1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài vận dụng một số phương pháp tích cực để rèn luyện kĩ năng giải bài toán cực trị hình học ở trường THCS

20 246 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 188,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời Cám Ơn Trong thời gian thực hiện, dưới sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn và được phía nhà trường tạo điều kiện thuận lợi, em đã có được một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nghiêm túc để hoàn thành đề tài này. Kết quả thu hoạch được không chỉ là do nỗ lực cá nhân em mà còn có sự giúp đỡ của quý thầy cô và các bạn. Em xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc với các thầy giáo, cô giáo trong khoa Trường Cao Đẳng Sư Phạm Bắc Ninh luôn tạo điều kiện để em thực hiện đề tài này. Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn trân thành đến tới Th.s Nguyễn Minh Yến – Giảng viên Khoa của Trường Cao Đẳng Sư Phạm Bắc Ninh, cô đã hướng dẫn và luôn động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài. Do thời gian nghiên cứu đề tài chưa được nhiều, kinh nghiệm cũng như trình độ hiểu biết có hạn nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót. Vì thế, em kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài này được hoàn thiện hơn. Em xin trân thành cảm ơn Bắc Ninh, ngày 11 tháng 11 năm 2015 Sinh viên thực hiện Ngô Thúy Hằng PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trên thế giới, từ thế kỉ XX đã xuất hiện nhiều phương pháp dạy học học tích cực. Cụm từ “ phương pháp dạy học tích cực ” để chỉ những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học nhằm hướng tới việc hoạt động hóa, tính tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, hay nói cách khác là vận dụng một số phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của người học. Trong toán học, hình học vốn đã hấp dẫn học sinh bởi tính trực quan của nó. Chúng ta không thể phủ nhận được ý nghĩa và tác dụng to lớn của hình học trong việc rèn luyện tư duy toán học, một phẩm chất rất cần thiết cho hoạt động sáng tạo của con người. Tuy nhiên, toán mà đặc biệt la môn hình học, mỗi học sinh đều cảm thấy có những khó khăn riêng của mình. Nguyên nhân của những khó khăn đó là: Học sinh chưa nắm vững các khái niệm cơ bản, các định lý, tính chất của các hình đã học. Một số học sinh không biết cách vận dụng các kiến thức ấy như thế nào vào việc giải bài tập. Sách giáo khoa cung cấp cho học sinh một hệ thống đầy đủ kiến thức cơ bản nhưng chưa thể truyền tải các kiến thức đó đến các em một cách sâu đậm nếu không có bàn tay chế biến của người giáo viên. Hơn nữa, khi học sinh phải tiếp xúc với các bài toán, các chuyên đề nâng cao, mà người giáo viên chưa kịp trang bị đủ các kĩ năng cần thiết để giải roán thì sẽ rất dễ dẫn đến tâm lý chán nản, buông xuôi ở nhiều học sinh. Đối với bộ môn toán hình học, ngoài các bài toán về chứng minh hình học, các bài toán dựng hình, bài toán quỹ tích còn có “Các bài toán cực trị hình học” (hay còn gọi là các bài toán tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất trong hình học phẳng). Đây là những dạng toán khó, hấp dẫn, thường gặp trong các câu hỏi khó thi tuyển sinh vào lớp 10 hay trong quá trình thi học sinh giỏi môn Toán. Việc dạy và học như thế nào để đáp ứ

Trang 1

Lời Cám Ơn

Trong thời gian thực hiện, dưới sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn và được phía nhà trường tạo điều kiện thuận lợi, em đã có được một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nghiêm túc để hoàn thành đề tài này Kết quả thu hoạch được không chỉ là do nỗ lực cá nhân em mà còn có sự giúp

đỡ của quý thầy cô và các bạn

Em xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc với các thầy giáo,

cô giáo trong khoa- Trường Cao Đẳng Sư Phạm Bắc Ninh luôn tạo điều kiện để

em thực hiện đề tài này

Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn trân thành đến tới Th.s

Nguyễn Minh Yến – Giảng viên Khoa của Trường Cao Đẳng Sư Phạm Bắc Ninh, cô đã hướng dẫn và luôn động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài

Do thời gian nghiên cứu đề tài chưa được nhiều, kinh nghiệm cũng như trình độ hiểu biết có hạn nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót Vì thế,

em kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài này được hoàn thiện hơn

Em xin trân thành cảm ơn!

Bắc Ninh, ngày 11 tháng 11 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Ngô Thúy Hằng

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trên thế giới, từ thế kỉ XX đã xuất hiện nhiều phương pháp dạy học

học tích cực Cụm từ “ phương pháp dạy học tích cực ” để chỉ những phương

pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học nhằm hướng tới việc hoạt động hóa, tính tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, hay nói cách khác là vận dụng một số phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của người học

Trong toán học, hình học vốn đã hấp dẫn học sinh bởi tính trực quan của nó Chúng ta không thể phủ nhận được ý nghĩa và tác dụng to lớn của hình học trong việc rèn luyện tư duy toán học, một phẩm chất rất cần thiết cho hoạt động sáng tạo của con người Tuy nhiên, toán mà đặc biệt la môn hình học, mỗi học sinh đều cảm thấy có những khó khăn riêng của mình Nguyên nhân của những khó khăn đó là: Học sinh chưa nắm vững các khái niệm cơ bản, các định

lý, tính chất của các hình đã học Một số học sinh không biết cách vận dụng các kiến thức ấy như thế nào vào việc giải bài tập Sách giáo khoa cung cấp cho học sinh một hệ thống đầy đủ kiến thức cơ bản nhưng chưa thể truyền tải các kiến thức đó đến các em một cách sâu đậm nếu không có bàn tay chế biến của người giáo viên Hơn nữa, khi học sinh phải tiếp xúc với các bài toán, các chuyên đề nâng cao, mà người giáo viên chưa kịp trang bị đủ các kĩ năng cần thiết để giải roán thì sẽ rất dễ dẫn đến tâm lý chán nản, buông xuôi ở nhiều học sinh

Đối với bộ môn toán hình học, ngoài các bài toán về chứng minh hình học, các bài toán dựng hình, bài toán quỹ tích còn có “Các bài toán cực trị hình học” (hay còn gọi là các bài toán tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất trong hình học phẳng) Đây là những dạng toán khó, hấp dẫn, thường gặp trong các câu hỏi khó thi tuyển sinh vào lớp 10 hay trong quá trình thi học sinh giỏi môn Toán Việc dạy và học như thế nào để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội

Và để đáp ứng yêu cầu ấy, không riêng vì học sinh, mà bản thân giáo viên phải không ngừng học hỏi nâng cao trình độ tìm ra phương pháp dạy học sao cho có thể phát huy được tính tích cực của học sinh Vậy tính tích cực là gì?

Và phương pháp dạy học tích cực trong Toán hình lớp 8,9 như thế nào? Đó là vấn đề hiện nay mọi người đang hướng đến để tìm ra một phương pháp thích hợp Và không riêng vì mọi người mà bản thân tôi cũng muốn tìm hiểu rõ

phương pháp dạy học tích cực này để giúp ích cho việc giảng dạy sau này Xuất phát từ những vấn đề trên và giúp đỡ học sinh có những định hướng chung ban đầu khi gặp những bài tập về cực trị hình học, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “ Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực để rèn luyện kĩ năng giải các bài toán cực trị hình học trong chương trình THCS”

2 Mục đích nghiên cứu

Qua nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, tôi chọn “Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực để rèn luyện kĩ năng giải các bài toán cực trị hình học trong chương trình THCS” đề nhằm hướng tới hoạt động hóa, tích cực hóa

Trang 3

hoạt động nhận thức của người học, hay nói cách khác là phát huy tính tích cực nhận thức của người học Và để hỗ trợ cho việc giảng dạy của tôi sau này

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thế nào là phương pháp dạy học tích cực?

Các kĩ năng giải các bài toán cực trị hình học thuộc chương trình Toán?

Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực như thế nào để rèn luyện kĩ năng giải các bài toán cực trị hình học trong chương trình THCS

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu các tài liệu lý luận (triết học, giáo dục học, tâm lý học và

lý huận dạy học bộ môn Toán)

Nghiên cứu các công trình khoa học có các vấn đề liên quan trực tiếp đến đề tài

Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, bài viết, sách giáo viên, sách nâng cao liên quan tới đề tài này

4.2 Phương pháp phỏng vấn

4.3 Phương pháp quan sát

4.4 Phương pháp trò chuyện

5 Cấu trúc tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục, tiểu luận được trình bày trong 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phương pháp dạy học tích cực và kĩ

năng giải toán

Chương 2: Một số biện pháp nhằm rèn luyện kĩ năng giải các bài toán cực trị

hình học trong chương trình lớp 8,9 theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh

Trang 4

B NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phương pháp dạy học tích cực và kĩ

năng giải Toán

1.1 Định nghĩa phương pháp dạy học tích cực

1.1.1 Tính tích cực nhận thức

1.1.1.1 Tính tích cực

Theo tác giả I.F.Kharlamop: “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của học sinh, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững tri thức”

Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì có sẵn trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cần cho sự tồn tại của xã hội, sáng tạo ra nền văn hóa ở mỗi thời đại

Hình thành và phát triển tính tích cực nhận thức là một nhiệm vụ quan trọng và chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo ra những con người tự chủ, năng động, sáng tạo, phù hợp với yêu cầu của xã hội trong thời kì mới Có thể xem tính tích cực như là một điều kiện đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách học sinh trong quá trình phát triển giáo dục

1.1 1 2 Tính tích cực học tập

I.F.Kharlamop khẳng định: “Học tập là quá trình nhận thức tích cực”, ở

đó tính tích cực không chỉ tồn tại như một trạng thái, một nét tính cách cụ thể

mà nó còn là kết quả của quá trình tư duy, là mục đích cần đạt của quá trình dạy học và nó có tác dụng nâng cao không ngừng hiệu quả học tập của học sinh Tính tích cực của con người được biểu hiện trong hoạt động, đặc biệt trong những hoạt động chủ động chủ thể Học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đi học Tính tích cực trong học tập – về thực chất – là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức

Tính tích cực trong nhận thức trong học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm móng của sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú bồi dưỡng động cơ học tập

Tính tích cực biểu hiện ở khẩu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước đặt vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc đòi hỏi giải tích cặn kẽ những vấn đề chưa rõ; chủ động vận dụng kiến thức kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản chí trước những tình huống khó khăn…

G.I.Sukina đã chia tính tích cực ra làm ba cấp độ:

Trang 5

Tính tích cực bắt chước tái hiện: Xuất hiện do tác động kích thích từ bên ngoài (yêu cầu của giáo viên), trong trường hợp này, người học thao tác trên đối tượng, bắt chước theo mẫu hoặc mô hình của giáo viên, nhằm chuyển đối tượng từ ngoài vào trong theo cơ chế: “Hoạt động bên ngoài và bên trong có cùng cấu trúc” Nhờ đó, kinh nghiệm hoạt động được tích lũy thông qua kinh nghiệm của người khác

Tính tích cực tìm tòi: đi liền với quá trình hình thành khái niệm, giải quyết các tình huống nhận thức, tìm tòi các phương thức hành động trên cơ sở

có tính tự giác, có tham gia của động cơ, nhu cầu, hứng thú và ý chí của học sinh Loại này xuất hiện không chỉ do yêu cầu của giáo viên mà còn hoàn toàn

tự phát trong quá trình nhận thức Nó tồn tại không chỉ ở dạng trạng thái, cảm xúc mà còn ở dạng thuộc tính bền vững của hoạt động Ở mức độ này tính độc lập cao hơn mức trên, cho phép học sinh tiếp nhận nhiệm vụ và tự tìm cho mình phương tiện thực hiện

Tính tích cực sáng tạo: Thể hiện khi chủ thể nhận thức tìm tòi kiến thức mới, tự tìm ra phương thức hành động riêng và trở thành phẩm chất bền vững của cá nhân

1.1.2 Phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

“Tích cực” trong phương pháp dạy học được dùng với nghĩa là hoạt động nhận thức của người học, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với nghĩa tiêu cực

Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào việc phát huy tính tích cực của người học chứ không phải tập trung vào việc pháy huy tính tích cực của người dạy, đành rằng để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải

nỗ lực nhiều hơn so với kiểu dạy theo kiểu thụ động

Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Rõ ràng là cách dạy của giáo viên Có nhưng ngược lại, thói quen học tập của trò có ảnh hưởng tới cách dạy của giáo viên Có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt dộng của giáo viên nhưng giáo viên chưa đáp ứng được Cũng có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng phương pháp dạy học tích cực nhưng thất bại vì học sinh chưa nắm vững, vẫn quen lối học tập thụ động Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức từ thấp tới cao Trong đổi mới phương pháp phải có

sự hợp tác giữa thầy và trò, sự phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công

Trong những thập kỉ gần đây, vấn đề tính tích cực của học sinh trong học tập đã được nghiên cứu rất sâu rộng và hàng hoạt những nguyên tắ lí luận dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh đã được nêu ra Những

nguyên tắc quan trọng nhất trong số đó là:

Việc nắm vững kiến thức lý thuyết phải chiếm ưu thế

Trang 6

Nguyên tắc của việc dạy học phải được tiến hành ở mức độ khó khăn tăng dần

Nguyên tắc đòi hỏi nhịp độ khẩn trương của công tác học tập

Nguyên tắc đòi hỏi chăm lo tích cực đến sự phát triển của mọi học sinh

Nguyên tắc làm cho học sinh ý thức được bản thân quá trình học

1.2 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp tích cực

1.2.1 Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

Trong phương pháp tích cực, người học - đối tượng của hoạt động

“dạy”, đồng thời là chủ thể của “hoạt động học” - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tru thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo hướng suy nghĩ của riêng mình, từ đó vừa nắm được kiến thức mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập khuôn theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo

Dạy học theo cách này thì giáo viên không chỉ đơn giản truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng

1.2.2 Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp âng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học

Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật công nghệ thông tin phát triển như vũ bão – thì không thể nhồi nhét vào đầu óc trẻ phương pháp học ngay từ bậc tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng

Trong phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được pương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dạy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, mỗ lực tạo sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà còn tự học có sự hướng dẫn của giáo viên

1.2.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học nhóm.

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức tư duy của học sinh không thể dồng đều tuyệt đối khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành mọt chuỗi công tác độc lập

Áp dụng phương pháp dạy học tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong

Trang 7

nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hoạt động theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh

Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập của cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua

đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi học sinh và của cả lớp chứ không phải chỉ dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm của giáo viên

Trong nhà trường, phương pháp học tập theo nhóm được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 – 6 người Học tập theo nhóm làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc giải quyết những vấn đề gây cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung

Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành vuên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ

Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quan tâm dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia, năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh

1.2.4 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trong hoạt động học, việc dánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

Trước đây quan niệm giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá tự điều chỉnh cách học Liên quan điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lời để học sinh được tự đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là một năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh

Theo hướng phát triển của phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học, phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế

Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học

Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ

Trang 8

năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó khi soạn giáo án, giáo viên

đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động, mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên,

cố vẫn, trọng tài trong hoạt động tìm tòi hào hứng tranh luận sôi nổi của học sinh Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên

1.3 Một số phương pháp dạy học tích cực ở trường THCS

1.3.1 Phương pháp vấn đáp

1 3.1.1 Bản chất

Phương pháp vấn đáp là quá trình tương tác giữa giáo viên và học sinh, thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định được giáo viên đặt ra

1. 3.1.2 Ưu điểm

Vấn đáp là cách thức tốt nhất để kích thích tư duy độc lập của học sinh, dạy học sinh cách tự suy nghĩ đúng đắn Bằng cách này học sinh hiểu nội dung học tập tốt hơn cách học vẹt, thuộc lòng

Gợi mở vấn đáp giúp lôi cuốn học sinh tham gia vào bài học, làm cho không khí lớp học sôi nổi, sinh động, kích thích hứng thú học tập và lòng tự tin của học sinh, rèn luyện cho học sinh năng lực diễn đạt sự hiểu biết của mình và hiểu ý diễn đạt của người khác

1.3.1.3 Hạn chế

Hạn chế lớn nhất của phương pháp vấn đáp là rất khó soạn thảo và sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở và dẫn dắt học sinh theo một chủ đề nhất quán Vì vậy, đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị rất công phu, nếu không, kiến thức mà học sinh thu nhận được qua trao đổi sẽ thiếu tính hệ thống, tàn mạn, thậm chí là vụn vặt

1.3.1.4 Một số lưu ý

Phương pháp vấn đáp thường được sử dụng phối hợp với các phương pháp khác nhằm làm cho học sinh tích cực, hứng thú và học tập hiệu quả hơn Khi soạn các câu hỏi, giáo viên cần lưu ý các yêu cầu sau đây:

Câu hỏi phải có nội dung chính xác, rõ ràng, sát với mục đích, yêu cầu của bài học, không làm cho người học có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau Câu hỏi phải sát với từng loại đối tượng học sinh Nghĩa là phải có nhiều câu hỏi

ở các mức độ khác nhau, không quá dễ và cũng không quá khó Giáo viên có kinh nghiệm thường tỏ ra cho học sinh thấy các câu hỏi đều có tầm quan trọng

và độ khó như nhau (để học sinh yếu có thể trả lời được những câu hỏi vừa sức

mà không có cảm giác tự ti rằng mình chỉ có thể trả lời những câu hỏi dễ mà không quan trọng)

1.3.2 Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề.

1.3.2.1 Quan niệm

Theo I.IA.Lecne: “Dạy học giải quyết vấn đề là dạy học trong đó học sinh tham gia một cách tích cực vào quá trình giải quyết các vấn đề, các bài toán

Trang 9

Tìm hiểu bài toán phát hiện vấn đề

Khám phá

Chọn phương pháp và chiến lược

Giải

Đánh giá kết quả phát triển bài toán

có vấn đề… được xây dựng một cách có dụng ý trong các chương trình dạy học

và các tài liệu dạy học”

1.3.2.2 Đặc điểm và mức độ của phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề có những đặc điểm sau:

Học sinh được đặt vào một tình huống gợi vấn đề chứ không phải là được thông báo tri thức dưới dạng có sẵn (Một tình huống là vấn đề chỉ khi: Người học có nhu cầu giải quyết; không có sẵn lời giải; không vượt quá khả năng của người học)

Các mức độ dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Bảng 1: Các mức độ dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Phát hiện,

nêu vấn đề

Khám phá vấn đề

Chọn chiến lược và PP Giải

Kiểm tra kết quả

Vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề vào việc dạy học giải bài tập toán

Khi đặt vấn đề dạy học bài tập theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề, trước hết phải đề cập đến nội dung bài toán đó Bài toán đặt ra phải thực

sự gợi vấn đề, tức là kêu gọi học sinh những khó khăn trong tư duy hoặc hành động chứ không phải những bài toán chỉ yêu cầu học sinh trực tiếp vận dụng một quy tắc có tính chất thuật toán Điều này cũng có tính chất tương đối, bởi lẽ

có bài toán đối với người này là vấn đề nhưng với người khác thì không

Sơ đồ 1: Các bước giải quyết vấn đề trong môn Toán

Vai Trò Người Học

Trang 10

1.3.2.3 Ưu điểm

Phương pháp này góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo cho học sinh

Phát triển cho học sinh khả năng tìm tòi, xem xét vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau

Học sinh vừa nắm được kiến thức, vừa nắm được phương pháp đi tới kiến thức đó

Chuẩn bị năng lực thích ứng với đời sống xã hội: Phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề này sinh

1.3.2.4 Nhược điểm

Đòi hỏi giáo viên có năng lực sư phạm phải đầu tư nhiều thời gian, công sức

Sử dụng phương pháp này phải cần nhiều thời gian hơn so với phương pháp khác

1.3.2.5 Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Chỉ nên sử dụng phương pháp này để dạy một bộ phận nội dung học tập và phải cần có sự giúp đỡ của giáo viên với mức độ nhiều ít khác nhau Giáo viên cần hiều đúng các cách tạo tình huống gợi vấn đề và tận dụng các cơ hội để tạo ra tình huống đó, đồng thời tạo điều kiện để học sinh tự lực giải quyết vấn đề

Tùy hứng nội dung kiến thức mà lựa chọn phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề sao cho phù hợp

1.3.3 Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ

1.3.3.1 Quan niệm

Dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ là một phương pháp dạy học trong đó giáo viên tổ chức và điều khiển các nhóm học sinh tiến hành hoạt động tập thể

để các em cùng làm việc, cùng hợp tác, cùng giải quyết vấn đề, cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ học tập hoặc phấn đấu vì một mục đích chung

1.3.3.2 Đặc điểm của phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ

Dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ có một số đặc điểm cơ bản sau:

Tất cả các thành viên trong nhóm phải nhận ra rằng các vấn đề mà nhóm giải quyết là vấn đề của cả nhóm mà sự thành công hay thất bại đều liên quan trực tiếp đến mọi thành viên trong nhóm

Một số thời điểm có thể sử dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ:

Kiểm tra bài tập về nhà

Dạy bài mới

Bài ôn tập

1.3.3.3 Quy trình thực hiện

Bước 1: Làm việc chung cả lớp

Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức

Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm

Hướng dẫn cách làm việc theo nhóm

Bước 2: Làm việc theo nhóm

Ngày đăng: 24/01/2018, 23:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w