Quyết định số 339QĐTTg ngày 1922013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 2020. Chỉ thị số 11CTTTg ngày 19 tháng 6 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ triển khai trong ba năm 2013 2015 nhằm thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 2020.
Trang 1Phần thứ nhất
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I CƠ SỞ PHÁP LÝ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
- Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hìnhtăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranhgiai đoạn 2013 - 2020
- Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 19 tháng 6 năm 2013 của Thủ tướng Chínhphủ về một số nhiệm vụ triển khai trong ba năm 2013 - 2015 nhằm thực hiện Đề
án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theohướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 -2020
II XÁC ĐỊNH NỘI HÀM CỦA TÁI CƠ CẤU KINH TẾ
Hiện nay, khái niệm tái cơ cấu kinh tế chưa được quy định cụ thể trongcác văn bản quy phạm pháp luật nên còn nhiều cách hiểu khác nhau và chưa có
sự thống nhất về khái niệm tái cơ cấu kinh tế
Theo quan điểm của Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
-Cơ quan tham mưu cho Chính phủ ban hành Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tếcủa cả nước: “Tái cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi tỷ trọng, vị trí các ngành,lĩnh vực, bộ phận kinh tế và hình thành các mối quan hệ hữu cơ tương đối ổnđịnh hợp thành Tái cơ cấu kinh tế có thể được hình thành tự nhiên trong quátrình phát triển cũng có thể được hoạch định để chuyển dịch theo một chiếnlược được định trước Quá trình tác động để đạt mục tiêu này gọi là tái cơ cấunền kinh tế”
Một số nhà khoa học, chuyên gia kinh tế đưa ra các khái niệm tái cơ cấukinh tế như sau:
- “Tái cơ cấu kinh tế được hiểu là cải tiến việc làm cho người lao động,cải tiến cơ cấu ngành nghề cũng như cải tiến cơ cấu doanh nghiệp theo hướng
từ khu vực có năng suất lao động thấp sang khu vực có năng suất lao động caohơn với phương châm hiện đại hoá ngày càng cao, đạt hiệu suất phát triển ngàycàng lớn Đó là tư tưởng có tính nguyên tắc đối với việc tái cơ cấu kinh tế củabất kể quốc gia nào trong điều kiện toàn cầu hoá mạnh mẽ và xu thế phát triểnnền kinh tế tri thức đang thịnh hành Trong thế giới ngày nay việc tái cơ cấukinh tế của một quốc gia phải tính tới quan hệ kinh tế quốc tế”
Trang 2- “Tái cơ cấu kinh tế là quá trình phân bố lại nguồn lực trước hết là vốnđầu tư trên phạm vi quốc gia nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả sử dụng cácnguồn lực nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung Để làm được điều đó,
về chính sách cần cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường đầu tư kinhdoanh (ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực vàcải cách thể chế ) để cơ chế thị trường được vận hành tốt và phát huy đầy đủhiệu lực trong huy động và phân bố nguồn lực Khởi động của tái cơ cấu kinh tếphải là đổi mới hệ thống đòn bẩy khuyến khích, thúc đẩy nguồn lực phân bốđến những nơi sử dụng có hiệu quả cao hơn, đồng thời buộc các doanh nghiệp,các nhà đầu tư phải đổi mới cách thức sử dụng nguồn lực, đổi mới cách thứcquản lý để nâng cao hiệu quả, năng suất và năng lực cạnh tranh”
- “Tái cơ cấu nền kinh tế là một quá trình tổ chức lại cơ cấu kinh tế bằngcách hình thành mới, cắt bỏ đi, tăng hay giảm các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh
tế Về bản chất, tái cơ cấu là cuộc cải cách mạnh mẽ, quyết liệt để nguồn lực,đặc biệt là nguồn vốn đầu tư được phân bổ hiệu quả và tạo ra một sự khích lệ,động lực mới, gắn bó một cách sâu sắc với hội nhập và hoàn thiện thể chế kinh
tế thị trường Mục đích của tái cơ cấu kinh tế là giúp nền kinh tế phân bổ nguồnlực hiệu quả hơn”
- “Tại một thời điểm nhất định, cơ cấu kinh tế của một quốc gia là kết quảcủa cơ cấu các nhân tố sản xuất hiện có, tạo thành lợi thế so sánh của một quốcgia Cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả là cơ cấu hình thành trên cơ sở khai thác,tận dụng tốt các ngành có lợi thế của nền kinh tế; và trong trường hợp ngược lạithì đó là một cơ cấu kinh tế bất hợp lý, kém hiệu quả Việc điều chỉnh có quy
mô lớn và toàn diện trong thời gian tương đối ngắn cơ cấu kinh tế để chuyển từbất hợp lý, kém hiệu quả thành cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả hơn được coi làtái cơ cấu kinh tế”
Như vậy, các khái niệm tái cơ cấu kinh tế đều có điểm chung là chuyểndịch cơ cấu kinh tế để khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế hiện có và nâng caohiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế
Trong đề án này, tiếp cận khái niệm tái cơ cấu kinh tế với 2 nội hàm chính là chuyển dịch cơ cấu (thay đổi cơ cấu) các ngành kinh tế và nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, năng lực của nền kinh tế (chuyển đổi
mô hình tăng trưởng)
III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU SỬ DỤNG TRONG ĐỀ ÁN
1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung phân tích và xem xét trên bình diện tổng thểnền kinh tế tỉnh Thanh Hóa
Trang 3- Về mặt thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn 2010 - 2013; xác định
mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tái cơ cấu kinh tế đến năm 2020, định hướngđến năm 2025
- Về mặt nội dung: Đề án tập trung đề cập và xác định mục tiêu, nhiệm
vụ, giải pháp tái cơ cấu đối với: cơ cấu ngành kinh tế; cơ cấu kinh tế vùng; cơcấu đầu tư; cơ cấu doanh nghiệp
3 Số liệu sử dụng trong đề án
Đề án sử dụng số liệu do Cục Thống kê Thanh Hóa cung cấp; các tài liệu,
số liệu do các Bộ, ngành Trung ương, Tổng cục Thống kê, các tổ chức, doanhnghiệp công bố theo quy định của pháp luật và các tài liệu pháp lý khác Trong
đề án sử dụng số liệu theo giá so sánh năm 2010 để phù hợp với Thông tư số02/2012/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định năm 2010 làm nămgốc thay cho năm gốc 1994 để tính các chỉ tiêu thống kê theo giá so sánh
Trang 4Phần thứ hai
THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH THANH HÓA
GIAI ĐOẠN 2010 - 2013
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ QUY MÔ KINH TẾ
Giai đoạn 2010 - 2013, kinh tế Thanh Hóa đạt tốc độ tăng trưởng cao,bình quân giai đoạn này là 11,7% Ngành dịch vụ là ngành đóng góp cho tăngtrưởng cao nhất với 5,8 điểm phần trăm, tiếp đến là ngành công nghiệp - xâydựng 5,1% và ngành nông, lâm, thủy sản đóng góp 0,8% Duy trì tốc độ tăngtrưởng cao trong thời gian dài đã giúp quy mô kinh tế của tỉnh tăng nhanh, GDPtheo giá so sánh năm 2013 đạt 69.264 tỷ đồng, gấp 1,4 lần năm 2010
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) (giá so sánh 2010)
Năm Nông, lâm, thủy sản Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ Tăng trưởng chung
Trang 5So với các tỉnh, thành phố trong cả nước, quy mô kinh tế của tỉnh Thanh
Hóa đứng thứ 7 (đứng sau: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng
Nai, Hải Phòng, Bình Dương) Trong các tỉnh Bắc Trung Bộ, Thanh Hóa có quy
mô kinh tế lớn nhất Năm 2010, GDP theo giá so sánh của Thanh Hóa gấp 1,2lần Nghệ An, 2,8 lần Hà Tĩnh, 5,3 lần Quảng Bình và 3,3 lần Thừa Thiên Huế.Đến năm 2013, GDP của Thanh Hóa gấp 1,3 lần Nghệ An, 2,9 lần Hà Tĩnh, 5,8lần Quảng Bình và 3,3 lần Thừa Thiên Huế Song GDP bình quân đầu ngườicủa Thanh Hóa vẫn thấp hơn bình quân chung cả nước (năm 2013 đạt 1.180USD, bằng khoảng 60% bình quân cả nước); giá trị xuất khẩu xếp thứ 19, thungân sách xếp thứ 14, tỷ lệ lao động qua đào tạo xếp thứ 18 trong số 63 tỉnh,thành phố
Thực tế trên cho thấy quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế của ThanhHóa đạt khá nhưng chất lượng, hiệu quả nền kinh tế còn thấp và còn nhiều điểmhạn chế
II CƠ CẤU CÁC NGÀNH KINH TẾ
1 Tổng quan về chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế
Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướngtích cực, tỷ trọng nông, lâm, thủy sản giảm, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng vàdịch vụ tăng Năm 2013, tỷ trọng của ngành nông, lâm, thủy sản trong GDP là19,5%, công nghiệp - xây dựng là 41%, dịch vụ là 39,5%; so với năm 2010, tỷtrọng ngành nông, lâm, thủy sản giảm 4,6%; công nghiệp - xây dựng tăng 2,7%
và dịch vụ tăng 1,9%
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh tuy đúng hướng, song tốc độ cònchậm; tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp trong GDP còn lớn, tốc độ phát triển cácngành công nghiệp, dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh.Chi phí trung gian trong ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ còn cao và có
xu hướng tăng, năm sau cao hơn năm trước, làm giảm hiệu quả kinh tế Chi phítrung gian tăng, phản ánh việc chậm chuyển đổi, áp dụng máy móc, thiết bị hiệnđại vào sản xuất, còn sử dụng nhiều công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên,nhiên vật liệu
Bảng 2: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế giai đoạn 2010 - 2013
Ngành kinh tế Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 BQ 2010- 2013
Công nghiệp - Xây dựng 38,3 38,6 40,2 41,0 39,4
Trang 62 Cơ cấu trong nội bộ các ngành kinh tế
2.1 Ngành nông, lâm, thủy sản (khu vực I)
a) Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành
Cơ cấu ngành nông, lâm, thủy sản chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷtrọng giá trị sản xuất và giá trị gia tăng dịch chuyển từ nông nghiệp sang thủysản và lâm nghiệp Năm 2010, ngành nông nghiệp chiếm 84,1%, lâm nghiệpchiếm 5,5%, thủy sản chiếm 10,4% trong tổng GDP khu vực I; đến năm 2013,nông nghiệp giảm còn 79,9%, lâm nghiệp và thủy sản tăng lên tương ứng là7,7% và 12,4%
- Cơ cấu giá trị sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp có sự dịchchuyển rõ nét từ trồng trọt sang chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp Tỷ trọngngành trồng trọt trong giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2010 là 70,7%, năm
2013 giảm còn 64,1%; tỷ trọng ngành chăn nuôi năm 2013 tăng 5,9% so vớinăm 2010; dịch vụ trong nông nghiệp có xu hướng tăng nhẹ, từ 2,7% lên 3,4%.Nhìn chung, xu hướng chuyển dịch trong nội bộ ngành nông nghiệp là khá tíchcực, phù hợp với xu thế thị trường và định hướng phát triển của tỉnh Song, cơcấu dịch vụ trong ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất nhỏ, bình quân giaiđoạn 2010 - 2013 là 2,9%; phản ánh mức độ áp dụng cơ giới hóa, các tiến bộkhoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp còn thấp
Bảng 3: Cơ cấu giá trị sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp
Bảng 4: Cơ cấu giá trị sản xuất trong nội bộ ngành lâm nghiệp
(Đơn vị: %)
Năm Trồng và chăm
sóc rừng
Khai thác lâm sản
Dịch vụ và các hoạt động lâm nghiệp khác
Trang 7- Cơ cấu ngành thủy sản: Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành thủy sản chưa
rõ nét; tỷ trọng khai thác còn cao, chiếm 2/3 tổng giá trị sản xuất ngành thủysản; nuôi trồng và dịch vụ chỉ chiếm 1/3, trong đó tỷ trọng dịch vụ trong ngànhthủy sản còn rất thấp (khoảng 3%) Khai thác thủy sản chủ yếu là gần bờ,phương tiện khai thác ít được đổi mới nên năng lực đánh bắt xa bờ còn hạn chế
và hiệu quả không cao Tiềm năng nuôi trồng thủy sản chưa được khai thác hiệuquả, cơ cấu đối tượng nuôi chậm chuyển dịch để thích ứng với yêu cầu thịtrường; việc áp dụng công nghệ và kỹ thuật vào nuôi trồng thủy sản tuy đượcquan tâm hơn nhưng chưa thực sự hiệu quả và chưa được nhân ra diện rộng.Dịch vụ thủy sản như cơ sở hạ tầng, kiểm soát giống, phòng chống dịch bệnh…chưa đáp ứng được yêu cầu Ngành thủy sản chưa có các sản phẩm đặc thù cósức cạnh tranh trên thị trường
Bảng 5: Cơ cấu giá trị sản xuất của nội bộ ngành thủy sản
Trang 8Nhìn chung, cơ cấu kinh tế trong nội bộ khu vực I tuy có bước chuyển
dịch tích cực và đúng hướng nhưng tốc độ còn chậm; dịch vụ trong khu vực Ichưa có bước phát triển mạnh mẽ và hiện chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ; điều nàyphản ánh các dịch vụ quan trọng như: dịch vụ khoa học - kỹ thuật; dịch vụ thumua, bảo quản nông, lâm, thủy sản; dịch vụ hậu cần nghề cá… còn chưa pháttriển và chưa theo kịp yêu cầu của thị trường; chưa tạo ra bước đột phá để khaithác tiềm năng, thế mạnh về nông, lâm, thủy sản của tỉnh
b) Chất lượng tăng trưởng
Trong giai đoạn 2010 - 2013, khu vực I có tốc độ tăng của giá trị gia tăngthấp hơn tốc độ tăng của giá trị sản xuất, cho thấy chi phí trung gian ngày mộttăng trong giá trị sản xuất Bên cạnh đó, tỷ lệ chi phí trung gian trong GTSXchiếm tỷ trọng cao và tăng từ 44,7% năm 2010 lên 46,3% năm 2013, cho thấychất lượng tăng trưởng còn hạn chế, chủ yếu dựa vào lao động giản đơn, năngsuất thấp, không áp dụng nhiều tiến bộ khoa học công nghệ
Bảng 6: Tốc độ tăng giá trị sản xuất (GO), giá trị gia tăng (VA), chi phí trung gian
(IC) và tỷ trọng VA, IC trong GO của khu vực I giai đoạn 2010-2013
2.2 Ngành công nghiệp - xây dựng (khu vực II)
a) Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành
Trong nội bộ khu vực II, ngành công nghiệp chiếm tỷ lệ chi phối, khoảngtrên 60% tổng giá trị sản xuất; tốc độ chuyển dịch của ngành công nghiệp cũngnhanh hơn ngành xây dựng; năm 2010, ngành công nghiệp chiếm 61,7% giá trịsản xuất của khu vực II, đến năm 2013, công nghiệp tăng lên 67,6%, trong khingành xây dựng có tỷ trọng giảm từ 38,3% xuống còn 32,4% năm 2013
Bảng 7: Cơ cấu giá trị sản xuất của khu vực II
(Đơn vị tính: %)
Trang 9- Trong nội bộ ngành công nghiệp, công nghiệp chế biến - chế tạo chiếm tỷ
lệ chi phối (trên 90%); các ngành công nghiệp: Khai khoáng; Sản xuất và phânphối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; Cung cấp nước,hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải có xu hướng giảm về mặt tỷ trọng
Bảng 8: Cơ cấu giá trị sản xuất trong ngành công nghiệp
(Đơn vị tính: %)
3 Sản xuất và phân phối điện, khíđốt, nước nóng, hơi nước và
điều hòa không khí.
4 Cung cấp nước, hoạt động quảnlý và xử lý rác thải, nước thải. 0,59 0,47 0,53 0,46
Nhìn chung, thời gian qua ngành công nghiệp của Thanh Hóa đã khai thác
các lợi thế của địa phương và đóng góp lớn vào tăng trưởng của tỉnh; tiêu biểu làmột số sản phẩm như: xi măng, đường, bia, thuốc lá, sản xuất điện năng, dệt may,
da giày , trong đó một số sản phẩm đã xây dựng được thương hiệu và có khả năngcạnh tranh trên thị trường trong nước như: đường, xi măng ; một số sản phẩm cóthị trường xuất khẩu ổn định và giải quyết việc làm cho nhiều lao động như: maymặc, da giày, thủy sản ; cơ cấu công nghiệp đã và đang hình thành phù hợp vớitiềm năng lợi thế của tỉnh gồm công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghiệpsản xuất điện nước Tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã cótác động lan tỏa đến các ngành khác phát triển (các ngành cung cấp nguyên vậtliệu đầu vào, vật liệu xây dựng…) và hình thành các vùng chuyên canh, vùngcây nguyên liệu, xây dựng được mô hình liên kết sản xuất nông - công nghiệp…góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển với tốc độ cao và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa
- Tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành xây dựng trong khu vực II (côngnghiệp - xây dựng) có xu hướng giảm, đến năm 2013 còn 32,4% Tuy nhiên,ngành xây dựng đã góp phần quan trọng tạo điều kiện cho các ngành kinh tếkhác phát triển; trong giai đoạn 2010 - 2013, Thanh Hóa đã thu hút được mộtlượng vốn đầu tư lớn xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giaothông, thủy lợi, cấp điện, cấp nước, các công trình giáo dục, y tế… nhờ đó đãlàm tăng năng lực sản xuất của các ngành và lĩnh vực khác
b) Chất lượng tăng trưởng
Trang 10Giá trị sản xuất của khu vực II giai đoạn 2010 - 2013 đạt 15%, tốc độtăng của giá trị gia tăng đạt 13,8% Tuy nhiên, cũng như khu vực I, tốc độ tăngcủa giá trị gia tăng khu vực II thấp hơn tốc độ tăng của chi phí trung gian Tỷtrọng chi phí trung gian trong giá trị sản xuất còn ở mức cao và chưa có chiềuhướng giảm, tỷ trọng bình quân ở mức 64,5% Điều này phần lớn do máy mócthiết bị sản xuất là công nghệ cũ; tiêu hao nhiều năng lượng và nguyên vật liệu;năng suất lao động thấp; đầu vào của sản xuất còn chịu nhiều chi phí dẫn đếnchi phí trung gian tăng qua từng năm, phản ánh hiệu quả kinh tế còn thấp.
Bảng 9: Tốc độ tăng GO, VA, IC và tỷ trọng VA/GO, IC/GO
của khu vực II giai đoạn 2010 - 2013.
Trang 112.3 Ngành dịch vụ (khu vực III)
a) Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành
Trong cơ cấu nội bộ khu vực III, tỷ trọng của các ngành ít biến động vàchưa cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ nét Ngành bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ô
tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác chiếm tỷ trọng cao và ổn định trên15%; ngành vận tải kho bãi duy trì tỷ trọng khoảng 10,5%; các ngành khác như:dịch vụ lưu trú và ăn uống, thông tin và truyền thông cũng giữ tỷ trọng khá ổnđịnh, lần lượt khoảng 8% và 6% Duy nhất có dịch vụ về kinh doanh bất độngsản là giảm từ 17,2% năm 2010 xuống còn 12,3% năm 2013
Các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao như ngân hàng, bảo hiểm,khoa học công nghệ, thông tin và truyền thông, vui chơi giải trí… chiếm tỷtrọng thấp, trong khi các dịch vụ công như: Hoạt động của Đảng cộng sản, tổchức chính trị - xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng và bảo đảm xãhội bắt buộc; giáo dục và đào tạo; y tế và hoạt động cứu trợ xã hội chiếm tỷtrọng rất cao (chiếm tới 40% ngành dịch vụ), cho thấy dịch vụ của ThanhHóa còn dựa nhiều vào ngân sách nhà nước; các dịch vụ của khu vực tư nhânkém phát triển
Bảng 10: Cơ cấu giá trị sản xuất của khu vực III
Đơn vị tính: %
1 Bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và
5 Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 3,7 3,7 3,4 3,1
6 Hoạt động kinh doanh bất động sản 17,2 15,4 13,7 12,3
7 Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 1,0 1,0 1,0 1,0
8 Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 0,3 0,3 0,3 0,3
9 Hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị,
quản lý nhà nước, ANQP và bảo đảm xã hội. 12,8 13,1 14,0 14,7
11 Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội 10,1 10,2 10,5 10,7
12 Nghệ thuật, vui chơi và giải trí 0,7 0,8 0,8 0,9
Trang 12b) Chất lượng tăng trưởng
Giai đoạn 2010 - 2013, khu vực III duy trì tốc độ tăng giá trị sản xuất, giátrị gia tăng ở mức khá cao, bình quân đạt 15,9% và 14,4%; tỷ trọng chi phítrung gian trên giá trị sản xuất là 33,5% So với khu vực I thì ngành dịch vụ có
tỷ trọng chi phí trung gian thấp hơn nhưng chi phí trung gian cũng tăng dần quacác năm; năm 2010, chi phí trung gian là 31,5% nhưng đến năm 2013 đã tănglên 34,7%; phản ánh chất lượng tăng trưởng còn hạn chế
Bảng 11: Tốc độ tăng GO, VA và IC và tỷ trọng VA/GO, IC/GO
của khu vực III giai đoạn 2010 - 2013
Năm tăng GO Tốc độ tăng VA Tốc độ tăng IC Tốc độ Tỷ trọng VA/GO Tỷ trọng IC/GO
Trang 133 Một số ngành, sản phẩm đóng góp chi phối trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hóa
Trên cơ sở sản lượng, giá trị sản xuất và dựa vào số liệu điều tra doanhnghiệp, các ngành/sản phẩm có giá trị cao nhất theo các chỉ tiêu doanh thu, lợinhuận, nộp ngân sách và lao động của Thanh Hóa là sản xuất xi măng1, sảnxuất đường2, may trang phục3, sản xuất thuốc lá, sản xuất bia, điện năng
3.1 Sản xuất xi măng
Ngành sản xuất xi măng là ngành có năng lực cạnh tranh cao ở ThanhHóa, so sánh dựa trên các chỉ tiêu phân tích thì các doanh nghiệp ở Thanh Hóađều dẫn đầu các tỉnh trong vùng và cao hơn so với trung bình cả nước Nếu sovới các doanh nghiệp có lợi nhuận trong ngành xi măng thì lợi nhuận trungbình của doanh nghiệp ở Thanh Hóa cao gấp 7 lần doanh nghiệp ở Nghệ An và
2 lần ở Thừa Thiên Huế
Bảng 12: Một số chỉ tiêu của các doanh nghiệp sản xuất xi măng
ở các tỉnh Bắc Trung bộ 4 và bình quân cả nước
Tỉnh
Lao động/
doanh nghiệp (người)
Tài sản/
doanh nghiệp (tr.đ)
Lợi nhuận/
doanh nghiệp (tr.đ)
Doanh thu/doanh nghiệp (tr.đ)
Thuế đã nộp/doanh nghiệp (tr.đ)
Doanh thu/lao động (tr.đ /năm)
Lợi nhuận/ lao động (tr.đ/ năm)
Thanh Hóa 964 5.134.730 140.474 2.972.723 90.273 3.084 146 Nghệ An 318 472.933 18.536,2 363.162 26.739 1.142 58 Quảng Bình 923 1.423.117 -7.491,6 671.954 11.033 728 -8
TT Huế 879 1.626.099 73.595 913.221 50.613 1.039 84 Bình quân
cả nước 426 1.090.193 -1.813,1 591.536 21.480 1.389 -4
1 thuộc phân ngành Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác
2 Thuộc phân ngành Sản xuất chế biến thực phẩm
3 Thuộc phân ngành Sản xuất trang phục
4 Các tỉnh Bắc Trung bộ không có trong bảng là do không có doanh nghiệp ngành đó ở tỉnh
Trang 143.2 Sản xuất đường
Trong vùng Bắc Trung Bộ chỉ có Thanh Hóa và Nghệ An có các doanhnghiệp đầu tư vào ngành sản xuất đường So với các doanh nghiệp trong cảnước thì các doanh nghiệp ở Thanh Hóa có giá trị cao hơn mức trung bình của
cả nước trên tất cả các tiêu chí phân tích Tuy nhiên, so với Nghệ An thì năngsuất lao động của các doanh nghiệp Thanh Hóa thấp hơn
Bảng 13: Một số chỉ tiêu của các doanh nghiệp sản xuất đường
ở các tỉnh Bắc Trung Bộ và bình quân cả nước
Tỉnh
Lao động/
doanh nghiệp (người)
Tài sản/
doanh nghiệp (tr.đ)
Lợi nhuận/
doanh nghiệp (tr.đ)
Doanh thu/
doanh nghiệp (tr.đ)
Thuế đã nộp/
doanh nghiệp (tr.đ)
Doanh thu/lao động (tr.đ/
năm)
Lợi nhuận /lao động (tr.đ /năm)
Thanh Hóa 624 990.076 192.587 958.939 238.613 1.537 309 Nghệ An 336 623.549 104.301 547.862 72.896 1.631 310
BQ cả nước 421 409.101 75.905 602.339 32.732 1.431 180
3.3 May trang phục
Đối với ngành may mặc, xét về tất cả các chỉ tiêu thì Thanh Hóa cao hơn
so với mức trung bình trong cả nước, cao hơn hầu hết các tỉnh trong vùng, trừThừa Thiên Huế
Bảng 14: Một số chỉ tiêu của các doanh nghiệp trong ngành may trang phục
ở các tỉnh Bắc Trung Bộ và bình quân cả nước
Tỉnh
Lao động/
doanh nghiệp (người)
Tài sản/doan
h nghiệp (tr.đ)
Lợi nhuận/
Doanh nghiệp (tr.đ)
Doanh thu/doanh nghiệp (tr.đ)
Thuế đã nộp/doanh nghiệp (tr.đ)
Doanh thu/lao động (tr.đ/
năm)
Lợi nhuận/ lao động (tr.đ/ năm)
Trang 153.4 Sản xuất thuốc lá
Sản xuất thuốc lá là ngành đóng góp cao nhất về thuế cho ngân sách tỉnh,tuy nhiên so với Nghệ An thì lợi nhuận trung bình và năng suất lao động (lợinhuận/lao động) của doanh nghiệp ngành này ở Thanh Hóa thấp hơn và cũngthấp hơn so với mức trung bình của cả nước
Bảng 15: Một số chỉ tiêu của các doanh nghiệp trong ngành sản xuất thuốc lá ở các
tỉnh Bắc Trung Bộ và bình quân cả nước
Tỉnh
Lao động/
doanh nghiệp (người)
Tài sản/
doanh nghiệp (tr.đ)
Lợi nhuận/
Doanh nghiệp (tr.đ)
Doanh thu/
doanh nghiệp (tr.đ)
Thuế đã nộp/doanh nghiệp (tr.đ)
Doanh thu/lao động (tr.đ/
năm)
Lợi nhuận/ lao động (tr.đ/ năm)
Bảng 16: Một số chỉ tiêu của các doanh nghiệp trong ngành sản xuất bia
ở các tỉnh Bắc Trung Bộ và bình quân cả nước
Tỉnh
Lao động/
doanh nghiệp (người)
Tài sản/
doanh nghiệp (tr.đ)
Lợi nhuận/
Doanh nghiệp (tr.đ)
Doanh thu/
doanh nghiệp (tr.đ)
Thuế đã nộp/doanh nghiệp (tr.đ)
Doanh thu/lao động (tr.đ/
năm)
Lợi nhuận/ lao động (tr.đ/ năm)
Trang 163.6 Sản xuất điện năng
Các chỉ tiêu trong ngành sản xuất điện cho thấy các doanh nghiệp ởThanh Hóa đều có lợi nhuận trong khi cả nước và các tỉnh trong vùng (trừ ThừaThiên Huế) không có lợi nhuận So với Thừa Thiên Huế thì năng suất lao độngtrong ngành sản xuất điện của Thanh Hóa thấp hơn
Bảng 17: Một số chỉ tiêu của các doanh nghiệp trong ngành sản xuất điện ở
các tỉnh Bắc Trung bộ và bình quân cả nước
Tỉnh
Lao động/
doanh nghiệp (người)
Tài sản/
doanh nghiệp (tr.đ)
Lợi nhuận/
Doanh nghiệp (tr.đ)
Doanh thu/doanh nghiệp (tr.đ)
Thuế đã nộp/doanh nghiệp (tr.đ)
Doanh thu/lao động (tr.đ/
năm)
Lợi nhuận/ lao động (tr.đ/ năm) Thanh
Trang 174 Ngành/sản phẩm tiềm năng và lợi thế cạnh tranh của Thanh Hóa
Các ngành/sản phẩm có tiềm năng và lợi thế cạnh là các ngành có trongnhóm ngành kinh tế có triển vọng trên thế giới5, của Việt Nam và quy hoạch tổngthể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đây là các ngành được xác định có nănglực cạnh tranh ở thời điểm hiện tại, có khả năng tăng năng suất lao động, có tiềmnăng mở rộng liên kết sản xuất và hình thành các cụm ngành liên kết Dựa trêncác tiêu chí trên thì các ngành sản xuất xi măng, sản xuất đường, may mặc, sảnxuất điện, lọc hóa dầu, chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa là các ngành tiềm năng
và đóng vai trò trụ cột trong phát triển kinh tế của tỉnh Thanh Hóa, cụ thể là:
- Ngành xi măng: Các nhà máy xi măng ở Thanh Hóa có nhiều lợi thế
như: gần nguồn nguyên liệu, các yếu tố đầu vào (đá vôi, cát, sét…) ổn định vềchất lượng, nhà máy có quy mô, công suất lớn, sử dụng công nghệ mới ít gây ônhiễm, gần cảng biển để tận dụng vận tải đường thủy, tiết kiệm được chi phí và
dễ dàng tiếp cận thị trường trong nước và xuất khẩu nên có năng lực cạnh tranhcao so với sản phẩm của các tỉnh khác Tham gia vào giá trị chuỗi sản xuất ximăng, các doanh nghiệp trong tỉnh có thể đóng góp vào các khâu: khai thác (mỏ
đá vôi, sét, cát); vận tải nguyên liệu, vận tải thành phẩm, sản xuất bao bì Nếuxét về hiệu quả, chuỗi sản xuất xi măng tương đối hẹp và về lâu dài đang dầnkhai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên của tỉnh Tuy nhiên, do Việt Nam là nướcđang phát triển, nhu cầu nguyên vật liệu xây dựng lớn, nên xi măng có thịtrường trong nước Mặt khác, sản phẩm xi măng của các nhà máy ở Thanh Hóahiện có chất lượng tốt, năng lực cạnh tranh cao và đã xây dựng được thươnghiệu trên toàn quốc như: xi măng Nghi Sơn, xi măng Bỉm Sơn, do đó ngành này
có tiềm năng phát triển trong giai đoạn tới
5 34 ngành kinh tế có triển vọng trên thế giới, gồm: Dược phẩm; Các công cụ phân tích; Thiết bị y tế; Xuất bản
và in ấn; Giáo dục và đào tạo; Các dịch vụ kinh doanh, tài chính; Tin học, viễn thông; Điện tử; Thiết bị thông tin liên lạc; Đồ thêu ren; Sản phẩm da; Giày dép; Dệt may; Sản phẩm da; Đồ nội thất; Nông-lâm-thủy sản; Bán buôn, bán lẻ; Du lịch và dịch vụ; Giải trí; Giao thông vận tải và hậu cần; Khung thiết bị cho xây dựng; Xây dựng và bất động sản; Đồ nhựa; Hóa chất; Dầu mỏ và khí đốt; Sản xuất và truyền năng lượng điện; Tự động hóa; Động cơ, các phương tiện hàng không và quốc phòng; Sản xuất kim loại; Khai thác mỏ và khoáng sản; Công nghệ sản xuất; Các sản phẩm chạy bằng động cơ; Công nghiệp nặng
Trang 18- Ngành mía đường: Mía đường là ngành có tiềm năng ở Thanh Hóa Các
nhà máy sản xuất đường ở Thanh Hóa có khả năng cạnh tranh so các doanh nghiệpcùng ngành ở trong nước Quan sát chuỗi giá trị mía đường ở Thanh Hóa, có thểthấy các bên tham gia vào chuỗi là người trồng mía, thương lái, nhà máy đường, đại
lý phân phối, nhà máy sản xuất dùng đường là nguyên liệu trung gian (như sản xuất
đồ uống, bánh kẹo, sữa…), và người tiêu dùng cuối cùng Các doanh nghiệp khácphục vụ cho nhà máy sản xuất là doanh nghiệp vận tải, doanh nghiệp sản xuất bao
bì Tiềm năng mở rộng sự liên kết trong ngành mía đường để hình thành chuỗi liênkết ngành hàng: Mía nguyên liệu - Chế biến đường - Chế biến thực phẩm (cồn, bánhkẹo, sữa, đồ uống…) là hoàn toàn có khả năng và là một lợi thế đối với ngành míađường của Thanh Hóa Vì vậy, ngành mía đường là ngành có lợi thế phát triển trongtương lai Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất hiện nay là chưa áp dụng được khoa học kỹthuật và công nghệ tiên tiến trong việc trồng, chăm sóc mía để tăng năng suất vàchất lượng mía, do diện tích trồng mía của các hộ nông dân nhỏ hẹp chưa kết hợpđược với nhau để tạo thành các cánh đồng lớn dẫn đến khó khăn trong việc tăngnăng suất trồng mía đạt trên 100 tấn mía/ha6, và chữ đường trên 10 CCS; bên cạnh
đó là việc phân chia lợi nhuận giữa người trồng mía và doanh nghiệp sản xuấtđường chưa hợp lý nên nhiều nơi người dân chưa thực sự mặn mà với cây mía
- May mặc và da giày: Thanh Hóa hiện có 61 doanh nghiệp hoạt động
trong ngành may mặc, da giày; đây là ngành thu hút được nhiều lao động Hiệnnay, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào ngành may mặc ởViệt Nam nói chung và Thanh Hóa nói riêng là để tận dụng nhân công giá rẻ.Thanh Hóa là tỉnh đông dân, việc phát triển ngành may mặc và giày da là do cólợi thế cạnh tranh về nguồn lao động để cải thiện được công ăn việc làm Vìvậy, ngành này được xác định là có tiềm năng và lợi thế cạnh tranh nhưng chỉtrong ngắn hạn còn về dài hạn thì ngành này không phải là ngành làm động lựccho phát triển kinh tế của tỉnh
- Sản xuất điện: Thanh Hóa có 3 nhà máy sản xuất điện đang hoạt động
là thủy điện Cửa Đạt, thủy điện Bá Thước 2 và nhiệt điện Nghi Sơn 1; trongthời gian tới sẽ có thêm nhiệt điện Nghi Sơn 2, thủy điện Bá Thước 1, thủy điệnTrung Sơn, thủy điện Hồi Xuân và một số các dự án thủy điện vừa và nhỏ khác
đi vào hoạt động, đóng góp cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Đối vớithủy điện, Thanh Hóa có lợi thế là có hệ thống sông ngòi với độ dốc phù hợp đểphát triển thủy điện; đối với nhiệt điện, với cảng nước sâu Nghi Sơn thuận lợicho vận chuyển nguyên liệu phục vụ các nhà máy nhiệt điện hoạt động Vì vậy,với nhu cầu sử dụng điện của cả nước, của tỉnh là rất lớn, ngành này được xem
là có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển
Trang 19- Ngành Lọc hóa dầu: Công nghiệp lọc hóa dầu trong dài hạn được xác
định là ngành công nghiệp trọng điểm và có triển vọng nhất của Thanh Hóa Đây
là ngành công nghiệp mũi nhọn đóng vai trò nền tảng để tạo ra sự đột phá trongtăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Dự kiến khi đi vào hoạt động,ngành lọc hóa dầu sẽ đóng góp lớn cho nguồn thu ngân sách của tỉnh và chiếm tỷ
lệ chi phối trong giá trị sản xuất ngành công nghiệp của tỉnh Bên cạnh đó, ngànhnày còn thu hút các dự án công nghiệp phụ trợ và công nghiệp sau hóa dầu như:sản xuất polypropylene, sợi tổng hợp, plastic, phân bón tổng hợp, chất tẩy rửatổng hợp, sơn tổng hợp, vật liệu nhựa và các sản phẩm sau lọc dầu khác
- Ngành chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa: Thanh Hóa có lợi thế về đất
đai, đồng cỏ và điều kiện tự nhiên để phát triển và chăn nuôi bò sữa; đây là ngành
có tiềm năng, lợi thế để tạo bước đột phá trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp.Theo đó, sẽ phát triển chăn nuôi bò sữa ở vùng trung du, miền núi theo hướng tậptrung, quy mô lớn, áp dụng kỹ thuật, công nghệ cao, đảm bảo tiêu chuẩn chấtlượng; trọng tâm là 2 dự án chăn nuôi bò sữa của Vinamilk và THtrue milk
III CƠ CẤU KINH TẾ THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ
1 Thực trạng phát triển và hoạt động của doanh nghiệp
Trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 6.733 doanh nghiệp đang hoạt động,
trong đó: 98,5% là doanh nghiệp dân doanh; 49 doanh nghiệp nhà nước (gồm:
18 doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý, 31 doanh nghiệp nhà nước Trung ương đóng trên địa bàn) và 34 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(0,6%) Phân theo địa bàn: số doanh nghiệp hoạt động ở miền xuôi chiếmkhoảng 90%; số doanh nghiệp hoạt động ở miền núi 10% Doanh nghiệp đanghoạt động tại Khu kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh(KCN Lễ Môn, Đình Hương - Tây Bắc Ga, Bỉm Sơn, Hoàng Long) là 182doanh nghiệp, trong đó có 2 doanh nghiệp nhà nước, 11 doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài, còn lại là các doanh nghiệp ngoài nhà nước
Về ngành nghề kinh doanh, ước có khoảng gần 1.000 doanh nghiệp hoạtđộng trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hơn 1.100 doanh nghiệp hoạtđộng trong lĩnh vực xây dựng, khoảng gần 2.600 doanh nghiệp hoạt động bánbuôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô xe máy và xe có động cơ khác; số doanhnghiệp còn lại hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực khác
Trang 20Tổng vốn sản xuất kinh doanh bình quân hàng năm của các doanh nghiệpkhoảng trên 84 nghìn tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp nhà nước chiếm 22,2%,doanh nghiệp dân doanh 59,4% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là18,4% Hầu hết, các doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ, dưới 5 tỷ đồng (74,4%);11,9% số doanh nghiệp có mức vốn 5 - 10 tỉ đồng; 11% số doanh nghiệp có qui
mô vốn 10 - 50 tỷ đồng và 3,7% số doanh nghiệp có mức vốn từ 50 tỷ đồng trởlên Thu nhập bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp ước đạt 3,1triệu đồng/tháng Một số doanh nghiệp luôn nằm trong nhóm có doanh thu lớnnhất trong tỉnh những năm gần đây là Công ty CP xi măng Nghi Sơn, Công ty
CP xi măng Bỉm Sơn, Công ty xăng dầu Thanh Hoá, Công ty CP Mía ĐườngLam Sơn, Công ty Điện Lực Thanh Hoá, Công ty TNHH giầy Sunjade Việt Nam,Công ty thương mại và ĐTPT miền núi Thanh Hoá
Nhìn chung, trong những năm qua, lực lượng doanh nghiệp của tỉnh đã cóbước phát triển nhưng tốc độ còn chậm, quy mô doanh nghiệp chủ yếu là vừa,nhỏ và siêu nhỏ Thiếu doanh nghiệp quy mô lớn, hoạt động đa ngành nghề vớitrình độ tổ chức quản lý, khoa học công nghệ hiện đại; các doanh nghiệp chủ yếuchỉ hoạt động trong tỉnh, rất ít doanh nghiệp dám vươn ra liên kết, mở rộng thịtrường, hoạt động ở các tỉnh khác và ngoài nước Tỷ lệ doanh nghiệp đang hoạtđộng/ 1 vạn dân hiện tại mới đạt 18 doanh nghiệp/1 vạn dân, thấp hơn nhiều sovới trung bình cả nước (42 doanh nghiệp/1 vạn dân) và thấp hơn các tỉnh lân cậnnhư: Ninh Bình: 26,2 doanh nghiệp/1 vạn dân; Nghệ An: 21,2 doanh nghiệp/1vạn dân; Hà Tĩnh: 20,5 doanh nghiệp/1 vạn dân
2 Công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước
- Công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước cơ bản hoàn thànhtheo phương án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại văn bản số 1959/TTg-ĐMDN ngày 27/10/2011 Trong 3 năm (2011 - 2013), đã hoàn thành chuyển đổisang hình thức Công ty TNHH hai thành viên đối với 01 doanh nghiệp, thựchiện cổ phần hóa 04 doanh nghiệp; trong đó, có 02 doanh nghiệp nhà nước nắmgiữ trên 50% vốn điều lệ (Công ty CP thương mại và ĐTPT miền núi ThanhHóa, Công ty CP Cảng Thanh Hóa) và 02 doanh nghiệp nhà nước không cầnnắm giữ cổ phần (Công ty CP Sông Mã và Công ty CP In báo Thanh Hóa) Giaiđoạn 2014 - 2015, sẽ tiếp tục thực hiện cổ phần hóa đối với 03 doanh nghiệpnhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, gồm: Công ty TNHH MTV cấp nướcThanh Hóa, Công ty TNHH MTV môi trường và công trình đô thị, Công tyTNHH MTV phát triển hạ tầng
Hiện nay, toàn tỉnh có 12 Công ty TNHH một thành viên hoạt động theoLuật doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, hoạt động chủ yếutrong lĩnh vực công ích như: nông nghiệp, thủy lợi, môi trường và công trình đôthị, cấp thoát nước, xổ số
Trang 21- Nhìn chung, công tác sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đãmang lại cho doanh nghiệp cơ chế quản lý mới, năng động, hiệu quả hơn và thíchứng với cơ chế thị trường; tạo thêm động lực và tính năng động trong sản xuất kinhdoanh, thể hiện rõ nét trong các hoạt động như phân phối cổ tức, tổ chức sản xuất,
tổ chức cán bộ, đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Các công ty cổ phần đã xâydựng và ban hành mới quy chế quản lý tài chính, tuyển dụng và quản lý lao động;xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn, nghĩa vụ và quyền lợi của Ban lãnh đạo, của
cổ đông, người lao động, có quy định rõ ràng tổ chức hợp lý các bộ phận và sắpxếp lại dây chuyền sản xuất kinh doanh từ đó tăng năng suất lao động, hạ giáthành, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnhtranh của doanh nghiệp Nộp ngân sách nhà nước và thu nhập của người lao độngđược đảm bảo và có xu hướng tăng so với trước khi chuyển đổi
- Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, công tác sắp xếp, đổi mớidoanh nghiệp nhà nước vẫn còn những tồn tại, hạn chế đó là: Công tác cổ phầnhóa doanh nghiệp nhà nước còn chậm so với kế hoạch đề ra Một số lãnh đạodoanh nghiệp có biểu hiện trì hoãn, kéo dài thời gian sắp xếp, chuyển đổi doanhnghiệp Trong quá trình xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa doanhnghiệp còn một số vướng mắc như: tài sản là nhà cửa, vật kiến trúc của doanhnghiệp thời gian sử dụng đã lâu, giá trị sổ sách thấp khi thực hiện đánh giá lại đãlàm tăng giá trị doanh nghiệp; việc đối chiếu xác định giá trị công nợ phải thu,phải trả còn kéo dài, gây khó khăn cho việc xác định giá trị doanh nghiệp Tronglĩnh vực xuất bản phẩm mặc dù hoàn thành kế hoạch theo đơn đặt hàng của Nhànước giao nhưng việc khai thác kinh doanh sách chưa hiệu quả nên phát sinh lỗtrong nhiều năm Việc sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường hiệu quả chưa rõ nét;một số nơi có tình trạng buông lỏng quản lý đất đai, giao khoán và sử dụng đấtsai mục đích; việc làm, thu nhập của người lao động thấp
3 Tăng trưởng và đóng góp của các thành phần kinh tế trong GDP
Trong những năm qua, cùng với tiến trình cổ phần hóa và chuyển đổi cácdoanh nghiệp nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ công; tỷ trọng đónggóp của thành phần kinh tế nhà nước trong GDP giảm dần từ 23,1% năm 2010xuống còn 19,4% năm 2013 Thành phần kinh tế ngoài nhà nước ngày một tăng
và chiếm vị trí chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, năm 2013, kinh tế ngoàinhà nước chiếm gần 74% GDP Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài duy trì mứcđóng góp vào GDP bình quân cả giai đoạn 2010 - 2013 khoảng 7%; thành phầnkinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong những năm qua tuy có tốc độ phát triểnnhanh, với nhiều dự án đi vào hoạt động nhưng chủ yếu là các dự án may mặc,
da giày với hoạt động chính là gia công nên mức độ đóng góp vào GDP rất hạnchế Xét theo tốc độ tăng trưởng GDP cũng cho thấy sự phát triển mạnh mẽ củakhu vực kinh tế ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với tốc độtăng trưởng GDP ở 2 khu vực kinh tế này tương ứng là 9,8%/năm và 38%/năm
và đang là đầu tầu tăng trưởng kinh tế của Thanh Hóa; trong 11,7% tăng trưởngkinh tế của tỉnh giai đoạn 2010 - 2013, khu vực kinh tế ngoài nhà nước và khuvực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp tới 9,6 điểm %
Hình 1: GDP theo thành phần kinh tế giai đoạn 2010 - 2013
Trang 22Bảng 18: Tăng trưởng và đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế
Trang 23Khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm khoảng 45% vốn đầu tư nhưngthu hút tới 93% lực lượng lao động Điều này cho thấy vai trò đặc biệt quantrọng của khu vực kinh tế tư nhân, không chỉ dưới góc độ đóng góp vào tăngtrưởng GDP mà quan trọng hơn nữa là tạo công ăn việc làm cho đại bộ phận laođộng Xét về khía cạnh này thì khu vực kinh tế nhà nước kém hiệu quả hơn,năm 2013, khu vực kinh tế nhà nước sử dụng hơn 38% tổng vốn đầu tư nhưngchỉ thu hút 5,8% lực lượng lao động; do đầu tư qua khu vực kinh tế nhà nước ởđịa phương chủ yếu là đầu tư kết cấu hạ tầng, chi tiêu công, chi cho quản lý nhànước, an sinh xã hội.
Bảng 19: Cơ cấu vốn và lao động của các thành phần kinh tế
Nội dung\Năm 2010 2011 2012 2013 2010 - 2013 Bình quân
Trang 24IV CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG
1 Tổng quan chung về tăng trưởng và phát triển kinh tế vùng
Trong giai đoạn 2010 - 2013, Thanh Hóa luôn duy trì được tốc độ tăngtrưởng kinh tế hai con số, đạt mức 11,7%/năm; cả ba vùng kinh tế của tỉnh làvùng đồng bằng, vùng ven biển và vùng miền núi đều có mức tăng trưởng khá,nhất là vùng đồng bằng và vùng ven biển Vùng đồng bằng hiện đang là đầu tàucủa tăng trưởng với mức đóng góp tới 7,2 điểm phần trăm trong tốc độ tăngtrưởng kinh tế 11,7% của toàn tỉnh, gấp 1,5 lần đóng góp của hai vùng ven biển
và miền núi cộng lại Tính bình quân cả giai đoạn 2010 - 2013, đóng góp củakhu vực đồng bằng vào GDP toàn tỉnh là 59,3%, lớn hơn hai khu vực miền biển
và miền núi cộng lại Khu vực miền núi mặc dù duy trì tốc độ tăng trưởng khá,bình quân khoảng 10,4%/năm nhưng đóng góp vào tăng trưởng chung còn hếtsức hạn chế, trung bình chiếm khoảng 15% GDP toàn tỉnh, do xuất phát điểmthấp, quy mô kinh tế nhỏ
Bảng 20: Tăng trưởng GDP và đóng góp vào GDP theo vùng miền
Trang 25GDP bình quân đầu người có xu hướng tăng dần ở cả 3 vùng kinh tế; tuynhiên, điều đáng chú ý là khoảng cách chênh lệnh ngày càng lớn giữa GDP bìnhquân đầu người ở vùng đồng bằng và ven biển so với vùng miền núi Hình 2cho thấy GDP bình quân đầu người vùng đồng bằng gấp khoảng 2,3 lần so vớikhu vực miền núi.
Hình 2: GDP bình quân đầu người theo vùng miền 2010-2013
2 Vùng đồng bằng
2.1 Đặc điểm tự nhiên và tiềm năng/lợi thế phát triển
Vùng đồng bằng gồm 10 huyện, thị xã (Thọ Xuân, Thiệu Hóa, Yên Định,Đông Sơn, Vĩnh Lộc, Triệu Sơn, Nông Cống, Hà Trung, TP Thanh Hóa và TX.Bỉm Sơn) với diện tích tự nhiên 1.905 km2 (bằng 17,1% diện tích cả tỉnh).Vùng đồng bằng có địa hình tương đối bằng phẳng, các vùng đất bằng xen kẽvới các đồi thấp và núi đá vôi độc lập, độ cao trung bình từ 5-15 mét, cá biệt cómột vài nơi trũng như ở huyện Hà Trung có độ cao chỉ 0-1 mét Có thể nói đặcđiểm địa hình và khí hậu vùng đồng bằng phù hợp với sinh trưởng và phát triểncủa nhiều loại cây trồng, vật nuôi, thuận tiện cho phát triển nông nghiệp và côngnghiệp Đây là vùng trọng điểm lúa và cây công nghiệp ngắn ngày
Vùng đồng bằng là nơi tập trung chủ yếu các KCN, thuận lợi cho pháttriển công nghiệp, tạo thành mạng lưới các khu, cụm công nghiệp, các cực tăngtrưởng của vùng và cả tỉnh KCN Lễ Môn đến nay đã cơ bản lấp đầy diện tíchđất công nghiệp cho thuê và hoạt động tương đối hiệu quả; các KCN Bỉm Sơn,Hoằng Long đang từng bước được hoàn thiện kết cấu hạ tầng và đã thu hútđược nhiều dự án lớn như: dự án sản xuất ô tô, da giày, phân bón ; Khu côngnghiệp công nghệ cao Lam Sơn - Sao Vàng cũng đang được tập trung nguồn lựcđầu tư kết cấu hạ tầng và kêu gọi các nhà đầu tư; đây là những thuận lợi, tạođộng lực để khu vực đồng bằng phát triển kinh tế
Bên cạnh đó, khu vực đồng bằng có thuận lợi với hệ thống cơ sở hạ tầngtương đối đồng bộ hơn so với 2 vùng còn lại; là khu vực tập trung các đô thị vàcác cơ sở dịch vụ thương mại lớn của tỉnh nên có điều kiện phát triển các ngànhdịch vụ, nhất là các dịch vụ có giá trị gia tăng cao như: tài chính, ngân hàng,viễn thông, công nghệ thông tin, các dịch vụ lưu trú, vui chơi giải trí
2.2 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 26Giai đoạn 2010 - 2013, vùng đồng bằng duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế12,7%/năm, cao hơn tăng trưởng chung của tỉnh (11,7%/năm) Vùng đồng bằngđóng góp tới 7,2 điểm % vào tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn tỉnh, thể hiện vaitrò chủ lực trong phát triển kinh tế của tỉnh thời gian qua.
Cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng chuyển dịch đáng kể theo hướng giảmdần tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản (khu vực I) và tăng tỷ trọng ngành côngnghiệp - xây dựng (khu vực II) và ngành dịch vụ (khu vực III) Đóng góp củakhu vực I trong GDP vùng đồng bằng giảm từ 17,6% năm 2010 xuống còn 14%năm 2013 Đồng thời, hai khu vực II và III đã tăng tỷ trọng GDP tương ứng(năm 2010 và năm 2013) từ 39,6% lên 42,2% và từ 42,8% lên 43,8% Cơ cấusản xuất về cơ bản đã chuyển biến rõ nét sang sản xuất hàng hóa, gắn với khaithác tiềm năng, thế mạnh của vùng Trong khu vực I, các sản phẩm nông, lâm,thủy sản ngày càng tăng về số lượng và đa dạng về chủng loại, hình thành nhiềuvùng chuyên canh, sản xuất hàng hóa quy mô lớn, chất lượng từng bước đượcnâng cao, đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu dùng và nguyên liệu cho sản xuất cũngnhư xuất khẩu Phát huy lợi thế về vị trí địa lý, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lựcdồi dào, vùng đồng bằng đã thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư lớn từ cácthành phần kinh tế vào phát triển sản xuất công nghiệp và dịch vụ
Công nghiệp - Xây dựng 39,6 40,3 41,3 42,2 41
Trang 27Ngành công nghiệp - xây dựng và ngành dịch vụ duy trì tốc độ tăngtrưởng cao, tương ứng 15,4%/năm và 14,3%/năm và đóng góp tới 6 và 6,3 điểm
% vào tốc độ tăng GDP của cả vùng Hai nhóm ngành này đóng góp chi phốivào GDP của vùng, khoảng 85%
Bảng 22: Tăng trưởng vùng đồng bằng và đóng góp của các khu vực kinh tế
Đóng góp vào tăng trưởng GDP theo điểm %
Trang 283 Vùng ven biển
3.1 Đặc điểm địa hình và tiềm năng/lợi thế phát triển
Vùng ven biển gồm 6 huyện, thị xã ven biển (Nga Sơn, Hậu Lộc, HoằngHóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia và TX Sầm Sơn), có diện tích tự nhiên 1.230,6
km2 (chiếm 11,1% diện tích tự nhiên của tỉnh) với chiều dài bờ biển khoảng 100
km Vùng ven biển có địa hình bằng phẳng là phổ biến, độ cao trung bình từ 3 6m, riêng phía Nam huyện Tĩnh Gia địa hình có dạng sống trâu với các dãy đồikéo dài ra biển Vùng ven biển có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp; dịch vụ vận tải, cảng biển và hàng hải; dịch vụ du lịch; nuôitrồng, khai thác thủy, hải sản; trong đó, đặc biệt quan trọng là Khu kinh tế NghiSơn; nằm ở cửa ngõ giao lưu giữa vùng Bắc Bộ với vùng Trung Bộ và Nam Bộ,
-có hệ thống giao thông thuận lợi cả về đường sắt, đường thủy và đường bộ; làmột trong số ít KKT có tiềm năng phát triển cảng biển nước sâu, có thể tiếpnhận tàu có trọng tải lớn (hàng trăm ngàn DWT) Đây là điều kiện quan trọng
để thu hút các dự án có quy mô lớn như: lọc hoá dầu, luyện cán thép cao cấp,công nghiệp cơ khí, nhiệt điện, sản xuất VLXD, sản xuất hàng tiêu dùng
Đến nay, KKT Nghi Sơn đã thu hút được 79 dự án đầu tư, tổng vốn đăng
ký hơn 17,5 tỷ USD với các dự án quan trọng như: Liên hợp Lọc hóa dầu NghiSơn, Trung tâm Nhiệt điện Nghi Sơn, Cảng nước sâu Nghi Sơn Trong đó, dự ánKhu liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn có vốn đầu tư khoảng 9 tỷ USD, công suất
10 triệu tấn SP/năm, là một trong những dự án đầu tư nước ngoài lớn nhất củaViệt Nam và là dự án trọng điểm quốc gia, hiện tại dự án đang trong quá trìnhxây dựng và lắp đặt nhà máy; dự kiến dự án sẽ hoàn thành việc xây dựng và đivào vận hành thương mại vào cuối năm 2017 Khi đi vào hoạt động, Dự án sẽgóp phần quan trọng đảm bảo an ninh năng lượng phục vụ phát triển kinh tế -
xã hội của cả nước, dự kiến sẽ đảm bảo khả năng tự cung cấp xăng, dầu củaViệt Nam từ 30% hiện nay lên mức 70% Với các sản phẩm sau lọc hóa dầu, dự
án này sẽ tạo động lực to lớn cũng như cơ hội để KKT Nghi Sơn thu hút cácngành công nghiệp phụ trợ, như sản xuất hóa chất, hạt nhựa và cơ khí chế tạo Ngoài ra, còn có các dự án quan trọng khác như: Trung tâm Nhiệt điện NghiSơn có tổng mức đầu tư trên 4 tỷ USD, công suất 2.400 MW Hiện tại, NMNhiệt điện Nghi Sơn 1 (600 MW) đã đi vào hoạt động từ cuối năm 2013; NMNhiệt điện Nghi Sơn 2 (1.200 MW), có tổng vốn đầu tư 2,3 tỷ USD chuẩn bịđược đầu tư xây dựng theo hình thức BOT NM Nhiệt điện Công Thanh, côngsuất 600 MW, tổng mức đầu tư trên 900 triệu USD đang được triển khai xâydựng Sau khi các nhà máy điện này đi vào hoạt động, Trung tâm Nhiệt điệnNghi Sơn sẽ đáp ứng đủ nguồn cung cấp điện cho sự phát triển ổn định lâu dàicủa KKT Nghi Sơn và cho cả khu vực Bắc Trung Bộ
Ngoài ra, tại KKT Nghi Sơn còn có một số dự án công nghiệp nặng, vốnđầu tư lớn, như Nhà máy Xi măng Nghi Sơn (tổng mức đầu tư 700 triệu USD,công suất thiết kế 4,3 triệu tấn/năm), Nhà máy Xi măng Công Thanh (tổng mứcđầu tư 600 triệu USD, công suất thiết kế 6 triệu tấn/năm), Nhà máy Luyện cán
Trang 29Với bờ biển dài, nhiều bãi biển đẹp, như: Sầm Sơn, Hải Tiến (HoằngHóa), Hải Hòa (Tĩnh Gia) và cùng với lợi thế của KKT Nghi Sơn, vùng venbiển Thanh Hóa có nhiều thế mạnh và thuận lợi trong phát triển du lịch, đặc biệt
là du lịch biển Bên cạnh đó, vùng ven biển còn có lợi thế rất lớn về nuôi trồng
và khai thác thủy, hải sản, với nhiều cửa lạch, bến cá, cảng cá như: Lạch Bạng,Lạch Hới, Lạch Ghép, Lạch Trường…
3.2 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tính chung cả giai đoạn 2010 - 2013, kinh tế vùng biển đóng góp 25,5%trong GDP toàn tỉnh Xét về cơ cấu các nhóm ngành kinh tế trong nội vùng có sựchuyển dịch tương đối đều và khá rõ nét theo hướng giảm dần tỷ trọng ngànhnông, lâm, thủy sản và tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ
Tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản đã giảm từ 27,5% trong tổng GDP vùng venbiển năm 2010 xuống còn 24,3% năm 2013, ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ37,5% lên 38,2% và lĩnh vực dịch vụ chuyển dịch tích cực từ 35% lên 37,5%
Bảng 23: Tỷ trọng GDP vùng ven biển so với cả tỉnh và tỷ trọng các
ngành trong GDP vùng ven biển
Nội dung/Năm 2010 2011 2012 2013 BQ 2010 - 2013
Tỷ trọng GDP vùng ven
Cơ cấu GDP theo ngành trong nội vùng
- Nông, lâm, thủy sản 27,5 27,9 26,5 24,3 26,5
- Công nghiệp- Xây dựng 37,5 36,8 36 38,2 37,1
Ngành công nghiệp - xây dựng và ngành dịch vụ duy trì tốc độ tăngtrưởng cao, tương ứng 12,4% và 14,4%/năm, đóng góp 4,6 và 5,2 điểm phầntrăm vào tốc độ tăng trưởng GDP của cả vùng Hai nhóm ngành này cũng chiếmtới hơn 93% GDP của vùng
Bảng 24: Tăng trưởng vùng ven biển và đóng góp của các khu vực kinh tế
Nội dung\Năm 2010 2011 2012 2013 BQ 2010-2013
Tăng trưởng GDP (%)
- Công nghiệp - Xây dựng 18,3 10,5 9,9 11,2 12,4
Đóng góp vào tăng trưởng GDP theo điểm %
- Công nghiệp - Xây dựng 6,5 3,9 3,7 4,2 4,6
Trang 304 Vùng miền núi
4.1 Đặc điểm tự nhiên và tiềm năng/lợi thế phát triển
Vùng miền núi gồm 11 huyện (Như Xuân, Như Thanh, Thường Xuân,Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Ngọc Lặc, CẩmThủy và Thạch Thành), với diện tích tự nhiên 7.999 km2 (bằng 71,8% diện tíchtoàn tỉnh), có thổ thưỡng phổ biến là nhóm đất xám có tầng dày, dễ thoát nước,thích hợp cho phát triển lâm nghiệp và các cây công nghiệp dài ngày, cây ănquả như: cao su, cà phê, chè, cam, chanh, dứa Vùng miền núi có nguồn tàinguyên rừng khá dồi dào, đóng vai trò quan trọng đối với phòng hộ đầu nguồn
và phát triển kinh tế - xã hội Diện tích rừng sản xuất là 276.857 ha, chiếm54,1% diện tích rừng, tập trung ở vùng đồi núi thấp và trung du
Vùng miền núi có thế mạnh phát triển công nghiệp khai khoáng và sảnxuất vật liệu xây dựng Nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng loại,trong đó điển hình là đá vôi và đất sét có trữ lượng lớn, phân bố tập trung, thuậnlợi cho khai thác với quy mô công nghiệp và phát triển sản xuất vật liệu xây dựng.Trên địa bàn, đã và đang quy hoạch, đầu tư phát triển một số KCN như: BãiTrành, Ngọc Lặc, Thạch Thành… để khai thác tiềm năng, thế mạnh và hìnhthành các trọng điểm kinh tế vùng
4.2 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Giai đoạn 2010 - 2013, vùng miền núi đóng góp khoảng 15% vào GDPtoàn tỉnh Cơ cấu kinh tế nội vùng có sự chuyển dịch, ngành nông, lâm, thủy sảngiảm từ 41,4% năm 2010 xuống còn 35,7% năm 2013; Tỷ trọng ngành dịch vụtăng từ 34,4% năm 2010 lên 40,6% năm 2013; riêng ngành công nghiệp - xâydựng có xu hướng giảm nhẹ, từ 24,3% năm 2010 xuống còn 23,7% năm 2013.Trong cơ cấu kinh tế vùng miền núi, ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng bìnhquân cao nhất (14,8%), tiếp đến là ngành công nghiệp - xây dựng tăng 11,4%;nông, lâm, thủy sản tăng 6,2% Trong 3 vùng kinh tế, vùng miền núi có tỷ trọngcủa ngành công nghiệp - xây dựng giảm, cho thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ởmiền núi còn hết sức khó khăn
Bảng 25: Tỷ trọng GDP vùng miền núi so với cả tỉnh và tỷ trọng các
ngành trong GDP vùng miền núi
Nội dung\Năm 2010 2011 2012 2013 BQ 2010-2013
Tỷ trọng GDP miền núi/toàn tỉnh 16,3 15,9 14,6 14,6 15,2
Cơ cấu GDP theo ngành trong nội vùng
- Nông, lâm, thủy sản 41,4 42,7 37,3 35,7 38,9
- Công nghiệp - Xây dựng 24,3 21,6 23,2 23,7 23,2
Trang 31Bảng 26: Tăng trưởng vùng miền núi và đóng góp của các khu vực kinh tế
Nội dung\Năm 2010 2011 2012 2013 BQ 2010-2013
Tăng trưởng GDP miền núi (%)
- Công nghiệp - Xây dựng 16,8 5,2 12 11,9 11,4
Đóng góp vào tăng trưởng GDP theo điểm %
- Công nghiệp - Xây dựng 3,7 1,3 2,6 2,7 2,6
Trang 32V CƠ CẤU ĐẦU TƯ
1 Huy động vốn và cơ cấu vốn đầu tư
Tổng huy động vốn đầu tư trên địa bàn giai đoạn 2010 - 2013 đạt 156.940
tỷ đồng, gấp 2,7 lần so với giai đoạn 2006 - 2009 Cơ cấu vốn đầu tư chuyển dịchtheo hướng giảm dần tỷ trọng vốn ngân sách nhà nước, tăng vốn khu vực ngoàinhà nước và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Giai đoạn 2006 - 2009, vốn ngânsách nhà nước chiếm 49,9% tổng vốn; giai đoạn 2010 - 2013 giảm còn 44,3%; tỷtrọng vốn ngoài nhà nước và vốn nước ngoài tăng tương ứng từ 39,9% lên 42,3%
và từ 10,2% lên 13,4%
Trong tổng huy động vốn giai đoạn 2010 - 2013, vốn đầu tư chủ yếu vàokhu vực đồng bằng và ven biển, chiếm khoảng 84%, đầu tư vào khu vực miền núichỉ khoảng 16% và chủ yếu là vốn NSNN Đầu tư cho lĩnh vực công nghiệp - xâydựng, dịch vụ chiếm tỷ lệ chi phối, khoảng 90%, trong khi đầu tư vào lĩnh lựcnông, lâm, thủy sản là rất thấp, khoảng 10%
Bảng 26: Huy động vốn và cơ cấu vốn đầu tư giai đoạn 2010 - 2013
Chỉ tiêu
Giai đoạn
2006 - 2009 Giai đoạn 2010 - 2013 So sánh
GĐ 2013/ 2006-2009
2010-Vốn
(Tỷ đồng)
Tỷ trọng
(%)
Vốn
(Tỷ đồng)
- Nông, lâm, thủy sản 5.912 10,4 15.390 9,8 260,3
- Công nghiệp - xây dựng 27.793 49,0 77.797 49,6 279,9
- Khu vực ven biển 16.919 29,8 63.921 40,7 377,8
- Khu vực miền núi 11.031 19,5 24.768 15,8 224,5
Trang 332 Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đầu tư chủ yếu cho phát triển kết cấu hạtầng kỹ thuật phục vụ phát triển sản xuất, các công trình phúc lợi công cộng.Nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý giai đoạn 2010 – 2013khoảng 23.500 tỷ đồng; đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếmkhoảng 27%, riêng lĩnh vực thủy lợi chiếm 18% tổng nguồn vốn NSNN, TPCP;đầu tư cho hạ tầng kỹ thuật chiếm khoảng 57%, riêng lĩnh vực giao thông, chiếm37% tổng nguồn vốn NSNN, TPCP
Bảng 27: Vốn đầu tư từ NSNN, TPCP do tỉnh quản lý giai đoạn 2010 - 2013
- Nông nghiệp và phát triển nông thôn 6.251 26,6 + Trong đó: đầu tư cho thủy lợi 4.250 18,1
+ Trong đó: đầu tư cho giao thông 8.750 37,2
- Hạ tầng xã hội và quốc phòng - an ninh 2.750 11,7
Trang 34Kết quả đầu tư giai đoạn 2010 - 2013 đã làm tăng năng lực sản xuất kinhdoanh, tạo thêm sản phẩm mới, cải thiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Mạnglưới giao thông từng bước được nâng cấp, cải tạo, xây mới với khoảng 112 kmquốc lộ, 285 km tỉnh lộ, trên 4.800 km đường giao thông nông thôn, đưa vào sửdụng Cảng hàng không Thọ Xuân và bến số 1, 2, 3 cảng Nghi Sơn Cải tạo,nâng cấp, đầu tư mới 265 km đường dây 220 KV, 365 km đường dây 110 KV,trên 2.000 km đường dây 6 - 35 KV Nhiều tuyến đê sông, đê biển xung yếu, hồđập, trạm bơm, kênh mương được nâng cấp, sửa chữa, kiên cố hoá Cơ sở vậtchất y tế, trường học được tăng cường; số giường bệnh năm 2013 tăng 930giường so với năm 2009, nhiều bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện được đầu
tư đồng bộ trang thiết bị đảm bảo phục vụ khám chữa bệnh; trong 4 năm đã đầu
tư kiên cố hoá gần 2.200 phòng học, đưa tỷ lệ kiên cố hóa đạt 82%
3 Vốn đầu tư ngoài nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài (FDI)
Nguồn vốn ngoài nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài do các doanh
nghiệp, cá nhân bỏ vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên tất cả cácngành nghề, lĩnh vực; đây là nguồn vốn quan trọng và chiếm tỷ lệ chi phối trongnền kinh tế Trong những năm qua, nguồn vốn này đã góp phần quan trọng vàotăng năng lực sản xuất và đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh, vớinhiều dự án sản xuất lớn đi vào hoạt động, tăng thêm sản lượng sản phẩm cũngnhư tạo thêm các sản phẩm mới như: xi măng, may mặc, da giày, sản xuất điện,
ô tô, ferocrom, men thực phẩm, sữa tươi ; đồng thời, các nguồn vốn này cònđóng góp lớn vào giá trị sản xuất ngành xây dựng So với cả nước thì tỷ trọngvốn ngoài nhà nước và vốn FDI trên tổng huy động vốn của tỉnh thấp hơn; cảnước là 62,5%, của tỉnh là 55,7%
4 Một số hạn chế trong cơ cấu vốn đầu tư
- Tỷ trọng vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước và khu vực nước ngoàitrong tổng huy động vốn trên địa bàn còn thấp so với tiềm năng và lợi thế về thuhút đầu tư của tỉnh (giai đoạn 2006 - 2009 khoảng 50%, giai đoạn 2010 - 2013khoảng 55,7%)
- Số lượng các dự án đầu tư có quy mô lớn và đầu tư vào lĩnh vực côngnghệ cao còn ít; vốn ngoài nhà nước đầu tư vào lĩnh vực nông, lâm, thủy sản vàkhu vực miền núi còn thấp
- Vốn đầu tư nước ngoài tuy đã tăng nhanh so với thời kỳ trước cả về vốnđăng ký và thực hiện, nhưng số lượng dự án còn thấp (Thanh Hóa đứng thứ 6 vềvốn đăng ký nhưng đứng thứ 31 về số dự án so với cả nước); ngoài dự án Lọchóa dầu Nghi Sơn (9 tỷ USD) và dự án Nhiệt điện Nghi Sơn 2 (2,3 tỷ USD), thìcác dự án còn lại chủ yếu là các dự án có quy mô nhỏ và sử dụng lao động phổthông (các dự án may mặc, giầy da)
Trang 35VI THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC
1 Tổng quan về nguồn nhân lực của tỉnh
Toàn tỉnh hiện có khoảng 2.239 nghìn người trong độ tuổi lao động,chiếm 65,1% dân số toàn tỉnh; số lao động làm việc trong nền kinh tế khoảng2.045 nghìn người
Chất lượng nguồn nhân lực có nhiều chuyển biến tích cực, bước đầu đãđáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp; trong 4 năm
2010 - 2013 đã có thêm 240,9 nghìn lao động được đào tạo, bình quân mỗinăm có gần 60 nghìn lao động qua đào tạo; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ40% năm 2010 lên 49% năm 2013, trong đó lao động qua đào tạo nghề tăng
từ 32% lên 38,6% Đến năm 2013, số lao động có trình độ từ sơ cấp trở lênchiếm 19,5% tổng số lao động Số lao động có trình độ đại học trở lên chiếm3,7%; cao đẳng, chiếm 3,7%; trung cấp chiếm 7,3%; sơ cấp chiếm 4,9% tổng
số lao động
2 Cơ cấu nguồn nhân lực theo khu vực và các ngành sản xuất
2.1 Cơ cấu nguồn nhân lực phân theo khu vực thành thị và nông thôn:
Lực lượng lao động đã có sự dịch chuyển từ khu vực nông thôn ra thànhthị nhưng với mức độ không lớn; tỷ lệ lao động ở khu vực nông thôn nhìnchung còn cao và chiếm tỷ lệ chi phối trong cơ cấu lao động
Năm 2010, tỷ lệ lao động ở khu vực nông thôn chiếm 88,7%; khu vựcthành thị chiếm 11,3% tổng số lao động Năm 2013, lao động ở khu vực nôngthôn giảm còn 88%; lao động khu vực thành thị tăng lên 12% Trong nhữngnăm qua, mặc dù kinh tế của tỉnh tăng trưởng tốt nhưng xu hướng chuyển dịchlao động còn chậm là do nhiều nhà máy sản xuất công nghiệp được đầu tư ngaytại khu vực nông thôn (nhất là dự án may mặc, da giày); tỷ lệ và tốc độ đô thịhóa của tỉnh còn thấp; tiến độ phát triển các KCN chậm; các ngành nghề liênquan đến dịch vụ ở khu vực thành thị cũng chậm phát triển nên không tạođược sức hút dịch chuyển lao động từ khu vực nông thôn ra thành thị
2.2 Cơ cấu nguồn nhân lực phân theo ngành sản xuất:
- Nhân lực trong nhóm ngành nông, lâm, thuỷ sản tiếp tục có xu hướng
giảm, chuyển dịch sang các ngành có năng suất lao động cao hơn như côngnghiệp, xây dựng và dịch vụ Năm 2013, số lao động làm việc trong lĩnh vựcnông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 46% tổng số lao động toàn tỉnh, giảm9% so với năm 2010 Chất lượng lao động ngành nông, lâm, thuỷ sản đượccải thiện đáng kể; tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 25,5% năm 2010 tăng lên32,8% năm 2013, trong đó lao động có trình độ sơ cấp trở lên chiếm 7,5% laođộng qua đào tạo toàn ngành
Trang 36- Nhân lực trong nhóm ngành công nghiệp - xây dựng có sự gia tăng
đáng kể do sự phát triển mạnh của một số ngành công nghiệp may mặc, giầy
da Năm 2013, số lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựngchiếm 29% tổng số lao động toàn tỉnh và so với năm 2010, tăng 6% Tỷ lệlao động qua đào tạo làm việc trong ngành tăng từ 43,9% năm 2010 lên50,1% năm 2013 Trình độ chuyên môn, tay nghề, tác phong công nghiệp củangười lao động từng bước được nâng lên
- Nhân lực trong nhóm ngành dịch vụ tăng khá do sự phát triển nhanh của
một số ngành như: thương mại, vận tải, lưu trú và ăn uống Năm 2013, lao độngtrong khu vực dịch vụ chiếm 25%, tăng 3% so với năm 2010 Chất lượng nhânlực trong nhóm ngành dịch vụ nhìn chung cao hơn so với các ngành khác Tỷ lệlao động qua đào tạo từ 72% năm 2010 tăng lên 79,5% năm 2013
Tuy nhiên, bên cạnh đó chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực cũng cònnhững tồn tại, hạn chế như: Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, lao độngqua đào tạo chủ yếu là đào tạo nghề dưới 3 tháng (chiếm 60,1% số lao độngqua đào tạo); số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lênmới đạt 19,5% tổng lao động đang làm việc trong nền kinh tế; thiếu cácchuyên gia trình độ cao, đội ngũ quản lý, công nhân lành nghề, lao động kỹthuật; trình độ ngoại ngữ, ý thức trách nhiệm, thái độ, tác phong lao động, kỷluật của người lao động còn nhiều hạn chế Cơ cấu lao động qua đào tạo có
sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng, miền và các ngành kinh tế; lao động cótrình độ chuyên môn kỹ thuật (đào tạo được cấp bằng, chứng chỉ) ở thành thịcao hơn ở nông thôn gấp 2,7 lần; tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo khu vựcmiền núi chiếm 68% số lao động đang làm việc; thiếu nhiều lao động có trình
độ kỹ thuật, tay nghề cao trong các lĩnh vực mới như: lọc hoá dầu và sau lọchoá dầu, cảng biển, các phân ngành dịch vụ cao cấp
VII KHÁI QUÁT NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC, TỒN TẠI HẠN CHẾ CỦA MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HIỆN TẠI VÀ CƠ HỘI, THÁCH THỨC CỦA KINH TẾ THANH HÓA TRONG THỜI GIAN TỚI.
Trang 37- Phát triển được một số ngành, sản phẩm có giá trị gia tăng, hiệu quả caohơn trung bình cả nước (xét về chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận/người lao động) vàđóng góp lớn cho tăng trưởng của tỉnh là: sản xuất xi măng, mía đường, may mặc,
da giày và đang phát triển một số ngành, sản phẩm mới, có vai trò quan trọng đốivới phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như: lọc hóa dầu, sản xuất điện năng, pháttriển chăn nuôi bò sữa và chế biến các sản phẩm bò sữa
2 Những tồn tại, hạn chế của mô hình tăng trưởng hiện tại
Mô hình tăng trưởng kinh tế hiện tại của tỉnh Thanh Hóa là mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào các lợi thế về tài nguyên đất đai, khoáng sản, nguồn nước, lao động, nguồn vốn đầu tư để tăng quy mô, mở rộng sản xuất; việc phát triển theo chiều sâu, dựa vào công nghệ hiện đại, sử dụng ít tài nguyên, để tăng năng suất lao động, nâng cao giá trị gia tăng, còn hết sức hạn chế Mô hình này thể hiện trên các đặc điểm sau:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành và trong nội bộ từng
ngành kinh tế còn chậm
- Cơ cấu kinh tế vùng và trong nội bộ các vùng còn nhiều bất cập, nhất
là vùng miền núi Năm 2013, vùng miền núi chiếm 25,1% dân số, 2/3 diệntích toàn tỉnh nhưng chỉ đóng góp 14,6% GDP; vùng ven biển chiếm 29,5%dân số nhưng chỉ đóng góp 24,5% GDP
- Chi phí trung gian của các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ còn
cao và có xu hướng tăng, năm sau cao hơn năm trước
- Các ngành, lĩnh vực sản xuất có giá trị gia tăng cao chậm phát triển
Trang 38- Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư bình quân hàng năm rất cao, giai đoạn
2010 2013 là 24,1%; hệ số ICOR giai đoạn này luôn ở mức cao, khoảng 4,5
-5, tuy thấp hơn cả nước (6,5 - 7) nhưng cao hơn chuẩn của các nước đang pháttriển (khoảng 3 - 3,5)
- Cơ cấu huy động vốn đầu tư trên địa bàn còn bất cập, chưa thu hút đượcvốn đầu tư của khu vực tư nhân đầu tư vào phát triển và kinh doanh kết cấu hạtầng
- Lực lượng doanh nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ;
quy mô doanh nghiệp có vốn từ 50 tỷ đồng trở lên chỉ chiếm khoảng 3,7%, thấphơn các tỉnh trong khu vực như: Nghệ An (4,6%), Ninh Bình (8,3%)
- Doanh nghiệp khoa học công nghệ hầu như không có; thị trường khoahọc công nghệ không phát triển
- Năng suất lao động của cả ba khu vực kinh tế còn thấp và chậm đượccải thiện; so với bình quân cả nước, năng suất của tỉnh chỉ bằng khoảng 60% -70% (năng suất lao động trung bình cả nước ở 3 khu vực (I, II, III) lần lượt là:25,4 - 105,5 - 71,6 triệu đồng/người/năm)
3 Cơ hội và thách thức đối với kinh tế Thanh Hóa
3.1 Cơ hội
- Nguồn lao động dồi dào, quy mô dân số lớn (đứng thứ 3 toàn quốc)
- Có lợi thế cho phát triển kinh tế biển (hàng hải, du lịch biển, khai thác vànuôi trồng thủy hải sản)
- Tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản; tài nguyên du lịch tự nhiên và nhânvăn phong phú
- Có hệ thống giao thông đồng bộ (đường bộ, đường hàng không, đườngthủy, cảng nước sâu)
- Môi trường đầu tư, kinh doanh tương đối năng động và ngày càng đượccải thiện
- Khu kinh tế Nghi Sơn được chọn là 1 trong 5 khu kinh tế trọng điểm được
ưu tiên đầu tư
- Dự án lọc hóa dầu Nghi Sơn và các dự án đã được đăng ký đầu tư sẽ tạosức lan tỏa trong thu hút đầu tư
- Khu vực miền núi, biên giới được Trung ương quan tâm và có các cơ chế,chính sách phát triển, hỗ trợ đầu tư
- Xu hướng dịch chuyển đầu tư từ Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu vào ViệtNam
Trang 393.2 Thách thức
- Xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm
- Sản xuất nông nghiệp còn manh mún, phân tán, hiệu quả thấp
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ còn ở mức thấp
- Doanh nghiệp vừa ít về số lượng, vừa yếu về năng lực cạnh tranh
- Chất lượng nhân lực còn hạn chế, thiếu lao động lành nghề
- Đầu tư công ở mức thấp, còn dàn trải, huy động các thành phần kinh tếtham gia đầu tư hạ tầng và các dịch vụ công còn hạn chế
- Kết cấu hạ tầng còn yếu kém, đặc biệt ở các khu công nghiệp, vùng miềnnúi
- Các vấn đề về xã hội còn nhiều yếu kém Tỷ lệ hộ nghèo còn tương đốicao so với cả nước Còn 07 huyện nghèo, 151 xã đặc biệt khó khăn miền núi và bãingang
- Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) hoạt động từ năm 2015 ảnhhưởng trực tiếp đến sản xuất (mía đường, gia cầm, sản phẩm thịt lợn )
- Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) gây khó khăncho các ngành sản xuất: dệt may, ô tô
- Tác động bất lợi từ việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép, gây khókhăn cho tiêu thụ và sản xuất các sản phẩm: cao su, tinh bột sắn, may mặc, da giày,hàng nông sản và thu hút đầu tư nước ngoài
- Tốc độ phát triển công nghiệp và đô thị hóa; ô nhiễm môi trường nước,thiên tai lụt bão, hạn hán, biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn
Như vậy, với mô hình kinh tế chủ yếu phát triển theo chiều rộng, dựa vào khai thác tài nguyên, lao động, cộng với những thời cơ và thách thức mà kinh tế Thanh Hóa đang phải đối mặt thì để đạt được mục tiêu quy hoạch đến năm 2020, Thanh Hoá cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp, đồng thời là một trong những trung tâm kinh tế, giáo dục - đào tạo, y tế, thể dục - thể thao, khoa học - kỹ thuật của vùng Bắc Trung Bộ và cả nước; việc nghiên cứu tái
cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng hay nói cách khác
là phải thay đổi cơ cấu các ngành kinh tế, cơ cấu đầu tư, cơ cấu kinh tế vùng
cả về số lượng lẫn chất lượng là tất yếu khách quan
Phần thứ ba
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP
TÁI CƠ CẤU KINH TẾ GẮN VỚI CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG
TRƯỞNG TỈNH THANH HÓA ĐẾN NĂM 2020,
ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2025