1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của pH đến độc tính của Niken lên cá Sọc Ngựa trên mẫu nước sông Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)

88 321 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của pH đến độc tính của Niken lên cá Sọc Ngựa trên mẫu nước sông Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của pH đến độc tính của Niken lên cá Sọc Ngựa trên mẫu nước sông Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của pH đến độc tính của Niken lên cá Sọc Ngựa trên mẫu nước sông Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của pH đến độc tính của Niken lên cá Sọc Ngựa trên mẫu nước sông Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của pH đến độc tính của Niken lên cá Sọc Ngựa trên mẫu nước sông Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của pH đến độc tính của Niken lên cá Sọc Ngựa trên mẫu nước sông Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của pH đến độc tính của Niken lên cá Sọc Ngựa trên mẫu nước sông Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của pH đến độc tính của Niken lên cá Sọc Ngựa trên mẫu nước sông Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI



LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA pH ĐẾN ĐỘC TÍNH CỦA NIKEN LÊN CÁ SỌC NGỰA

TRÊN MẪU NƯỚC SÔNG ĐỒNG NAI

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

DIỆP ANH LINH

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 2

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI



LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA pH ĐẾN ĐỘC TÍNH CỦA NIKEN LÊN CÁ SỌC NGỰA

TRÊN MẪU NƯỚC SÔNG ĐỒNG NAI

DIỆP ANH LINH

CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THÀNH ĐỒNG

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 3

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Cán bộ hướng dẫn chính: TS Nguyễn Thành Đồng

Cán bộ chấm phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thảo

Cán bộ chấm phản biện 2: TS Trần Quốc Trọng

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:

HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Ngày 05 tháng 01 năm 2018

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn là thành quả từ sự nỗ lực nghiên cứu của bản thân dựa trên cơ sở thực

tế và thực hiện theo hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn, không sao chép theo bất kì tài liệu nào

Mọi sự tham khảo được sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn và ghi tên tài liệu, tác giả tại mục tài liệu tham khảo

Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế của nhà trường, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Học viên

Diệp Anh Linh

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Đề tài luận văn “Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của pH đến độc tính của

Niken lên cá Sọc Ngựa trên mẫu nước sông Đồng Nai ” được hoàn thành tại Đại học

Tài nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh Trong quá trình thực hiện, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, học viên thực hiện luận văn đã nhận được sự chỉ bảo, giúp

đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè

Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời tri ân tới Tiến sĩ Nguyễn Thành Đồng, Cán bộ Viện Công Nghệ MT– Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn tới Ban lãnh đạo Khoa môi trường cùng toàn thể các thầy cô giáo, tới cán bộ phòng thí nghiệm trường đại học Tài nguyên và Môi trường

TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho em thực hiện thí nghiệm cho đề tài này Và em cũng xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đến thầy các thầy cô giáo Khoa Môi trường - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tạo cơ hội cho em thực hiện và hoàn thành đề tài

Em xin chân thành cảm ơn Th.s Mai Quang Tuấn và ban Lãnh đạo Trung tâm

Tư vấn và Công nghệ Môi trường đã tạo điều kiện tham gia một nhánh của đề tài cấp

bộ số 2015.04.23 (2015 – 2017) củng như hỗ trợ kinh phí thực hiện đề tài

Cuối cùng, em gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn Phùng Công Hưng, Đỗ Văn Phương đã giúp đỡ em trong quá trình đi lấy mẫu, phân tích mẫu và đã có những ý kiến đóng góp cho em hoàn thiện đề tài và tấm lòng của những người thân yêu trong gia đình, bố mẹ luôn động viên, cổ vũ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong quá trình học tập!

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

DANH MỤC HÌNH vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 4

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 8

1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 10

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên sông Đồng Nai 10

1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 12

1.3 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu 15

1.3.1 Tổng quan về sinh vật chỉ thị cá Sọc Ngựa 15

1.3.2 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu Niken 17

1.3.3 Tổng quan về phần mềm Cetis 21

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Phạm vi nghiên cứu 25

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.4 Thực nghiệm 26

2.4.1 Đánh giá chất lượng nước sông Đồng Nai 26

2.4.2 Thí nghiệm trên cá sọc ngựa ở các mức Ni khác nhau tại phòng thí nghiệm 30

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Kết quả phân tích mẫu nước mặt sông Đồng Nai 38

3.1.1 Kết quả phân tích mẫu nước sông Đồng Nai 2015 - 2016 38

Trang 7

3.1.2 Kết quả mẫu nước sông Đồng Nai tại 5 vị trí 40

3.2 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của pH lên độc tính của Niken đến cá Sọc Ngựa trên mẫu nước sông Đồng Nai 44

3.2.1 Đánh giá ảnh hưởng của pH đến độc tính của Niken lên cá Sọc Ngựa trên mẫu nước sông Đồng Nai vị trí Nam Cát Tiên sau 48h 48

3.2.2 Đánh giá ảnh hưởng của pH đến độc tính của Niken lên cá Sọc Ngựa trên mẫu nước sông Đồng Nai vị trí Nam Cát Tiên sau 96h 53

3.3 Kết quả xác định LC50 của Niken trên cá Sọc Ngựa 59

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 62

1 Kết luận 62

2 Kiến nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Quy trình đề xuất ngưỡng độc tính cấp ở Mỹ [22] 5

Hình 1.2 Chỉ tiêu đồng năm 1986 và 2007 của USEPA [23] 6

Hình 1.3 PNEC của Đồng theo DOC ở các mức pH khác nhau 7

Hình 1.4 Lưu vực sông Đồng Nai 11

Hình 1.5: Cá sọc Ngựa 15

Hình 3.1 Biểu đồ hàm lượng DOC ở 20 điểm khảo sát 38

Hình 3.2 Biểu đồ hàm lượng độ cứng ở 20 điểm khảo sát 38

Hình 3.3 Biểu đồ hàm lượng độ kiềm ở 20 điểm khảo sát 39

Hình 3.4 Biều đồ pH ở 20 điểm khảo sát 39

Hình 3.5 Biều đồ hàm lượng Ni ở 20 điểm khảo sát 40

Hình 3.6 Biểu đồ diễn biến pH tại vị trí N1 41

Hình 3.7 Biểu đồ diễn biến pH tại vị trí N2 41

Hình 3.8 Biểu đồ diễn biến pH tại vị trí N3 41

Hình 3.9 Biểu đồ diễn biến pH tại vị trí N4 41

Hình 3.10 Biểu đồ diễn biến pH tại vị trí N5 41

Hình 3.11 Biểu đồ diễn biến hàm lượng Ni tại vị trí N1 42

Hình 3.12 Biểu đồ diễn biến hàm lượng Ni tại vị trí N2 42

Hình 3.13 Biểu đồ diễn biến hàm lượng Ni tại vị trí N3 42

Hình 3.14 Biểu đồ diễn biến hàm lượng Ni tại vị trí N4 42

Hình 3.15 Biểu đồ diễn biến hàm lượng Ni tại vị trí N5 42

Hình 3.16: Tỷ lệ cá chết tại mức pH = 7,0 sau 48h 48

Hình 3.17: Tỷ lệ cá chết tại mức pH = 6,2 sau 48h 49

Hình 3.18: Tỷ lệ cá chết tại mức pH = 6,8 sau 48h 50

Hình 3.19: Tỷ lệ cá chết tại mức pH = 7,3 sau 48h 51

Hình 3.20: Tỷ lệ cá chết tại mức pH = 7,7 sau 48h 52

Hình 3.21: Tỷ lệ cá chết tại mức pH = 7,0 sau 96h 54

Hình 3.22: Tỷ lệ cá chết tại mức pH = 6,2 sau 96h 55

Hình 3.23: Tỷ lệ cá chết tại mức pH = 6,8 sau 96h 56

Hình 3.24: Tỷ lệ cá chết tại mức pH = 7,3 sau 96h 57

Hình 3.26: Tỷ lệ cá chết tại mức pH = 7,7 sau 96h 58

Hình 3.27: Diễn biến ảnh hưởng Niken ở pH = 7,3 59

Hình 3.28: Diễn biến ảnh hưởng Niken ở pH = 7,7 60

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.2 Độ độc của Đồng có ở các mức pH khác nhau 8

Bảng 2.1 Tọa độ và ký hiệu các vị trí lấy mẫu 27

Bảng 3.1 Tỉ lệ cá sống sau 48h thí nghiệm trên 05mẫu nước sông Đồng Nai 43

Bảng 3.2 Chất lượng nước sông Đồng Nai thử nghiệm 44

Bảng 3.3 Kết quả theo dõi tỉ lệ cá sống ở mẫu nước N5 ở các giá trị pH khác nhau 45

Bảng 3.4 Tỷ lệ cá chết tại mức pH = 7,0 (mẫu nước sông) sau 48h 48

Bảng 3.5 Tỷ lệ cá chết tại mức pH = 6,2 sau 48h 49

Bảng 3.6 Tỷ lệ cá chết tại mức pH = 6,8 sau 48h 50

Bảng 3.7 Tỷ lệ cá chết tại pH = 7,3 sau 48h 51

Bảng 3.8 Tỷ lệ cá chết tại pH = 7,7 sau 48h 52

Bảng 3.9 Tỷ lệ cá chết tại pH = 7,0 (mẫu nước sông), sau 96h 54

Bảng 3.10 Tỷ lệ cá chết tại pH = 6,2 sau 96h 55

Bảng 3.11 Tỷ lệ cá chết tại pH = 6,8 sau 96h 56

Bảng 3.12 Tỷ lệ cá chết tại pH = 7,3 sau 96h 57

Bảng 3.13 Tỷ lệ cá chết tại pH = 7,7, sau 96h 58

Bảng 3.14 Kết quả xác định LC50 của Ni trên các sọc ngựa tại các giá trị pH khác nhau 60

Trang 10

DANH MỤC VIẾT TẮT

BLM : Mô hình phối tử sinh học

OECD 202 : Quy trình thực nghiệm chuẩn

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc, trong đó có 13 hệ thống sông lớn có diện tích trên 10.000 km2 Tài nguyên nước mặt nước ta tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới Tuy nhiên, nguồn nước mặt ở Việt Nam hiện đang đối mặt với nhiều thách thức, trong đó đáng lo ngại nhất là tình trạng suy kiệt và ô nhiễm trên diện rộng Tại khu vực phía Nam, hệ thống sông Đồng Nai là một trong những hệ thống sông lớn Lưu vực sông có diện tích khá rộng (37.885km2) và chảy qua nhiều địa phương Toàn lưu vực hệ thống sông Đồng Nai hàng ngày phải tiếp nhận trên 4.500 điểm xả từ nhiều nguồn nước thải công nghiệp, khai thác khoáng sản, làng nghề, nước sinh hoạt, nông nghiệp, y tế, chăn nuôi… Trên lưu vực có hơn 10.100 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đưa ra sông mỗi ngày hơn 480.000 m3, trong đó có nước thải xả ra từ các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Đồng Nai, TP.HCM, Bình Dương đổ vào khu vực trung lưu và hạ lưu của sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Thị Vải [3,5]

Tình trạng ô nhiễm nguồn nước sông Đồng Nai đang ở mức báo động, trung bình mỗi tháng có khoảng trên dưới 30 tấn chất thải gây ô nhiễm như dầu mỡ, chất thải hữu cơ, kim loại nặng đổ ra sông này Bên cạnh những nguồn nước thải từ khu công nghiệp, nước thải sinh hoạt từ các khu đô thị cũng đang đe dọa trực tiếp cuộc sống của người dân nơi đây [3,5]

Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trung bình mỗi năm con người thải vào môi trường Trái Đất khoảng 1 triệu tấn Niken, trong đó có một lượng không nhỏ đi vào môi trường nước ở các lưu vực sông, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống động thực vật thủy sinh Niken có độc tính cao với cá, nồng độ niken trên 0,03 mg/l gây tác hại cho các cơ thể sống bậc thấp trong nước Lưu vực sông Đồng Nai có rất nhiều khu vực nuôi trồng thủy sản của người dân, do đó việc ô nhiễm Niken sẽ gây ảnh hưởng lớn đến việc nuôi trồng thủy sản, ảnh hưởng đến kinh tế của người dân trên lưu vực sông [7]

Các ảnh hưởng của kim loại và muối kim loại lên các loài động vật đã cho thấy là có tương quan với nồng độ của ion tự do của kim loại đó trong môi trường Nồng độ ion tự do phụ thuộc vào độ tan của kim loại và khả năng hình

Trang 12

thành phức với các ligand hữu cơ và vô cơ Do đó ảnh hưởng của niken trong các thử nghiệm độc học bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như hợp chất niken sử dụng (NiCl2, NiSO4, Ni(NO3)2, v.v ), môi trường dùng, pH, độ cứng nước, nhiệt độ, v.v tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến độ tan [8]

Trên thế giới đã có rất nhiều mô hình đánh giá về ảnh hưởng độc tính của kim loại nặng đối với sinh vật có trong môi trường nước Tuy nhiên, sau một quá trình phát triển, từ kết quả thu được từ phòng thí nghiệm và thực tế thì mô hình phối tử sinh học (BLM) đã chứng minh được tính ưu việt về độ chính xác, thời gian và tính kinh tế trong việc đánh giá độc tính của kim loại nặng trong môi trường nước [7]

Để xác định ngưỡng độc của các kim loại nặng trong nước mặt, theo phương pháp truyền thống, thì người ta dựa vào kết quả LC50 có được từ thực nghiệm của kim loại nặng trên sinh vật chỉ thị

Cá sọc ngựa được coi là một sinh vật chỉ thị liên quan mật thiết tới môi trường Các tập quán, đặc điểm sinh, lý, hoá của cá sọc ngựa đều liên quan đến môi trường Điều đó giúp con người đánh giá hiện trạng môi trường, dự đoán sự thay đổi của môi trường và hoạch định các chiến lược bảo vệ môi trường

Vì các lí do trên nên tôi chọn “Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của

pH đến độc tính của Niken lên cá sọc ngựa trên mẫu nước sông Đồng Nai”

để đưa ra số liệu nghiên cứu về ngưỡng độc của Niken trên mẫu nước sông Đồng Nai

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá ảnh hưởng của pH đến độ độc của Niken lên cá Sọc Ngựa trong môi trường nước sông Đồng Nai tại phòng thí nghiệm

- Nghiên cứu xác định nồng độ gây chết LC50 của Niken đến cá Sọc Ngựa trong môi trường nước sông Đồng Nai

3 Nội dung nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập trung thực hiện các nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:

Trang 13

Nội dung 1: Thu thập số liệu có liên quan về chất lượng nước sông Đồng Nai

- Lấy mẫu, phân tích mẫu nước sông Đồng Nai (20 vị trí x 16 thông số

x 2 đợt)

- Đánh giá, lựa chọn 5 vị trí lấy mẫu nước đặc trưng trên sông Đồng Nai

có tính chất lý hóa tương đối ổn định và phù hợp với điều kiện thí nghiệm

- Tiến hành lấy mẫu, phân tích nước sông Đồng Nai tại 5 địa điểm đã được lựa chọn

- Đánh giá, lựa chọn 01 vị trí mẫu nước đặc trưng trên sông Đồng Nai

có kết quả tốt nhất, ổn định, phục vụ cho việc đánh giá độc tính kim loại nặng rồi tiến hành làm thí nghiệm

Nội dung 2: Tiến hành làm thí nghiệm đối với cá sọc ngựa ở các mức Niken thay đổi

- Xây dựng quy trình nuôi cá và cho cá đẻ trong phòng thí nghiệm;

- Thí nghiệm trên mẫu thực cá sọc ngựa với nền là 5 mẫu nước sông Đồng Nai;

- Xây dựng quy trình thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của pH lên độc tính của Niken cá sọc ngựa

Nội dung 3: Xác định LC50 của Niken lên các Sọc Ngựa

- Xác định ngưỡng độc LC 50 của Niken lên cá Sọc Ngựa dựa trên các

dữ liệu về tỷ lệ sống sót sẽ được phân tích và thống kê

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới

a Ở Mỹ

Vào năm 1980, Cục bảo vệ môi trường Mỹ đã bắt đầu xây dựng WQC, cơ quan này đã công nhận rằng độc tính của kim loại phụ thuộc vào sự tương tác với các chất khác có mặt trong nước Các thí nghiệm về độc tính đã được Cục bảo vệ môi trường Mỹ chấp nhận sử dụng trong việc xây dựng lên WQC, các thí nghiệm phải được tiến hành với các muối kim loại hòa tan và trong nước tương đối sạch để giảm thiểu sự liên kết của kim loại

Tháng 05 năm 1995, hội đồng khoa học của Mỹ đã công nhận rằng tiêu chuẩn kim loại cho nước xung quanh nên được dựa trên kim loại tương tác sinh học chứ không phải tổng nồng kim loại trong môi trường nước Điều này cung cấp một chuẩn mực mới trong việc xây dựng tiêu chuẩn cho các kim loại có trong môi trường nước, điều đó liên quan chặt chẽ đến các điều kiện thí nghiệm mà WQC dựa vào

Tiếp theo phương pháp dựa vào độ cứng của nước, Cục bảo vệ môi trường

Mỹ sử dụng một phương pháp khác đó là phương pháp Hệ số ảnh hưởng của

nước (WER) Hệ số ảnh hưởng này dựa trên những ảnh hưởng của môi trường

nước thực tế trên môi trường nước thí nghiệm với giá trị LC50

Ngưỡng nồng độ độc ở mẫu nước pha trong thí nghiệm

WER = LC50SITE/LC50LAB

WQCSITE = WER X WQC Tuy nhiên, việc xác định WER liên quan đến một số lượng thí nghiệm tương đối lớn, và nó chỉ được sử dụng trong các trường hợp đặc biệt Tuy nhiên, khi được áp dụng vào thực tế, thì việc sử dụng WER để thiết lập WQC cho những khu vực cụ thể là không khả thi

Cục bảo vệ môi trường Mỹ xem các mô hình độc học như là một giải pháp thích hợp cho các vấn đề liên quan đến việc đánh giá WQC đối với kim loại Các mô hình độc học đã kế thừa những vấn đề nhất định từ khi bình thường hóa

độ cứng thực nghiệm và các phương pháp WER Tuy nhiên, các kết quả kiểm tra

Trang 15

từ cấp tính để áp dụng cho các WQC mãn tính vẫn cần thông qua một tỷ lệ mãn tính cấp tính

Hình 1.1 Quy trình đề xuất ngưỡng độc tính cấp ở Mỹ [22]

Mẫu nước thí nghiệm chuẩn

Mẫu nước thí nghiệm chuẩn

Các tính toán biệt hóa cho BLM (Các thông số để thiết lập cho Cu-BLM)

Các tính toán độc tính cho BLM

Các tính toán biệt hóa choBLM

Tính toán độc tính cho BLM

Giả định: LA50 không thay đổi

với tính chất hóa học của nước

Thực hiện một lần hiệu chỉnh

Thực hiện cho từng khu vực riêng biệt

Trang 16

Năm 2007, cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (US EPA) đã hướng dẫn việc áp dụng mô hình độc học BLM để tính toán đề ra tiêu chuẩn của Đồng trong môi trường nước mặt, cho từng khu vực có đặc điểm nước mặt khác nhau ở Mỹ Căn cứ vào kết quả từ mô hình các bang của Mỹ sẽ đề ra tiêu chuẩn về hàm lượng kim loại nặng Đồng trong nước ngọt đối với từng khu vực sông đặc trưng của mình [22,23]

Hình 1.2 Chỉ tiêu đồng năm 1986 và 2007 của USEPA [23]

USEPA khuyến khích các cơ quan, tổ chức ứng dụng mô hình độc học

để tính toán đưa ra ngưỡng nồng độ độc hại của kim loại nặng có trong nước ngọt Mô hình BLM mà UESPA dùng để tính toán, dựa trên các thông số hóa học của nước Thông số này gồm có: nhiệt độ, pH, DOC, ion kim loại

có ảnh hưởng lớn (Ca, Mg, Na, K), ion phi kim có ảnh hưởng lớn (SO42-,

Cl-), kiềm (CO32-, H2CO3, HCO3-) và sufit

b Châu Âu và các quốc gia khác

Tiếp theo Mỹ là các nước thuộc liên minh Châu Âu, Canada, Nhật Bản, Thái Lan cũng đã và đang nghiên cứu áp dụng mô hình độc học để đánh giá ngưỡng hàm lượng độc hại của kim loại nặng (Cu, Zn, Ni ) trong môi

Trang 17

trường nước mặt ở những lưu vực khác nhau về đặc điểm nguồn nước, để từ

đó đề ra các tiêu chuẩn về hàm lượng kim loại nặng đối với từng khu vực khác nhau Các mô hình độc học được sử dụng rất nhiều ở Châu Âu

Châu Âu đã nghiên cứu độc tính của kim loại trong môi trường thông qua các phương pháp đánh giá rủi ro, trừ một số kim loại được phân loại là chất độc hại Các hướng dẫn kỹ thuật để thực hiện đánh giá độc tính của kim loại trong môi trường nước, đã được Ủy ban châu Âu thông qua và công bố trong các tài liệu kỹ thuật về thí nghiệm với sinh vật chỉ thị vào năm 1996

Các căn cứ khoa học cũng như pháp lý đã công nhận rằng, việc đánh giá chính xác các phần kim loại tương tác sinh học là rất quan trọng, trong việc đánh giá độc tính của kim loại Ảnh hưởng của kim loại, thì chủ yếu căn cứ vào lượng các kim loại hòa tan có tính khả dụng sinh học [7,21]

Hình 1.3 PNEC của Đồng theo DOC ở các mức pH khác nhau

Dữ liệu độc tính sinh thái đã được thu thập theo những thái cực của điều kiện pH bao gồm các thí nghiệm với tảo ở pH thấp và thí nghiệm trên động vật không xương sống ở pH cao Những thí nghiệm này pH từ 5,5 đến 9

Trang 18

Ceriodaphnia

Belanger và Cherry,

1990

Các mô hình độc học đã được phát triển để tính toán ngưỡng độc hại của kim loại trong môi trường nước và khả năng gây ảnh hưởng trong các sinh vật sống Chúng được phát triển ban đầu được dự đoán (ngắn hạn) độc tính cấp tính đối với cá, nhưng gần đây đã được điều chỉnh để dự đoán tác động lâu dài đến

sự phát triển và sinh sản cho sinh vật dưới của nhiều bậc dinh dưỡng khác nhau Các quốc gia khác như Nhật, Australia, Thái Lan cũng đang có các nghiên cứu, áp dụng mô hình độc học để đưa ra các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hay các khuyến cáo về ngưỡng nồng độ kim loại nặng vào điều kiện môi trường cụ thể ở quốc gia mình

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Tháng 3 năm 2013, tại hội thảo quốc tế về ứng dụng mô hình BLM đánh giá độc tính kim loại nặng trong môi trường nước, tổ chức tại Hà Nội, đại diện các cơ quan nghiên cứu, quản lý môi trường trong và ngoài nước đến thống nhất tính khoa học và sự cần thiết nghiên cứu, ứng dụng mô hình BLM trong quản lý môi trường nước tại Việt Nam

Ngày 15/04/2014 Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam Nguyễn Minh Quang tiếp bà Gina McCarthy – Giám đốc Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang đã đề nghị Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ hợp tác, tạo điều kiện cho phía Việt Nam triển khai áp dụng mô hình độc học BLM

Trang 19

Hiện nay, các mô hình độc học được giới thiệu tại một số cuộc hội thảo

ở Việt Nam nhưng chưa được vào nghiên cứu và ứng dụng chính thức ở Việt Nam [7]

Tháng 3/2017 tại Quy Nhơn Bộ khoa học Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hội gặp gỡ Việt Nam, UBND tỉnh Bình Định tổ chức “Hội thảo Quốc tế lần thứ 3 về ô nhiễm môi trường, biện pháp phục hồi và quản lý” ngoài đưa ra các vấn đề về quản lý và phục hồi Hội thảo củng là các công bố về nghiên cứu khoa học về độc học của các nhà khoa học Việt Nam và Quốc tế Đặc biệt là các chuỗi nghiên cứu BLM tại sông Mekong của các nhà khoa học Tham Hoang - Loyola University Chicago; Khiet Bui - Vietnam National University Ho Chi Minh, Lan Chi Do - Vietnam National University Ho Chi Minh; Son Dao - Vietnam National University Ho Chi Minh; Chuleemas Boonthai IWAI - Integrated Water Resource Management Research and Development Center in Northeast Thailand Khon Kaen University, Thailand; Robert Santore - Windward Environmental, LLC, U.S.A [6,7]

Việc xác định ngưỡng độc của các kim loại nặng ở Việt Nam hiện nay vẫn theo phương pháp truyền thống là xác định LC50 thông qua các thí nghiệm đối với từng đối tượng cụ thể Tuy kết quả thu được từ thực nghiệm

có độ chính xác cao và áp dụng được với mọi đối tượng khác nhau, nhưng điều này đòi hỏi rất nhiều thời gian, cũng như chi phí

Theo kinh nghiệm của Mỹ, Châu Âu và khuyến cáo của tổ chức môi trường liên hợp quốc về việc xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn đều phải dựa vào tác động của các yếu tố đến sinh vật, đến con người và môi trường Việc này cần phải có thời gian và rất nhiều kinh phí Việc áp dụng mô hình độc học hay các mô hình tính toán ngưỡng độc LC50 sẽ giúp cho việc rút ngắn thời gian và tích kiệm chi phí hơn so với những phương pháp truyền thống

về đánh giá ngưỡng độc của kim loại nặng

Hiện nay, với sự đầu tư của đảng, nhà nước, đã có rất nhiều phòng thí nghiệm ở Việt Nam đã được đầu tư những trang thiết bị máy móc hiện đại, với độ chính xác cao Việc phân tích chất lượng nước mặt, bởi những trang thiết bị trên cho độ chính xác cao, điều này rất thuận lợi cho việc nghiên cứu, ứng dụng mô hình để đánh giá ngưỡng độc của kim loại nặng

Trang 20

Việc nghiên cứu này sẽ là tiền đề để phát triển mô hình độc học đánh giá ngưỡng độc của Niken đối với nhiều sinh vật bản địa khác, cũng như ảnh hưởng của các kim loại nặng khác đến sinh vật bản địa trên các vùng khí hậu khác nhau Để từ đó giúp các nhà quản lý, nhà khoa học có căn cứ hoạch định những chính sách về kim loại nặng trong nước mặt ở từng vùng cho phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam [6,7]

Để ứng dụng, phát triển được mô hình về độc học phù hợp với điều kiện môi trường nước mặt ở Việt Nam thì ta cần phải xác định các thông số của nước mặt qua thực nghiệm cụ thể sau:

Nhóm thông số vật lý, hóa học của nước mặt đặc trưng ở sông ngòi Việt Nam

- Nhiệt độ, pH

- DOC (cacbon hữu cơ hòa tan)

- Các ion có ảnh hưởng lớn đến độc tính của kim loại nặng:

+ Cation: Ca, Mg, K, Na

+ Anion: SO42-, Cl-

+ Kiềm tổng

1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên sông Đồng Nai

a Vị trí địa lý

Lưu vực sông Đồng Nai là một trong những lưu vực sông lớn của Việt nam Lưu vực này trải dài qua qua các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích lưu vực 38.600 km²

Sông Đồng Nai ở thượng nguồn còn gọi là sông Đa Dâng Sông xuất phát

từ cao nguyên Lâm Viên, uốn khúc theo chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam vượt khỏi miền núi ra đến bình nguyên ở Tà Lài (huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai) Sông Đồng Nai tính từ đầu nguồn sông Đa Dâng thì dài 586 km còn nếu tính từ điểm hợp lưu với sông Đa Nhim phía dưới thác Pongour thì dài 487 km Sông Đồng Nai đổ vào biển Đông tại khu vực huyện Cần Giờ

Sau khi gặp sông Bé, sông Đồng Nai thành ranh giới tự nhiên giữa Đồng Nai (Vĩnh Cửu) ở tả ngạn - phía đông và Bình Dương (Tân Uyên) ở hữu ngạn -

Trang 21

phía tây Đến thị trấn Uyên Hưng huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương thì sông Đồng Nai chảy theo hướng Bắc - Nam ôm lấy cù lao Tân Uyên và Cù Lao Phố Sông Đồng Nai chảy qua thành phố Biên Hòa, rồi chảy dọc theo ranh giới giữa Đồng Nai (Long Thành, Nhơn Trạch) và thành phố Hồ Chí Minh (quận

9, Nhà Bè, Cần Giờ), giữa Bà Rịa - Vũng Tàu (Tân Thành) và Thành phố Hồ Chí Minh (Cần Giờ) Dòng chính sông Đồng Nai ở hạ lưu, đoạn từ chỗ sông Sài Gòn hợp lưu đến chỗ phân lưu thành Soài Rạp và Lòng Tàu, thường gọi là sông Nhà Bè [3,5]

Hình 1.4 Lưu vực sông Đồng Nai

b Chế độ thủy văn

Sông Đồng Nai có lượng nước phong phú, do lưu vực sông nằm ở sườn đón gió mùa Tây – Nam, đồng thời chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông - Bắc, nên lượng mưa ở đây khá lớn có thể tới 2.300mm/năm và mùa mưa kéo dài 6-7 tháng trong năm từ tháng từ tháng 9 – 10 dương lịch Lưu lượng nước trên sông Đồng Nai mỗi năm đổ ra biển (không kể đến sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ) khoảng 22 tỉ m3 nước/năm Sông Đồng Nai có chế độ nước chảy khá đơn giản, trong mùa mưa thường có dạng hai đỉnh Trong năm thủy văn chỉ có một mùa lũ

và một mùa cạn kế tiếp nhau Ngoài mùa lũ chính thức còn có mùa lũ tiểu mãn ngắn, đặc điểm này này do tác động điều tiết tự nhiên của lưu vực, nhất là vai trò của lớp thổ nhưỡng dày Cũng do tác động điều tiết của tự nhiên nên cường độ

Trang 22

lũ trên sông Đồng Nai không lớn: lượng nước mùa lũ trung bình khoảng 68% tổng lượng nước cả năm

Thời gian lũ của Sông Đồng Nai bắt đầu khá muộn so với mùa mưa Một số nơi có mùa lũ xảy ra trong các tháng 8- 10 dương lịch, thường thì lũ xảy ra chậm hơn mùa mưa khoảng 2-4 tháng, tháng đỉnh lũ thường xảy ra ở tháng 8-9 và đây cũng là tháng có lượng mưa tập trung lớn nhất [3,5]

1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

a, Đặc điểm kinh tế

Lưu vực sông Đồng Nai là vùng có tiềm năng phát triển kinh tế to lớn của đất nước Số liệu thống kê cho thấy, lưu vực hệ thống sông Đồng Nai đã đóng góp khoảng hơn 63% GDP công nghiệp, 41% GDP dịch vụ và 28% GDP nông nghiệp của cả nước Ngoài ra, đây là vùng có nhiều tỉnh thành có đóng góp cho ngân sách quốc gia nhất cả nước (TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Dương) Điều này một lần nữa khẳng định rằng tiềm năng phát triển kinh tế của lưu vực sông Đồng Nai có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế chung của quốc gia

Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai có tiềm năng đất đai phong phú, có khả năng phát triển nhiều loại cây công nghiệp, nông nghiệp có giá trị xuất khẩu cao như cao su, cà phê, tiêu, điều, cây ăn quả,… và có thể hình thành các vùng chuyên canh nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến

Tiềm năng rừng trên lưu vực cũng rất lớn, song do việc mở rộng diện tích canh tác và khai thác bừa bãi, đặc biệt trong những thập niên 80, 90, nên diện tích rừng bị thu hẹp đáng kể Tính đến năm 2005, rừng trên lưu vực Đồng Nai chỉ chiếm khoảng 35,5% tổng diện tích tự nhiên Ngoài rừng tự nhiên, rừng trồng cũng có diện tích lớn chủ yếu là các loại cây lâm nghiệp làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu có giá trị Nhìn chung, rừng trên lưu vực bị tàn phá nặng nề, nhiều nơi chỉ còn đồi trọc, nên một số nơi tình trạng môi trường bị xuống cấp nghiêm trọng và hậu quả là đất bị xói mòn rửa trôi, đặc biệt

để xảy ra lũ quét ảnh hưởng đến tính mạng và tài sản của người dân

Sông Đồng Nai là nguồn cung cấp nước chính cho phát triển nông nghiệp trong lưu vực và các vùng liên quan với tổng diện tích cần tưới khoảng 1,85

Trang 23

triệu ha Đây còn là nguồn cung cấp nước chính cho phát triển công nghiệp và dân sinh với tổng lượng khoảng hơn 2 triệu m3/ngày Các nhu cầu nước này sẽ còn tăng lên nhiều trong tương lai

Các sông suối thuộc hệ thống sông Đồng Nai có tiềm năng phát triển thuỷ điện to lớn Tổng lượng điện cung cấp cho khu vực hơn 5.000 GWh/năm Hiện tại cũng như tương lai hệ thống thuỷ điện trên lưu vực là nguồn cung cấp năng lượng lớn cho khu vực

Hạ lưu Đồng Nai-Sài Gòn có mạng lưới giao thông thuỷ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của vùng nối liền với vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng như khu vực và quốc tế Ngoài ra, hệ thống sông Đồng Nai, đặc biệt là vùng hạ lưu cùng với hệ thống các hồ chứa lớn, vừa và nhỏ trong lưu vực có tiềm năng lớn để phát triển thuỷ sản nội địa…[3,5]

b, Đặc điểm xã hội

Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai là một lưu vực sông “nội địa” có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội khu vực phía Nam nói riêng trong

đó có vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và kinh tế quốc gia nói chung Các vấn

đề liên quan đến phát triển, quản lý tài nguyên nước trong lưu vực sông đang ngày càng trở nên nóng bỏng, Lưu vực sông Đồng Nai nằm trên vùng đất liên quan đến các tỉnh Đắc Nông, Lâm Đồng, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, TP Hồ Chí Minh và một phần thuộc các tỉnh Bình Thuận, Long An với tổng diện tích lưu vực khoảng 43.681,78 km2 (diện tích thuộc lãnh thổ Việt Nam là 36.481,21 km2) và có dân số tính đến năm 2005 khoảng 13.702.397 người, trong đó thành thị 7.263.826 người chiếm 53% và nông thôn 6.438.552 người chiếm 47% tổng dân số Đây là vùng có tốc độ đô thị hoá nhanh và dân số thành thị chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều so với trung bình của cả nước Xét về mặt sử dụng nước, vùng ven biển bao gồm các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa Vũng Tàu luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nguồn nước ở lưu vực sông này, đặc biệt là các công trình chuyển nước đã, đang và dự kiến xây dựng, do đó khi nghiên cứu tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai cần phải xem xét đến cả khu vực ven biển bao gồm các lưu vực sông nhỏ có liên quan đến nguồn nước ở trên phạm vi của 11 tỉnh thành

Trang 24

Chính vì vậy, tình trạng ô nhiễm nguồn nước sông Đồng Nai đang ở mức báo động, trung bình mỗi tháng có khoảng trên dưới 30 tấn chất thải gây ô nhiễm như dầu mỡ, chất thải hữu cơ, kim loại nặng đổ ra sông này Bên cạnh những nguồn nước thải từ khu công nghiệp, nước thải sinh hoạt từ các khu đô thị cũng đang đe dọa trực tiếp cuộc sống của người [3,5]

Có thể kể ra một số ví dụ điển hình về ô nhiễm môi trường được phát hiện trên lưu vực sông Đồng Nai

- Giữa tháng 3.2009, Sở TN-MT tỉnh Đồng Nai qua kiểm tra đã phát hiện chất độc xyanua tại suối Siệp chảy ra sông Đồng Nai Kết quả phân tích nguồn nước suối Siệp cho thấy hàng loạt kim loại nặng như niken vượt 2,4 lần, sắt vượt 2,4 lần, phát hiện nhiều dầu mỡ loang

- Đầu tháng 6.2010, Sở TN-MT Đồng Nai xác định 2 vị trí có dấu hiệu của việc gây ra ô nhiễm là khu vực tiếp nước thải từ Nhà máy giấy Tân Mai và khu vực bến đò An Hảo - nơi tiếp nhận nước thải từ các công ty trong KCN Biên Hòa

- Đầu tháng 8.2011, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C49) Bộ Công an bắt quả tang Nhà máy xử lý nước thải tập trung Sonadezi (KCN Long Thành, Đồng Nai) đang xả nước thải không đạt tiêu chuẩn ra rạch Bà Chèo đổ ra sông Đồng Nai [3,4]

Tóm tại, lưu vực sông Đồng Nai là một vùng rộng lớn, giàu tiềm năng phát triển kinh tế, liên quan đến nhiều tỉnh, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của miền Đông Nam bộ, khu vực phía Nam nói riêng và cả nước nói chung Đây là lưu vực có vùng kinh tế trọng điểm phía Nam- là đầu tàu, cầu nối của các vùng kinh tế- có quy mô và tốc độ phát triển kinh tế-xã hội mạnh nhất cả nước Sự phát triển mạnh của khu vực đặc biệt là công nghiệp và

đô thị đã kéo theo các hệ quả về nhu cầu sử dụng nước trong khu vực tăng nhanh, bên cạnh đó do việc kiểm soát xử lý về việc xả thải các chất thải thiếu kiểm soát đã làm cho môi trường khu vực, đặc biệt là môi trường nước đang ở trong tình trạng báo động

Trang 25

1.3 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu

1.3.1 Tổng quan về sinh vật chỉ thị cá Sọc Ngựa

Sinh vật chỉ thị là những đối tượng sinh vật có yêu cầu nhất định về điều kiện sinh thái liên quan đến nhu cầu dinh dưỡng, hàm lượng oxy, cũng như khả năng chống chịu một hàm lượng nhất định các yếu tố độc hại trong môi trường sống và do đó, sự hiện diện của chúng biểu thị một tình trạng về điều kiện sinh thái của môi trường sống nằm trong giới hạn nhu cầu và khả năng chống chịu của dối tượng sinh vật đó

Sinh vật chỉ thị liên quan mật thiết tới môi trường Các tập quán, đặc điểm sinh, lý, hoá của sinh vật chỉ thị đều liên quan đến môi trường, đặc điểm đó của sinh vật chỉ thị giúp con người đánh giá hiện trạng môi trường, dự đoán sự thay đổi của môi trường và hoạch định các chiến lược bảo vệ môi trường [1,6]

* Đặc điểm của cá sọc ngựa

Cá sọc ngựa (Zebrafihs) là loài cá nước ngọt nhiệt đới thuộc họ cá tuế Có

nguồn gốc ở khu vực Himalaya, nó là một loài cá cảnh phổ biến, thường được gọi là cá sọc ngựa, hay cá ngựa vằn Cá sọc ngựa là một loài sinh vật có xương sống quan trọng, nó được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học và là một trong những vật có xương sống đầu tiên được nhân bản vô tính (ếch được nhân bản vô tính thập kỷ trước đó)

Hình 1.5: Cá sọc Ngựa

Trang 26

Hiện nay nguồn cá sọc ngựa có thể có được từ các tiệm cá cảnh Chúng duy trì dễ dàng trong các bể các và giữ ở nhiệt độ khoảng 260C (nhiệt độ trên 31 và dưới 250C, cá sọc ngựa sẽ không sinh sản và dẫn đến phát triển bất bình thường) [7,12]

Đối với các sọc ngựa, con đực và con cái có thể phân biệt dễ dàng bằng mắt thường Con cái có bụng phồng lên khi mang trứng; con đực thon mảnh hơn, có vạch cam giữa các vạch xanh (đặc biệt là thấy rõ ở vây dưới bụng) Trọng lượng con cái xấp xỉ 0,65 ± 0,13g và con đực là 0,5 ± 0,1 g

có bất thường về hình thái (Bilotta, 2000) Tuy nhiên, chúng phục hồi trở lại bình thường nếu được nuôi dưới điều kiện ánh sáng bình thường (Bilotta, 2000) Mặt khác, giữ cá liên tục trong tối cũng trì hoãn sự phát triển của phôi, sự nở trứng không xảy ra kể cả sau 7 ngày thụ tinh (Bilotta, 2000) Quang kì 12 giờ sáng: 12 giờ tối là tương đối phù hợp cho loài này Cường độ sáng 100 – 1000 lux và nếu càn thì dùng hệ thống đèn huỳnh quan để chiếu sáng

Khi bắt đầu chu kì sáng, cá sọc ngựa sẽ bắt đầu tập tính sinh sản và kế quả là đẻ trứng và thụ tinh trứng Ở bể có phủ lớp sỏi dưới đáy, trứng sẽ nằm giữa các hạt sỏi và cá không thể ăn được Nếu như không có lớp sỏi thì cá sẽ ngay lập tức ăn trứng mới đẻ ra Bằng cách ăn trứng, cá đã tái chu kỳ protein ngay bên trong bể, điều này sẽ làm giảm thất thoát năng lượng do việc sản sinh trứng và tập tính sinh sản Bằng cách phủ lớp sỏi dưới đáy bể , nguồn protein từ trứng bị loại bỏ và việc thất thoát năng lượng trong bể là rất lớn, đó là lý do vì sao không nên phủ lớp sỏi trong bể nuôi nhiều hơn một lần một tuần Vào những ngày không cho các sinh sản, nên cho cá ăn nhiều lần trong ngày (thay vì cho ăn một lượng lớn thức ăn 1 lúc thì giảm bớt lượng lại, nhưng chia nhỏ số lần ra) với

Trang 27

thực phẩm giàu protein nhằm bù đắp sự thất thoát năng lượng Đôi khi chỉ cho

ăn thức ăn khô (dạng flake là không đủ, trong trường hợp này nên thường xuyên

bổ sung thức ăn tươi

Nên cho các ăn 30 phút trước khi phủ sỏi nhằm giúp cho cá có đủ thời gian tiêu thụ thức ăn Khi cá ngừng ăn, thì cần hút bỏ lượng thức ăn thừa và mảnh vụn bên dưới bể Cho sỏi vào bể vừa mới hút siphon bằng cách bỏ từ từ chúng vào nước và để lắng xuống đáy Bề mặt đáy bể phải được phủ kín sỏi hoàn toàn Cần cho sỏi vào từ từ nhằm tránh đụng vào cá Hoặc có thể dùng một bể mới, có chứa môi trường nuôi, cho sỏi vào bể này và bắt cá vào trong bể cho sinh sản

1.3.2 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu Niken

a, Đặc tính của niken

Trong bảng tuần hoàn nguyên tố hóa học, nguyên tố niken (Ni) nằm ở ô số

28, nhóm VIIIB, chu kỳ 4 Cấu hình electron của Ni: 3d8 4s2 Là kim loại màu trắng bạc, có ánh kim, dễ rèn, dễ dát mỏng và dễ đánh bóng Niken đơn chất có tính từ, bị nam châm hút như sắt, nhiệt độ nóng chảy cao (145oC) và nhiệt độ sôi cao (3185oC), là kim loại có hoạt tính hoá học trung bình

Theo tổ chức nông lương thế giới (FAO) nồng độ Ni tối đa cho phép trong nước tưới cho cây trồng là 200 µg L-1 Theo cơ quan bảo vệ môi trường của Hoa

Kỳ (U.S.EPA), tiêu chuẩn nước uống đối với Ni là 0.1 mg L-1 (APHA, 2012) Theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN: 08/2008/BTNMT, nồng độ cho phép của Ni trong môi trường nước mặt, kể cả nước loại A và loại B nồng độ tối

đa cho phép đều bằng 0,1 mg L-1 Theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN: 40/2011/BTNMT về nồng độ cho phép của Ni trong môi trường nước thải, nồng

độ tối đa cho phép đối với nước thải loại A là 0,2 mg L-1, nồng độ tối đa cho phép đối với nước thải loại B là 0,5 mg L-1 [4]

Nguồn phát sinh Niken được phân bố chủ yếu trong các khoáng vật và có mặt trong các tế bào động thực vật Nguồn niken lớn nhất do con người tạo ra là việc đốt cháy nhiên liệu và dầu ăn thừa, thải ra 26700 tấn Ni/năm trên toàn thế giới Niken tập trung trong khói thải của động cơ điezen là 500 ÷ 1000 mg/lít Niken có trong nước thải của một số nhà máy luyện kim và hoá chất có sử dụng niken, đặc biệt là trong nước thải của các cơ sở mạ điện và sản xuất thép Trong

Trang 28

tự nhiên cũng có các nguồn phát sinh niken như: hoạt động của núi lửa, cháy rừng, bụi sao băng [2,9]

b, Độc tính của Niken

Niken là kim loại có tính linh động cao trong môi trường nước, tích lũy trong cơ thể thực vật và một số loài thủy sinh Niken có khả năng hoạt hoá một số enzim trong cơ thể, độc tính của niken được thể hiện khi nó có thể thay thế các kim loại thiết yếu trong các enzim và gây ra sự đứt gãy các đường trao đổi chất trong cơ thể sinh vật và người Tiếp xúc lâu với niken có thể xuất hiện hiện tượng viêm da và dị ứng Khi vào trong cơ thể, niken tan vào máu, kết hợp với albumin tạo thành hợp chất protein kim loại Niken tích lũy trong các mô và được đào thải qua nước tiểu Nguy hiểm lớn nhất khi tiếp xúc với niken là có thể mắc bệnh ung thư đường hô hấp Nhiễm độc niken có thể chia thành hai trường hợp:

Nhiễm độc cấp tính: bệnh này thường do Ni(CO)4 gây nên Sự phục hồi sau khi nhiễm độc cấp tính rất chậm, hậu quả dẫn đến viêm phổi xơ hóa

Nhiễm độc mãn tính: nhiều nghiên cứu cho thấy những công nhân tinh chế niken có nguy cơ mắc bệnh ung thư xoang mũi, thanh quản và phổi Ngộ độc niken qua đường hô hấp gây khó chịu, buồn nôn, đau đầu Nếu kéo dài sẽ làm tăng nguy cơ gây bệnh khác

Ngoài ra, việc tiếp xúc lâu dài với niken gây ra hiện tượng viêm da và có thể xuất hiện dị ứng ở một số người Ngộ độc niken qua đường hô hấp gây khó chịu và buồn nôn, đau đầu, nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng tới phổi, hệ thần kinh trung ương, gan và thận Chất hữu cơ niken cacbonyl có độc tính cao và gây ung thư [2,9]

c) Ảnh hưởng độc tính Niken lên sinh vật trong môi trường nước

Ảnh hưởng của độc tính niken lên sự phát triển của vi tảo (silic) nước ngọt

Navicula pelliculosa được xác định bằng cách ghi nhận sự khác biệt về tốc độ

tăng trưởng và số lượng tế bào trong các mẫu cấy trong phòng thí nghiệm phơi nhiễm niken với các nồng độ 0, 100, 300 và 600 µg L-1 trong 14 ngày Kết quả cho thấy nồng độ niken 100 µg L-1 (1.7×10-6 M) đã làm giảm 50% tỷ lệ phát triển của tảo và dẫn đến giảm số lượng tế bào trong 14 ngày Tính toán các thành

Trang 29

phần của môi trường thí nghiệm cho thấy rằng 99.8 % tổng niken tăng thêm tồn tại là Ni2+ Như vậy vì sự xuất hiện của Ni2+ trong môi trường đã làm giảm sự tăng trưởng của tảo (John và cs, 1979)

Để kiểm tra độc tính niken lên bèo tấm Lemna minor với các loại nước

khác nhau, nước được lấy từ tổng cộng có 59 được thu thập từ 18 điểm trong đó

có 10 điểm ở Illinois và 8 tại điểm gần đó Bèo tấm L minor được phơi nhiễm

cấp tính với niken trong vòng 96 giờ Độc tính niken biểu hiện cao nhất ở bèo tấm trong nước từ các hồ Hayes Creek và Hồ Horseshoe, hai điểm này là nơi nước có độ cứng thấp nhất , 37-78 mg L-1 CaCO3 tương ứng với giá trị 48h -

LC50 cho hai vị trí này là 0.36 và 0.21 mg L-1 Nghiên cứu này ước tính rằng các ion niken ở nồng độ 1 mg L-1 có thể gây ra một sự ức chế 30 % tăng trưởng bèo tấm ở hầu hết các vùng nước bề mặt, và một sự ức chế 70 % ở các vùng nước cứng (Wang, 1987)

Ảnh hưởng cấp tính và mãn tính của kim loại Ni trên ấu trùng của muỗi

Chronomus riparis được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm Kết quả

nghiên cứu cho thấy ấu trùng 1 ngày tuổi với 48 giờ - LC50 là 79·5 ± 3·7 mg L−1 thì nhạy với độc tính kim loại Ni hơn so với ấu trùng hai ngày tuổi với 48 giờ -

LC50 là 169 ± 10 mg L−1 Phơi nhiễm độc tính mãn tính (30 ngày), ấu trùng được phát triển từ trứng đến khi ngay trước khi hóa nhộng, kết quả cho thấy rằng nồng

độ Ni lên đến 25 mg L-1 nhưng có ít ảnh hưởng lên tỷ lệ nở C riparis

(Powlesland và George, 1986)

Trong một nghiên cứu khác của thực hiện phơi nhiễm với muối của kim loại NiCl2 và thuốc trừ sâu chlorpyrifos (CHP) cấp tính trong vòng 2 giờ và mãn

tính trong 11 ngày lên phôi và con non (larvae) của loài cá ngựa vằn Danio reio

Chlorpyrifos là một chất ức chế acetylcholine esterase có khả năng làm ảnh hưởng đến tập tính của các sinh vật thử nghiệm NiCl2 được gắn vào các vị trí hoạt động của enzym và nó được coi là một chất độc không đặc hiệu cho các loài sinh vật dưới nước Các chỉ tiêu được nghiên cứu là quá trình vận động,

hình thái, tỷ lệ tử vong của phôi và con non của loài D reio Trong thời gian

phơi nhiễm cấp tính với nồng độ chlorpyrifos ⩾0.25 mg L-1, hoạt động vận động

có xu hướng tăng Tuy nhiên, hoạt động này đã giảm đáng kể khi phơi nhiễm với nồng độ ⩾7.5 mg Ni L-1 (Kienle và cs, 2009)

Trang 30

Thí nghiệm phơi nhiễm mãn tính NiSO4.6H20 với các nồng độ 10, 20, 30,

40 ppm lên loài cá nước ngọt Channa punctatus, trong vòng 30 ngày Kết quả

nghiên cứu cho thấy hàm lượng protien và acid ascorbic bị giảm do quá trình phân giải protein và đường Thêm vào đó mức cholesterol trong gan ở mức cao,

có thể do chức năng của gan bị phá hủy và tích tụ ở não Các protein ở não bị giảm đáng kể, nhưng hàm lượng acid acorbic không thay đổi Như vậy, khi phơi nhiễm với độc tính Ni gây ra giảm hàm lượng protein và acid acorbic đồng thời

làm tăng hàm lượng cholesterol gây ra tình trạng căng thẳng của cá Channa

punctatus (Desai, 2002)

Niken có độc tính cao với cá, nồng độ niken trên 0,03 mg/l gây tác hại cho các cơ thể sống bậc thấp trong nước Lưu vực sông Đồng Nai có rất nhiều khu vực nuôi trồng thủy sản của người dân, do đó việc ô nhiễm Niken sẽ gây ảnh hưởng lớn đến việc nuôi trồng thủy sản, ảnh hưởng đến kinh tế của người dân trên lưu vực sông

Các nghiên cứu trên cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu độc tính của kim loại Ni lên các loài sinh vật sống trong môi trường nước rất cần thiết đối

hệ sinh thái thủy vực Vì vậy, đề tài luận văn lựa chọn cá sọc ngựa để thử

nghiệm nghiên cứu độc học vì nó rất nhạy cảm với chất ô nhiễm, vòng đời ngắn, dễ chăm sóc, sinh sản nhiều

d) Ảnh hưởng của pH đến độc tính cấp của Niken

Đối với kim loại hóa trị hai tự do, giảm pH sẽ làm tăng độ hòa tan, nhưng

sự hiện diện của các gốc khác có thể làm thay đổi đáng kể độ hòa tan cũng như là hoạt lực sinh học của ion kim loại tự do, Ni2+ Ở một nghiên cứu trước đây (Stuer-Lauridsen và Birkved, 1999), chương trình MINTEQA2 đã được dùng để tính sự tạo gốc nickel ở hai môi trường Hai môi trường là đệm carbonate, được

đề nghị trong quy trình pha loãng (nồng độ 1/5 của ISO 6341) tại pH 5,5; 6,0 và 8,5 và đệm MES (4-morpholinoethanesulfonic acid) tại pH 4 và 6,5 Xu hướng cho thấy là giống nhau như ở các ước lượng của mô hình BLM: ion Ni2+ là gốc chiếm ưu thế [17]

Ảnh hưởng của pH cũng được minh họa ở nhiều nghiên cứu cấp tính Ở một vài nghiên cứu, độc tính cấp tính của niken cho thấy tăng cùng với tăng pH

Ảnh hưởng ức chế tảo (Clamydomonas reinhardii) chứng tỏ rằng niken là ít độc

Trang 31

hơn ở pH 5 so với ở pH 6,8, với EC30 (120 giờ) là 0,393 và 0,123 mg Ni2+/l tương ứng (Macfie và cộng sự, 1994) Schubauer-Berigan và cộng sự (1993)

cũng quan sát thấy sự gia tăng độc tính khi tăng pH Ceriodaphnia, Hyalella,

giờ) là 140 µg/l tại pH 7,1 và 13 µg/l tại pH 8,6, và đối với Lumbriculus

(Schubauer-Berigan và cộng sự, 1993)

Lind và cộng sự (1978) đã quan sát thấy LC50 (96 giờ) 2,9 mg Ni/l tại pH

6,5-7 và 5,2 mg Ni/l tại pH 8 đối với Pimephales promelas Mối quan hệ giữa

độc tính cấp tính và pH của môi trường thử nghiệm có thể là do độ cứng nước và

pH thường là trái ngược nhau [17,18]

1.3.3 Tổng quan về phần mềm Cetis

"CETIS là một phần mềm thống kê cơ sở dữ liệu thử nghiệm độc tính hoàn chỉnh của nhóm tác giả Judi L.Crane, Anne Pilli, Rosemarie C Russo, nó thiết lập các kiểm tra, phân tích dữ liệu, tạo ra các biểu đồ kiểm soát và xác định thử nghiệm, kiểm tra độc tính của kim loại trên sinh vật chỉ thị được áp dụng nhiều tại Mỹ như: EPA, văn phòng Quy định và Tiêu chuẩn Mỹ "

TOXCALC TÍNH NĂNG VÀ ƯU ĐIỂM

ToxCalc tạo ra các mẫu dữ liệu thô để ghi dữ liệu thử nghiệm và chất lượng nước, và có thể chấp nhận hầu hết các thiết kế kiểm tra bằng cách cho phép người dùng tạo các màn hình nhập dữ liệu và các điểm cuối Tính năng này lý tưởng cho những người cần một gói linh hoạt có khả năng để giải quyết một loạt các thiết kế thử nghiệm Mẫu cũng có thể được tạo cho các mẫu dữ liệu thường xuyên sử dụng và được lấy ra để sử dụng trong tương lai

Hình dung dữ liệu giúp bạn lựa chọn các phương pháp thống kê thích hợp ToxCalc cũng thông minh vì nó có thể tự động lựa chọn phương pháp thích hợp và dữ liệu chuyển đổi dựa trên đặc điểm và cấu trúc dữ liệu của bạn

Tính năng cơ sở dữ liệu của ToxCalc cung cấp một hệ thống để lưu, tổ chức, quản lý và lấy dữ liệu thô và tóm tắt Cơ sở dữ liệu sử dụng một hệ thống quản lý dữ liệu truy cập ngẫu nhiên, đảm bảo việc lưu trữ và truy xuất dữ liệu nhanh và hiệu quả

Trang 32

ToxCalc cũng cung cấp các bản tóm tắt ngắn gọn và được đánh bóng mà các nhà quản lý đã đánh giá cao Để hỗ trợ chương trình đảm bảo chất lượng của bạn, ToxCalc có thể tạo các biểu đồ kiểm soát chất lượng từ dữ liệu được trích

ra từ cơ sở dữ liệu

ToxCalc cung cấp một số tiện ích tiết kiệm thời gian Nó thậm chí sẽ tính toán chính xác lượng nước pha loãng, nước muối hypersaline và mẫu để đạt được độ mặn mong muốn trong tất cả các độ pha loãng Khi có thời gian để tạo biểu đồ QC hàng tháng của bạn, ToxCalc sẽ nhanh chóng tạo ra biểu đồ Levey-Jennings hoặc Shewhart từ dữ liệu độc tính trích xuất của bạn

PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA GIẢ THUYẾT

Tổng cộng có 39 phương pháp kiểm tra giả thuyết tham số và phi tham số khác nhau bao gồm kiểm tra t-test TST-Welch của Hoa Kỳ về EPA, nghiên cứu Step-Down của Jonkeheere-Terpstra của OECD và các bài kiểm tra chính xác Fisher của Bonferroni-Holm;

Các phương pháp thử nghiệm giả thuyết tham số bao gồm Homoscesdastic t-Test, Heteroscedastic t, TST-Welch's T-Test, Tách mẫu t, Bonferroni, Dunn-Sidák t, Balanced Dunnett, Unbalanced Dunnett, Dunnett T3, Tamhane-Dunnett Step Down, Williams, Fisher LSD, Tukey-Kramer, Sinh viên-Newman-Kuels, Hochberg-GT2, Trò chơi Gabriel và Games và Howell;

Các phương pháp kiểm tra giả thuyết phi tham số bao gồm Mann-Whitney

U, Wilcoxon Two-Sample, Wilcoxon Rank Sum, Thép nhiều người, Williams, Nemenyi-Damico-Wolfe, Dwass-Steel-Critchlow-Fligner, Hayter-Stone, Dunn Xếp hạng trung bình, Xu hướng tuyến tính của Cochran-Armitage

Shirley-và Fisher Chính xác;

Các quy trình kiểm tra đồng thời (STP) bao gồm Bonferroni-Holm, Bonferroni-Hommel và Bonferroni-Hochberg có thể được áp dụng cho Kiểm tra Chính xác của Fisher, Kiểm tra Xếp hạng Trung bình của Dunn và Kiểm tra Xếp hạng Wilcoxon nhằm duy trì tỷ lệ lỗi gia đình nhất quán hoặc tỷ lệ lỗi thử nghiệm;

Tuy nhiên, nhiều phương pháp phi tham số mang lại khả năng xác suất chính xác, tuy nhiên, khi xác suất chính xác là thời gian để tính toán, hoặc trong

Trang 33

trường hợp các mối quan hệ rộng, CETIS đưa ra giải pháp thay thế cho Monte Carlo;

Phân loại đơn ANOVA, ANOVA khối ngẫu nhiên, Kruskal-Wallis, Fligner-Wolfe, Jonckheere-Terpstra Trend, Fisher-Freeman-Halton, Shapiro-Wilk W, Anderson-Darling A2, D'Agostino-Pearson K2, Bartlett, Brown-Forsythe sửa đổi Levene, Grubbs (bài kiểm tra thặng dư chuẩn hóa tối đa) và các kiểm tra Mann-Kendall Trend đều có sẵn như các bài kiểm tra hỗ trợ;

Các phép biến đổi góc cạnh (arcsin square-root), log, power, Tukey, Anscombe, rank và rankit có sẵn và có thể được chỉ định cho bất kỳ điểm cuối nào như là một phép biến đổi mặc định;

Freeman-So sánh kiểm soát chính đối với các kiểm soát thứ cấp, kiểm soát chính đối với các phương pháp điều trị hoặc thực hiện tất cả so sánh theo cặp Các điều khiển cũng có thể được gộp lại bằng cách chọn các điều khiển mong muốn từ một listbox

Một hộp ô đã sửa đổi được hiển thị trong quá trình phân tích dữ liệu và trên các báo cáo in Ô hộp hiển thị các giá trị trung bình, trung bình, tối đa và tối thiểu

PHƯƠNG PHÁP ƯỚC TÍNH ĐIỂM

Mô đun Hồi quy tuyến tính (MLE) cung cấp bốn mô hình, bao gồm tích lũy bình thường (Probit Analysis), Log-Logit, Log-Gompertz và Log-Angle Triển khai này mô phỏng phần mềm US EPA Probit của Hoa Kỳ, cũng như thủ tục SAS Probit;

Log-Mô đun hồi quy tuyến tính bao gồm thử nghiệm không đồng nhất Pearson chi-square cho phù hợp và áp dụng các yếu tố không đồng nhất trong trường hợp một bài kiểm tra chi-square đáng kể được khai báo CETIS cũng tính toán các thử nghiệm tỷ lệ khả năng và một dựa ANOVA thiếu kiểm tra phù hợp với các hồi quy nhân rộng;

Mô hình hồi quy phi tuyến tính cung cấp 41 mô hình khác nhau bao gồm Logistic, log-Logistic, log-Logistic với yếu tố hooc-môn (van Ewijk và Hoekstra, 1993), Log-Logistic với ngưỡng ngưỡng (Chèvre et al., 2002), tích lũy bình thường, Log-Cumulative Normal (Bruce và Versteeg, 2002), Gompertz,

Trang 34

Log-Gompertz, Weibull, Morgan-Mercer-Flodin, Bragg, Holliday, một số mũ (SFO), bi-hàm mũ (DFOP), Hockey Stick, Gustafson-Holden FOMC), và MicroTox Gamma Tất cả các mô hình có thể được thiết lập để chạy với biến phụ thuộc hoặc độc lập chuyển đổi, cung cấp các hình thức bổ sung của mô hình Một binomial, beta-binomial, Poisson, tiêu cực lưỡng cực, gamma, nghịch đảo gaussian và chương trình trọng số Box-Cox được tổng quát có thể được áp dụng theo ý riêng của người dùng đối với các loại dữ liệu đặc biệt như số lượng, đếm hoặc dữ liệu liên tục

Tất cả các tham số phi tuyến tính được lựa chọn cẩn thận cho các đặc tính gần-tuyến tính mong muốn của chúng như được trình bày bởi Ratkowsky ( Sổ tay của Mô hình hồi quy phi tuyến , 1990) Các kỹ thuật tuyến tính hóa sở hữu được sử dụng bởi mô hình hồi quy phi tuyến thường đảm bảo sự hội tụ nhanh và không có thêm dữ liệu đầu vào từ người dùng, chẳng hạn như cung cấp các ước lượng ban đầu về các tham số;

Cả hai mô-đun hồi quy tuyến tính và phi tuyến tính đều cung cấp một phân tích còn sót lại để đảm bảo lựa chọn mô hình thích hợp Phân tích còn sót lại sử dụng Pearson chi-square, tỷ lệ khả năng xảy ra, ANOVA không phù hợp, Shapiro-Wilk, Anderson-Darling, Bartlett, Brown-Forsythe Levene, Grubbs (bài kiểm tra còn dư bình thường) và các bài kiểm tra của Mann-Kendall Trend; Phương pháp nội suy tuyến tính với phương pháp bootstrapping mô phỏng theo phương pháp EPA ICPIN của Hoa Kỳ Người sử dụng có thể chỉ định bất

kỳ số lượng resamples trong bội số của 40 Khi cần thiết, một biến đổi đăng nhập có thể được áp dụng cho biến đáp ứng hoặc dự báo;

Mô-đun Spearman-Kärber đã được cắt và không lấy mẫu mô phỏng theo phương pháp EPA SNK của Hoa Kỳ Mô-đun Spearman-Kärber có tính năng tự động cắt, tự động tính toán mức cắt tối thiểu và không cần sự can thiệp của người dùng thêm Trong trường hợp của tất cả hoặc không có tập dữ liệu, CETIS cung cấp phương pháp nhị thức

Trang 35

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tổng hợp số liệu viết Luận văn được thực hiện tại Khoa Môi trường Trường ĐH Tài Nguyên &Môi trường Hà Nội

-Về thời gian: Thực hiện luận văn từ tháng 11 năm 2016 đến tháng 08

năm 2017

2.3 Phương pháp nghiên cứu

a, Phương pháp thu thập, phân tích số liệu, kế thừa

- Thu thập, phân tích lựa chọn các địa điểm lấy mẫu nước trên sông Đồng Nai, phục vụ cho việc tiến hành thực nghiệm

- Thu thập, phân tích tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội lưu vực sông Đồng Nai từ các tỉnh/thành phố nằm trên lưu vực sông Đồng Nai

- Thu thập tài liệu về độc tính của Niken đến sinh vật và sức khỏe con người; Thu thập, phân tích tài liệu về ứng dụng mô hình BLM đánh giá độc tính kinh loại nặng ở một số quốc gia trên thế giới

- Kế thừa các thông tin, căn cứ khoa học từ Đề tài "Nghiên cứu, ứng dụng

mô hình phối tử sinh học, xác định ngưỡng độc hại của kim loại nặng trong môi trường nước mặt ở Việt Nam" của ThS Mai Quang Tuấn

b, Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp lấy mẫu, bảo quản mẫu nước sông Đồng Nai theo hướng dẫn của TCVN 6663-1:2011, TCVN 6663-3:2008, TCVN 5994:1995, TCVN 6663-6:2008

Trang 36

- Phân tích mẫu nước sông Đồng Nai bằng phương pháp đo nhanh đối với chỉ tiêu pH theo TCVN 6492: 2011

- Phương pháp phân tích chỉ tiêu Ni theo SMEWW-3111B:2012

- Các thông số đặc trưng khác của nước sông Đồng Nai được tham khảo theo hướng dẫn của các TCVN trong QCVN 08-MT:2015/BTNMT –Quy chuẩn

kĩ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt

- Phương pháp thí nghiệm độ độc cấp tính: Đánh giá ảnh hưởng của pH lên độc tính của Niken trên cá sọc ngựa

c Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu trong luận văn được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Excel;

Các kết quả phân tích các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường nước sẽ được so sánh với QCVN 08- MT: 2005/BTNMT (cột B1) Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt ;

Xác định giá trị LC50 của Ni bằng phần mêm CETIS (Comprehensive Environmental Toxicity System)

2.4 Thực nghiệm

2.4.1 Đánh giá chất lượng nước sông Đồng Nai

a Lấy mẫu tại 20 vị trí nước sông Đồng Nai

Tiến hành lựa chọn lấy mẫu khảo sát trên 20 điểm phân bố đều trên sông Đồng Nai

Đoạn thượng lưu: Đây là một đoạn ngắn từ nguồn về tới ĐanKia (Lâm Đồng) có diện tích hứng nước vào khoảng 3.300 km2 gồm hai sông Đạ Đờng và

Đa Nhim, dòng sông ở đây hẹp, đọ dốc lớn, lòng sông có nhiều đá lởm chởm, ít

có tác dụng về giao thông đi lại Gồm 5 vị trí lấy mẫu: Thủy điện Đồng Nai 4,

Đa Dung, Đa Dâng và Cầu Đại Ninh, Cầu Đại Nga

Đoạn trung lưu: Đoạn từ ĐanKia, phía dưới Liên Khương đến Trị An dài khoảng 300km, dòng sông mở rộng uốn khúc quanh co, độ dốc bình quân dưới 1‰, giúp cho việc giao thông đi lại thuận tiện hơn Tuy nhiên ở những chỗ chuyển tiếp của các bậc thềm, độ dốc tăng, hình thành những thác ghềnh, tạo điều kiện tốt cho việc xây dựng các nhà máy thủy điện như nhà máy thủy điện Trị An xây dựng trên thác Trị An, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai Gồm 10 vị trí lấy

Trang 37

mẫu: Cầu Đại Quay, Bến Phà Nam Cát Tiên, Bến Phà 107, Cầu La Ngà, Cầu Chiến Khu D, Bến Phà Hiếu Lâm, Bến Phà Lạc An, Cầu Thủ Biên, Bến đò Tân Uyên, Bến đò Tân Lương

Đoạn hạ lưu: Từ Tân Uyên ra đến cửa biển Xoài Rạp dài xấp xỉ 143km, doạn này lòng sông khá rộng từ 1km đến 4,5km, có chỗ sâu tới 18m, nước sông chịu ảnh hưởng mạnh bởi chế độ bán nhật triều vùng cửa sông tại Hiếu Lâm, Tân Uyên biên độ triều trong ngày còn tới trê 1m Gồm 5 vị trí lấy mẫu: Bến phà Cửu Long, Cầu Hóa An, Cầu Ghềnh, Phà An Hảo, Cầu Đồng Nai

* Thời gian lấy mẫu:

+ Đợt 1: 21/07/2015 – 24/07/2015 Kết quả kế thừa từ Đề tài "Nghiên cứu, ứng dụng mô hình phối tử sinh học, xác định ngưỡng độc hại của kim loại nặng trong môi trường nước mặt ở Việt Nam"

+ Đợt 2: 04/06/2016 – 10/06/2016

Bảng 2.1 Tọa độ và ký hiệu các vị trí lấy mẫu

Trang 38

STT VỊ TRÍ LẤY MẪU TỌA ĐỘ KÝ HIỆU

Trang 39

Các mẫu nước trên được phân tích để xác định 16 thông số đặc trưng

trong phòng thí nghiệm theo hướng dẫn của các tiêu chuẩn như sau:

Bảng 2.2 Các phương pháp phân tích mẫu nước sông

Trang 40

Sau khi xác định hàm lượng các thông số trong mẫu nước sông Đồng Nai, đánh giá, lựa chọn 05 vị trí lấy mẫu nước đặc trưng có tính chất lý hóa tương đối ổn định, có chất lượng nước tương đối sạch và phù hợp với điều kiện thí nghiệm, phục vụ cho việc đánh giá độc tính kim loại nặng và lựa chọn để tiến hành lấy mẫu vào năm 2017

b Lấy mẫu 5 vị trí mẫu nước sông Đồng Nai

Địa điểm lấy mẫu: 5 mẫu nước sông Đồng Nai được lựa chọn từ đánh giá

lựa chọn ở trên, kí hiệu mẫu:

Thời gian lấy mẫu: 05 đợt

2.4.2 Thí nghiệm trên cá sọc ngựa ở các mức Ni khác nhau tại phòng thí nghiệm

a Quy trình nuôi và cho cá sọc ngựa đẻ

Đối với cá trưởng thành: Cá trưởng thành được nuôi trong môi trường

nước muối 6%o, nhiệt độ 26oC, chu kỳ quang: 12h sáng:12h tối Vì có hệ thống lọc nên môi trường nuôi cá được thay 2/3 bể 2 lần/tuần, nếu không có hệ thống

lọc thì phải thay 1/3 nước hàng ngày

Ngày đăng: 26/01/2018, 14:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hoàng Anh, (2014) Ứng dụng chỉ thị sinh học trong quan trắc môi trường nước, Trung tâm quan trắc môi trường – Tổng cục môi trường, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng chỉ thị sinh học trong quan trắc môi trường nước
2. Lê Huy Bá (2012), Độc học Môi trường, Nhà xuất bản Khoa học và kĩ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc học Môi trường
Tác giả: Lê Huy Bá
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kĩ thuật
Năm: 2012
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt, QCCN 08-MT:2015/BTNMT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2015
6. Trương Quốc Phú, (2015) Chỉ thị sinh học và quan trắc chất lượng nước bằng biện pháp sinh học, Hội thảo quan trắc và quản lí chất lượng nước trong phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị sinh học và quan trắc chất lượng nước bằng biện pháp sinh học
7. Trung tâm tư vấn và Công nghệ môi trường - Đề tài cấp bộ (2015 – 2017), “Nghiên cứu, ứng dụng mô hình phối tử sinh học, xác định ngưỡng độc của kim loại nặng trong môi trường nước mặt, thử nghiệm ở sông Đồng Nai” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu, ứng dụng mô hình phối tử sinh học, xác định ngưỡng độc của kim loại nặng trong môi trường nước mặt, thử nghiệm ở sông Đồng Nai
8. Trịnh Thị Thanh (1993), Quản lý chất thải độc hại, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải độc hại
Tác giả: Trịnh Thị Thanh
Năm: 1993
9. Trịnh Thị Thanh (2000), Độc học môi trường và sức khỏe con người, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội.b. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc học môi trường và sức khỏe con người
Tác giả: Trịnh Thị Thanh
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội. b. Tiếng Anh
Năm: 2000
11. Dao, T.S., Le, V.N., Nguyen, T.S., Bui, B.T., Do-Hong, L.C., Hoang, T., (2015). Acute and chronic effects of nickel on Daphnia lumholtzi. Journal of Science and Technology 53 (3A), 271-276 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acute and chronic effects of nickel on Daphnia lumholtzi
Tác giả: Dao, T.S., Le, V.N., Nguyen, T.S., Bui, B.T., Do-Hong, L.C., Hoang, T
Năm: 2015
12. Desai H. S., B. Nanda and Panigrahi J. (2002), Toxicological effects on some biochemical parameters of fresh water fish Channa punctatus (Bloch) under the stress of nickel. Journal of Environmental Biology.23(3): p. 275-279 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toxicological effects on some biochemical parameters of fresh water fish Channa punctatus (Bloch) under the stress of nickel
Tác giả: Desai H. S., B. Nanda and Panigrahi J
Năm: 2002
14. James Keithly at el, (2003), Acute and chronic toxicity of Nickel to a cladoceran (ceriodaphnia dubia) and an amphipod (Hyalella azteca).Environmental Toxicology and Chemistry, Vol. 23, No3, 2004 Setac Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acute and chronic toxicity of Nickel to a cladoceran (ceriodaphnia dubia) and an amphipod (Hyalella azteca)
Tác giả: James Keithly at el
Năm: 2003
15. J.E. Schroeder at el., (2010). Evaluation of the biotic ligand model to predict long-term toxicity of nickel to Hyalella azteca. University of Waterloo Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of the biotic ligand model to predict long-term toxicity of nickel to Hyalella azteca
Tác giả: J.E. Schroeder at el
Năm: 2010
16. Karel De Schamphelaere at el, (2006). Nickel speciation and ecotoxicity in European natural surface waters: development, refinement and validation of bioavailability models, Universiteit Gent Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nickel speciation and ecotoxicity in European natural surface waters: development, refinement and validation of bioavailability models
Tác giả: Karel De Schamphelaere at el
Năm: 2006
17. Dr.Tham Hoang, Test Protocol, 96-hour acute toxicity test with topsmelt (Athernops affnis) under static conditions, Loyola University Chicago, Chicago, Illinois, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Test Protocol, 96-hour acute toxicity test with topsmelt (Athernops affnis) under static conditions
18. Dr. Tham Hoang at el., (2004). Influence of water quality and age on Nickel toxicity to fathead minnows (Pimephales Promelas).Environmental Toxicology and Chemistry, Vol. 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influence of water quality and age on Nickel toxicity to fathead minnows (Pimephales Promelas)
Tác giả: Dr. Tham Hoang at el
Năm: 2004
19. Thanh Son Dao at el, (2017). Sensitivity of a tropical micro-crutacean (Daphnia lumholtzi) to trace metals tested in natural water of Mekong River. Science of the Total Environment 574 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sensitivity of a tropical micro-crutacean (Daphnia lumholtzi) to trace metals tested in natural water of Mekong River
Tác giả: Thanh Son Dao at el
Năm: 2017
21. OECD guideline for testing of chemicals (Draft revised version), (2014) Fish, Acute Toxicity Test, September Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fish, Acute Toxicity Test
5. Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng Nai: http://www.dongnai.gov.vn/Pages/glp-diahinhdatdaikhihaudanso-glpnd-54542-glpnc-133-glpsite-1.html Link
3. Bộ Tài Nguyên và Môi Trường (2014), Báo cáo kết quả quan trắc môi trường nước lưu vực hệ thống sông Đồng Nai Khác
10. Canada (2016), Canadian Water Quality Guidelines for the Protection of Aquatic Life: Zinc Khác
13. E.M. Leonard, McMaster University, (2013). Nickel bioaccumulation as a predictor of toxicity Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w