Quan hệ sản xuất được biểu hiện trên ba mặt: Sở hữu, phân phối, tổ chức quản lý: Quan hệ sở hữu phản ánh quyền sở hữu đối với TLSX, chứa đựng các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt. Ba quyền này có thể hợp nhất trong một chủ thể, cũng có khi tách rời nhau và thuộc các chủ thể khác nhau, nhưng quyền định đoạt có tính quyết định bao giờ cũng thuộc người sở hữu. QH sở hữu TLSX là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâm của QHSX. QH sở hữu đóng vai trò quyết định bản chất của QHSX. Nó quyết định MĐ, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, phương thức quản lý, chi phối phân phối kết quả sản xuất. Quyết định địa vị của các tập đoàn người trong hệ thống sản xuất xã hội. Giai cấp sở hữu những TLSX chủ yếu có quyền chi phối tổng sản phẩm xã hội, nắm quyền thống trị xã hội.
Trang 1ÔN THI KINH TẾ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM
VĐ1: Phân tích những đổi mới nhận thức về xây dựng quan hệ sản xuất ở nước ta Phê phán những quan điểm sai trái về vấn đề này?
Trả lời:
Quan hệ sản xuất được biểu hiện trên ba mặt: Sở hữu, phân phối, tổ chức quản lý:Quan hệ sở hữu phản ánh quyền sở hữu đối với TLSX, chứa đựng các quyền chiếm hữu,quyền sử dụng, quyền định đoạt Ba quyền này có thể hợp nhất trong một chủ thể, cũng cókhi tách rời nhau và thuộc các chủ thể khác nhau, nhưng quyền định đoạt có tính quyết địnhbao giờ cũng thuộc người sở hữu QH sở hữu TLSX là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản,quan hệ trung tâm của QHSX QH sở hữu đóng vai trò quyết định bản chất của QHSX Nóquyết định MĐ, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, phương thức quản lý, chi phối phânphối kết quả sản xuất Quyết định địa vị của các tập đoàn người trong hệ thống sản xuất xãhội Giai cấp sở hữu những TLSX chủ yếu có quyền chi phối tổng sản phẩm xã hội, nắmquyền thống trị xã hội
Thích ứng với một kiểu QH sở hữu là một chế độ tổ chức quản lý sản xuất nhất định
QH tổ chức quản lý tuy phụ thuộc vào QH sở hữu, nhưng QH tổ chức quản lý có vai trò rấtquan trọng Biểu hiện trên ba khía cạnh:
QHPP là cách thức phân phối kết quả sản xuất cho những người có quan hệ với quátrình sản xuất và sự phân phối đó phụ thuộc vào quan hệ của họ đối với TLSX
Những đổi mới nhận thức về xây dựng quan hệ sản xuất
Trong quá trình phát triển, chế độ sở hữu công cộng về TLSX chủ yếu từng bước đượcxây dựng và sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối khi CNXH được xây dựng xong về cơ bản Việc xâydựng QHSX phải qua nhiều bước, nhiều hình thức từ thấp lên cao với những bước đi vữngchắc Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng QHSX theo định hướng XHCN là
thúc đẩy LLSX phát triển, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội
* Đổi mới về quan hệ sở hữu:
+ Cần xác lập QHSH mới với nhiều loại hình sở hữu khác nhau phù hợp với trình độ
và tính chất của LLSX: SH toàn dân, SH tập thể, SH tư nhân- các hình thức sở hữu về TLSXvốn có bản chất riêng, nhưng với nền kinh tế nhiều thành phần thì vấn đề sở hữu trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh không ngăn cách nhau rõ ràng mà có nhiều loại hình sở hữu hỗnhợp đan
+ Có sự phân biệt hình thức sở hữu và hình thức tổ chức kinh tế, không đồng nhất haicái là một như cách hiểu trước đây
Trang 2* Đổi mới về thành phần kinh tế:
+ Từ ba loại hình sở hữu cơ bản nêu trên hình thành nhiều thành phần kinh tế khácnhau
+ Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quantrọng của nền kinh tế thị trường đ/h XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranhlành mạnh
+ Trong nền kinh tế nhiều thành phần kinh tế, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo,kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của kinh tếquốc dân
* Đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế nhiều thành phần.
Ý tưởng đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta xuất hiện từ trước ĐH Đảng toànquốc lần thứ VI Từ năm 1979 tới 1985, Đảng và Nhà nước đã đưa ra một số giải pháp tìnhthế, mang tính thực nghiệm với cải tiến cơ chế quản lý Những cải tiến ấy chưa hình thànhtheo quan điểm hệ thống và chưa coi trọng thị trường, nên diễn ra không triệt để, những kếtquả đạt được rất hạn chế Tuy nhiên đã để lại những bài học kinh nghiệm trong quá trìnhkhám phá tìm tòi để xây dựng cơ chế quản lý kinh tế trước tiên được đề cập trong văn kiện
ĐH Đảng VI năm 1986, tiếp tục bổ sung trong VK các ĐH sau này
* Quan hệ phân phối và vấn đề xã hội trong nền kinh tế nhiều thành phần
- Về phân phối cho tiêu dùng cá nhân nhằm giải quyết đúng đắn các quan hệ lợi ích
kinh tế, thực chất là giải quyết vấn đề hệ thống đòn bẩy kinh tế và động lực phát triển kinh tế.Coi trọng lợi ích trực tiếp của người lao động thực hiện đa dạng hóa các tổ chức kinh tế, cáchình thức sản xuất kinh doanh từ đó đa dạng hóa các hình thức thu nhập đối với mỗi chủ thểsản xuất kinh doanh và mỗi người lao động
Các hình thức phân phối chủ yếu bao gồm:
+ Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế
+ Phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh.+ Phân phối thông qua phúc lợi xã hội
Đi đôi với việc khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp, Đảng và Nhà nước ta đãchú trọng tới việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, khắc phục sự quá chênh lệch vềthu nhập và mức sống của các hộ miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ so với các hộ ở ĐôngNam bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long
- Về mặt xã hội: quan điểm chung là, thực hiện tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm
tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong bước phát triển Tăng trưởng kinh tế đi đôi với pháttriển văn hóa giáo dục, xây dựng nền văn hóa mới, nâng cao dân trí, giáo dục đào tạo con
Trang 3người, phát triển nguồn nhân lực của đất nước Làm cho CN Mác- Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân
Cụ thể chi tiết với các nội dung sau:
+ XH phát triển và lành mạnh hóa, công bằng trong phân phối, bình đẳng trong quan
hệ xã hội, nhân dân làm giàu hợp pháp
+ Mở mang các ngành nghề tạo ra nhiều việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, cácchính sách bảo hiểm cho lao động
+ Thực hiện tiền tệ hóa đầy đủ tiền lương, khắc phục những bất hợp lý trong chínhsách trợ cấp xã hội
+ Thực hiện xoá đói giảm nghèo, các chính cách đối với người nghèo, hộ nghèo
+ Thực hiện các chính sách ưu đãi những người có công
+ Tựu chung là các chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần XH, đề cao tráchnhiệm chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia của cácđoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội
Phê phán những quan điểm sai trái về vấn đề này:
Quan điểm: Kinh tế đa sở hữu nhiều thành phần kinh tế xa rời quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa
Phê phán: XD QHSX còn mù mờ, ko biện minh
VĐ2: Thực trạng xây dựng quan hệ sản xuất ở nước ta từ năm 1986 đến nay
Trả lời:
* Thành tựu: Việc xác lập QHSX mới từng bước đã tạo ra những bước chuyển biến
trong sự phát triển của LLSX (Bất cứ một sự cải biến nào về mặt quan hệ sở hữu cũng đềuphải là kết quả tất yếu của việc tạo nên những LLSX mới)
Thực hiện nhiều chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất
Ở cơ cấu kinh tế là đa dạng các thành phần kinh tế là: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể
mà nòng cốt là các HTX, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tư bản tưnhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Các quan hệ về quản lý ngày càng hợp lý hơn: ngày càng phân định rõ hơn chức năng quản lý của nhà nước về kinh tế và chức năng sản xuất kinh doanh
Quyền chủ động kinh doanh, chế độ trách nhiệm của doanh nghiệp được đề cao Thực
tế, hoạt động KD của các DN về cơ bản chịu sự định hướng, điều tiết của Nhà nước và cácquan hệ thị trường
Nhà nước xây dựng hệ thống luật để điều chỉnh kiểm soát các quan hệ kinh tế -xã hội,
Trang 4tuy chưa đồng bộ, nhưng đã tạo nên khuôn khổ pháp lý cơ bản cho hoạt động kinh tế
Hệ thống quản lý được từng bước tổ chức lại cho phù hợp với đặc điểm và điều kiệncủa cơ chế thị trường Nhà nước được xác định là vừa thực hiện chắc năng là chủ sở hữu đốivới doanh nghiệp nhà nước, vừa thực hiện chức năng điều tiết các quan hệ kinh tế - xã hội
Các doanh nghiệp nhà nước đã chú trọng đổi mới công tác quản lý, với việc xác định
rõ chức năng, mối quan hệ giữa các bộ phận trong guồng máy hoạt động kinh doanh Kếhoạch kinh doanh được xây dựng và điều hành theo sự biến đổi của thị trường Công tác quản
lý tài chính và các vấn đề về năng suất, chất lượng hiệu quả được coi trọng
Quan hệ về phân phối
Quan hệ phân phối các nguồn lực diễn ra theo chiều hướng tích cực Việc pháp luậtthừa nhận quyền sở hữu, quyền tự chủ kinh doanh của các thành phần kinh tế đã tác động tíchcực đến việc nâng cao ý thức trách nhiệm sử dụng hiệu quả các nguồn lực vủa nền kinh tếquốc dân Nhà nước đã tạo ra những ưu đãi, để kích thích việc thu hút và phân phối cácnguồn lực trong và ngoài nước vào các mục tiêu trọng điểm của nền kinh tế quốc dân
Phân phối kết quả lao động, đã khắc phục dần tình trạng bình quân trong phân phối, tạođộng lực trong lao động và hạn chế ỷ lại trong lao động Bên cạnh phân phối theo lao động,
có sự kết hợp phân phối theo vốn, tài sản Điều đó tạo ra động lực mạnh mẽ để huy động cácnguồn lực trong dân cư vào đầu tư phát triển kinh tế
* Tồn tại
Cơ chế chính sách của nhà nước nhiều khi không nhất quán gây ảnh hưởng tới sự pháttriển của các thành phần kinh tế cũng như huy động các nguồn lực kinh tế trong phát triển.Trong nhận thức và thực tiễn, ta chưa thấy hết mqh tương tác giữa các mặt hợp thành củaQHSX nên nhiều vấn đề liên quan tới QHSX còn rời rạc, thiếu đồng bộ
Cơ chế quản lý kinh tế mới đã hình thành, nhưng nhiều chính sách Nhà nước ban hànhcòn chậm, hệ thống luật pháp thiếu đồng bộ đã phát sinh không ít vướng mắc về phương diệnquan hệ sở hữu, quản lý kinh doanh, lưu thông phân phối Tình trạng chặt, nhưng lại lỏngtrong quản lý đã phát sinh không ít những tiêu cực trong xã hội, đặc biệt là tình trạng thamnhũng gia tăng, không ít kẻ đã giàu lên nhanh chóng từ nguồn thu bất chính
Những bài học kinh nghiệm về xây dựng quan hệ sản xuất ở nước ta.
- Muốn xây dựng thành công CNXH, vấn đề đặt ra có tính nguyên tắc là phải xây dựng
hệ thống quan hệ sản xuất theo định hướng XHCN mà nòng cốt là chế độ sở hữu công cộng
về những TLSX chủ yếu Chế độ sở hữu công cộng không chỉ là cơ sở, phương tiện để trên
đó chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà còn là mụcđích để bảo đảm cho tính ưu trội của kinh tế thị trường định hướng XHCN so với kinh tế thị
Trang 5trường TBCN
- Quá trình xây dựng quan hệ sản xuất mới phải tuân theo quy luật khách quan, khôngthể thực hiện theo ý muốn chủ quan duy ý chí Việc xây dựng quan hệ sản xuất XHCN trướchết phải tuân theo quy luật khách quan về mối quan hệ giữa LLSX và QHSX Sự chuyểnbiến, thay đổi của quan hệ sản xuất bao giờ cũng là kết quả tất yếu của những quá trình pháttriển lực lượng sản xuất tạo nên Với ý nghĩa đó, để bảo đảm sự phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất trong TKQĐ, quan hệ sản xuất XHCN phải được xâydựng từng bước từ thấp đến cao với sự đa dạng chế độ sở hữu và các hình thức sở hữu về tưliệu sản xuất
- Có thể thấy việc xử lý mối quan hệ giữa các QHSX với kinh tế thị trường của Đảng
và Nhà nước ta trong những năm qua đã có những đóng góp rất to lớn vào thành tựu tăng
trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội; cũng theo lô gíc đó, phải khắc phục những tồn tại và cản trở chúng ta hiện nay đang nằm chính ở sự lúng túng trong xử lý mối quan hệ giữa các QHSX với kinh tế thị trường.
- Trong xây dựng hoàn thiện QHSX mới, cần chú trọng cả ba mặt chế độ sở hữu, chế
độ quản lý, chế độ phân phối Trong đó chế độ sở hữu về TLSX là mặt cơ bản nhất làm nềntảng của quan hệ mới Nhưng QHSX đang được tạo lập trong điều kiện LLSX thấp kém nênphải xây dựng những quan hệ sản xuất phù hợp Như vậy xét trong cấu trúc hệ thống QHSX
sẽ có các loại hình QHSX đa dạng gắn với mỗi thành phần kinh tế khác nhau Từ đó, trongnội tại mỗi loại hình QHSX sẽ có đa dạng cả về chế độ sở hữu, quản lý, phân phối
- Xây dựng và hoàn thiện QHSX mới với việc phát triển kinh tế nhiều thành phần,phải chú trọng những hình thức kinh tế trung gian quá độ đi từ thấp lên cao, từ qui mô nhỏđến qui mô lớn, cần mở rông liên doan liên kết giữa các thành phần kinh tế, tạo môi trườngkinh doanh cạnh tranh, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
VĐ3: Trình bày định hướng và giải pháp cơ bản tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất ở VN
Trả lời:
Đảng ta chủ trương, trước hết phải phát triển mạnh LLSX, khơi dậy mọi tiềm năng,mọi nguồn lực để thúc đẩy tăng rưởng kinh tế và tuỳ theo trình độ phát triển của LLSX màQHSX sẽ từng bước được cải biến cho phù hợp Khi LLSX đạt tới trình độ xã hội hoá cao,hiện đại tát yếu sẽ đòi hỏi phải xác lập chế độ sở hữu công cộng về những TLSX chủ yếu Ởnước ta, chế độ công hữu chỉ có thể chiếm ưu thế tuyệt đối khi nào cơ sở vật chất - kỹ thuậtcủa CNXH được xây dựng xong về cơ bản Tiêu chuẩn cơ bản để xét xem một QHSX nhất
Trang 6định là có phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX không? có đúng định hướngXHCN không ? Nghĩa là cần phải xem nó thúc đẩy LLSX phát triển, cải thiện đời sống nhândân và có tạo điều kiện để thực hiện công bằng xã hội như thế nào? mức độ nào? Phải đánhgiá hết vai trò của việc xử lý các mối quan hệ của QHSX và giữa QHSX với mô hình pháttriển kinh tế (kinh tế thị trường định hướng XHCN) Phân biệt rõ các phạm trù: Sở hữuTLSX, thành phần kinh tế, loại hình kinh tế, khu vực kinh tế Đây đều là những phạm trùkinh tế song không đồng nhất.
Các định hướng và giải pháp cơ bản:
Thứ nhất, về xây dựng quan hệ sở hữu và phát triển các thành phần kinh tế:
Sở hữu:
- Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta, không thể thiết lập công hữubằng con đường tự phát hoặc làm với bất cứ giá nào, mà phải tìm tòi sáng tạo nhiều loại hìnhchế độ sở hữu, đa dạng các hình thức sở hữu Trong TKQĐ lên CNXH ở nước ta, LLSX pháttriển chưa cao và có nhiều trình độ khác nhau Do đó, trong nền kinh tế tồn tại nhiều hìnhthức sở hữu: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư bản tư nhân,
- Sở hữu nhà nước được xác lập trước hết đối với các công trình thuộc kết cấu hạ tầng,các nguồn tài nguyên, các tài sản quốc gia sở hữu nhà nước còn được thiết lập trong các lĩnhvực then chốt như: NH, BH’, BĐiện, Đsắt, Hkhông, Điện năng, Khai thác mỏ Do hoàn cảnhlịch sử, sở hữu nhà nước còn được thiết lập ở các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa và dịch vụthông thường Nhà nước trở thành chủ thể kinh tế thực sự, thiết lập quan hệ kinh tế và tácđộng đến các chủ thể kinh tế khác
- Sở hữu tư nhân trong TKQĐ không còn là hình thức sở hữu thống trị, nhưng vẫn tồntại đan xen với sở hữu nhà nước, kể cả các ngành kinh tế then chốt như NH, BH’ trong khuvực kinh tế mà LLSX thấp kém hơn thì tồn tại dưới các hình thức sở hữu cá thể, sở hữu tậpthể
- Các hình thưc sở hữu là cơ sở thực hiện lợi ích của các chủ thể và tác động với nhautrên tất cả các phương diện: tổ chức, quản lý, phân phối thu nhập, năng suất, chất lượng hiệuquả Lợi ích của các chủ thể còn đòi hỏi các hình thức sở hữu liên kết với nhau và từ đó,hình thứ sở hữu hỗn hợp xuất hiện
Về TPKT:
- Bước vào TKQĐ lên CNXH, LLSX ở nước ta còn thấp kém, lạc hậu nên sẽ còn tồntại nhiều hình thức sở hữu, theo đó có nhiều thành phần kinh tế Các thành phần gồm: Kinh tếNhà nước, kinh tế tập thể (nòng cốt là hợp tác xã ), kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế có vốnđầu tư nước ngoài Các thành phần kinh tế tồn tại không tách rời nhau, mà có quan hệ chặt
Trang 7chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, đan xen, hoà nhập vào nhau tạo thành một nền kinh tế quốcdân thống nhất theo định hướng XHCN, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh
tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tếquốc dân
Do bản chất khác nhau, thậm chí đối lập nhau của các thành phần kinh tế nên sẽ khôngtránh khỏi sự cạnh tranh, đấu tranh gay gắt giữa chúng, điều đó tạo nên động lực thúc đẩy sựphát triển mạnh mẽ hơn; Đồng thời, cũng đưa lại không ít khó khăn, phức tạp cho quá trìnhphát triển theo định hướng XHCN Để bảo đảm giữ vững định hướng XHCN nền kinh tế, mộtmặt cần phải bảo đảm tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế cùng phát triểnmạnh mẽ, mặt khác phải đổi mới, củng cố kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể nhằm phát huytốt vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nềntảng vững chắc cho nền kinh tế quốc dân
Thứ hai, quan hệ tổ chức quản lý:
CL 2011 Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triểnkinh tế - xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vậtchất
Xây dựng hệ thống quản lý mới phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo địnhhướng XHCN
+ Vấn đề không kém phần quan trọng trong lĩnh vực quản lý hiện nay là đổi mới bộmáy quản lý sao cho gọn nhẹ nhưng đáp ứng kịp thời mọi yêu cầu đặt ra trong thực tiễn quản
lý kinh tế
+ Kết hợp hài hoà giữa tính định hướng và cân đối của kế hoạch với tính năng động vànhạy cảm của thị trường Thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước ở đây là để quản lý tậptrung thống nhất đối với nền kinh tế, vừa phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi bộ phậntrong nền kinh tế Đồng thời phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thịtrường, dó đó phải nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nước XHCN Tư tưởng đóđược thể hiện:
Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo hướng tạo lập đồng bộ các loại thị trường,phát huy những yếu tố tích cực của cơ chế thị trường, triệt để xoá bỏ bao cấp trong kinhdoanh, tăng cường năng lực và hiệu quả quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước, đấu tranh
có hiệu quả chống các hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, sách nhiễu gây phiền hà
Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh tế để thể chế hoá các nội dung của cương lĩnh, chiến lược và các chủ trương chính sách của Đảng
Trang 8Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế:
Thứ ba, quan hệ phân phối
- Mục tiêu hàng đầu của phân phối là phải tạo ra cơ chế kích thích, động viên triệt để
tính tích cực, tính sáng tạo của từng người lao động, từng tập thể và toàn bộ doanh nghiệp đểtăng hiệu suất tối đa Bình đẳng là mục tiêu lâu dài, bởi nó không tách rời với trình độ pháttriển cao của LLSX Muốn kích thích nâng cao hiệu suất, tăng năng suất lao động, phát triểnLLSX thì lại phải chấp nhận chênh lệch về thu nhập kinh tế
- Để hoàn thiện chế độ phân phối cần nắm vững và vận dụng các nguyên tắc:
+ Phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế; Phân phối theo vốn, tài sản vàtrí tuệ; Phân phối theo phúc lợi xã hội
- thực hiện chủ trương nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động
và hiệu quả kinh tế là chủ yếu vừa khuyến khích lao động, vừa đảm bảo phúc lợi cơ bản, có
tác dụng chi phối các hình thức phân phối khác CL 2011: thực hiện chế độ phân phối chủyếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng cácnguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống ASXH, phúc lợi xã hội
Đối với các thành phần kinh tế cụ thể cần:
+ Trong các doanh nghiệp nhà nước:
Chế độ phân phối phải khuyến khích người giỏi, động viên mọi người vươn lên giỏi.
Do đó, nhà nước chỉ nên quy định thang lương cho cấp bậc lao động nghề nghiệp, cấp bậcquản lý, còn mức lương và các khoản theo lương được hưởng cụ thể tuỳ thuộc vào kết quảkinh doanh của từng bộ phận hoặc toàn bộ doanh nghiệp
Việc phân phối cho người lao động pải kết hợp chặt chẽ giữa trách nhiệm, quyền hạn,lợi ích, kích thích cạnh tranh, có thưởng có phạt, kích thích vật chất với tinh thần, đề cao vănhóa doanh nghiệp
Hoàn thiện phân phối trong DN phải xác định đúng đắn tiêu chuẩn căn cứ và nguyên
tắc, tránh tình trạng lấy quyền lực của cơ quan cấp trên ép cấp dưới, bất cần luận cứ
+ Trong các HTX (nông nghiệp là chủ yếu):
Quán triệt nguyên tắt phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế và theo cổ phầnđối với HTX kiểu mới
Chuyển các quan hệ kinh tế giữa HTX và hộ sang quan hệ hợp đồng, thoả thuận vàcông khai Ngoài thuế nông nghiệp, các hộ xã viên chỉ thanh toán cho HTX các chi phí vềdịch vụ theo đơn giá thoả thuận
Nhà nước có hướng dẫn cụ thể để dân cư nông thôn đóng góp các khoản thực sự cầnthiết tránh huy động dân cư đóng góp tuỳ tiện
Trang 9+ Trong thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động trong thành phần này, Nhà nước phải
bảo hộ quyền lợi của người lao động, đồng thời khuyến khích nhà tư bản mở rộng phúc lợi,cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho người lao động
- Phân phối theo vốn và tài sản: đòi hỏi phải xác định đúng mức sự đóng góp của DN
TBTN vào ngân sách, vừa bảo đảm nguồn thu ngân sách, vừa nuôi dưỡng nguồn thu, bảođảm quyền lợi hợp lý cho nhà tư bản Nhà nước sử dụng chính sách kinh tế tạo động lực chođầu tư, hạn chế tiêu sài hoang phí của các nhà tư bản Nhà nước có sự trợ giúp các nhà tư bảnnâng cao năng lực kiến thức và ý thức kinh doanh
VĐ4: Nhận thức về kinh tế tri thức nói chung Phê phán những quan điểm sai trái quanh vấn đề này
Trả lời:
Có nhiều quan niệm về kinh tế tri thức:
APEC: “Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, tạo việc làm trong tất
cả các ngành kinh tế”.
Ở VN Theo Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu thì “Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống”
Như vậy, có nhiều quan niệm, cách hiểu khác nhau về kinh tế tri thức, nhưng tựuchung lại trong nền kinh tế tri thức là:
+ KTTT là một phạm trù tổng hợp phản ánh trình độ phát triển cao của lực lượng sảnxuất, ở đó các hoạt động kinh tế không chỉ dựa vào tri thức mà còn phải không ngừng sángtạo, sử dụng tối ưu tri thức và công nghệ mới
+ Trong KTTT, tri thức ngày càng xâm nhập và gia tăng trong mỗi sản phẩm hàng hoá,dịch vụ, trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, góp phần cảithiện, nâng cao chất lượng cuộc sống con người, đồng thời tác động mạnh mẽ đến nhiều mặtcủa đời sống kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia dân tộc
+ KTTT không phải là một phương thức sản xuất (một hình thái kinh tế - xã hội) mới,
mà là kết quả của quá trình xã hội hoá lao động và sản xuất Nó tiêu biểu cho giai đoạn pháttriển mới của lực lượng sản xuất xã hội và của cả nền kinh tế thị trường
+ KTTT tạo ra những thay đổi cơ bản, sâu sắc không chỉ đối với lực lượng sản xuất,
mà còn đối với cả quan hệ sản xuất xã hội Điều này thể hiện ở chỗ: quan hệ giữa các giai
Trang 10tầng xã hội trong việc sở hữu tri thức như thế nào? Quản lý và sử dụng tri thức trong nền sảnxuất xã hội ra sao? Với những mục đích gì? Sự phân chia lợi ích như thế nào do việc sử dụngtri thức trong các hoạt động kinh tế? Ở mỗi quốc gia dựa trên các chế độ chính trị - xã hộikhác nhau thì mục đích và hệ quả của nó rất khác nhau
Đặc trưng của kinh tế tri thức
Thứ nhất, tri thức trở thành nhân tố chủ yếu nhất của nền kinh tế.
Trong kinh tế tri thức, của cải tạo ra dựa vào tri thức nhiều hơn là dựa vào tài nguyênthiên nhiên và sức lao động cơ bắp, tuy nhiên vốn và các nguồn lực khác vẫn là những yếu tốrất cơ bản, không thể xem nhẹ Kinh tế tri thức được đặc trưng bởi sự chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng phát triển mạnh các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào trithức: đó là các ngành công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp công nghệ cao, cácngành dịch vụ dựa vào xử lý thông tin, tài chính ngân hàng, giáo dục đào tạo, nghiên cứu pháttriển công nghệ và ứng dụng trực tiếp để tạo ra sản phẩm Do vậy, tổng giá trị sản phẩm tăngnhanh, nhưng tổng tiêu hao nhiên liệu, nguyên liệu, vật tư hầu như không tăng mấy; số lượngngười lao động trong khu vực sản xuất hàng hoá có xu hướng ngày càng ít đi, trong khi sốngười làm việc ở các văn phòng hiện đại đa chức năng và làm công việc xử lý thông tinchiếm tỷ lệ rất lớn trong cơ cấu tổng thể lực lượng lao động xã hội
Trong KTT, con người là vốn quý nhất, sáng tạo ra tri thức Tri thức là yếu tố quyết
định của sx; sáng tạo, đổi mới là động lực thúc đẩy sx phát triển Công nghệ mới trở thànhnhân tố quan trọng hàng đầu trong việc nâng cao năng suất, chất lượng; công nghệ thông tin
được ứng dụng một cách rộng rãi Muốn nâng cao năng suất lao động xã hội, nâng cao chất lượng sản phẩm phải có tri thức, phải làm chủ được tri thức, phải biết vận dụng, quản lý, truyền bá tri thức mới có thể cạnh tranh và đồng thời đảm bảo phát triển bền vững
Hai là, kinh tế tri thức có tốc độ hoạt động nhanh và đổi mới nhanh.
Trong nền kinh tế công nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu là bằng cách tối
ưu hoá, tức là hoàn thiện cái đã có để giảm chi phí sản xuất; còn trong kinh tế tri thức thìquyết định năng lực cạnh tranh chủ yếu là sự sáng tạo ra cái mới có chất lượng cao hơn, thờigian đi tới tiêu dùng nhanh hơn Kinh tế phát triển là do sáng tạo, không ngừng đổi mới côngnghệ, đổi mới sản phẩm Vòng đời công nghệ và vòng đời sản phẩm từ lúc mới nảy sinh pháttriển, chín muồi đến tiêu vong ngày càng rút ngắn; tốc độ đổi mới của các doanh nghiệp vàcủa toàn bộ nền kinh tế ngày càng nhanh Do đó, kinh tế tri thức có tốc độ hoạt động rấtnhanh Làm việc và kinh doanh theo tốc độ của tư duy Trong kinh tế tri thức, sáng tạo trởthành động lực chủ yếu của phát triển
Các doanh nghiệp luôn luôn đổi mới, số doanh nghiệp dựa vào sáng chế, công nghệ
Trang 11mới, sản phẩm mới, nhất là doanh nghiệp khoa học hay doanh nghiệp sáng tạo tăng lên nhanhchóng; số doanh nghiệp không đổi mới bị phá sản rất nhiều; số chỗ làm việc cũ mất đi nhiều,nhưng số chỗ làm việc mới được tạo ra còn nhiều hơn và tổng số chỗ làm việc không ngừng
tăng lên Như thế nền kinh tế tri thức là nền kinh tế có rất nhiều biến động và có cả nhiều rủi
ro
Ba là, mạng thông tin trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng nhất.
Nhờ mạng thông tin mà tri thức được quảng bá rộng rãi đến mọi người; gắn kết mọi người, mọi tổ chức với nhau; rút ngắn thời gian, mở rộng không gian; các hoạt động sản xuất kinh doanh trở nên sôi động, nhanh nhạy, sản xuất gắn chặt với thị trường; tổ chức quản lý có hiệu quả, hiệu lực hơn, thúc đẩy phát triển dân chủ công khai, minh bạch Mạng
thông tin trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng nhất của nền kinh tế Trong nền kinh tế tri thức,
thông tin dồn dập, hiệu ứng dây chuyền, hiệu ứng phụ, hiệu ứng cộng năng (như internet) ngày càng tác động mạnh Có xã hội thông tin mới có kinh tế tri thức Nhiều người gọi kinh
tế tri thức là kinh tế mạng, để nhấn mạnh rằng chưa bao giờ thế giới tràn ngập những tổ chứcmạng như bây giờ, cho nên cách nghĩ, cách quản lý, cách làm việc theo một hệ thống có trên
có dưới, tôn ti trật tự theo kiểu phong kiến hay tư bản thời công nghiệp hiện đại cũng đã lỗithời
Bốn là, Kinh tế tri thức là nền kinh tế học tập (Xã hội học tập là nền tảng của kinh
tế tri thức).
Mọi người có điều kiện thuận lợi để học tập suốt đời, không ngừng phát triển tri thức, nâng cao kỹ năng, phát triển sức sáng tạo, thích nghi với sự phát triển, thúc đẩy đổi mới Trong thời đại bùng nổ về thông tin, sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đòi hỏi con người phải không ngừng học tập, cập nhật kiến thức, sáng tạo tri
thức mới, công nghệ mới, đồng thời phải chủ động theo kịp sự đổi mới và có khả năng thúc
đẩy sự đổi mới Mặt khác, con người phải học và tự học suốt đời mới thích ứng linh hoạt với
sự biến đổi hết sức mau lẹ của của môi trường và điều kiện làm việc mới Vì vậy, xã hội học
tập trở thành một đặc trưng, một yếu tố quan trọng của nền kinh tế tri thức
Năm là, kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hoá.
Quá trình phát triển khoa học và công nghệ, phát triển kinh tế tri thức cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường, phát triển thương mại thế giới và quá trình toàn cầu hoá là những quá trình đi liền với nhau, tác động qua lại và thúc đẩy nhau phát triển Sự sản sinh ra, truyền bá, sử dụng tri thức không thể chỉ nằm trong biên giới quốc gia Kinh tế tri thức ra đời trong điều kiện nền kinh tế thế giới toàn cầu hoá; bất cứ ngành sản xuất, dịch vụ nào cũng
đều dựa vào nguồn cung ứng từ nhiều nước và được tiêu thụ trên toàn thế giới Người ta
Trang 12thường gọi nền kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hoá nối mạng, hay là nền kinh tế toàn cầu dựa vào tri thức, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội.
Sáu là, kinh tế tri thức là nền kinh tế phát triển bền vững.
Phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại, vừa không ảnh hưởng đến
khả năng mà các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của mình Phỏt triển bền vững là quá
trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hũa giữa ba mặt phát triển là phỏt triển
kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.
Trong kinh tế tri thức, các công nghệ mới được sử dụng phổ biến, nhất là các côngnghệ sạch, tiêu hao ít nguyên liệu, năng lượng, là cái bảo vệ, cải thiện môi trường, cho nênkinh tế tri thức ít gây hại cho môi trường, bảo vệ được thiên nhiên Nhờ trình độ dân trí cao,nhờ sử dụng một cách phổ biến các tri thức mới trong mọi hoạt động, từ chiến lược, quyhoạch, kế hoạch đến các hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý, đời sống hàng ngày,mọi người luôn có ý thức gìn giữ, bảo vệ các giá trị của thiên nhiên, của truyền thống vănhóa, biết kết hợp hài hòa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, bảo đảm được yêu cầu phát triểnbền vững
Phê phán các quan điểm sai trái về vấn đề này:
- Coi kinh tế tri thức như là hình thái kinh tế xã hội vượt lên trên hình thái kinh tế Tư
bản chủ nghĩa, Cộng sản chủ nghĩa KTTT ra đời trong lòng CNTB hiện đại, nhưng sự phát
triển của nó lại đang bị giới hạn bởi chính phương thức sản xuất TBCN Bởi lẽ, chế độ chiếmhữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất vẫn ngự trị trong các nước tư bản, do đó việc phânphối tri thức và sử dụng tri thức trong sản xuất – kinh doanh trước hết phải vì lợi ích của giaicấp tư sản, các tập đoàn tư bản Người lao động có tri thức vẫn với tư cách là người làm thuêcho giai cấp tư sản, địa vị của họ không hề thay đổi trong xã hội tư bản Sự ra đời của KTTT
là cơ hội để giai cấp tư sản, CNTB tiếp tục tăng cường sự thống trị và bóc lột giai cấp, épbuộc và khống chế thế giới theo quỹ đạo của chúng Vì lợi ích vị kỷ mà giai cấp tư sản sẵnsàng sử dụng nguồn lực tri thức, KTTT cho các tham vọng chính trị - quân sự của mình bấtchấp hậu họa Cho nên, ở các nước tư bản, phát triển KTTT dù có đem lại sự tiến bộ nhiềumặt trong đời sống xã hội, nâng cao chất lượng sống của con người, song nó không phải làphương thuốc màu nhiệm xoá bỏ mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc Sự pháttriển của KTTT sẽ bị giới hạn bởi chính phương thức sản xuất TBCN Đòi hỏi phải có mộtquan hệ sản xuất mới, một hình thái kt-xh mới thích ứng với nó Đó chính là quan hệ sản xuấtXHCN, là chế độ XHCN và cộng sản chủ nghĩa
Trang 13VĐ5: Quan điểm của Đảng CSVN về kinh tế tri thức í nghĩa của vấn đề với cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay
Trả lời:
Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đú sự sản sinh ra, truyền bỏ và sử dụng tri thức làđộng lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, tạo việc làm trong tất cả cỏc ngànhkinh tế
Sự phỏt triển của kinh tế tri thức trong bối cảnh toàn cầu hoỏ, hội nhập kinh tế quốc tế vàkhu vực tạo ra cơ hội và thỏch thức mới đối với cỏc quốc gia trờn thế giới núi chung, ViệtNam núi riờng trờn con đường phỏt triển của mỡnh Do đú, trong quỏ trỡnh lónh đạo cụng cuộcđổi mới đất nước Đảng cộng sản Việt Nam luụn quan tõm đến lónh đạo phỏt triển kinh tế trithức Đõy là một trong những chủ trương cú tớnh đột phỏ để rỳt ngắn quỏ trỡnh CNH, HĐH ởnước ta và là nhõn tố bảo đảm sự phỏt triển cõn bằng, nhanh và bền vững của nền kinh tếnước nhà trong tương lai Đú là quỏ trỡnh từng bước Đảng ta nhận thức về kinh tế tri thức vàvận dụng vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam Chủ trơng về phát triển KTTT đợc đề cập lần
đầu tiên trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX
Tuy nhiờn, t duy đú đợc hỡnh thành từ cội nguồn sõu xa là tiến trỡnh thực hiện CNH,HĐH đất nớc Bất cứ một nớc chậm phỏt triển nào, muốn đạt trỡnh độ một nớc phỏt triển đềuphải trải qua nấc thang cú tớnh tất yếu lịch sử, đú là CNH CNH, HĐH là phơng hớng chủ đạocủa cỏc nớc đang phỏt triển hiện nay và Việt Nam khụng nằm ngoài xu thế đú Để xõy dựng
và phỏt triển đất nớc, Đảng và Nhà nớc ta đó sớm đề ra đờng lối CNH Từ Đại hội Đảng lầnthứ III (1960), Đảng ta xỏc định CNH là nhiệm vụ trung tõm của cả thời kỳ quỏ độ Cỏc Đạihội IV, V, VI, VII tiếp theo của Đảng tiếp tục khẳng định điều này Nhng từ Đại hội VI đếnnay, t duy và phơng thức tiến hành CNH ở nớc ta đó cú sự phỏt triển phự hợp với tỡnh hỡnhmới
CNH thực chất là quỏ trỡnh tạo ra những tiền đề cần thiết về vật chất, kỹ thuật, con ng
-ời, cụng nghệ, phơng tiện, phơng phỏp - những yếu tố cơ bản của lực lợng sản xuất choCNXH Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khoỏ VII, Đảng ta đó đa raquan niệm về CNH, HĐH Đến Đại hội VIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định, CNH phải gắn liềnvới hiện đại hoỏ, đõy là bớc phỏt triển mới so với quan niệm trớc đú về CNH Một trongnhững quan điểm chỉ đạo toàn bộ cụng cuộc CNH, HĐH đất nớc, đợc Đảng ta chỉ rừ: "Khoahọc và cụng nghệ là động lực của cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ Kết hợp cụng nghệ truyềnthống với cụng nghệ hiện đại; tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khõu quyết định"[VKDH 8, tr.85]
Trang 14Đặc biệt, lần đầu tiên trong nghị quyết của Đảng đã xác định rõ nhiệm vụ phát triển cácngành CNC ở Việt Nam là: CNTT, CNSH, CNVLM và công nghệ tự động hóa; đồng thờiphát triển các khu CNC, các ngành công nghiệp dựa trên CNC của đất nớc Đại hội VIII,Đảng ta khẳng định: "ứng dụng CNTT trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân , hìnhthành mạng thông tin quốc gia, liên kết với một số mạng thông tin quốc tế Phát triển CNSHnhằm tạo ra và nhân nhanh các giống cây trồng, vật nuôi mới , sản xuất các vắc xin vàkháng huyết thanh Phát triển công nghệ vật liệu, nghiên cứu chế tạo một số vật liệu mới cóhiệu quả cao Xây dựng khu CNC tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh , nhằm tạo ra cácCNC và các ngành công nghiệp dựa trên CNC" [VK DH 8, tr.188 - 189] Chủ trơng này thểhiện bớc tiến mới trong nhận thức của Đảng về tiến trình CNH, HĐH, nhằm tránh sự tụt hậunớc ta cần thiết và có thể phát triển các lĩnh vực CNC
- Cụm từ kinh tế tri thức được Đảng ta lần đầu tiên sử dụng chính thức trong Văn kiệnĐại hội IX
+ Nước ta thực hiện quá trình CNH,HĐH khi toàn thế giới KTTT đã phát triển Chúng
ta có thể và cần thiết không qua các bước tuần tự từ kinh tế nông nghiêp lên kinh tế CN rồi mới phát triển KTTT Đó là lợi thế của các nước đi sau, tuyệt nhiên không phải là nóng vội, duy ý chí
“Con đường CNH,HĐH ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển KTTT
- Đại hội X, việc phát triển KTTT được thể hiện rừ với tư cách là một yếu tố cấu thành
đường lối CNH-HĐH đất nước: ''Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trỡnh CNH-HĐH đất nước theo định hướng XHCN gắn với phát triển KTTT, coi KTTT là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH- HĐH Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào
Trang 15tri thức; kết hợp việc sử dụng vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại”
- Đại hội XI tiếp tục khẳng định lại đường lối trên Cương lĩnh xây dựng đất nước trongTKQĐ lên CNXH (Bổ sung, phát triển 2011), đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với phát triển KTTT
là phương hướng đầu tiên trong tám phương hướng xây dựng đất nước:
“Đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước gắn với phát triển KTTT, bảo vệ tài nguyên, môi trường”(VK XI, tr72).
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, lần đầu tiên Đảng ta đã ghi vào văn kiện luậnđiểm quan trọng về phát triển kinh tế tri thức (KTTT) với tư cách là một yếu tố mới cấu thànhđường lối CNH,HĐH đất nước Đến Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đẩy mạnhCNH,HĐH đất nước gắn với phát triển KTTT ” Điều đó thể hiện sự nhất quán, tầm nhìn xa
và tính nhạy bén của Đảng ta về vấn đề này
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và phát triển2011) xác định: “Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấuxây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN” Đểthực hiện thành công mục tiêu trên, Cương lĩnh cũng chỉ rõ: toàn Đảng, toàn dân ta cần nêucao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực, tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ,tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt tám phương hướng cơ bản;trong đó, “Đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước gắn với phát triển KTTT, bảo vệ tài nguyên, môitrường” là phương hướng cơ bản đầu tiên Đây không chỉ là sự tiếp tục đường lối và chiếnlược CNH,HĐH đã được xác định ở các kỳ đại hội trước, mà còn thể hiện sự nhạy bén vàphát triển sáng tạo của Đảng ta trong việc nhận thức và vận dụng học thuyết kinh tế Mác –Lê-nin vào điều kiện cụ thể của đất nước trong thời kỳ mới Tuy nhiên, sự thay đổi nhanhchóng các điều kiện phát triển, cả ở trong nước và trên thế giới, đòi hỏi chúng ta phải cónhững nhận thức mới về nội dung và phương thức thực hiện CNH,HĐH
* Các quan điểm của Đảng thể hiện trên những vấn đề:
- Phát triển kinh tế tri thức là một thực tế khách quan, phản ánh trình độ phát triển caocủa lực lượng sản xuất thế giới
- Kinh tế tri thức không phải là một hình thái kinh tế - xã hội thay cho cả chủ nghĩa tưbản và chủ nghĩa xã hội Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin hoàntoàn đúng đắn, cách mạng và khoa học
Cụ thể hơn:
- Coi tri thức, năng lực trí tuệ con người là nguồn lực chủ yếu của của sự phát triển
- Kết hợp công nghiệp hoá với “tri thức hoá”, về thực chất, đó là công nghiệp hoá dựa
Trang 16trên tri thức.
- Kết hợp truyền thống và hiện đại
- Phát huy năng lực nội sinh kết hợp với tận dụng các yếu tố ngoại sinh
- Kết hợp tuần tự với nhảy vọt, tạo những đột phá ở những ngành và vùng trọng điểm,dẫn tới bước nhảy vọt trong toàn bộ nền kinh tế
* Ý nghĩa của vấn đề với cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận ở nước ta hiện nay
VĐ6: Phân tích thực tiễn và hoạt động phát triển kinh tế tri thức ở nước ta?
Trả lời:
Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức làđộng lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, tạo việc làm trong tất cả các ngànhkinh tế
Bên cạnh tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế của nước ta trong những năm qua đã
có sự chuyển dịch, với tỷ trọng các lĩnh vực kinh tế có giá trị gia tăng cao, trong đó có những lĩnh vực dựa nhiều vào tri thức ngày càng tăng Tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp trong GDP đã giảm đều đặn và tỷ trong công nghiệp, dịch vụ tăng lên tương ứng (bảng1) Cơ
cấu kinh tế tiếp tục được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 17Tỉ trọng khu vực công nghiệp trong cơ cấu GDP từ 41% (năm 2005) tăng lên 41,1% (năm2010); khu vực dịch vụ từ 38% (năm 2005) tăng lên 38,3% (năm 2010); khu vực nông nghiệp
từ 21% (năm 2005) giảm xuống 20,6% (năm 2010)
- Thứ hai, xây dựng thể chế kinh tế thị trường tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các thành phần kinh tế, đặc biệt khu vực kinh tế tư nhân
Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng trong việc xây dựng hệ thống phápluật kinh tế, cải cách tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước, tăng cường năng lực, tính năngđộng, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ, công chức, chú trọng hỗ trợ các doanh nghiệp mới
và tạo cuộc sống tốt hơn cho người dân; cơ cấu lao động thay đổi cùng với sự gia tăng từngbước của lực lượng lao động xử lý thông tin, làm dịch vụ, di chuyển sản phẩm, làm văn
phòng Đây chính là sự thể hiện quan điểm xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa bảo đảm cho các quan hệ sản xuất không ngừng đổi mới và hoàn thiện (trong đó kinh tế tư nhân được xác định là có vai trò quan trọng là một trong những động lực của nền kinh tế)
- Thứ ba, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Sau gần 30 năm đổi mới, nước ta đã có quan hệ thương mại với gần 200 quốc gia, vùnglãnh thố; đã ký hơn 90 hiệp định kinh tế về thương mại song phương và trên 84 quốc gia,vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào nước ta Việt Nam đã thực hiện đầy đủ các cam kết tự dohóa thương mại trong khuôn khổ Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA); trở thànhthành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007 và tham gia tích cực vàoDiễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Tự do hóa thương mại và đầu
tư đã đưa nước ta trở thành một nền kinh tế có độ mở khá lớn Năm 2007 kim ngạch xuấtkhẩu đạt hơn 48 tỷ đô la Mỹ, năm 2011 tăng lên 96 tỷ đô la Mỹ, tăng gấp 2 lần Năm 2013kim ngạch xuất khẩu đạt 132 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2012 Đầu tư trực tiếp nướcngoài đã đạt những kỷ lục cam kết mới, với tổng vốn đã cam kết vượt hơn 200 tỷ USD, sốvốn thực hiện ngày càng lớn, chiếm khoảng trên dưới 20% vốn đầu tư chung của cảnước.Nước ta đang từng bước phát triển một mắt khâu trong mạng lưới sản xuất - kinh doanhtoàn cầu, trong đó có những hoạt động liên quan đến việc sản sinh và truyền bá kinh tế trithức
- Thứ tư, từng bước hình thành kết cấu hạ tầng kinh tế then chốt cho phát triển kinh tế tri thức.
Mạng thông tin là một trong những yếu tố quan trọng nhất của xã hội và kinh tế tri thức Trong những năm qua nhờ những nỗ lực trong thực hiện Chương trình quốc gia về công
nghệ thông tin từ năm 1995 và chiến lược đẩy mạnh phát triển lĩnh vực viễn thông, m¹ng
Trang 18th«ng tin ở nước ta đã được mở rộng và phát triển nhanh chóng, viễn thông được đánh giá là một trong những lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh nhất của nền kinh tế nước ta hiện nay Hiện nay mạng lưới thông tin của nền kinh tế đã được tự động hoá hoàn toàn, với 100% các
hệ thống chuyển mạch số và truyền dẫn số trải rộng trên toàn quốc và kết nối với quốc tế.
Một loạt các dịch vụ bưu chính, viễn thông và Internet đã được tạo lập và mở rộng đểđáp ứng nhu cầu của khách hàng, phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý nhà nước,giáo dục, y tế, nghiên cứu, giải trí, giao tiếp
* Hạn chế:
§ánh giá theo những đặc trưng chủ yếu của kinh tế tri thức, trong những năm qua, cónhững việc chúng ta có thể làm được và làm tốt hơn, nhưng chưa làm được thể hiện chủ yếulà:
Thứ nhất, chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp và chưa được cải thiện nhiều
Chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa cao thể hiện ở hiệu quả của nền kinh tế còn thấp, năng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế còn yếu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm và chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận dân cư có xu hướng gia tăng, môi trường đầu tư chưa ổn định, năng lực quản lý điều hành của bộ máy hành chính còn nhiều yếu kém làm tăng đáng kể chi phí giao dịch và chi phí đÇu vào sản xuất kinh doanh Việc tiếp tục theo đuổi phương thức tăng trưởng chủ yếu dựa vào lợi thế so sánh tĩnh, tăng vốn (vốn đầu tư đóng góp vào tăng trưởng là 64%, năng suất tổng hợp chỉ 19%) trong nhiều năm qua khó có
thể bảo đảm được mức tăng trưởng cao trong dài hạn, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tếquốc tế
Thứ hai, nền kinh tế và thể chế thị trường còn yếu, thiếu sót và méo mó.
Hệ thống kinh tế thị trường ở nước ta, nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chưa theo kịp diễn biến thực tế của hoạt động kinh tế, chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, mâu thuẫn, chồng chéo, không minh bạch và nhất là năng lực thực thi pháp luật yếu Cải cách hành chính diễn ra chậm chạp, khiến cho năng lực hỗ trợ của nền hành chính cho phát triển kinh tế bị hạn chế nghiêm trọng, thậm chí trong nhiều trường hợp các thủ tục hành chính rườm rà, lạc hậu còn gây cản trở cho công cuộc phát triển Một số thị trường quan trọng chỉ mới được hình thành
những đã có nhiều méo mó như thị trường khoa học - công nghệ Đầu tư cho đổi mới côngnghệ của các doanh nghiệp Việt Nam chỉ vào khoảng 0,2 - 0,3 doanh thu (Ấn Độ 5%, HànQuốc 10%) Tỷ lệ đổi mới máy móc thiết bị của Việt Nam chỉ đạt 8 -10%, còn các nước trongkhu vực là 15 - 20%
Thứ ba, quá trình chuẩn bị và hội nhập kinh tế quốc tế chưa mạnh và chưa đồng đều
Trang 19Nhận thức của các cấp, các ngành về toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế còn chậm, thiếu thống nhất và quyết tâm cao Việc chỉ đạo thực hiện còn chệch choạc, thiếu nhất
quán, chưa có kế hoạch tổng thể để điều hành; chưa có lộ trình hợp lý Trong khi đó tính chủđộng của các ngành, các cấp lại chưa cao, thậm chí còn khá bị động trong nhiều lĩnh vực
Thứ tư, các lĩnh vực biểu hiện của kinh tế tri thức chưa phát triển.
Các ngành mới đại diện cho kinh tế tri thức, hay còn gọi là các ngành công nghệ cao chưa được hình thành hoặc mới ở trình độ rất sơ khai Số doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm, đầu
tư cho nghiên cứu vµ phát triển (R&D) nhằm tạo ra công nghệ mới là không đáng kể Tri
thức chưa thực sự trở thành vốn quí, ý thức xã hội và thể chế pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ còn kém, những người có khả năng tạo ra tri thức chưa hình thành được thói quen đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho sản phẩm khoa học và công nghệ của mình Ứng dụng công nghệ thông tin trong đời sống xã hội còn hạn chế Nền giáo dục của nước ta đang chứa
®ựng nhiều bức xúc, công tác xã hội hoá giáo dục còn diễn ra chậm Với thực trạng yếu kém
như vậy sẽ gây khó khăn cho hình thành ở Việt Nam một xã hội học tập, một đéi ngũ đôngđảo các nhà tri thức
VĐ7: Sự cần thiết đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước
ta Ý nghĩa của vấn đề này đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay?
Trả lời:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt
động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công
là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động công nghệ, phương tiện và phươngpháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển cao của công nghiệp và sự tiến bộ khoa họccông nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và phát triển2011) xác định: “Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấuxây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN” Đểthực hiện thành công mục tiêu trên, Cương lĩnh cũng chỉ rõ: toàn Đảng, toàn dân ta cần nêucao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực, tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ,tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt tám phương hướng cơ bản;trong đó, “Đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước gắn với phát triển KTTT, bảo vệ tài nguyên, môitrường” là phương hướng cơ bản đầu tiên
Kinh tế tri thức:
Sự cần thiết :
Trang 20Thứ nhất, phát triển kinh tế tri thức là bước đi tất yếu của nền kinh tế thế giới trong thế kỷ 21.
- Xã hội loài người đã trải qua ba nấc thang kinh tế chủ yếu: Kinh tế nông nghiệp với
trình độ sản xuất thô sơ, năng suất lao động thấp, sức lao động là lực lượng sản xuất chủ yếu
và nông nghiệp đóng vai trò nền tảng xã hội Kinh tế công nghiệp đạt trình độ sản xuất caohơn, máy móc trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu và các ngành công nghiệp là nền tảng của
xã hội Một số nhà khoa học cho rằng sau khi thực hiện thành công công nghiệp hoá, cácnước phát triển đã chuyển sang nền kinh tế phân phối với sự phát triển mạnh mẽ của giaothông vận tải và các loại hình dịch vụ làm gia tăng giá trị sản phẩm Trong khoảng một thập
kỷ trở lại đây, sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, sự tương tác giữa tin học, viđiện tử và sinh học đã tạo ra những tiến bộ thần kỳ trong kinh tế và sẽ tiếp tục cung cấp nhiênliệu cho sự tăng trưởng của thế giới trong vòng hai hoặc ba mươi năm tới Sự phát triểnkhông ngừng có tính bùng nổ của lực lượng sản xuất trong đó tri thức đóng vai trò như lựclượng sản xuất chủ yếu đã dẫn đến sự hình thành một nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức
Những trụ cột chính của kinh tế tri thức bao gồm công nghệ thông tin, sinh học, năng
lượng mới, vật liệu mới Những sản phẩm của kinh tế tri thøc có hàm lượng tri thức cao và giá trị gia tăng lớn; dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn, vượt xa cả các ngành công nghiệp truyền thống Kinh tế mạng đóng vai trò vô cùng quan trọng Internet là động lực mạnh mẽ nhất và con đường nhanh nhất của tự do thương mại và toàn cầu hoá Trong phần lớn các ngành, xu thế sát nhập tạo ra những công ty có tiềm lực khổng lồ như các ngân hàng, công ty sản xuất ô
tô, máy tính Các công ty lớn đã hợp tác với nhau để nâng cao sức cạnh tranh Lực lượng laođộng cũng có thay đổi đáng kể Nhu cầu về lao động chuyên môn kỹ thuật ngày càng tănglên Sự thiếu hụt lập trình viên kỹ thuật là vấn đề của toàn thế giới từ những nước phát triển
như Mỹ, Canada tới những nước đang phát triển như Việt Nam Các khu kỹ thuật cao cũng được coi là một nét đặc trưng của nền kinh tế tri thức
Để tránh tụt hậu với Mỹ, tất cả các nước phát triển cũng đang đầu tư rất mạnh vào công nghệ thông tin và xây dựng nền kinh tế tri thức Chính sự đầu tư này đã dẫn đến công
nghệ thông tin và thương mại điện tử phát triển mạnh tới mức mà người ta khó có thể dự
đoán trước Kinh tế tri thức không phải là sân chơi riêng biệt của các nước phát triển, các nước đang phát triển cũng có những cơ hội thuận lợi để có thể rút ngắn khoảng cách tụt hậu.Trong bối cảnh tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, các doanh nghiệp tại các nước đangphát triển cũng có khả năng áp dụng những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ
Ngay tại khu vực Đông Nam Á, phát triển công nghệ thông tin và thiết lập hệ thống thương mại điện tử “E - ASEAN” luôn là chủ đề của các cuộc họp các bộ trưởng kinh tế ASEAN.
Trang 21Công nghệ thông tin ở Việt Nam mới đang ở trong giai đoạn đầu của sự phát triển và
có tốc độ tăng trưởng khá nhanh Tuy nhiên, nếu Việt Nam đạt được những chỉ tiêu trên thì
đó mới cũng chỉ là những con số hết sức khiêm tốn ngay cả đối với các nước trong khu vực
Mặt khác, lực lượng sản xuất ở Việt Nam phát triển thấp sẽ là rào cản đối với việc xây dựng một cơ sở cần thiết cho việc áp dụng các thành tựu của công nghệ thông tin
Hai là, phát triển kinh tế tri thức là cơ hội để nước ta rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực.
Việt Nam hiện nay nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao, nông dân vẫn là lực lượng đông đảo trong xã hội; nông dân còn nhiều khó khăn, nhiều nơi chưa thoát khỏi đói nghèo, lao động thủ công còn là phổ biến ở vùng sâu, vùng xa; năng suất lao động trong toàn xã hội còn rất thấp Vì thế khả năng tụt hậu xa hơn về kinh tế của nước ta với nhiều nước trong khu
vực và thế giới là một nguy cơ rất lớn
Để khắc phục nguy cơ đó trong bối cảnh quốc tế hiện nay chúng ta không còn con
đường nào khác hiệu quả hơn là phát triển kinh tế tri thức Vì vậy gắn việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá với phát triển kinh tế tri thức không chỉ là cơ hội để nước ta khắc phục nguy cơ tụt hậu mà còn là phương cách tốt nhất để Việt Nam bắt kịp xu thế của thời đại, đi tắt, đón đầu và “tăng tốc” để theo kịp các nước tiên tiến.
Ba là, do yêu cầu xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế có hiệu quả.
Theo tư duy mới của Đảng ta, nền kinh tế độc lập tự chủ là độc lập tự chủ về đường lối chính trị, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, không lệ thuộc vào sức ép từ bên ngoài; có tiềm lực kinh tế đủ mạnh đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, đồng thời có tích luỹ ngày càng cao; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh cao, có khả năng ứng phó hiệu quả với những tác động bất lợi từ bên ngoài; giữ vững được ổn định kinh tế - tài chính, bảo đảm an ninh lương thực, an toàn năng lượng và môi trường.
Tất cả những thuộc tính của một nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tếquốc tế mà chúng ta xây dựng chỉ có thể trở thành hiện thực khi chúng đẩy mạnh quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn chặt với phát triển kinh tế tri thức Bởi lẽ, chỉ có gắn hai quá trình đó thì chúng ta mới có thể từng bước tạo dựng được các yếu tố trên đây của một nền kinh tế độc lập tự chủ và cũng mới có được vị thế đủ mạnh để chủ động h ội nhập kinh tế quốc tế.
Bốn là, do yêu cầu xây dựng và củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.
Bước sang thế kỷ 21, các nước tư bản đứng đầu là Mỹ vẫn đang nắm những ưu thế về
Trang 22vốn, khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực trình độ cao, cho nên có điều kiện để phát triển
kinh tế, lợi dụng toàn cầu hoá kinh tế để thao túng các dân tộc đang phát triển, tìm mọi cách thực hiện toàn cầu hoá chính trị, văn hoá và xã hội, đẩy các nước, các dân tộc vào vòng xoáy của chủ nghĩa tư bản Mặt khác, chúng lợi dụng những thành quả của khoa học - công nghệ hiện đại, của kinh tế tri thức để tiếp tục củng cố vị trí siêu cường, áp đặt sự thống trị lên toàn cầu Sử dụng con bài kinh tế (hợp tác, trao đổi thương mại, vốn, công nghệ…) để tiếp tục đẩy mạnh chiến lược diễn biến hoà bình nhằm xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó Việt Nam được coi là một trọng điểm Đặc biệt trong tương lai để xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước
ta, không loại trừ địch có thể sử dụng chiến tranh công nghệ cao.
Do vậy, để có đủ sức đánh thắng địch trong mọi tình huống dưới mọi mô thức chiếntranh, Việt Nam cần phải tiến hành đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với pháttriển kinh tế tri thức Chỉ có như vậy, chúng ta mới vừa tạo được vị thế bình đẳng, cùng có lợitrong hợp tác kinh tế quốc tế; vừa tạo điều kiện để phát triển công nghiệp quốc phòng nhằmtrang bị vũ khí, trang bị tiên tiến, nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu củng cốquốc phòng, an ninh
VĐ8: Nội dung đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Việt Nam nên chọn khâu đột phá nào? Tại sao?
Trả lời:
“K.tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, việc làm trong tất cả các ngành kinh tế"
Sự phát triển của kinh tế tri thức trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế
và khu vực tạo ra cơ hội và thách thức mới đối với các quốc gia trên thế giới nói chung, ViệtNam nói riêng trên con đường phát triển của mình Do đó, trong quá trình lãnh đạo công cuộcđổi mới đất nước Đảng cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến lãnh đạo phát triển kinh tế trithức Đây là một trong những chủ trương có tính đột phá để rút ngắn quá trình CNH, HĐH ởnước ta và là nhân tố bảo đảm sự phát triển cân bằng, nhanh và bền vững của nền kinh tếnước nhà trong tương lai
Đại hội X xác định trong những năm tới:
“Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng lợi thế của đất nước để rút ngắn quá trình CNH,HĐH đất nước theo định hướng XHCN, gắn với phát triển KTTT, coi KTTT là một yếu tố quan trọng cuả nền kinh tế và CNH,HĐH
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và phát triển
Trang 232011) xác định: “Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấuxây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN” Đểthực hiện thành công mục tiêu trên, Cương lĩnh cũng chỉ rõ: toàn Đảng, toàn dân ta cần nêucao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực, tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ,tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt tám phương hướng cơ bản;trong đó, “Đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước gắn với phát triển KTTT, bảo vệ tài nguyên, môi
trường”
* Nội dung của quá trình là:
- Phát triển mạnh các ngành và các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức (sử dụng tri thức của người Việt Nam và của nhân loại);Vấn đề quan trọng hàng đầu là, chúng ta phải chủ động phát huy năng lực sáng tạo tri thức ở trong nước, đồng thời phải biết tranh thủ cơ hội tiếp thu tri thức của thế giới toàn cầu hóa
Trong điều kiện chưa có đủ nguồn lực để phát triển kinh tế tri thức lên ngay trình độcao, ta phải coi trọng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm đẩy mạnh hợp tác về côngnghệ cao trong nhiều lĩnh vực, trên cơ sở cùng có lợi Qua hội nhập và hợp tác cùng với việc
gửi đi nâng cao trình độ ở nước ngoài, các chuyên gia Việt Nam từng bước trưởng thành, có thể chủ động trong ứng dụng các công nghệ cao và tiến tới sáng tạo tri thức mới rất cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở trình độ cao
Ngày nay nhiều công nghệ mới ra đời, trong đó công nghệ thông tin phát triển rất nhanh, nó đã và sẽ tiếp tục giữ vai trò tổng hợp trong sự tác động của con người đối với quá trình sản xuất và các hoạt động khác, đồng thời nó cũng đóng vai trò chuyển đổi từ nền kinh
tế công nghiệp sang nền kinh tế dựa vào tri thức Và nền kinh tế dựa vào tri thức đến lượt nó lại mở đường cho các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam tiếp nhận công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin để cơ cấu lại nền kinh tế coi phát triển công nghệ thông tin là hướng ưu tiên hàng đầu để hội nhập kinh tế quốc tế, thông qua các hoạt động tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, vốn và tri thức kinh doanh, kinh nghiệm quản lý tiên tiến thực hiện chiến lược phát triển rút ngắn.
- Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người Đến năm
2010, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng gấp hơn 2,1 lần so với năm 2000 Trong những năm 2006 - 2010, mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5 - 8%/năm, phấn đấu đạt trên 8%/ năm
- Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, hợp lý theo ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ
- Giảm chi phí trung gian, nâng cao năng suất lao động.
Trang 24Theo kinh nghiệm của nhiều nước, phát triển kinh tế tri thức phải tập trung nguồn lực vào bốn hướng chính sau đây:
Thứ nhất, Nhà nước phải xây dựng thể chế xã hội và chính sách kinh tế năng động,
rộng mở, khuyến khích sáng tạo và ứng dụng có hiệu quả những tri thức mới Thúc đẩy kinh doanh, tác động cho nở rộ doanh nghiệp mới làm ăn phát đạt Phải tạo dựng một nền hành chính có hiệu quả, tránh phiền hà, tham nhũng Giảm mạnh các chi phí hành chính, góp phần tăng sức cạnh tranh.
Thứ hai, đào tạo nguồn nhân lực tài năng sáng tạo, biết phối hợp và chia sẻ ứng dụng
những thông tin, tri thức thành sản phẩm có sức cạnh tranh cao.
Thứ ba, xây dựng một hệ thống đổi mới hiệu quả bao gồm: các doanh nghiệp, các
trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, các tổ chức tư vấn và các tổ chức khác liên kết, trao đổi thông tin, tri thức với nhau theo những mục tiêu đã xác định Họ phải thường trực
tiếp cận các kho thông tin, tri thức của thế giới được liên tục chất đầy, để tích cực "tiêu hóa"chúng và thích nghi hóa cho các nhu cầu của mình và từ đó sáng tạo ra công nghệ cao mới
Thứ tư, tích cực xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông, đẩy
mạnh ứng dụng và phát triển ngành công nghệ cao dẫn đầu này Tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá, phổ biến và sáng tạo tri thức.
Bốn hướng trên đây thường được xem như bốn trụ cột xây dựng kinh tế tri thức màlãnh đạo nhà nước phải chỉ đạo mới có thể thành công
* Khâu đột phá cần phải chọn:
Để khắc phục những yếu kém, hạn chế trên thì trong phát triển kinh tế chúng ta phảitập trung vào phát triển nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triểnkhoa học công nghệ(vốn, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, kết cấu hạ tầng kinh tế trithức) Sở dĩ như vậy bởi vì: con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển cònkhoa học công nghệ hiện nay đã và đang ngày càng trở thành động lực trực tiếp thúc đẩy sựphát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động xã hội
* Phát triển nguồn nhân lực với cơ cấu đồng bộ và chất lượng cao
Cương lĩnh 2011 xác định: “ Giáo dục và dào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, pháttriển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước Pháttriển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển KH và CN là quốc sách hàng đầu Đầu tư chogiáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạotheo nhu cầu phát triển xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã
hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”
* Phát triển khoa học công nghệ, đi ngay vào công nghệ hiện đại một số lĩnh vực then
Trang 25chốt; tạo đột phá phát triển công nghệ cao, phát triển công nghệ sử dụng nhiều lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người lao động.
Cương lĩnh 2011 khẳng định: “Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại; bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế; phát triển khoa học và công nghệ nhằm mục tiêuđẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020: “Phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững”.
VĐ9: Giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức Ý nghĩa của vấn đề đối với mô hình tăng trưởng kinh tế ở nước ta?
Trả lời:
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và phát triển2011) xác định: “Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấuxây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN” Đểthực hiện thành công mục tiêu trên, Cương lĩnh cũng chỉ rõ: toàn Đảng, toàn dân ta cần nêucao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực, tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ,tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt tám phương hướng cơ bản;trong đó, “Đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước gắn với phát triển KTTT, bảo vệ tài nguyên, môitrường” là phương hướng cơ bản đầu tiên
* Giải pháp định hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
* Một là, giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh, nông nghiệp phải gắn kết với phát triển ứngdụng tri thức sáng tạo mới, cụ thể là: phải chuyển giao tri thức về công nghệ sinh học, tri thức
về giống cây, con chất lượng và năng suất cao, về canh tác và chăn nuôi hiện đại cho nôngdân Đồng thời phải cung cấp tri thức về tổ chức sản xuất gắn với thị trường và về xây dựngnông thôn mới, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong mọihoạt động hiện đại hóa nông nghiệp
Khoa học sinh học, khoa học công trình cơ điện nông nghiệp, khoa học kinh tế và quản
lý nông nghiệp là những bộ phận chủ yếu của hệ thống KHKT nông nghiệp hiện đại, nó trợgiúp đắc lực cho việc xây dựng hệ thống sản xuất nông nghiệp hiện đại và kinh tế quốc dân
Trang 26phát triển theo hướng kinh tế tri thức và thông tin Trang bị kỹ thuật nông nghiệp tập trung tất
cả các thành tựu tiên tiến thuộc các lĩnh vực cơ khí, thuỷ lợi, vật liệu mới, điện tử, điều khiển
tự động vào các khâu sản xuất Sản xuất nông nghiệp trong nhà kính, nhà lưới, trong cáctrang trại đều dựa vào công nghệ sinh học, công nghệ điều khiển Các nhà máy chế biến nông
- lâm sản, hệ thống kho tàng bảo quản đều được vận hành qua mạng
- Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường Thực hiện cơ khí hóa,
điện khí hóa, thuỷ lợi hóa, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vàosản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp với đặc điểm từng vùng,
từng địa phương Giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp và tăng nhanh đối với cụng nghiệp và dịch vụ Khuyến khích dồn điền đổi thửa, cho thuê góp vốn cổ phần bằng đất Phát triển vùng trồng trọt, chăn nuôi tập trung, khu nông nghiệp công nghệ cao Phát triển các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ gắn hình thành làng nghề, hợp tác xã, trang trại
- Tiếp tục thực hiện chương trình bảo vệ và phát triển rừng giao đất, rừng, cải thiện đờisống người làm nghề rừng, bảo đảm nguyên liệu cho chế biến sản phẩm tiêu dùng & xuấtkhẩu
- Phát triển đồng bộ và hiệu quả nuôi trồng đánh bắt, chế biến và bảo vệ nguồn lợi thuỷsản Làm tốt khâu giống, xử lý môi trường, mở rộng thị trường, phát triển các hiệp hội
- Nhà nước tác động đối với nông nghiệp và kinh tế nông thôn bằng: Tăng đầu tư vốn xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ; khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm, bảo vệ động thực vật và dịch vụ kỹ thuật
- Giải quyết tốt các vấn đề xây dựng qui hoạch phát triển nông thôn, đô thị hóa nông thôn, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, dân chủ hoá và xây dựng nếp sống nông thôn, làng, xã, ấp, bản văn minh.
- Giải quyết việc làm cho nông dân, chú trọng dạy nghề, đầu tư mạnh cho chương trình xoá đói giảm nghèo chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
* Hai là, giải pháp để phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
- Trong công nghiệp và xây dựng thì công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ gắn kết thuận lợi
với phát triển kinh tế tri thức vì công nghiệp trong kinh tế thị trường là rất hiện đại dựa vàocác công nghệ cao Trước hết công việc thiết kế của công nghiệp và xây dựng ở mọi cấp phảichuyển nhanh từ thiết kế thủ công sang thiết kế dùng máy tính sẽ rất chính xác và nhanhchóng, tranh thủ khai thác các phần mềm thiết kế và thư viện các thiết kế sẵn có Ngành chế
Trang 27tạo cũng phải chuyển nhanh sang sử dụng máy thông minh có "nhúng" máy điện toán tự độnghóa hoàn toàn hoặc robot, hoặc các dây chuyền máy tự động hóa toàn phần.
Chiến lược Phát triển ngành xây dựng đạt trình độ tiên tiến trong khu vực Nhanhchóng tiếp cận và làm chủ các công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực công nghiệp xây lắpđáp ứng yêu cầu xây dựng trong nước và có khả năng cạnh tranh trong đấu thầu quốc tế Pháttriển mạnh công nghiệp vật liệu xây dựng, nhất là vật liệu chất lượng cao, áp dụng công nghệmới
+ Việc tiếp thu nắm vững công nghệ cao trong công nghiệp và xây dựng sẽ là điểm tựa
để chúng ta có thể sáng tạo thêm nhiều tri thức mới trong lĩnh vực này Chúng ta bước đầu đã
đạt được một số kết quả khích lệ trong hiện đại hóa nền công nghiệp và xây dựng kết cầu hạtầng Nhưng nhìn chung vẫn còn tụt hậu về công nghiệp công nghệ cao
+ Xác lập cơ cấu công nghiệp có hiệu quả kết hợp giải quyết những nhiệm vụ trước mắt với yêu cầu phát triển chiến lược Định hướng phát triển công nghiệp theo chiều sâu là chủ đạo, một số ngành sản xuất sản phẩm có hàm lượng tri thức thấp vẫn được tiếp tục phát triển nhưng với trình độ trang bị công nghệ cao hơn để tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường Xây dựng KCHT thích hợp cả VCKT lẫn KTXH
Dịch vụ là một lĩnh vực rất lớn của kinh tế tri thức, có khi chiếm đến trên 70% GDP,
bởi vậy gắn kết với phát triển kinh tế tri thức sẽ có thuận lợi đẩy mạnh hiện đại hóa nhanhdịch vụ ở nước ta Đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực dịch vụ như thương mại, du lịch, bưuchính viễn thông, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn y tế, giáo dục, pháp luật bắt buộcphải nhanh chóng chuyển sang ứng dụng công nghệ thông tin, mạng in-tơ-nét, viễn thôngtoàn cầu thông qua quá trình xã hội hóa, nới lỏng các điều kiện cho phép các nhà đầu tư tưnhân hoạt động trong các lĩnh vực này và áp dụng khoa học - công nghệ hiện đại trong cácngành dịch vụ
Chiến lược Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức
và công nghệ cao như du lịch, hàng hải, hàng không, viễn thông, công nghệ thông tin, y tế
Ba là, giải pháp phát triển kinh tế vùng
- Phát triển các vùng kinh tế và liên kết giữa các vùng trong cả nước
- Thúc đẩy phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, tạo điều kiện phát triển các vùngcòn nhiều khó khăn (biên giới, hải đảo, Tây nguyên, Tây nam, Tây bắc)
Bốn là, giải pháp phát triển kinh tế biển
Trong quá trình phát triển của đất nước, biển luôn có tầm quan trọng rất lớn, biển vừa
là biên giới an ninh, vừa gắn chặt với thương mại của đất nước, biển có ảnh hưởng sâu sắcđến sự tồn tại và phát triển của đất nước ta
Trang 28Tiềm năng đất nước về tài nguyờn biển đó thấy: trữ lượng 3 - 4 tỷ tấn dầu qui đổi; cựngthan, sắt, ti tan, cỏt, thủy tinh; tổng trữ lượng hải sản 3 - 4 triệu tấn; 100 điểm cú thể xõy dựngcảng; 125 bói biển Bộ Chớnh trị đó cú Nghị quyết số 03 ngày 6/5/1993 về “Đẩy mạnh phỏttriển kinh tế đi đụi với tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ớch quốc gia, bảo vệ tàinguyờn và mụi trường sinh thỏi biển, phấn đấu trở thành một nước mạnh về kinh tế biển.”.
Năm là, giải phỏp chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu cụng nghệ
* Phỏt triển nguồn nhõn lực với cơ cấu đồng bộ và chất lượng cao; tỷ lệ lao động nụng nghiệp cũn khoảng 50% lao động xó hội.
Cương lĩnh 2011 khẳng định:“Con người là trung tõm của chiến lược phỏt triển, đồng thời là chủ thể phỏt triển”
- Hiện cả nước cú hơn 90 triệu dõn, 30% sống ở thành thị, 70% ở nụng thụn
Cú hơn 46 triệu người đang ở độ tuổi lao động và dõn số đang ở thời kỳ “dõn số vàng”,đồng thời cũng đang bước vào thời kỳ dõn số già, dõn số già hiện chiếm khoảng 10%
Thực trạng nước ta đang mất cơ cấu lao động: thừa thầy, thiếu thợ, thiếu cụng nhõn bậccao, chuyờn gia đầu ngành
- Hướng phỏt triển nguồn nhõn lực ở nước ta theo yờu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH gắnvới phỏt triển kinh tế tri thức
+ Đầu tư cho giỏo dục - đào tạo nguồn nhõn lực là hướng chủ yếu của đầu tư phỏt triển.Đổi mới giỏo dục và đào tạo, phỏt triển NNL chất lượng cao
+ Cương lĩnh 2011 xỏc định: “ Giỏo dục và dào tạo cú sứ mệnh nõng cao dõn trớ, phỏt triển nguồn nhõn lực, bồi dưỡng nhõn tài, gúp phần quan trọng phỏt triển đất nước Phỏt triển giỏo dục và đào tạo cựng với phỏt triển KH và CN là quốc sỏch hàng đầu Đầu tư cho giỏo dục và đào tạo là đầu tư cho phỏt triển Đổi mới căn bản và toàn diện giỏo dục và đào tạo theo nhu cầu phỏt triển xó hội; nõng cao chất lượng theo yờu cầu chuẩn húa, hiện đại
húa, xó hội húa, dõn chủ húa và hội nhập quốc tế”
* Phát triển khoa học công nghệ, đi ngay vào công nghệ hiện đại một số lĩnh vực then chốt; tạo đột phá phát triển công nghệ cao, phát triển công nghệ sử dụng nhiều lao động, giải quyết việc làm cho nhiều ngời lao động.
- KH và CN cú vai trũ quyết định lợi thế cạnh tranh, năng suất lao động, tốc độ phỏttriển kinh tế núi chung, sự thành cụng của CNH, HĐH núi riờng
Cương lĩnh 2011 khẳng định: “Khoa học và cụng nghệ giữ vai trũ then chốt trong phỏt triển lực lượng sản xuất hiện đại; bảo vệ tài nguyờn và mụi trường, nõng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phỏt triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế; phỏt triển khoa học và
Trang 29công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020: “Phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững”.
- Hướng phát triển của khoa học và công nghệ
+ Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học để đánh giá chính xác tàinguyên quốc gia, nắm bắt công nghệ cao, những thành tựu mới của khoa học - công nghệ thếgiới, hướng vào nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, năng lực cạnhtranh của hàng hóa trên thị trường
+ Phát huy những năng lực khoa học và công nghệ nội sinh đi đôi với tiếp thu, làm chủ, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ thế giới Phát triển các công nghệ cao: công
nghệ thông tin, viễn thông, sinh học, vật liệu mới, tự động hóa và sản xuất các dạng nănglượng mới Phát triển hệ thống thông tin quốc gia về nhân lực và công nghệ
+ Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ theo hướng Nhà nước đầu tư vào các chương trình nghiên cứu quốc gia đạt trình độ khu vực và thế giới, xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ của một số lĩnh vực trọng điểm; xóa bỏ cơ chế hành chính bao cấp, thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập Huy động các thành phần kinh tế, đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ Nâng cao chất
lượng và khả năng thương mại của các sản phẩm khoa học và công nghệ; đẩy mạnh việc đổimới công nghệ trong các doanh nghiệp
+ Xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật
có tay nghề cao Có chính sách thu hút, trọng dụng các nhà khoa học, công nghệ tài giỏi ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu l , gi à, gi ải pháp bảo vệ v s à, gi ử dụng có hiệu quả t i nguyên qu à, gi ốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên.
Trong điều kiện khan hiếm các nguồn tài nguyên hiện nay, công nghiệp hoá, hiện đạihóa tác động không thuận đến môi trường tự nhiên Do đó:
- Tăng cường quản lý tài nguyên đất, nước, khoáng sản, rừng, bầu trời
- Ngăn chặn các hành vi huỷ hoại môi trường, khắc phục sự xuống cấp, tích cực phục hồi môi trường, xử lý phế thải
- Từng bước sử dụng công nghệ sạch, năng lượng sạch Phủ xanh đất trống đồi trọc
Trang 30- Hiện đại hóa công tác nghiên cứu dự báo, chủ động phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ
- Tăng cường QL nhà nước bằng PL, bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên.
VĐ10: Bản chất, đặc trưng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Phê phán nhận thức sai trái về vấn đề này?
* Bản chất, nội hàm của mô hình KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam
+ Bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN được hiểu là kiểu tổchức nền kinh tế đặc biệt của xã hội đặc biệt - nền kinh tế đang trong quá trình chuyển biếncách mạng từ nấc thang này sang nấc thang kia Nó vừa tuân theo những quy luật của bảnthân hệ thống kinh tế thị trường vừa bị chi phối bởi những nguyên tắc của CNXH
+ Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế chuyển đổi thuộcdạng đặc biệt “Tiến hóa - cải cách”, khác biệt với các bước chuyển đổi thông thường củadạng “Tiến hóa - tự nhiên” Đây là nền kinh tế thị trường được định hướng cao về mặt xã hội
và phát triển theo xu hướng xã hội hóa - XHCN
+ Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN còn đặc trưng bởi thuộc tính kép, tức làkết hợp đồng thời giữa bước chuyển đổi từ xã hội phi thị trường sang nền kinh tế thị trường
mà nhân loại đã đạt được với việc nhân loại đang bắt đầu quá trình chuyển sang xã hội hậucông nghiệp và kinh tế tri thức
+ Đó là nền kinh tế thị trường mới, có tổ chức, có kế hoạch, đặt dưới sự lãnh đạo củaĐảng cộng sản và Nhà nước XHCN Nó hoạt động trên cơ sở kết hợp giữa sự nhận thức tínhtất yếu khách quan với phát huy vai trò năng động sáng tạo của chủ thể, có thể loại bỏ nhữngkhuyết tật, mặt trái của KTTT, phát huy ưu thế của cả hai thể chế kế hoạch và thị trườngnhằm phục vụ lợi ích chung, sự giàu mạnh, phồn vinh của đất nước; đặc biệt thực hiện thànhcông sự nghiệp CNH, HĐH và phát triển rút ngắn, đưa nước ta hội nhập và trở thành quốc giaphát triển trong thế kỷ XXI
- Nội hàm của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong nền KTTT định hướng XHCN gồm các yếu tố cơ bản:
Trang 31+ Hệ thống mục tiêu của nền KTTT định hướng XHCN là: Phát triển LLSX, nâng caonăng suất và hiệu quả, xây dựng cơ sở VCKT cho CNXH, thực hiện “Dân giàu, nước mạnh,dân chủ, công bằng, văn minh”.
Mục tiêu trên quy định phương tiện, công cụ, động lực của KTTT định hướng XHCN
và con đường đạt tới mục tiêu: Đó là sử dụng KTTT, mở cửa và hội nhập, thực hiện CNH,HĐH và phát triển rút ngắn
Đồng thời, phát huy vai trò của Nhà nước XHCN tham gia bổ sung, hiệu chỉnh nhữngsai lệch, thất bại của cơ chế thị trường Nhà nước XHCN thông qua chức năng tổ chức vàquản lý vĩ mô, sử dụng tốt các công cụ hành chính, pháp lý và kinh tế, đặc biệt là các chươngtrình mục tiêu quốc gia, các chiến lược phát triển trung và dài hạn cũng như các kế hoạchngắn hạn, các chính sách, công cụ để tác động vào nền kinh tế
Trong KTTT hiện đại và kinh tế tri thức, tiềm năng LĐ - “tư bản con người” được coi
là yếu tố quan trọng hàng đầu và có khả năng sáng tạo rất lớn Việc đề cao con người cũngnhư nguyên tắc phân phối theo LĐ là phù hợp với xu thế và tính nhân văn của phát triển hiệnđại
Mặt khác bảo đảm phân phối công bằng và hạn chế bất bình đẳng xã hội thái quá cũng
là điều kiện để nuôi dưỡng, phát triển chính nguồn lao động sáng tạo này
+ Nguyên tắc giải quyết các mặt và các quan hệ chủ yếu
Mô hình KTTT định hướng XHCN phải kết hợp tốt ngay từ đầu giữa phát triển LLSXvới củng cố và hoàn thiện QHSX, quan hệ quản lý tiên tiến của nền KTTT nhằm phục vụphát triển SX và CNH, HĐH đất nước; giữa phát triển SX với từng bước cải thiện và nâng
Trang 32cao đời sống nhân dân; giải quyết tốt các vấn đề xã hội và công bằng XH, việc làm, nghèođói, bảo đảm y tế và giáo dục, ngăn chặn các tệ nạn XH; bảo đảm giữa phát triển văn hóa vậtthể và phi vật thể; tăng trưởng kinh tế với phát triển con người toàn diện, hài hòa về các mặthọc vấn, kỹ năng, thể chất, nhân cách để trở thành con người mới - chủ nhân chân chính củanền KTTT định hướng XHCN.
+ Chủ thể quản lý nền KTTT định hướng XHCN là Nhà nước XHCN
Vai trò của ĐCS và Nhà nước XHCN không ngừng được củng cố vững mạnh, trên cơ
sở phát huy đầy đủ quyền và trách nhiệm của toàn dân tham gia vào quá trình tổ chức, xâydựng nhằm sáng tạo hệ thống KTTT mới là những điều kiện tiên quyết cho phát triển KTTTđịnh hướng XHCN
* Đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng XHCN
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta không giống nền kinh tế thịtrường tư bản chủ nghĩa, nhưng cũng chưa hoàn toàn là nền kinh tế thị trường hiện đại xã hộichủ nghĩa Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn có sự đan xen giữacái cũ và cái mới, chưa có đầy đủ những yếu tố của chủ nghĩa xã hội Nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta có những đặc trưng sau đây:
Một là, mục đích của nền kinh tế thị trường là nhằm phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội
Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; do đó, mục tiêu hàng đầu củaphát triển nền kinh tế thị trường là nhằm giải phóng sức sản xuất, động viên mọi nguồn lựctrong và ngoài nước để phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước, xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội,cải thiện đời sống của nhân dân Đồng thời với việc phát triển lực lượng sản xuất, là quy trìnhtừng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiên tiến nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xãhội ở Việt Nam, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh
Hai là, cơ sở kinh tế - xã hội của nền kinh tế thị trường dựa trên nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta còn tồn tại ba chế độ
sở hữu tư liệu sản xuất cơ bản (toàn dân, tập thể, tư nhân) Từ ba chế độ sở hữu cơ bản đó,hình thành nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể,tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Cácthành phần kinh tế tồn tại khách quan, hoạt động theo pháp luật, đều là bộ phận hợp thànhquan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp
Trang 33luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Sự tồn tại của nhiều hình thức
sở hữu, nhiều thành phần kinh tế sẽ tạo ra động lực cạnh tranh để hình thành một nền kinh tếthị trường năng động và phát triển
Tuy nhiên, mỗi thành phần kinh tế tham gia vào thị trường có bản chất kinh tế - xã hộiriêng, do đó, mục đích và xu hướng vận động khác nhau Các thành phần kinh tế dựa trên chế
độ tư hữu về tư liệu sản xuất sẽ hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận đơn thuần và mang tính tựphát tư bản chủ nghĩa Điều này dẫn tới mâu thuẫn với mục tiêu chủ nghĩa xã hội và khiếncho nền kinh tế thị trường ở nước ta có khả năng chệch hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, cùngvới việc khuyến khích các thành phần kinh tế kinh doanh hợp pháp, làm giầu chính đáng, Nhànước cần có nhiều biện pháp ngăn chặn và hạn chế khuynh hướng tự phát, những hiện tượngtiêu cực, hướng sự phát triển các thành phần kinh tế này theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội.Đồng thời, Nhà nước phải thường xuyên quan tâm xây dựng, củng cố và phát huy có hiệu quảthành phần kinh tế nhà nước, làm cho thành phần kinh tế này đủ mạnh, thực sự giữ vai tròchủ đạo của mình đối với nền kinh tế Vì vậy, phải nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý vĩ môcủa nhà nước, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa
Ba là, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế thịtrường là vấn đề có tính nguyên tắc nhằm đảm bảo cho nền kinh tế phát triển đúng địnhhướng xã hội chủ nghĩa
Ngày nay, tất cả các nền kinh tế thị trường trên thế giới đều vận hành theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của nhà nước Sự quản lý của nhà nước là cần thiết nhằm sửa chữa ởmột mức độ nào đó những thất bại, khuyết tật của thị trường Nhưng điều khác biệt trong cơchế vận hành nền kinh tế thị trường ở nước ta là ở chỗ nhà nước quản lý nền kinh tế đó là nhànước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước đối với nềnkinh tế thị trường thực chất là tăng cường sự tác động của yếu tố chính trị xã hội chủ nghĩađối với nền kinh tế, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những khuyết tật của thị trường, đảm
bảo cho nền kinh tế thị trường phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Vai trò quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa là cực kỳ quan trọng Nó đảm bảo chonền kinh tế tăng trưởng ổn định, đạt hiệu quả cao, đồng thời đảm bảo công bằng xã hội trongtừng bước phát triển Không ai ngoài nhà nước có thể giảm bớt được sự chênh lệch giữa giàu
và nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng trong điều kiện phát triển kinh tế thịtrường Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp
Trang 34luật và bằng cả sức mạnh vật chất của lực lượng kinh tế nhà nước Đồng thời, sử dụng cơ chếthị trường, áp dụng các hình thức kinh tế, phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kíchthích sản xuất, giải phóng sức sản xuất; phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêucực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động và toàn xã hội Như vậy, sựquản lý của nhà nước ta đối với nền kinh tế thị trường theo nguyên tắc kết hợp kế hoạch vớithị trường, vừa đảm bảo cho nền kinh tế phát triển cân đối, vừa phát huy được tính năng động
và nhạy cảm của thị trường, khắc phục dần sự cạnh tranh vô chính phủ hoặc độc quyền đãtừng được xem như là thuộc tính vốn có của nền kinh tế thị trường
Bốn là, thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập, trong đó lấy phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế là chủ yếu.
Mỗi chế độ kinh tế xã hội có chế độ phân phối tương ứng với nó Chế độ phân phối doquan hệ sản xuất mà trước hết là quan hệ sở hữu quyết định Những quan hệ phân phối vàhình thức thu nhập chỉ là hình thức biểu hiện về mặt kinh tế của quan hệ sở hữu về tư liệu sảnxuất
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dựa trên cơ sở củanhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, tương ứng với nó sẽ tồn tại nhiều hình thứcphân phối thu nhập như: phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế; phân phối theo vốn vàtài sản đóng góp; phân phối theo giá trị sức lao động; phân phối thông qua các quỹ phúc lợi
xã hội Bên cạnh các hình thức phân phối do quan hệ sản xuất chi phối cũng tồn tại các hìnhthức phân phối theo nguyên tắc của thị trường Trong các hình thức phân phối đó, phân phốitheo lao động và hiệu quả kinh tế giữ vai trò chủ đạo nhằm giữ vững định hướng xã hội chủnghĩa Đây chính là sự khác biệt cơ bản giữa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở nước ta với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Vì vậy, phát triển kinh tế thị trường
là phương tiện để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và đảm bảo cho con người được phát triển tự do và toàndiện
e) Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế mở của, hội nhập
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta đang xây dựng khácvới nền kinh tế khép kín, kinh tế chỉ huy, tự cấp tự túc trước đây Ngày nay, do tác động củacách mạng khoa học - công nghệ và xu hướng toàn cầu hoá kinh tế đã tạo nên sự phụ thuộc
về kinh tế giữa các quốc gia trong quá trình phát triển Do đó, mở cửa, hội nhập vào nền kinh
tế khu vực và thế giới vừa phù hợp với xu thế thời đại vừa là yêu cầu khách quan đối vớinước ta Chỉ có xây dựng nền kinh tế mở mới phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực để
Trang 35xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại theo kiểu rút ngắn.
Nền kinh tế thị trường ở nước ta phát triển theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá cáchoạt động kinh tế đối ngoại, gắn thị trường trong nước với thị trường khu vực và thế giới,thực hiện những cam kết và thông lệ trong quan hệ quốc tế, đồng thời giữ được độc lập chủquyền và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc trong quan hệ kinh tế đối ngoại
* Phê phán những quan điểm sai trái
Đã gần 30 năm đổi mới và phát triển, có rất nhiều đánh giá khác nhau từ các chính trịgia, nhà kinh tế, các học giả, nhà nghiên cứu về mối quan hệ giữa lí luận kinh tế chính trị MacLênin với mô hình kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang đitheo Đa phần quan điểm khẳng định tính tất yếu và nét sáng tạo đặc biệt này là do ĐCSVNtrên cơ sở vận dụng Chủ nghĩa Mac Lênin thích ứng linh hoạt với đặc thù điều kiện trongnước để tạo ra một chế độ kinh tế mới Song cùng với đó còn có nhiều ý kiến nhận định thựcchất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam chính là nền kinh tế Tưbản Chủ nghĩa
Họ lập luận rằng: không thể có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; rằng
chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường không thể dung hợp với nhau, nếu đem “ghép” định hướng xã hội chủ nghĩa vào kinh tế thị trường thì chẳng khác nào trộn dầu vào nước, tạo ra
một cơ thể “đầu Ngô mình Sở”
Hay cũng có ý kiến nhấn mạnh một chiều những đặc trưng chung, những cái phổ biếncủa kinh tế thị trường, chưa thấy hết hoặc còn phân vân, nghi ngờ về những đặc điểm riêng,những cái đặc thù của kinh tế thị trường định hướng XHCN Từ đó chưa tin là kinh tế thịtrường có thể phát triển trên cơ sở chế độ công hữu là nền tảng, kinh tế quốc doanh là chủđạo; rằng trong kinh tế thị trường không thể có kế hoạch, không thể thực hiện được côngbằng xã hội, không thể khắc phục được những tiêu cực, mặt trái của cơ chế thị trường, v.v
Lại có ý kiến băn khoăn cho rằng, việc lựa chọn kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa thực chất là trở về với chủ nghĩa tư bản, có thêm định ngữ “định hướng xã hội chủ nghĩa” thì cũng chỉ là để cho yên lòng, cho có vẻ “giữ vững lập trường” mà thôi, trước sau gì
thì cũng trượt samg con đường tư bản chủ nghĩa
KTTT là sản phẩm của nền văn minh nhân loại
Trang 36VĐ11: Tính tất yếu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Phê phán các quan điểm sai trái?
ngày càng phát triển Hơn nữa, chúng ta đang từng bước gắn phân công lao động trong nướcvới phân công lao động trong khu vực và trên thế giới Sự phát triển các ngành nghề ở nước
ta ngày càng đa dạng, phong phú, chuyên môn hoá ngày càng sâu, sản phẩm trao đổi trên thịtrường ngày càng đa dạng, phong phú với chất lượng ngày càng cao
Mặt khác, phân công lao động xã hội là cơ sở, là động lực để nâng cao năng suất laođộng xã hội, qua đó làm cho nền kinh tế ngày càng có nhiều sản phẩm để trao đổi, thị trườngngày càng mở rộng hơn
Thứ hai, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế khác nhau tạo nên sự tách biệt và độc lập tương đối giữa các chủ thể kinh tế Đây là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế
hàng hoá Hiện nay, ở nước ta còn tồn tại ba loại hình sở hữu về tư liệu sản xuất, đó là sở hữutoàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân Sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tưliệu sản xuất và về sản phẩm lao động dẫn đến các chủ thể kinh tế hoàn toàn độc lập vớinhau, có lợi ích riêng, nên quan hệ kinh tế giữa họ chỉ có thể thực hiện thông qua quan hệhàng hoá - tiền tệ, tức là trao đổi trên thị trường
Mặt khác, đối với thành phần kinh tế nhà nước và tập thể, tuy cùng dựa trên chế độcông hữu về tư liệu sản xuất, song các đơn vị kinh tế vẫn có sự khác biệt nhất định, có quyền
tự chủ trong sản xuất kinh doanh, có lợi ích kinh tế riêng Hơn nữa, các đơn vị kinh tế nàycòn có sự khác nhau về quy mô, trình độ kỹ thuật - công nghệ, về trình độ tổ chức quản lý nên chi phí sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng khác nhau Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc
Trang 37tế và sự phân công lao động quốc tế ngày càng phát triển, mỗi nước là chủ sở hữu về tài sảncũng như đối với các hàng hoá đưa ra trao đổi trên thị trường thế giới Sự trao đổi này phảituân theo đúng nguyên tắc ngang giá.
Như vậy, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta sự tồn tại của kinh tế thịtrường là một tất yếu khách quan, là yêu cầu nội tại của nền kinh tế chứ không phải là sự vaymượn hay sự áp đặt
* Phê phán những quan điểm sai trái
Đã gần 30 năm đổi mới và phát triển, có rất nhiều đánh giá khác nhau từ các chính trịgia, nhà kinh tế, các học giả, nhà nghiên cứu về mối quan hệ giữa lí luận kinh tế chính trị MacLênin với mô hình kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang đitheo Đa phần quan điểm khẳng định tính tất yếu và nét sáng tạo đặc biệt này là do ĐảngCộng sản Việt Nam trên cơ sở vận dụng Chủ nghĩa Mac Lênin thích ứng linh hoạt với đặc thùđiều kiện trong nước để tạo ra một chế độ kinh tế mới Song cùng với đó còn có nhiều ý kiếnnhận định thực chất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam chính lànền kinh tế Tư bản Chủ nghĩa
Họ lập luận rằng: không thể có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; rằng
chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường không thể dung hợp với nhau, nếu đem “ghép” định hướng xã hội chủ nghĩa vào kinh tế thị trường thì chẳng khác nào trộn dầu vào nước, tạo ra
một cơ thể “đầu Ngô mình Sở”
Hay cũng có ý kiến nhấn mạnh một chiều những đặc trưng chung, những cái phổ biếncủa kinh tế thị trường, chưa thấy hết hoặc còn phân vân, nghi ngờ về những đặc điểm riêng,những cái đặc thù của kinh tế thị trường định hướng XHCN Từ đó chưa tin là kinh tế thịtrường có thể phát triển trên cơ sở chế độ công hữu là nền tảng, kinh tế quốc doanh là chủđạo; rằng trong kinh tế thị trường không thể có kế hoạch, không thể thực hiện được côngbằng xã hội, không thể khắc phục được những tiêu cực, mặt trái của cơ chế thị trường, v.v
Lại có ý kiến băn khoăn cho rằng, việc lựa chọn kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa thực chất là trở về với chủ nghĩa tư bản, có thêm định ngữ “định hướng xã hội chủ nghĩa” thì cũng chỉ là để cho yên lòng, cho có vẻ “giữ vững lập trường” mà thôi, trước sau gì
thì cũng trượt samg con đường tư bản chủ nghĩa
KTTT là sản phẩm của nền văn minh nhân loại
Trang 38VĐ12: Các điều kiện đảm bảo cho phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN
Phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan vì những điều kiện chung củakinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường vẫn còn tồn tại
Các điều kiện bảo đảm cho sự hình thành và phát triển nền KTTT định hướng XHCN Việt Nam
- Đổi mới nhận thức và phương thức lãnh đạo của Đảng cộng sản
+ Một là, Đảng phải đi tiên phong trong đổi mới tư duy lý luận, nhận thức về KTTT
định hướng XHCN
+ Hai là, Đảng phải đổi mới căn bản (thay đổi) phương thức lãnh đạo và cầm quyền
theo kiểu tập trung cao độ, bao biện, làm thay chính quyền, bao trùm lên chính quyền chuyểnsang quản lý đất nước theo pháp luật (pháp trị) và xử lý tốt mối quan hệ giữa Đảng với chínhquyền
+ Ba là, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực hình hình thái ý thức và công
tác tư tưởng
+ Bốn là, điều hòa mối quan hệ lợi ích giữa các nhóm xã hội, tăng cường sự thống nhất
về mục tiêu, động lực và hành động cho toàn xã hội
+ Năm là, kiện toàn công tác cán bộ, quản lý con người sâu sát trong tình hình mới + Sáu là, thực hiện dân chủ cơ sở, tăng cường xây dựng củng cố tổ chức cơ sở Đảng
vững mạnh, gắn tổ chức Đảng với quần chúng để tăng cường sức mạnh cho Đảng trong tìnhhình mới
- Nâng cao vai trò và hoàn thiện cơ chế quản lý nền kinh tế của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
+ Nâng cao chất lượng xây dựng và giám sát việc tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mựckinh tế - xã hội, nhất là cơ sở pháp luật - thể chế bảo đảm các điều kiện cho hình thành vàhoạt động có hiệu quả của thị trường, đặc biệt là hệ thống pháp luật kinh tế
+ Nhà nước XHCN phải đề ra và đảm bảo hiện thực hóa cơ chế cạnh tranh và tự dokinh doanh như là cơ chế chủ yếu và động lực của phát triển kinh tế
Trang 39+ Nhà nước XHCN cần hiệu chỉnh những khiếm khuyết của thị trường, điều tiết việcphân phối thu nhập một cách hiệu quả, nhằm đạt được mục đích tăng trưởng cao, phát triểnbền vững theo hướng kết hợp hài hòa giữa giải quyết các nhiệm vụ kinh tế, xã hội và môitrường.
+ Nhà nước XHCN với tư cách là chủ thể quản lý thống nhất và tối cao, thông qua các
cơ quan chức năng còn có vai trò điều khiển thống nhất các quá trình kinh tế vĩ mô phải bảođảm các cân đối lớn, kiến tạo sự phát triển chung của nền kinh tế thị trường định hướngXHCN
- Giữ vững sự ổn định về chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật
Sự ổn định về chính trị là nhân tố tiên quyết cho sự phát triển kinh tế Ngày nay trênthế giới bất kỳ một quốc gia nào, không phân biệt chế độ chính trị, muốn phát triển kinh tếđều cần có sự ổn định về chính trị Ổn định chính trị vừa là điều kiện để các nhà sản xuấttrong và ngoài nước yên tâm đầu tư, vừa góp phần mở rộng quan hệ hợp tác và làm ăn vớinước ngoài, nhất là trong lĩnh vực đầu tư
Giữ vững sự ổn định về chính trị ở nước ta hiện nay là giữ vững sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp đổi mới; tăng cường vai trò và hiệu quả quản lý củaNhà nước; phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân, giữ vững định hướng xã hội chủnghĩa, để các thành phần kinh tế đẩy mạnh phát triển sản xuất hàng hoá, mở rộng và tăngcường hợp tác kinh tế với các nước nhằm phát triển một nền kinh tế thị trường hiện đại, xãhội chủ nghĩa ở Việt Nam
-Phát triển mạnh các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp.
Hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diệnđối với đất đai, tài nguyên, vốn và các tài sản công để các nguồn lực này được quản lý, sửdụng có hiệu quả Đẩy mạnh đổi mới, cổ phần hoá, nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhànước; xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh, đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vaitrò chi phối Cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhànước để doanh nghiệp nhà nước thực sự trở thành nòng cốt của kinh tế nhà nước Phát triểnmạnh kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã Khuyến khích phát triển mạnh kinh tế tưnhân, loại hình doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp theo quy hoạch và quy định của pháp luật Thuhút đầu tư nước ngoài có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường
- Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường.
Phát triển đa dạng, đồng bộ, ngày càng văn minh, hiện đại các thị trường hàng hoá,dịch vụ; thị trường tài chính với cơ cấu hoàn chỉnh, vận hành an toàn, được quản lý, giám sát
Trang 40hiệu quả Phát triển và kiểm soát có hiệu quả thị trường chứng khoán Phát triển lành mạnhthị trường bất động sản, tập trung vào đổi mới, hoàn thiện các thể chế về quyền sử dụng đất.Phát triển mạnh thị trường khoa học và công nghệ gắn với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ;thị trường lao động gắn với tăng cường quản lý nhà nước
VĐ13: Phân tích các yếu tố cấu thành thể chế kinh tế thị trường Ý nghĩa của việc nhận thức vấn đề này đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế ở Nhà nước ta?
Trả lời:
Tại Hội nghị BCHTW lần thứ 6 khóa X, Đảng ta đưa ra quan niệm cụ thể về thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: Thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, các quy định, quy tắc chế định, điều tiết hành vi của mọi chủ thể, mọi quá trình diễn ra trong nền kinh tế nhằm tạo điều kiện cho việc hình thành, vận hành thông suốt và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Quan niệm này chỉ rõ thể chế kinh tế thị trường là sản phẩm của sự vận dụng các quiluật kinh tế trong nền kinh tế thành các qui định của nhà nước để tạo điều kiện cho sự vậnđộng thống nhất và phát triển của nền kinh tế thị trường Mục đích xây dựng, hoàn thiện thểchế kinh tế thị trường nhằm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
*Các yếu tố cấu thành thể chế kinh tế thị trường
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được cấu thành bởi
hệ thống các bộ phận khác nhau mà mỗi một bộ phận cũng là một hệ thống phức tạp gồmnhiều yếu tố Có thể phân tích thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta trên bộ phận cơ bản sau đây: (1) các luật lệ, quy tắc điều hành nền kinh tế; (2) các chủ thểtham gia vào hoạt động trong nền kinh tế; (3) cơ chế thực thi các luật, quy tắc và điều chỉnhcác mối quan hệ giữa các chủ thể; và (4) hệ thống thị trường
Một là, các luật, quy tắc điều chỉnh thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta bao gồm khung khổ pháp lý do nhà nước ban hành và các quy tắc, chuẩn mực
xã hội khác như những quy định của các Hiệp hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp Trong hệthống các quy tắc, chuẩn mực đó thì thể chế do nhà nước ban hành đóng vai trò quyết địnhđến hành vi kinh tế của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường, trong khi những quy tắc,chuẩn mực xã hội khác cũng có ảnh hưởng rất quan trọng đến hoạt động của các chủ thể kinhtế
Hai là, các chủ thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bao gồm:
các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế; doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; và các