và thành lập tại Việt Nam với khoảng 3.000người vì các kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ của chúng ta hoàn toàn đáp ứng được yêu cầunghiên cứu của họ và chi phí lao động thấp hơn nhiều so với Singapore
Để cải thiện tình trạng trên, điểm quan trọng là phải tháo được nút thắt đểtăng năng suất lao động cho người nông dân Trong nhiều giải pháp nhằm nâng caonăng suất lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, cần nhấn mạnh phương án chủ yếu
là phát triển các hình thức hợp tác trong nông nghiệp Theo đó, phải chuyển môhình sản xuất từ hộ sản xuất cá thể mua bán trực tiếp trên thị trường không có tínhcạnh tranh cao sang mô hình hộ nông dân liên kết trong các tổ chức để hợp tác sảnxuất, mua bán trên thị trường có tính cạnh tranh cao
Đối với các doanh nghiệp:
Để năng suất lao động của doanh nghiệp tăng tốc hơn nữa thì các giải pháp đólà:
1 Nâng cao nhận thức đầy đủ về vai trò năng suất lao động của doanhnghiệp đối với bộ máy quản lý, điều hành và người lao động; vì năng suất lao động
là nhân tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời kỳdài chứ không chỉ trong ngắn hạn và nâng cao thu nhập chính đáng của người lao
Trang 5động Để làm được vấn đề này có hiệu quả thì vai trò công tác giáo dục nâng cao ýthức chấp hành kỷ luật lao động, xây dựng tác phong làm việc của đội ngũ cán bộquản lý và người lao động là rất quan trọng.
2 Từ những thay đổi về nhận thức của bộ máy quản lý, điều hành và ngườilao động, doanh nghiệp cần phải thay đổi những chính sách về nguồn nhân lựcnhư: chính sách, biện pháp sử dụng, quản lý nguồn nhân lực; chính sách đào tạo,tuyển dụng, thăng tiến, để người lao động có cơ hội học tập và phát triển; chínhsách tiền lương phù hợp quy luật, để tiền lương thực sự là đòn bẩy kinh tế thúc đẩytăng năng suất lao động
3 Doanh nghiệp tự đánh giá trình độ khoa học, công nghệ và tổ chức sảnxuất của mình để từ đó có giải pháp nâng cao trình độ khoa học của doanh nghiệp,
áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại và tổ chức sản xuất hợp lý Việc nâng caotrình độ khoa học, áp dụng công nghệ tiên tiến vào quá trình SXKD của doanhnghiệp còn phụ thuộc vào yếu tố ngân sách của doanh nghiệp có khả năng đáp ứngđược hay không, nhưng vai trò của yếu tố tổ chức sản xuất khoa học, hợp lý lại phụthuộc nhiều vào ý chí của bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp Như vậy việc
tổ chức lao động khoa học hợp lý không cần thiết phải chi phí tốn kém nhưng sẽmang lại hiệu quả kinh tế, nếu người đứng đầu đơn vị, doang nghiệp quan tâm, tổchức thực hiện
4 Nâng cao chất lượng và đổi mới biện pháp quản lý, điều hành doanhnghiệp là yếu tố quan trọng trong nền kinh tế tri thức hiện nay Muốn nâng caochất lượng bộ máy quản lý, điều hành của doanh nghiệp trước hết phải đổi mớicông tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ, lựa chọn được những thànhviên có đủ tài, đủ tầm và có tâm với công việc Chú trọng việc đào tạo nâng caonăng lực lãnh đạo, chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với từng vị trí công việc Chiphí đào tạo năng cao năng lực của bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp làkhoản đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế cho hiện tại và lâu dài của doanh nghiệp
Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên đây, đồng thời với việc ổn định sảnxuất sẽ là cơ hội đẩy mạnh năng suất lao động của doanh nghiệp, góp phần quyếtđịnh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, có sự địnhhướng của Nhà nước
Trang 6Câu 2: Nguồn nhân lực? Nguồn lao động? Giải thích, chứng minh dân
số là cơ sở hình thành nguồn nhân lực? Phân tích những bất cập về tỉ số giới tính khi sinh ở Việt Nam? Hệ lụy trong tương lai? Giải pháp?
Trả lời:
1 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, có quan hệ chặt chẽ với dân số, là
bộ phận quan trọng trong dân số, đóng vai trò tạo ra của cải vật chất và tinh thầncho xã hội Tuỳ theo cách tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực có thể khác nhau, do
đó, quy mô nguồn nhân lực cũng khác nhau
Với cách tiếp cận dựa vào khả năng lao động của con người: nguồn nhân lực
là khả năng lao động của xã hội, của toàn bộ những người có cơ thể phát triển bìnhthường có khả năng lao động
Trong tính toán và dự báo nguồn nhân lực của quốc gia hoặc của địa phuơnggồm hai bộ phận: những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động vànhững người ngoài độ tuổi lao động thực tế có tham gia lao động
Với cách tiếp cận dựa vào trạng thái hoạt động kinh tế của con người: nguồnnhân lực gồm toàn bộ những người đang hoạt động trong các ngành kinh tế, vănhoá, xã hội
Với cách tiếp cận dựa vào khả năng lao động của con người và giới hạn tuổilao động: nguồn nhân lực gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động, có khảnăng lao động không kể đen trạng thái có việc làm hay không Với khái niệm nàyquy mô nguồn nhân lực chỉnh là nguồn lao động
Với cách tiếp cận dựa vào độ tuổi lao động và trạng thái không hoạt độngkinh tế ta có khái niệm nguồn nhân lực dự trữ gồm những nguời trong độ tuổi laođộng nhưng chưa tham gia lao động vì những lý do khác nhau; bao gồm nhữngngười làm công việc nhà cho chính gia đình mình (nội trợ), học sinh, sinh viên,người thất nghiệp, bộ đội xuất ngũ, lao động hợp tác với nước ngoài đã hết hạn hợpđồng về nước, người hưởng lợi tức và những người khác ngoài các đối tượng trên
• Với cách phân biệt khái niệm như trên giúp cho các nhà hoạch định chínhsách có biện pháp khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực được xem xét và nghiên cứu theo số lượng và chất lượng,
số lượng nguồn nhân lực thể hiện quy mô nguồn nhân lực và tốc độ tăng nguồnnhân lực hàng năm Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu
tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông quacác tiêu thức: sức khoẻ; trình độ học vấn; trình độ chuyên môn/ lành nghề Chấtlượng nguồn nhân lực do trình độ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đầu tưphát triển nguồn nhân lực của chính phủ quốc gia quyết định
Trang 7nguyên nhân: chiến tranh, tai nạn giao thông, tai nạn lao động Vì thế, quy môdân số trong độ tuổi lao động lớn hơn quy mô nguồn lao động.
Việc quy định độ tuổi lao động ở các nước khác nhau không giống nhau.Các căn cứ để xác định độ tuổi lao động là: Sức khỏe của người dân, giới tính,trình độ phát triển kinh tế, xã hội…
Hiện nay, theo quan điểm bình đẳng giới cho rằng không nên căn cứ vàogiới tính để quy định độ tuổi lao động Độ tuổi tối thiểu và độ tuổi tối đa được quyđịnh tuỳ theo tình hình cụ thể của mỗi nước Ở Việt Nam: Căn cứ vào Điều 6 của
Bộ Luật Lao động của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã sửa đổi và bổ sungnăm 2002: "Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và cógiao kết hợp đồng lao động" và Điều 145 "Người lao động được hưởng chế độ hưutrí hàng tháng khi có đù điều kiện về tuổi đời và thời gian đã đóng bảo hiểm xã hôịnhư sau: nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi ” Căn cứ vào đó, độ tuổi lao động củangười Việt Nam được xác định như sau: nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ
15 tuổi đến đủ 55 tuổi
3 Giải thích, chứng minh dân số là cơ sở hình thành nguồn nhân lực
* Quy mô dân số và tốc độ phát triển dân số với quy mô nguồn nhân lực
Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chịu ảnh hưởng của quy mô, cơ cấu
và chất lượng dân số Nước nào có quy mô dân sổ lớn thì có quy mô nguồn nhânlực lớn và ngược lại Mặt khác, cơ cấu tuổi của dân số có ảnh hường quyết địnhđến quy mô và cơ cấu nguồn lao động Mặc dù dân số là cơ sở hình thành cácnguồn lao động, nhưng mối quan hệ giữa dân số và các nguồn lao động không phụthuộc trực tiếp vào nhau trong cùng một thời gian, mà việc tăng hoặc giảm gia tăngdân số cùa thời kỳ này sẽ làm tăng hoặc giảm nguồn lao động cuà thòi kỳ sau đó từ
15 đến 16 năm Bởi vì con người từ khi sinh ra đển khi bước vào tuổi lao độngphải mất từ 15 đến 16 năm Vì thế, viêc giảm gia tăng dân số của Việt Nam hiệnnay là nhằm giảm nguồn lao động của Việt Nam trong 15 đến 20 năm tới Hơnnữa, tốc độ tăng dân số và tốc độ tăng nguồn nhân lực lượng cùng thời kỳ có thểkhông giống nhau Chẳng hạn, ở Việt Nam trong thời gian gần đây tốc độ tăngnguồn nhân lực nhanh hơn tốc độ tăng dân số
Mặt khác, quy mô nguồn nhân lực có tác động trở lại đối với quy mô dân số.Thật vậy, một quốc gia có quy mô nguồn nhân lực lớn cũng có nghĩa là quy môcủa những người có khả năng sinh sản lớn, do đỏ làm cho quy mô dân số có thểtăng nhanh hay làm gia tăng dân số
* Cơ cấu dân số với cơ cấu nguồn nhân lực
Quy mô và cơ cấu dân số (theo giới tính và theo tuổi) ở các nước khác nhaucũng rất khác nhau, nhưng dù có khác nhau thì dân số của mỗi nước cũng chỉ ứngvới một trong 3 tháp dân số sau:
Tháp dân số trẻ: Tỷ lệ người dưới tuổi lao động rất cao, khoảng hơn 40%; sốngười hết tuổi lao động chi chiếm khoảng 10%; nền kinh tế chậm phát triển vàđang phát triển, mức sống thấp Những nưóc này thường gặp khó khăn, như sổlượng nguồn nhân lực dồi dào, mức sinh cao nhưng chất lượng nguồn nhân lựcthấp Cung nhân lực về sổ lượng lớn tạo sức ép việc làm và thường thừa nhân lực,thiếu việc làm và thất nghiệp
Tháp dân số ổn định: Tỷ lệ người dưới tuổi lao động không cao trong khi tỷ
Trang 8lệ người cao tuổi cũng không lớn Trong khi đó những nước này thường đã buớcvào thời kỳ phát triển kinh tế ổn định, mức sống dân cư được đảm bảo Nhìnchung, những nước có tháp dân số loại này không gặp khó khăn về sự khan hiếmhoặc thừa nguồn nhân lực Các nguồn nhân lực thực sự được khai thác có hiệu quảvào phát triển kinh tế của đất nước.
Tháp dân số già: Tỷ lệ người dưới tuổi lao động trong dân số thấp trong khi
tỷ lệ người già trên tuổi lao động chiếm khá cao trong dân số Những nước này cómức sinh thấp, mức sống cao Yếu tố nguồn nhân lực trở nên khan hiếm cho sựtăng trưởng và phát triển kinh tế - thiếu nguồn nhân lực
Theo số liệu của 3 lần Tổng điều tra dân số (năm 1979, 1989 và 1999), cơcấu dân số của Việt Nam đã có những chuyên biến tích cực có lợi cho sự phát triểnnguồn nhân lực và tăng trưởng, phát triển kinh tế Cụ thể, tỷ lệ người dưới tuổi laođộng giảm từ 44,49% năm 1979 xuống còn 33,50% năm 1999 Tỷ lệ nguời ừêntuổi lao động có tăng nhưng chậm, từ 8,43% nàm 1979 lên 9,4% năm 1999 Tỷ lệngười trong'tuổi lao động tăng khá nhanh, tù 47,08% năm 1979 lên 57,10% năm
1999 Sự thay đổi đó đã tạo thuận lợi cho việc cung cấp nguồn nhân lực đồi đào về
số lượng và đòi hỏi nền kinh tế tăng trưởng nhanh phải thu hút số người đến tuổilao động có nhu cầu việc làm hàng năm để giảm thất nghiệp thành thị và thiếu việclàm ở nông thôn
* Chất lượng dân số với chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng dân số có thể được đánh giá thông qua chi tiêu tổng hợp: chỉ sốphát triển con người HDI (Human Development Index) theo ba căn cứ: thu nhậpquốc dân bình quân đầu nguời; trình độ dân trí với hai tiêu thức: tỷ lệ người lớnbiết chữ và tỷ lệ nhập học; tuổi thọ trung bình Chất lượng dân số càng cao càngtạo điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thông qua các tiêu thức:
là điểm cao nhất thì Việt Nam mới đạt 3,79 điểm, dưới mức trung bình Trong khiHàn Quốc đạt 6,91 điểm; Trung Quốc đạt 5,73; Malaysia đạt 5,59 điểm Mức độ sẵn
cỏ lao động sản xuất chất lượng cao của Việt Nam chi được 3,25 điểm: đổi với laođộng hành chính là 3,5 điểm; đối với lao động quản lý lá 2,75 điểm; sự thành thạotiếng Anh là 2,62 điểm và thành thạo công nghệ cao là 2,50 điểm
Không chỉ chất lượng dân số ảnh hưởng đén chất lượng nguồn nhân lực màchất lượng nguồn nhân lực có ảnh hưởng trở lại đối với chất lượng dân số Nguồn
Trang 9nhân lực có thể lực, trí lực tốt lại là những “cây tốt” sản sinh ra những đứa trẻ khoẻmạnh, thông minh, những chủ nhân và là nguồn nhân lực tương lai của đất nước.
Do đó, đàu tư cho phát triển dân số, nâng cao chất lượng dân số và nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau Đó cũngchính là mối quan hệ nhân quả không chỉ là trách nhiệm của Chính phủ quốc gia
mà mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng có trách nhiệm chăm sóc, gìn giữ vàphát triển
* Phân bố dân số với phân bố nguồn nhân lực
Số dân sinh sống trong từng vùng nhất định được hình thành mang tính lịch
sử và chịu sự tác động của nhiều yếu tố kinh tế-xã hội Mật độ dân số biểu thị số dântrên một đơn vị diện tích tự nhiên (số người/km2) Lịch sử phát triển của xã hội loàingười cho thấy, dân cư thường tập trung đông ở những vùng có khí hậu thời tiếtthuận lợi cho sự phát triển của cây trổng và gia súc, giao thông đi lại thuận tiện,trong khi đó điều kiện tự nhiên ở mỗi vùng rất khác nhau Vì vậy, cỏ những vùngdân cư rất đông đúc trong khi ờ những vùng khác dân cư lại rất thưa thớt Phân bốdân số kéo theo phân bố nguồn nhân lực Ở những vùng có mật độ dân số thưa thìthường thiếu nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xâ hội, không có đủ nguồn lực
để khai thác các nguồn tài nguyên của vùng, trong khi ở một số vùng khác mật độdân số quá đông, nguồn nhân lực dồi dào, các nguồn tài nguyên đất đai, rừng biển,
đã cạn kiệt thì thừa nguồn nhân lực, xảy ra tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm
Đáng lưu ý là không chi giữa các vùng địa lý - kinh tế mà ngay cả trong nội
bộ một vùng, phân bố dân số cũng không đồng đều Những nơi có mật độ dân sốlớn thường là những vùng đông dân có tỷ lệ đô thị hoá cao
Dân số giữa các vùng chênh lệch lớn là hệ quả của quá trình định cư tronglịch sử và mức sinh cao Những nơi cỏ điều kiện tự nhiên thuận lợi, kinh tế xã hộiphát triển, dân cư thuờng tập trung lớn và mật độ dân số cao Dưới tác động của cơchể thị trường, sự phân bố dân số giữa các vùng tiếp tục có sự chênh lệch lớn, vùngđồng băng và những đô thị lớn dân số và mật độ dân số sẽ tiếp tục tăng nhanh.Phân bố dân số kéo theo phân bố các nguồn nhân lực giữa các vùng trong nướckhông đồng đều Thực tế cho thấy vùng đồng bằng điện tích canh tác bình quânđầu người thấp, thiếu việc làm, trong khi diện tích canh tác bình quân đầu người ởMiền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên rất cao lại thiếu nguồn nhân lực
4 Những bất cập về tỉ số giới tính khi sinh ở Việt Nam Hệ lụy trong tương lai Giải pháp.
Mất cân bằng giới tính khi sinh đang là mối quan ngại ngày càng tăng tạimột số quốc gia châu Á Tại Việt Nam, mất cân bằng giới tính khi sinh đã tăng từ106,2 bé trai trên 100 bé gái năm 2000 lên 112,2 bé trai trên 100 bé gái năm 2014
và xu hướng này đang tiếp tục gia tăng Hiện đã có 55/63 tỉnh, thành có tỷ số giớitính khi sinh trên 108 bé trai trên 100 bé gái - đây là con số hết sức báo động.Những tư tưởng truyền thống lâu đời này đã tạo nên những áp lực nặng nề đối vớiphụ nữ về việc phải sinh được con trai và ảnh hưởng cơ bản tới vị thế kinh tế, xãhội cũng như đời sống sinh sản và tình dục của người phụ nữ liên quan tới sứckhỏe cũng như sự sống còn của họ Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ ảnh hưởngtới cấu trúc dân số Việt Nam trong tương lai, dẫn tới việc dư thừa nam giới trong
xã hội Các hậu quả về lâu dài rất nghiêm trọng: việc thiếu phụ nữ sẽ làm gia tăng
Trang 10áp lực buộc các em gái phải kết hôn sớm hơn và có thể bỏ học để lập gia đình Cóthể sẽ có sự gia tăng về nhu cầu mại dâm; dẫn đến việc gia tăng đường dây buônbán phụ nữ trẻ em gái, bạo lực tình dục…
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam chủ yếu do việc lựa chọn giới tínhthai nhi có nguyên nhân sâu xa từ định kiến về giới, trọng nam khinh nữ, ưa thíchcon trai vẫn rất nặng nề Tư tưởng lâu đời đã tạo nên áp lực nặng nề đối với phụ nữ
về việc phải sinh được con trai để nối dõi tông đường cho nhà chồng và ảnh hưởngtới vị thế kinh tế, xã hội, đời sống sinh sản và tình dục của người phụ nữ Thái độxem thường giá trị của con gái đã ăn sâu bám rễ trong các quan niệm văn hóa
Do đó, Việt Nam cần có những biện pháp mạnh mẽ và quyết liệt nhằmnghiêm cấm việc lựa chọn giới tính khi sinh và phá thai vì lựa chọn giới tính Tuynhiên, tôi cho rằng nguyên nhân cốt lõi của vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinhkhông nằm ở việc lựa chọn giới tính thai nhi, mà chính là do sự bất bình đẳng giới
và xem thường giá trị phụ nữ Giải pháp của vấn đề cần được giải quyết trong bốicảnh rộng lớn của phát triển kinh tế, xã hội và quyền con người để xóa bỏ bất bìnhđẳng giới, đảm bảo nhân phẩm và các quyền con người của mỗi cá nhân, phụ nữ,trẻ em Không chỉ giải quyết hiện tượng mà cần giải quyết gốc rễ vấn đề, đó là tăngcường giáo dục giới tính trong trường học, xóa bỏ bất bình đẳng giới, tạo cho phụ
nữ quyền bình đẳng; tạo việc làm cho phụ nữ, giúp họ tham gia ngày càng nhiềuvào các hoạt động xã hội
Trang 11Câu 3: Trình bày những quan điểm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực? Phân tích vai trò của hệ thống GDQD với thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia? Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội là như thế nào? Thực tiễn VN hiện nay? Cần làm gì để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội?
Trả lời:
1 Những quan điểm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, có quan hệ chặt chẽ với dân số, là bộphận quan trọng trong dân số, đóng vai trò tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xãhội Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng, cuối cùng không phải nguồn vốn hoặcnguyên liệu của một nước, mà chính là nguồn nhân lực hay chính xác hơn sự tănglên của vốn nhân lực sẽ quyết định tính chất và bước đi của công cuộc phát triểnkinh tế và xã hội của nước đó Vốn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển kinh
tế xã hội cùa mỗi quốc gia cũng như doanh nghiệp Để nâng cao năng lực cạnh tranhmột trong những khâu đột phá, then chốt là phải nâng cao năng lực cạnh tranh củanguồn nhân lực, đặc biệt phải phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Bên cạnh khải niệm đào tạo nguồn nhân lực còn có khái niệm được sử dụng
rộng rãi hiện nay - khái niệm về phát triền nguồn nhân lực Cho đến nay do xuất
phát từ cách tiếp cận khác nhau nên khái niệm phát triển nguồn nhân lực khônggiống nhau
Theo UNESCO, phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề
của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước.Quan niệm này gắn phát triển nguồn nhân lực với phát triển sản xuất; do đó, pháttriển nguồn nhân lực giới hạn trong phạm vi phát triển kỹ năng lao động và thíchứng với yêu cầu về việc làm
Còn theo ILO, phát triển nguồn nhân lực là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề
và phát triển năng lực, sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việclàm hiệu quả cũng như thoà mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân hay phát triểnnguồn nhân lực là quá trình làm biển đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồnnhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế - xã hội
Với cách tiếp cận trên, phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thểlực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thửc, tay nghề, tính nâng động xãhội và sức sáng tạo của con người; nền văn hoá; truyền thống lịch sử Do đó, pháttriển nguồn nhân lực đồng nghĩa với quá ừình nâng cao năng lực xã hội và tính năngđộng xã hội của nguồn nhân lực về mọi mặt: thể lực, trí lực, nhân cách, đồng thờiphân bố, sừ dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lực đó để phát triển đất nước
Tuy nhiên, với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, có thể định nghĩa
phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về số lượng (quy mô) nguồn nhânlực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lựcngày càng hợp lý Cả ba mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu trong phát triển nguồnnhân lực gắn chặt với nhau, trong đó yếu tố quyết định nhất của phát triển là chấtlượng nguồn nhân lực phải được nâng cao Phát triền nguồn nhân lực nhằm đápứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội hoặc phát triển cảc hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, và đến lượt nó, phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi phải phát
triển nhanh nguồn nhân lực Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát