1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO đề CƯƠNG ôn THI môn NHỮNG vấn đề KINH tế CHÍNH TRỊ ở VIỆT NAM SAU đại học

26 206 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 239,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kđ, Đây là quan điểm dúng đắn của Đảng ta Xuất phát từ lý luận của chủ nghĩa Mác lênin về xóa bỏ chế độ tư hữu xây dựng chế độ công hữu. Chế độ sở hữu xã hội (sở hữu công cộng) về tư liệu sản xuất được xác lập, chế độ người bóc lột người bị thủ tiêu. Xã hội cộng sản chủ nghĩa là xã hội dựa trên chế độ sở hữu xã hội về TLSX, cho phép xóa bỏ tình trạng dùng TLSX làm phương tiện để nô dịch, bóc lột lao động. Người lao động quan hệ hợp tác với nhau và có cơ hội phát triển như nhau. C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra rằng, thiết lập chế độ công hữu phải đồng thời với xoá bỏ chế độ Tư hữu. Tuy nhiên, không thể thủ tiêu ngay lập tức chế độ tư hữu được mà chỉ có thể thực hiện dần dần, và chỉ khi nào tạo lập được một lực lượng sản xuất hiện đại, năng suất lao động rất cao thì mới xoá bỏ được chế độ tư hữu. Điều kiện đó chỉ có được trong giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Trang 1

Câu:1:Tại hội nghị giữa nhiệm kỳ Đai hôI VII: “sở hữu TLXS vừa phương tiện vừa là mục tiêu của CNXH Đ/C hãy làm sáng tỏ quan điểm này của Đảng từ góc độc KTCT?

Trả lời:

- Kđ, Đây là quan điểm dúng đắn của Đảng ta

- Xuất phát từ lý luận của chủ nghĩa Mác- lênin về xóa bỏ chế độ tư hữu xây dựng chế độ công hữu.

Chế độ sở hữu xã hội (sở hữu công cộng) về tư liệu sản xuất được xác lập, chế độngười bóc lột người bị thủ tiêu

Xã hội cộng sản chủ nghĩa là xã hội dựa trên chế độ sở hữu xã hội về TLSX, chophép xóa bỏ tình trạng dùng TLSX làm phương tiện để nô dịch, bóc lột lao động Người

lao động quan hệ hợp tác với nhau và có cơ hội phát triển như nhau C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra rằng, thiết lập chế độ công hữu phải đồng thời với xoá bỏ chế độ Tư hữu Tuy nhiên, không thể thủ tiêu ngay lập tức chế độ tư hữu được mà chỉ có thể thực hiện dần dần, và chỉ khi nào tạo lập được một lực lượng sản xuất hiện đại, năng suất lao động rất cao thì mới xoá bỏ được chế độ tư hữu Điều kiện đó chỉ có được trong giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa

AG: liệu có thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được hay không? không thể được cũng như không thể làm cho llsx hiện có tăng ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng nền kinh tế công hữu (Vì sao phải xoá bỏ)

hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất luôn vận động, biến đổi không ngừng theo sựphát triển của lực lượng sản xuất, do tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuấtquy định Lực lượng sản xuất không ngừng phát triển làm cho quan hệ sở hữu phải thayđổi theo, qua đó tạo nên sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất, thúc đẩy sản xuất và xã hội phát triển không ngừng

Lịch sử phát triển của sản xuất xã hội đã cho thấy, sở hữu tư nhân về tư liệu sảnxuất từ chỗ phù hợp, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất đã dần dần trở nên lỗithời, lạc hậu, cản trở sự phát triển đó Do vậy, sự ra đời của sở hữu công cộng về tư liệusản xuất thay thế cho sở hữu tư nhân là một tất yếu khách quan để giải phóng, mở đườngcho lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển hơn nữa

- Quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, việc xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới phải tuân theo quy luật khách quan, phải xuất phát từ yêu cầu của sự phát triển lực lượng sản xuất( khi llsx pt.->nsld cao-> phá vở QHSX Củ thay thế QHSX mới XHCN phù hợp) Những tư tưởng nóng vội chủ quan, duy ý chí trong việc xóa bỏ sở hữu tư nhân cũng như xác lập sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất sẽ khó đưa đến thành công mong muốn

- Vai trò sở hữu TLSX trong nền SX, XH

+ Về Ct: quan hệ sở hữu tlsx là mặt cơ bản nhất để phân biệt b/c xh này với xh khác,+ Về kt – xh: SH là qhệ kt cơ bản quyết định tính chất của QHSX, qđịnh MĐ củanền sx, QĐ b/c chế độ xh và là sự phân biệt sự khác n giữa xh này với xh khác

+ Trong qhệ với LLSX: SH là hình thức xh của llsx do llsx quyết địn đồng t SH tácđộng trở lại llsx (tích cực và tiêu cực)

+Trong qhệ với kttầng: SH là nền tảng kt xh của kttt, kttt tác động trở lại QHSH.+ SH quyết định, chi phối các mặt khác của QHSX.(quan hệ tổ chức quản lý, quan

hệ phân phối) tuy có tác động trở lại đối với quan hệ sở hữu; song,

Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, việc thiết lập chế độ sở hữucông cộng về tư liệu sản xuất được xem vừa là mục tiêu, vừa là động lực quan trọng đối với

sự phát triển của sản xuất và xã hội Chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất được xây

Trang 2

dựng với những hình thức phù hợp sẽ không chỉ góp phần từng bước giải phóng người laođộng thoát khỏi mọi sự bất công để hướng tới một xã hội văn minh, tiến bộ mà còn làphương tiện thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển lực lượng sản xuất của xã hội Do đó, xây dựng

và hoàn thiện chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất luôn luôn là một tất yếu kháchquan và là nhiệm vụ hết sức quan trọng của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay.Tuy nhiên, đó là một quá trình lâu dài, phải tuân theo đúng quy luật về sự phù hợp giữaquan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tránh sự áp đặttheo ý muốn chủ quan.`

- Thực tiễn trước và sau đổi mới Đảng ta nhận thức và chỉ đạo việc xây dựng chế độ công hữu về TLSX

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, do trình độ của lực lượng sảnxuất còn rất thấp kém nên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chẳng những chưamất đi mà nó vẫn là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển của LLSX Bởi vậy, khuyến khích,tạo điều kiện để sở hữu tư nhân phát triển đúng hướng và có hiệu quả là điều cần thiếttrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Căn cứ vào đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, khi lựclượng sản xuất phát triển chưa cao, với nhiều trình độ cao thấp khác nhau giữa các ngành,các vùng, các miền của nền kinh tế, dẫn đến nền kinh tế tất yếu sẽ còn tồn tại nhiều chế độ,loại hình sở hữu về tư liệu sản xuất (sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân)

+ Trước đổi mới: với quan niệm chưa đầy đủ về chế độ sở hữu trong thời kỳ quá độ

lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã nóng vội muốn xóa bỏ ngay các loại hình sở hữu tư nhân

để xây dựng nền kinh tế chỉ có chế độ công hữu với hai hình thức: sở hữu toàn dân và sởhữu tập thể

+Thời kỳ đổi mới: chúng ta đã khắc phục nhận thức sai lầm về quan hệ sở hữu Đó

là một vấn đề có ý nghĩa mang tính đột phá cho công cuộc đổi mới của Đảng cả về lý luận

và thực tiễn Về thực chất, hiện nay cần khắc phục tính hình thức của chế độ công hữu,hình thành chế độ sở hữu đa dạng nhằm khai thác mọi tiềm năng của xã hội để phát triểnkinh tế

Các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ tồn tạikhông biệt lập, tách rời nhau mà luôn có quan hệ chặt chẽ, đan xen nhau, tác động qua lạilẫn nhau tạo nên nền kinh tế đa dạng về hình thức tổ chức và sống động, linh hoạt trongquá trình vận động phát triển Nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các hìnhthức sở hữu là vấn đề hết sức quan trọng nhằm bảo đảm cho nền kinh tế phát triển mạnh

mẽ và giữ vững được định hướng đã xác định Để thực hiện mục đích giải phóng sức sảnxuất, khai thác tối đa mọi tiềm năng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, cần phải coi việc sửdụng các loại hình sở hữu như là phương tiện không thể thiếu được cho quá trình đó Tuynhiên, xét về bản chất và yêu cầu định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế trong thời kỳquá độ, vấn đề đặt ra là phải coi việc củng cố, hoàn thiện chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa

về tư liệu sản xuất mục đích để xây dựng nền tảng kinh tế - xã hội cho chế độ mới ở nướcta

Việc hình thành và xác lập chế độ sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

ở nước ta với sự đa dạng hóa hình thức sở hữu nhất thiết phải được dựa trên cơ sở kháchquan như: những thay đổi về tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phâncông lao động xã hội Vấn đề cần đặc biệt chú ý là phải gắn liền với lợi ích của người laođộng, bởi vì lợi ích kinh tế là động lực cho sự phát triển và hoàn thiện của mọi quan hệkinh tế Chỉ có như vậy mới bảo đảm cho nền kinh tế nước ta phát triển mạnh mẽ, có hiệuquả và vững chắc Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ: “Trên

cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và

Trang 3

nhiều thành phần kinh tế”.

Kết luận:Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ chuyển biến từ sởhữu tư nhân thành sở hữu công cộng về TLSX chuyển biến đó mang tính khách quan tùythuộc vào trinh độ phát triển của LLSX Do đó Sở hữu công cộng về TLSX vừa là phươngtiện vừa là mục tiêu trong công cuộc XDCNXH

Câu 2: Có ý kiến cho rằng: Xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước

ta hiện nay là làm suy yếu hay phá vỡ QHSX mới ,là xa rời muc tiêu của CNXH đ/c trình bay quan đểm của minh về vấn đề này ?

khẳng định ý kiến trên đưa ra là không đúng vì:

- Kết cấu kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tính đan xen của các kết cấu kinh tế

Khái niệm: Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là tổng thể các thành phần kinh tế cùng tồn tại trong nền kinh tế quốc dân

thống nhất, mỗi thành phần kinh tế có vị trí, vai trò và tỉ trọng khác nhau, nhưng có mối quan hệ tác động lẫn nhau, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã

hội ở nước ta là một tất yếu khách quan

+ xp từ đặc trưng cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói chung và quá

độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta nói riêng còn tồn tại đan xen hai kết cấu kinh tế - xã hội

cũ và mới:

TBCN, XHCN Cái cũ vừa bị đánh bại, chưa mất hẳn và còn có cơ hội hồi phục,trong khi cái mới vừa ra đời, còn non yếu, đòi hỏi phải có thời gian nhất định để cải tạocái cũ, xây dựng cái mới mà không thể chủ quan nóng vội

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, chưaqua chế độ tư bản chủ nghĩa nên ngoài hai kết cấu kinh tế cơ bản nói trên, còn tồn tại cảtàn dư kinh tế phong kiến, nông dân gia trưởng, kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc… Do đó,trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tất yếu tồn tại cơ cấu kinh tế với nhiều thànhphần hết sức đa dạng, đòi hỏi cần có thời gian tương đối lâu dài để cải biến, định hướng nótheo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xâydựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội

+ Xuất phát từ yêu cầu QL QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, lực lượng sản xuất còn ở trình

độ thấp và không đồng đều giữa các ngành, vùng, lĩnh vực kinh tế; tương ứng với trình độcủa lực lượng sản xuất sẽ có một kiểu quan hệ sản xuất dựa trên những hình thức sở hữunhất định về tư liệu sản xuất Tính đa dạng về sở hữu chính là do lực lượng sản xuất chưaphát triển đủ mức độ để có thể thủ tiêu hoàn toàn chế độ tư hữu và thiết lập hoàn toàn chế

độ công hữu Do đó, cơ cấu của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ, xét về phương diện kinh

tế - xã hội phải là cơ cấu kinh tế nhiều thành phần mới phản ánh đúng quy luật về sự phùhợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vàđiều đó bảo đảm cho sự phát triển của lực lượng sản xuất

+ Chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp về kinh tế, nên yêu cầu

cấp thiết đặt ra là phải giải phóng, huy động mọi tiềm năng, nguồn lực trong xã hội phục

vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

Đây là trách nhiệm và cũng là quyền lợi của mọi cấp, mọi ngành và toàn xã hội;trong đó thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân có vai trò to lớn và là một trongnhững động lực quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cần đ-

Trang 4

ược phát huy Thực tế công cuộc đổi mới đất nước thời gian qua cho thấy, kinh tế tư nhân(tư bản tư nhân và cá thể, tiểu chủ) có tác dụng to lớn trong việc huy động vốn, mở mangngành nghề, tạo việc làm và thu nhập cho nhiều đối tượng trong xã hội, góp phần pháttriển nhanh lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết nhiều vấn đề xãhội bức xúc Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế tạo tiền đề khắc phục tình trạng độcquyền, hình thành quan hệ hợp tác và cạnh tranh đa dạng, nên chúng đều có tác dụng tíchcực đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, là động lực của kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa

+ duy trì cơ cấu kinh tế nhiều thành phần còn thể hiện sự dân chủ hoá về mặt kinh

tế, tạo nền tảng vật chất mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực của đời sống

xã hội Quyền dân chủ về mặt kinh tế thể hiện ở chỗ mọi công dân có quyền tự do lựachọn hình thức tổ chức kinh tế hay tham gia một thành phần kinh tế cụ thể tuỳ theo điềukiện, khả năng thực tế của họ mà không có sự phân biệt đối xử Nhà nước khuyến khíchmọi cá nhân hay tổ chức được tự do phát triển sản xuất kinh doanh không hạn chế quy mô,trình độ ở những ngành nghề, lĩnh vực có lợi cho quốc kế dân sinh mà pháp luật khôngcấm; đồng thời khuyến khích quá trình hình thành các hình thức liên kết, hợp tác đa dạnggiữa các thành phần và tổ chức kinh tế nhằm tăng cường sức mạnh và nâng cao hiệu quảtrong các hoạt động kinh tế, hướng chúng đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội một cách

tự giác

- Các thành phần kinh tế khác còn vai trò tác dụng.

Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần có vai trò to lớn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội ở nước ta Cơ cấu đó phù hợp với trình độ xã hội hoá của lực lượng sản xuất ở nước

ta, thể hiện sự vận dụng đúng đắn lý luận của V.I.Lênin về đặc điểm kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đó là một trong những vấn đề có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn cần được nhận thức và vận dụng trong thực tiễn

+ Thực tiễn trước và sau đổi mới về cải tạo QHSX cũ xây dựng QHSX mới đã chứng minh tính đúng đắn của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

Trước đổi mới QHSX cũ chỉ 2 thành phần KT Là KTNN và KTTâp thể duy trì quá lâu chính sách kinh tế quan liêu bao cấp làm nền kinh té trì trệ, đời sống nhân dân ngày càng khó khăn …Từ khi thực hiện đổi mới QHSX mới với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đã chứng minh tinh đúng đắn  Kết luận: Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần không làm suy yếu, phá vỡ, xa rời mục tiêu CNXH mà trái lại là củng cố, phát triển, làm cho mục tiêu CNXH được thực hiện một cách chắc chắn nhất

- Quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX

Xuất phát từ yêu cầu quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất vàtrình độ phát triển của lực lượng sản xuất Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở n-ước ta, lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp và không đồng đều giữa các ngành, vùng,lĩnh vực kinh tế; tương ứng với trình độ của lực lượng sản xuất sẽ có một kiểu quan hệ sảnxuất dựa trên những hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất Tính đa dạng về sởhữu chính là do lực lượng sản xuất chưa phát triển đủ mức độ để có thể thủ tiêu hoàn toànchế độ tư hữu và thiết lập hoàn toàn chế độ công hữu Do đó, cơ cấu của nền kinh tế trongthời kỳ quá độ, xét về phương diện kinh tế - xã hội phải là cơ cấu kinh tế nhiều thành phầnmới phản ánh đúng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độphát triển của lực lượng sản xuất và điều đó bảo đảm cho sự phát triển của lực lượng sảnxuất

- Các thành phần kinh tế còn phát huy vai trò tác dụng

chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp về kinh tế, nên yêu cầu cấp

thiết đặt ra là phải giải phóng, huy động mọi tiềm năng, nguồn lực trong xã hội phục vụ

Trang 5

cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Đây là trách nhiệm và cũng là quyền lợi của mọicấp, mọi ngành và toàn xã hội; trong đó thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân có vaitrò to lớn và là một trong những động lực quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước cần được phát huy Thực tế công cuộc đổi mới đất nước thời gian quacho thấy, kinh tế tư nhân (tư bản tư nhân và cá thể, tiểu chủ) có tác dụng to lớn trong việchuy động vốn, mở mang ngành nghề, tạo việc làm và thu nhập cho nhiều đối tượng trong

xã hội, góp phần phát triển nhanh lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảiquyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế tạo tiền đề khắcphục tình trạng độc quyền, hình thành quan hệ hợp tác và cạnh tranh đa dạng, nên chúngđều có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, là động lực của kinh

tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa

* Thực hiện dân chủ hoá kinh tế

Duy trì cơ cấu kinh tế nhiều thành phần còn thể hiện sự DC hoá về mặt KT, tạo nềntảng VC mở rộng dân chủ XHCN trên các lĩnh vực của đời sống XH Quyền DC về mặt

KT thể hiện ở chỗ mọi công dân có quyền tự do lựa chọn ht t/c KT hay tham gia một TP

KT cụ thể tuỳ theo điều kiện, khả năng thực tế của họ mà không có sự phân biệt đối xử.Nhà nước khuyến khích mọi cá nhân hay tổ chức được tự do phát triển sản xuất kinhdoanh không hạn chế quy mô, trình độ ở những ngành nghề, lĩnh vực có lợi cho quốc kếdân sinh mà pháp luật không cấm; đồng thời khuyến khích quá trình hình thành các hìnhthức liên kết, hợp tác đa dạng giữa các thành phần và tổ chức kinh tế nhằm tăng cường sứcmạnh và nâng cao hiệu quả trong các hoạt động kinh tế, hướng chúng đi theo quỹ đạo củachủ nghĩa xã hội một cách tự giác

Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần có vai trò to lớn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội ở nước ta Cơ cấu đó phù hợp với trình độ xã hội hoá của lực lượng sản xuất ở nước

ta, thể hiện sự vận dụng đúng đắn lý luận của V.I.Lênin về đặc điểm kinh tế nhiều thànhphần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đó là một trong những vấn đề có tính quyluật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn cần được nhận thức và vận dụng trong thực tiễn

- Thực tiễn trước và sau đổi mới về cải tạo QHSX cũ, xây dựng QHSX mới ở nước ta

đã chứng- minh

+ trước 1986: thực hiện cơ chế… Duy trì 2 hình thức SH nhà nước, tập thể, nền kinh

tế do nhà nước,tập thể HTX QL, hạch toán sản xuất kinh doanh phân phối theo ăn chia sp,tem phiếu

+ sau 1986: thực hiện kinh tế thị trường định hướng XHCN SH; Nhà nước, tập thể,

tư nhân kích thích hăng say làm việc…phân phối theo lao động, vốn tài sản, quỷ phúc lợi

xã hội phản ánh b/c chế độ XHCN đã thúc đẩy LLSX phát triển,

- Kết luận: không phải là làm suy yếu, phá vỡ, xã rời mục tiêu CNXH mà trái lại làcủng cố phát triển, làm cho mục tiêu CNXH được thực hiện một cách chắc chắn nhất

Câu 4: có ý kiến cho rằng: trên thế giới chưa có quốc gia nào đạt tới trình độ kinh tế tri thức mà đảng ta xác định: đẩy mạnh cnh, hđh gắn với phát triển kinh tế tri thức là chủ quan nóng vội đ/c hãy bày tỏ ý kiến của minh về vấn đề này ?

- Khẳng định ý kiến này là sai Chúng ta đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với phát triển

kinh tế trí thức là khách quan và hợp với qui luật, không hề nóng vội

- Kinh tế tri thức và đặc trưng

+ Kinh tế tri thức: là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra phổ cập và sữ dụng tri thức

giữ vt quyết định đối với sự phỏt triển kinh tế tạo ra của cảI, nâng cao chất lượng cuộcsống

+ Đặc trưng kinh tế tri thức

Trang 6

* tri thức trở thành nhân tố chủ yếu nhất của nền kinh tế (cần phỏt triển mạnh cácngành kinh tế có giá trị gia tăng cao)

* kinh tế tri thức có tộc độ hđ nhanh và đổi m nhanh

* mạng lưới thông tin trở thành qt nhất của nền kinh tế

* kinh tế tri thức là nền kinh tế hoạc tập

* kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hoá

* kinh tế tri thức là nền kinh tế phỏt triển bền vững

- QĐ của đảng về kinh tế tri thức:

Đại hội X chủ trương “tranh thủ cơ h do bối cảnh qtế tạo ra và tiềm năng lợi thế củađất nước để rút ngắn quá trình CNH, HĐH PHÁT TRIểN MạNH CáC NGàNH Và SPKINH Tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức, kết hợp nguồn vốn tri thức củacon người vn với tri thức mới nhất của nhân loại Theo tinh thần ĐH: X, chúng ta nghiêncứu sự gắn gắn kết công nghiệp hoá, hiện đại hóa với kinh tế tri thức trên 3 vấn đề lớn sau:

- các căn cứ để đảng ta xác địnhcông nghiệp hoá, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức.

+ xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Và THCM về con đường đi lênchủ nghĩa xã hội;

M-LN: g/c cn phải vươn lên làm chủ tri thức

CNXH Muốn thắng cntb phải xây dựng llsx hơn hẳn CNTB

+ HCM: là Cđộ không có tư hữu, k có bóc lột, của cải đều chung, sức sx cao, ND LĐhoàn toàn đc GP

+ cương lĩnh xây dựng đất nước đã chỉ ra 6 đặc trưng về chủ nghĩa xã hội trong đó

có đặc trưng về LLSX (Xem cương lĩnh mới… 8 đặc trưng)

- do ND LD làm chủ

- có nền KT pt cao dựa trên LLSX hiện đại vàc Cđộ công hữu về các TLSX chủ yếu

- có nền VH tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

- con ng đc GP khỏi áp bức bóc lột, bất công, làm theo năng lực hưởng theo LĐ, cócuộc sống ấm no tự do HP, có Đk pt cá nhân

- các DT trong nc bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ

- có quan hệ hữu nghị và hợp tác với ND tất cả các nc trên TG

+ kinh nghiệm thực tiễn 20 năm đổi mới đất nước chúng ta đã và đang đổi m tư duy

- Nội dung của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là:

- Phát triển mạnh các ngành và các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào trithức (sử dụng tri thức của người Việt Nam và tri thức của nhân loại);

- Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng trong mỗi bước phát triển của đấtnước ở từng vùng, từng địa phương, trong từng DA KT - XH

- Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý theo ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ

- Giảm chi phí trung gian, nâng cao năng suất lao động tất cả các ngành lĩnh vực, nhất

là các ngành có sức cạnh tranh cao

* Định hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức.

Trang 7

Đại hội X định hướng phát triển 6 ngành và lĩnh vực chủ yếu của quá trình này trongnhững năm tới.

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân.

Hai là, phát triển nhanh hơn công nghiệp và xây dựng, dịch vụ.

Ba là, phát triển kinh tế vùng.

Bốn là, phát triển kinh tế biển.

Năm là, chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ

Sáu là, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên.

- Tiêu trí đánh giá

Tăng trưởng kinh tế và thực hiên tiến bộ và công bằng XH Khai thác hợp lý, sử dụng vàtìm hiểu tài nguyên thiên nhiên

Câu 5: Kinh tế nhà nước ở nước ta thời gian vừa qua còn bộc lộ nhiều yếu kém.

Do đó đã có ý kiến cho rằng: Nên để kinh tế tư nhân giữ vai trò chủ đạo Đ/c hãy cho biết chính kiến của minh về vấn đề này ?

- Khẳng định đây là quan điểm sai trái cần phải phê phán đấu tranh với những ý kiếntrên

- Khẳng định phát triển kinh tế nhiều thành phần là chính sách đúng đắn xuất phát từnhận thức đúng đắn về đặc trưng kinh tế TKQĐ, QLQHSX…LLSX, thực tiển kinh tếnước ta

Sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

ở nước ta là một tất yếu khách quan Điều đó xuất phát từ những lý do cơ bản sau đây:

+ đặc trưng cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội;

LN: TKQD là sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần và gắn với nó là xó hội cónhiều g/c

quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói chung ở nước ta nói riêng còn tồn tại đan xen haikết cấu kinh tế - xã hội cũ và mới: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Cái cũ vừa bịđánh bại, chưa mất hẳn và còn có cơ hội hồi phục, trong khi cái mới vừa ra đời, còn nonyếu, đòi hỏi phải có thời gian nhất định để cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới mà không thểchủ quan nóng vội

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, chưaqua chế độ tư bản chủ nghĩa nên ngoài hai kết cấu kinh tế cơ bản nói trên, còn tồn tại cảtàn dư kinh tế phong kiến, nông dân gia trưởng, kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc Do đó,trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tất yếu tồn tại cơ cấu kinh tế với nhiều thànhphần hết sức đa dạng, đòi hỏi cần có thời gian tương đối lâu dài để cải biến, định hướng nótheo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xâydựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội

+ xuất phát từ yêu cầu quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, lực lượng sản xuất còn ở trình

độ thấp và không đồng đều giữa các ngành, vùng, lĩnh vực kinh tế; tương ứng với trình độcủa lực lượng sản xuất sẽ có một kiểu quan hệ sản xuất dựa trên những hình thức sở hữunhất định về tư liệu sản xuất Tính đa dạng về sở hữu chính là do lực lượng sản xuất chưaphát triển đủ mức độ để có thể thủ tiêu hoàn toàn chế độ tư hữu và thiết lập hoàn toàn chế

độ công hữu Do đó, cơ cấu của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ, xét về phương diện kinh

tế - xã hội phải là cơ cấu kinh tế nhiều thành phần mới phản ánh đúng quy luật về sự phùhợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và

Trang 8

điều đó bảo đảm cho sự phát triển của lực lượng sản xuất.

+ chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp về kinh tế, nên yêu cầu

cấp thiết đặt ra là phải giải phóng, huy động mọi tiềm năng, nguồn lực trong xã hội phục

vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Đây là trách nhiệm và cũng là quyền lợi củamọi cấp, mọi ngành và toàn xã hội; trong đó thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân cóvai trò to lớn và là một trong những động lực quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước cần được phát huy

+ Thực tế công cuộc đổi mới kinh tế nước thời gian qua;

Thực tiễn kinh tế tư nhân (tư bản tư nhân và cá thể, tiểu chủ) có tác dụng to lớntrong việc huy động vốn, mở mang ngành nghề, tạo việc làm và thu nhập cho nhiều đối t-ượng trong xã hội, góp phần phát triển nhanh lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởngkinh tế và giải quyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế tạotiền đề khắc phục tình trạng độc quyền, hình thành quan hệ hợp tác và cạnh tranh đa dạng,nên chúng đều có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, là độnglực của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

duy trì cơ cấu kinh tế nhiều thành phần còn thể hiện sự dân chủ hoá về mặt kinh tế,

tạo nền tảng vật chất mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực của đời sống xãhội Quyền dân chủ về mặt kinh tế thể hiện ở chỗ mọi công dân có quyền tự do lựa chọnhình thức tổ chức kinh tế hay tham gia một thành phần kinh tế cụ thể tuỳ theo điều kiện,khả năng thực tế của họ mà không có sự phân biệt đối xử Nhà nước khuyến khích mọi cánhân hay tổ chức được tự do phát triển sản xuất kinh doanh không hạn chế quy mô, trình

độ ở những ngành nghề, lĩnh vực có lợi cho quốc kế dân sinh mà pháp luật không cấm;đồng thời khuyến khích quá trình hình thành các hình thức liên kết, hợp tác đa dạng giữacác thành phần và tổ chức kinh tế nhằm tăng cường sức mạnh và nâng cao hiệu quả trongcác hoạt động kinh tế, hướng chúng đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội một cách tự giác

+ Các thành phần kinh tế khác còn vai trò tác dụng;

kinh tế tư nhân (tư bản tư nhân và cá thể, tiểu chủ) có tác dụng to lớn trong việc huyđộng vốn, mở mang ngành nghề, tạo việc làm và thu nhập cho nhiều đối tượng trong xãhội, góp phần phát triển nhanh lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảiquyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế tạo tiền đề khắcphục tình trạng độc quyền, hình thành quan hệ hợp tác và cạnh tranh đa dạng, nên chúngđều có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, là động lực của kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần có vai trò to lớn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Cơ cấu đó phù hợp với trình độ xã hội hoá của lực lượng sản xuất ở nước ta,thể hiện sự vận dụng đúng đắn lý luận của V.I.Lênin về đặc điểm kinh tế nhiều thành phầntrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đó là một trong những vấn đề có tính quy luật

từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn cần được nhận thức và vận dụng trong thực tiễn

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: Trên cơ sở ba chế độ

sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phầnkinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài

- Bản chất của kinh tế nhiều thành phần vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn;

Bản chất của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay phản ánh mối quan

hệ vừa thống nhất vừa mâu thuẫn, vừa hợp tác vừa cạnh tranh và đấu tranh giữa các thànhphần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng vớikinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân, địnhhướng lên chủ nghĩa xã hội

Trang 9

+Tính thống nhất: biểu hiện ở chỗ, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các

thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập mà đan xen, hoà quyện vào nhau, mỗi thành phầnkinh tế là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân thống nhất, nằm trong hệ thốngphân công lao động xã hội có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng.Các thành phần kinh tế cùng hoạt động trong môi trường chung, cùng bình đẳng trướcpháp luật, đều chịu tác động của các yếu tố thể chế và quy luật thị tr ường Giữa chúngluôn có mối quan hệ tác động, bổ sung cho nhau và hợp tác cùng nhau phát triển Điều

đó cho phép phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, đồng thời phát huytính phong phú đa dạng và thế mạnh riêng của mỗi thành phần kinh tế

+Sự mâu thuẫn: cạnh tranh và đấu tranh với nhau, bởi mỗi thành phần kinh tế mang

bản chất kinh tế khác nhau, chịu sự tác động của những quy luật kinh tế đặc thù nên có cáclợi ích kinh tế khác nhau, thậm chí đối lập nhau Cạnh tranh là môi trường và động lựcquan trọng để đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, phát triển lực lượng sảnxuất, loại bỏ những yếu tố lạc hậu, kém hiệu quả Tuy nhiên, quá trình cạnh tranh tìm kiếmlợi ích giữa các chủ thể kinh tế cũng dẫn đến hậu quả tiêu cực, trái với bản chất của chủnghĩa xã hội, như tính tự phát, gây mất cân đối nền kinh tế, đầu cơ trốn thuế, làm hàng giả,gian lận thương mại, huỷ hoại tài nguyên môi trường Điều đó đặt ra yêu cầu, một mặt,Nhà nước tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phầnkinh tế tự do sản xuất kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh, công khai, bình đẳng trướcpháp luật; mặt khác phải tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với các thành phầnkinh tế, hướng kinh tế tư nhân đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội

- Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng

+Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu toàn dân (công

hữu) về tư liệu sản xuất; bao gồm các nguồn tài nguyên, khoáng sản thuộc sở hữu toàn dân

do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các quỹ dự trữquốc gia, các quỹ bảo hiểm, hệ thống ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước,phần vốn thuộc sở hữu toàn dân nằm trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tếkhác

+vai trò chủ đạo Nói đến vai trò chủ đạo là nói đến khả năng chi phối, định hướng,

dẫn dắt của một thành tố có vị trí nổi trội trong hệ thống làm cho hệ thống đó vận độngtheo một khuynh hướng nhất định

+Nội dung chủ đạo: Đi đầu về nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã

hội và chấp hành luật pháp, từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinhtế; mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần khác cùng phát triển theo định hướng xãhội chủ nghĩa; tăng cường sức mạnh vật chất làm chỗ dựa để Nhà nước thực hiện chứcnăng điều tiết, quản lý vĩ mô nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa; cùng với kinh

tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân và chế độ xãhội mới

Để thực hiện tốt vai trò chủ đạo, đòi hỏi kinh tế nhà nước mà trực tiếp là các doanhnghiệp nhà nước phải nắm giữ những vị trí then chốt, những “mạch máu” của nền kinh tế;những cơ sở kinh tế quan trọng, đòi hỏi có lượng vốn đầu tư lớn, trình độ khoa học côngnghệ hiện đại, có khả năng chi phối nền kinh tế và đủ sức cạnh tranh bình đẳng với cácthành phần kinh tế khác

+Giải pháp để giữ vai trò chủ đạo:

Đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Đổi mới cơ bản mối quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp nhà nước, phân biệt rõchức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp

Trang 10

Đẩy mạnh cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy hình thành các tập đoànkinh tế mạnh với sự tham gia cổ phần của nhiều tổ chức kinh tế trong và ngoài nước; trong

đó, Nhà nước giữ cổ phần chi phối

- Thực tiễn đã chứng minh vai trò kinh tế nhà nước mà kinh tế tư nhân không thể thaythế được

Mặc dù kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân ) có tác dụng to lớn trong việchuy động vốn, mở mang ngành nghề, tạo việc làm và thu nhập cho nhiều đối tượng trong

xã hội, góp phần phát triển nhanh lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vàgiải quyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc Nhưng kinh tế tư nhân không thể thay thế được.kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo phát triển các tp kinh tế khác phát triển theo địnhhướng XHCN

( xăng dầu, giá cả các mặt hàng…)

Câu 6: Mô hình CNH ở nước ta là: “hướng mạnh về XK đồng thời thay thế NK những sp trong nước sản xuất có hq”nhưng từ thực tế cuộc khũng hoảng về kinh tế, tài

chính thế giới năm 2008- 2009, có ý kiến cho rằng mô hình này đã không còn phù hợp mànên quay về thị trường nội địa, đ/c cho biết chính kiến của mình về vấn đề này?

- Kquát mô hình CNH tập trung CNH hướng nội, CNH hướng ngoại( đặc trưng của

mô hình, trường hợp vận dụng, ưu và nhược điểm)

+ Các mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự lựa chọn của Việt Nam

Thực tiễn lịch sử thế giới cho thấy quá trình CNH ở từng nớc, trong từng giai đoạn lịch

sử có những điểm rất khác nhau Việc nghiên cứu sự đa dạng, tìm ra những nét chung mangtính quy luật và nét đặc thù của mỗi nớc có ý nghĩa rất quan trọng trong lựa chọn mô hìnhCNH, HĐH thích hợp với Việt Nam

* Mô hình CNH cổ điển của các nước Tây Âu và Bắc Mỹ tiến hành Mô hình CNH

này hoàn toàn khác với hiện nay Họ chỉ có thể CNH bắt đầu từ nông nghiệp (tích luỹ vốn,

mở rộng thị trờng, tìm kiếm nguồn lao động… đều từ nông nghiệp) với những biện pháp cỡng chế tàn bạo, đó cũng là quá trình tích luỹ nguyên thuỷ TBCN nh C.Mác mô tả “đầy máu và bùn nhơ trong từng lỗ chân lông của nó” Mô hình CNH cổ điển gắn liền với cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất, do vậy trong chừng mực nhất định CNH cũng đồng nghĩavới cơ khí hoá Là những nớc đầu tiên tiến hành CNH nên họ bắt đầu nghiên cứu phát minh ra máy hơi nớc, máy dệt, xây dựng đờng sắt…con đờng tự nghiên cứu, tự chế tạo,

tự áp dụng vào sản xuất để CNH là con đờng vừa dài, vừa gian nan kéo dài hàng trăm năm, thể hiện tính điển hình về phát triển tuần tự của quá trình CNH

* Mô hình “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng…” với cơ chế kế hoạch hoá tập trung:

Mặc dù mô hình này đã tạo ra những kỳ tích của XHCN trong những năm 30, song

nó bộc lộ nhiều khiếm khuyết khi áp dụng vào các nớc XHCN đi sau Liên Xô, tạo ra gánhnặng nợ nần cho các quốc gia nghèo, ít vốn do đồng vốn quay vòng chậm, bị thất thoát,lãng phí, hiệu quả kinh tế – xã hội thấp, gây ra những mất cân đối nghiêm trọng do tậptrung đầu t cho công nghiệp nặng và sao nhãng đầu t cho công nghiệp nhẹ và nông nghiệp.Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam đã thừa nhận những sai lầmkhi áp dụng mô hình trên là “nóng vội u tiên phát triển công nghiệp nặng” khi cha tạo ra đ-

ợc những tiền đề kinh tế – xã hội từ trong nớc cần thiết cho sự u tiên đó

* Mô hình “CNH thay thế nhập khẩu” (CNH hướng nội):

Diễn ra vào đầu những năm 50 của thế kỷ XX hàng loạt các quốc gia Á - Phi – Mỹ

la tinh giành được độc lập dân tộc, với hy vọng xây dựng được một nền kinh tế độc lập tựchủ, thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân Nội dung cơ bản của mô hình là: tạo

Trang 11

điều kiện cho công nghiệp chế biến trong nớc phát triển bằng một hàng rào thuế quan bảo

hộ nghiêm ngặt, loại bỏ cạnh tranh của hàng ngoại; khuyến khích các doanh nghiệp trongnớc sản xuất những hàng hoá vốn phải nhập khẩu; cắt giảm nhập khẩu bằng hạn ngạch đểtiết kiệm ngoại tệ Để có thể vận dụng mô hình này vào Việt Nam cần đánh giá một số uđiểm và khuyết điểm của nó:

Về ưu điểm: Với quy mô dân số trên 86 triệu người(2009), Việt Nam có một thị trường

nội địa rộng lớn tạo điều kiện cho công nghiệp chế biến trong nớc phát triển, khuyến khíchsản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu, giúp các doanh nghiệp trong nước mở rộng sản xuất, tạothêm việc làm, một vấn đề đang bức xúc hiện nay Mô hình “hướng nội” cũng chống được bóclột tài nguyên và nhân công của tư bản nước ngoài

Về hạn chế: Hạn chế sự phát triển của ngoại thương cả về tỷ trọng lẫn quy mô Do phải

nhập ngày càng nhiều những yếu tố của đầu vào để thay thế nhập khẩu, trong khi xuấtkhẩu ngày càng ít đi về tỷ trọng dẫn đến sự thâm hụt trong cán cân thanh toán, làm tăngthêm gánh nặng nợ nần Mặt khác, mô hình “hướng nội” gây ra nhiều lãng phí do chiphí sản xuất trong nớc quá lớn, giá cả cao hơn quốc tế trong khi chất lượng lại kém hơn,dẫn đến sức mua của hàng hoá nội địa bị bão hoà, HH dư thừa thu nhập của dân cư tăngchậm Ngoài ra chính sách bảo hộ còn là mảnh đất màu mỡ cho nạn buôn lậu, trốn thuế…làm rối loạn thị trường và phần nào triệt tiêu hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô của chínhphủ Do có bảo hộ khuyến khích hỗ trợ cho người sản xuất trong nớc thì lại làm hại đếnngời tiêu dùng Nó cũng dẫn đến việc di chuyển vốn, t liệu lao động và nhân công từnhững lĩnh vực sản xuất có hiệu quả sang những lĩnh vực kém hiệu quả vì có bảo hộ Dovậy, về lâu dài sự lựa chọn của Việt Nam không phải là mô hình này, tuy không thể bỏqua được nó ở những bớc khởi đầu

+ Mô hình “CNH hư ớng về xuất khẩu” (hư ớng ngoại):

Phần lớn các nước châu Á, sau một thời gian áp dụng mô hình CNH hướng nội vànhận ra những khuyết điểm của nó đã chuyển sang thực hiện mô hình hướng ngoại với nộidung chính là: khai thác tối đa các lợi thế so sánh của đất nước như nguồn nhân lực, vị tríđịa lý, tài nguyên…để phát triển các ngành các lĩnh vực sản xuất hàng hoá và dịch vụ xuấtkhẩu, tìm ra chỗ trống trên thị trường thế giới để từng bước xâm nhập và chiếm lĩnh Khitriển khai mô hình trên, tuy ở mỗi nước có sự ưu tiên khác nhau, phù hợp đặc điểm củanước mình song họ đều thực thi một số chính sách như sau:

Thực hiện “cách mạng xanh” nhằm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm để ổnđịnh kinh tế – xã hội và phát triển kinh tế nông thôn, coi đây là tiền đề quan trọng để bảođảm sự bền vững cho quá trình CNH

+ Xoá bỏ mọi hàng rào hành chính ngăn cản sự giao lưu kinh tế giữa các vùngtrong nước

+ Giữ giá lao động ở mức thấp để giảm chi phí sản xuất tạo ra lợi thế so sánh trongcạnh tranh

+ Áp dụng tỷ giá hối đoái linh hoạt có lợi cho xuất khẩu

+ Nâng cấp và hiện đại hoá kết cấu hạ tầng để tạo thuận lợi cho các hoạt động đầu

tư và giao lưu hàng hoá

+ Khuyến khích đầu tư nước ngoài

Trong điều kiện hiện nay, đối với Việt Nam “CNH hướng về xuất khẩu” sẽ tạo rađược các lợi thế cơ bản sau đây: đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu là điều kiện tiên quyết

để mở rộng ngoại thơng (tăng xuất, tăng nhập) Trên cơ sở đó, các nguồn tài nguyên vànhân lực đã và đang được khai thác sẽ đợc sử dụng có hiệu quả hơn do tận dụng đợc lợithế so sánh Và do u thế mới về mở rộng quy mô sản xuất mà các nguồn tài nguyên chưađược khai thác sẽ trở nên có giá trị như dầu khí, kim loại đen, vàng, đá quí, đất hiếm…và

Trang 12

kể cả đất đai nhằm vào xây dựng các công trình công nghiệp và dịch vụ Việt Nam có mộtthị trường lao động dồi dào, có trình độ, cần cù, có tri thức, vào loại rẻ nhất so với các nớctrong khu vực, đó là lợi thế mà chúng ta cần khai thác để sản xuất hàng xuất khẩu, tạo ranhiều chỗ làm mới, rồi từ đó mà nâng dần hiệu quả sử dụng lao động CNH hướng về xuấtkhẩu sẽ tạo ra một số ngành, một số lĩnh vực và một số vùng kinh tế phát triển nhanh bởinhững lợi thế và chính sự phát triển đó sẽ có tác dụng lan toả lôi kéo sự phát triển chungcủa cả nớc.

Mặc dù có nhiều ưu điểm, song chúng ta cần hết sức chú ý khi vận dụng mô hìnhtrên vì các nước NICs và ASEAN áp dụng nó trong điều kiện quốc tế rất khác với hiệnnay, lúc đó còn chiến tranh lạnh và chiến tranh Việt Nam để tìm kiếm các ưu đãi về thị tr-ường, vốn, công nghệ từ các cường quốc kinh tế phương Tây và Nhật Bản, đến nay điềukiện đó không còn nữa Cũng trong thời gian đó chiến tranh thương mại, chính sách bảo

hộ mậu dịch của các nước lớn chưa trở nên gay gắt, chưa xuất hiện các khối kinh tế theokiểu liên kết khu vực nh gần đây Vì vậy, với điều kiện quốc tế đã thay đổi, nhất là ViệtNam lại đang nằm trong tầm ngắm của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, chúng takhông thể áp dụng một cách máy móc mô hình “hớng về xuất khẩu” của thời kỳ chiếntranh lạnh Cũng cần phải lưu ý rằng xuất khẩu trong điều kiện của cuộc cách mạng khoahọc- công nghệ hiện đại cũng đã bao hàm những nội dung mới không chỉ là xuất khẩuhàng hoá và dịch vụ mà còn là xuất khẩu vốn, công nghệ, lao động kỹ thuật, nghệ thuậtquản lý, môi trờng thơng mại

Từ sự phân tích những ưu khuyết điểm của các mô hình trên khi vận dụng nó vàothực tiễn Việt Nam, Nghị quyết Đại hội VIII đã khẳng định chúng ta sẽ sử dụng mô hìnhCNH, HĐH hỗn hợp: “Hướng mạnh vào xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu nhữngsản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả”

+ Nước ta có trên 86 t người, thu nhập đạt 1.200 USD/ người/năm, nhiều lợi thế,tiềm năng chưa được khai thác và sử dụng có HQ

- Kết luận; Từ sự phân tích mô hình CNH hướng nội, CNH hướng ngoại

Có những ưu, khuyết điểm của các mô hình trên khi vận dụng nó vào thực tiễn ViệtNam là phù hợp, không nên chỉ có hướng nội, Nghị quyết Đại hội VIII đã khẳng địnhchúng ta sẽ sử dụng mô hình CNH, HĐH hỗn hợp: “Hướng mạnh vào xuất khẩu, đồngthời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả”

Câu 7: có ý kiến cho rằng: Kinh tế thị trường XHCN và Kinh tế thị trường TBCN cũng không khác gì nhau Đ/c hãy phản bác lại ý kiến này.?

_ Khái niệm kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà ở đó các quan hệ

kinh tế đều được thực hiện trên thị trường, thông qua quá trình trao đổi

Về thực chất, kinh tế thị trường cũng chính là kinh tế hàng hoá; bởi đều gắn liền vớicác phạm trù: hàng hoá, tiền tệ, trao đổi, giá cả, giá trị; nó đều là kiểu tổ chức kinh tế trong

đó từ sản xuất đến tiêu dùng phải thông qua khâu trung gian đó là thị trường Kiểu tổ chức

Trang 13

kinh tế này chỉ ra đời, tồn tại và phát triển khi hội đủ các điều kiện kinh tế - xã hội nhấtđịnh.

Đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường hiện đại là nhà nước can thiệp trực tiếp vàonền kinh tế Nói cách khác, đó là nền kinh tế được điều tiết bởi cả “bàn tay hữu hình” và

“bàn tay vô hình” Sự điều tiết của nhà nước đối với nền kinh tế không chỉ bằng các công

cụ pháp luật, chính sách mà còn bằng cả lực lượng vật chất, tài chính, tiền tệ Giai đoạnnày diễn ra từ đầu thế kỷ XX, gắn liền với quá trình chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranhchuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền

Kinh tế thị trường hiện đại phát triển rõ nét từ nửa sau thế kỷ XX cùng với sự pháttriển của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, sự thống trị của chủ nghĩa tư bảnđộc quyền nhà nước và quá trình toàn cầu hoá kinh tế diễn ra mạnh mẽ

Như vậy, kinh tế thị trường tồn tại và phát triển chủ yếu dưới chủ nghĩa tư bản, nótrở thành động lực thúc đẩy chủ nghĩa tư bản phát triển Song, kinh tế thị trường khôngphải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản mà là kết quả của quá trình phát triển lựclượng sản xuất, là sản phẩm của văn minh nhân loại Tuy vậy, sự phát triển của kinh tếhàng hoá, kinh tế thị trường chịu sự tác động của những quan hệ xã hội nhất định, nhất làchế độ kinh tế xã hội, do đó hình thành nên các kiểu kinh tế thị trường khác nhau Vì vậy,nhận thức đúng về kinh tế thị trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định

mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

-Trước đây nhận thức của ta về kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường: là chỉ có ở cácnước TBCN mà thôi, chúng ta rất có quan điểm bai trừ những gì thuộc về các nướcTBCN

- Nhận thức hiện nay chúng ta đã nhận thức đúng bản chất về về kinh tế hàng hóa,kinh tế thị trường: KĐ, kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa

tư bản mà là kết quả của quá trình phát triển lực lượng sản xuất, là sản phẩm của văn minhnhân loại Nhận thức đúng về kinh tế thị trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việcxác định mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta sự tồn tại của kinh tế thị trường

là một tất yếu khách quan, là yêu cầu nội tại của nền kinh tế

- Bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

+ Không phải là kinh tế tập trung bao cấp

+ Không phải là kinh tế thị trường tự do tư bản

+ Không phải là kinh tế thị trường XHCN

+ Nền Kinh tế vừa vận động theo quy luật của thị trường vừa được dẫn dắt, quyđịnh bởi bản chất của CNXH

- Đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta không giống nền kinh tế thị trường

tư bản chủ nghĩa, nhưng cũng chưa hoàn toàn là nền kinh tế thị trường hiện đại XHCN.Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, còn có sự đan xen giữa cái cũ và cái mới,chưa có đầy đủ những yếu tố của CNXH Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ởnước ta có những đặc trưng sau đây:

+ Mục đích của nền kinh tế thị trường là: nhằm phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội

Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; do đó, mục tiêu hàng đầucủa phát triển nền kinh tế thị trường là nhằm giải phóng sức sản xuất, động viên mọinguồn lực trong và ngoài nước để phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, nâng cao hiệuquả kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân Đồng thời với việc phát triển lực

Ngày đăng: 26/01/2018, 17:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w