1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CHUYÊN ĐỀ TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CẤP TỈNH MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Chủ đề KẾ THỪA, PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG QUÊ HƯƠNG

18 330 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 122,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHUYÊN ĐỀ TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CẤP TỈNH MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Chủ đề KẾ THỪA, PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG QUÊ HƯƠNGCHUYÊN ĐỀTRẢI NGHIỆM SÁNG TẠOChủ đề: KẾ THỪA, PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG QUÊ HƯƠNGMÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂNNỘI DUNGHỌC SINH TRÌNH BÀY BÁO CÁO NỘI DUNG TRẢI NGHIỆMNhiệt liệt chào mừng các vị đại biểu, khách quý, các bậc huynh, các thầy cô giáo và các bạn học sinh đã về dự buổi báo cáo hoạt động trải nghiệm sáng tạo với chủ đề: “Kế thừa và phát huy truyền thống quê hương ”, môn giáo dục công dân trường THCS Quang Thiện Kính thưa các vị đại biểu, khách quý Kính thưa các bậc phụ huynh, các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn Quê hương là cả một niềm cảm xúc đầy thương, đầy nhớ trong sâu thẳm trái tim mỗi con người. Quê hương hai tiếng gọi thân thương ngân nga trong lòng bao niềm tự hào về mảnh đất nơi ta sinh ra và lớn lên, nơi che chở, vỗ về cho tuổi thơ êm đềm, hạnh phúc. Quê hương là bến đỗ bình yên trong cuộc đời mỗi con người, là cái đích để mỗi đứa con trở về. Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã từng viết :Quê hương mỗi người chỉ mộtNhư là chỉ một mẹ thôiQuê hương nếu ai không nhớSẽ không lớn nổi thành người. Chúng em tự hào được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương yêu dấu, nơi đây đã khắc ghi những kỉ niệm, những chiến công của các thế hệ cha anh, những người đã khai hoang mở đất, đã chiến đấu và lao động để dựng xây Kim Sơn giàu đẹp. Là những học sinh khối 9, không bao lâu nữa chúng em sẽ cất bước vào đời, chúng em luôn mong muốn tìm hiểu về quê hương để có thể kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp của các thế hệ cha anh. Sau thời gian thực hiện hoạt động trải nghiệm thực tế , Hôm nay, chúng em xin được báo cáo kết quả Hoạt động trải nghiệm sáng tạo với chủ đề “Kế thừa, phát huy truyền thống quê hương” như là một sự tri ân đến các thế hệ cha anh, một lời hứa sẽ kế thừa, tiếp nối để dựng xây quê hương Kim Sơn ngày một thêm tươi đẹp hơn nữa.Kính thưa các vị đại biểu, khách quý Kính thưa các bậc phụ huynh, các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn. Từ khi được cô giáo dạy môn GDCD giao nhiệm vụ,chúng em đã cùng nhau đọc, tìm hiểu trao đổi, thảo luận và phân công mỗi người một nhiệm vụ: nhóm chuẩn bị kịch bản; nhóm chuẩn bị đạo cụ, trang phục; nhóm tập diễn xuất, múa, hát, nhóm thì vẽ tranh...dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô giáo. Và đặc biệt chúng em được tham dự một chuyến đi trải nghiệm thực tế được tham gia thực hành để tìm hiểu về mảnh đất, con người quê hương Kim Sơn đầy lí thú. Qua thời gian tập luyện, hôm nay chúng em xin được vui mừng gửi tới các vị đại biểu, khách quý, các bậc phụ huynh, các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn kết quả của sự cố gắng, nỗ lực luyện tập của chúng em trong thời gian qua. Em xin thay mặt cho tất cả các bạn HS gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo Dương Thị Thu Hiền, các thầy cô trong ban giám hiệu, cô Trần Thị Thu Hiền, cô Nguyễn Phương Hiền và các thầy cô trong hội đồng sư phạm nhà trường đã giúp đỡ, chỉ bảo cho chúng em thực hiện hoạt động trải nghiệm thú vị này. Chúng cháu cũng xin cảm ơn ông Hoàng Quốc Việt là thủ từ đền Nguyễn Công Trứ đã giúp chúng cháu có thêm nhiều hiểu biết về lịch sử hình thành huyện Kim Sơn và cụ Nguyễn Công Trứ. Cảm ơn lãnh đạo Đảng, chính quyền và ban văn hóa xã và các nhà tài trợ, các bậc cha mẹ đã có những ủng hộ về tinh thần và vật chất để chúng cháu thực hiện hoạt động trải nghiệm này .Nội dung của buổi báo cáo hôm nay gồm có:Một là: Sân khấu hoá nội dung tìm hiểu về doanh điền sứ: Nguyễn công Trứ với vai trò thành lập huyện Kim Sơn.Hai là: Giới thiệu về sự kế thừa và phát huy truyền thống của Kim Sơn trong giai đoạn hiện nay.Ba là phần giao lưu và bình chọn của khán giả.Tham gia hoạt động TNST này, chúng em đã chia thành hai đội đó là đội Núi vàng và đội Biển bạc. Sau đây xin mời đại diện hai đội lên sân khấu:Đội Núi vàng: Đội Núi vàng xin kính chào các vị đại biểu, khách quý, các bậc phụ huynh, các thầy cô giáo và toàn thể các bạn. Đội Núi vàng chúng em gồm có 10 thành viên. Đó là các bạn: ……… và em đội trưởng :Đội Biển bạc:Xin giới thiệu đội chúng em mang tên Biển bạcgồm có 10 thành viên đại diện: người đầu tiên cũng là đội trưởng là em, tiếp theo là các bạn: Xin một tràng vỗ tay của các quý vị đại biểu, các thầy cô giáo và các bạn để cổ vũ động viên cho đội chúng em. Xin chân thành cảm ơnXin cảm ơn phần giới thiệu của hai độiGóp phần quan trọng trong hoạt động TNST hôm nay còn có toàn thể các khán giả, các cổ động viên. Xin hỏi các bạn ngồi ở đâu (bên dưới hs vẫy tay hò reo).Xin cảm ơn các bạnXin mời 2 đội về sau cánh gà để chuẩn bị các nội dung diễn xuất của đội mình.Đầu tiên : Xin mời các vị đại biểu khách quý, các bậc phụ huynh, các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn thưởng thức hoạt cảnh:NGUYỄN CÔNG TRỨ VÀ SỰ HÌNH THÀNH HUYỆN KIM SƠNĐội 1: Núi vàng (kịch bản)ĐỘI 1: NGUYỄN CÔNG TRỨ VÀ SỰ HÌNH THÀNH HUYỆN KIM SƠNHoạt cảnh chính thức: Đoàn khách du lịch gồm 5 người từ Hà Nội về thăm Kim Sơn. Khi đi đến đền Nguyễn Công Trứ thì gặp lễ hội và dừng lại tham dự lễ hội.Hoạt cảnh 1: (Chiếu phong cảnh Kim Sơn, cầu ngói, nhà thờ đá Phát Diệm và dừng máy chiếu tại đền Nguyễn Công Trứ)Khách 1 (nữ): Con, đi chậm thôi, mình đến đền phải trang nghiêm con.Con: Vâng, mẹ ạKhách 2 (nam): Có vẻ như đây là một lễ hội của huyện Kim Sơn, chúng ta thật may mắn vì đến đúng ngày lễ hội.Khách 2 (nam): Cháu ơi, đây là lễ hội gì vậy?Học sinh (người dẫn chương trình của đội 1): Dạ vâng các bác ạ Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ là lễ hội truyền thống của quê hương Kim Sơn chúng cháu. Cháu mời các bác cùng tham dự lễ hội, cháu xin được làm hướng dẫn viên du lịch cho các bác.Khách 2 (nam): Vậy thì tốt qúa, các bác cảm ơn cháu, cháu thật nhiệt tình.HS: Cháu mời các bác ạ(Dẫn các vị khách vào)HS: Các bác ạ. Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ là lễ hội lớn nhất của cư dân huyện ven biển Kim Sơn chúng cháu để ghi nhớ công ơn của cụ Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ người đã chiêu dân khai hoang lấn biển lập ra huyện Kim Sơn (núi vàng) của Ninh Bình. Lễ hội diễn ra từ ngày 12 đến 14 tháng 11 âm lịch hàng năm tại xã quang Thiện – huyện Kim Sơn để ghi nhớ công ơn di dân, lấn biển, lập ấp của cụ Nguyễn Công Trứ.HS: Sau đây cháu mời các bác tham dự phần lễ dâng hương của lễ hội(Chiếu video lễ dâng hương khoảng 2 phút. Vừa chiếu vừa nói)HS: Phần lễ dâng hương luôn diễn ra trang trọng, có sự tham gia của nhiều làng trong huyện. Điều độc đáo là tại lễ hội có sự tham gia của đông đảo người dân trong huyện với những nghi thức khác nhau thể hiện tinh thần đoàn kết của nhân dân trong vùng.HS: Sau phần lễ là phần hội các bác ạ Phần hội được tổ chức rất nhiều trò chơi dân gian như trò chơi bơi chải, cờ người...đặc biệt là trò chơi đua thuyền trên dòng sông Ân là một đặc trưng của lễ hội cư dân đồng bằng ven biển chúng cháu. Ngoài ra, phần hội còn có phần thi hát ca trù, loại hình dân ca có liên quan nhiều đến cụ Nguyễn.HS: Trước tiên, cháu mời các bác thưởng thức hoạt cảnh: cụ Nguyễn Công Trứ Khai hoang mở đất thành lập huyện Kim Sơn chúng cháu do các bạn học sinh đội Núi vàng dàn dựng và biểu diễn.Chuyển sang Hoạt cảnh 2: Phân cảnh 1: Nguyễn Công Trứ cùng 2 lính canh (1 lính cầm giáo, 1 lính cầm lọng) ngồi trên thuyền đi kinh lý từ miền đất duyên hải Thái Bình về vùng đất mới (Có nhạc nền (hát chèo), dải lụa xanh tạo sóng) (kết hợp âm thanh 1)NCT: Kia rồi, ta đã nhìn thấy mảnh đất mới. Vùng đất hoang vu, toàn lau sậy, sình lầy ngập đến nửa người...(Nhạc nền (hát chèo)...)Lính canh 1 (vỗ muỗi): Cụ ơi Sao lắm muỗi thế ạ?NCT: Nơi đây còn hoang hóa nên muỗi bọ, rắn rết nhiều. Nhưng ta thấy lau sậy phát triển cao, nếu trồng cây lúa sẽ tươi tốt lắm đây...Phân cảnh 2: Cảnh dân làng đang mò cua bắt ốc tại sông Vực...(Dân làng cúi xuống mò cua bắt ốc, cho vào giỏ...Chợt có một người dân bị ngất vì đói lả...Dân làng dìu lên trên bờ...)Dân 4 bị ngất, dân làng đồng thanh: Ôi thôi, cô ơi, tỉnh dạy đi nào...Dân 1: Chắc là mệt, đói qúa nên bị lả đi đấy. Bà con đỡ cô ấy lên trên bờ cho uống tí nước.Dân 1: Ối bà con ơi, thủy triều lại lên rồi, bà con mình tìm chỗ đất cao tránh đi thôi kẻo bị ướt hết bây giờ.Dân 2: (Chỉ tay): Đằng kia đất cao, mình lại đấy đi bà con ơi...Bà con cùng nhau kéo ra chính giữa sân khấu.Dân 1: Bà con ơi Đi nhanh lên nào...đi lối này cơ mà...NCT: (thuyền dừng, quan bước xuống): Tất cả bà con, có chuyện gì thế này?Dân 1: Bẩm quan, nước biển theo thủy triều lại dâng rồi ạNCT: Nước dâng rồi ư? (NCT xuống thuyền đi dạo quanh một vòng, đi nhanh, dân đi theo, kết hợp âm thanh 2)NCT: Thưa bà con, vậy bà con định đi đâu?Dân 2: Dạ bẩm quan, chúng tôi chạy quanh chạy quẩn chứ còn biết chạy đi đâu nữa ạ, chỗ nào cao thì mình đến, chỗ nào ngập thì mình tránh đi. Dân vùng này như con giun phải nước ạ?Dân 3: Dạ thưa quan, vùng đất này rộng lớn nhưng thường xuyên bị nước biển dâng, ngập mặn. Khổ lắm quan ạ (dân đồng thanh nói và qùy xuống)NCT: Chỗ cao thì tìm đến, chỗ ngập thì tránh đi ư? Nước biển dâng ngập mặn, không trồng được cây lúa thì dân sống làm sao nổi? Kìa cụ, kìa bà con; mời cụ, mời bà con đứng dậy. NCT (NCT đến đỡ người dân đứng dậy): Cụ tên là gì?Dân 1: Dạ bẩm quan, tên lão là Phạm Đình Nhương. NCT: Ta thấy mảnh đất nơi đây rộng lớn nhưng đều bị bỏ hoang mà không thấy bà con trồng lúa?Dân 1: Dạ, Bẩm quan, vùng đất này rộng lớn nhưng bị bỏ hoang vì nhiễm mặn, dân muốn khai khẩn nhưng phí tổn nhiều, không đủ sức làm. Khổ lắm quan ạNCT: Ruộng bỏ hoang vì nhiễm mặn ư? Vậy hàng ngày, dân làng sinh sống bằng nghề gì?Dân 1 (Cụ Phạm Đình Nhương): Dạ, hàng ngày dân chỉ biết mò cua bắt ốc, để đăng, đó ở ven bờ sông Vực sống cho qua ngày thôi ạNCT: Hỡi ơi Giá như các quan biết được nỗi khổ của dân....giá như đức vua biết được dân khốn khó như thế này...NCT: Lính đâu? Lính đồng thanh: DạNCT: Mang hết lương thảo trên thuyền ta mang theo xuống đây?Lính canh đồng thanh: Vâng ạNCT: Bà con hãy nhận lấy, đây là tấm lòng của ta.Dân làng quay vào nói với nhau: Mình được cứu rồi bà con ơi...Mình sống rồi...Dân 1: Kìa bà con, mau nhận lấy đi.Dân đồng thanh qùy xuống đáp: Đội ơn quan lớn ạ. (chạy lại lấy lương thực)NCT: Bây giờ, bà con hãy đưa ta đi thị sát tại khu vực sông Vực.Dân đồng thanh: Dạ vâng ạNgười dân đưa cụ Nguyễn Công Trứ đi quanh khu vực sông Vực (vừa đi vừa chỉ)Dân 1: Dạ, đây là ngã ba sông Vực, con sông này đã cung cấp thức ăn cho dân ở vùng này ạ.NCT (ngắm 1 lúc, suy nghĩ): Ngã ba này vô cùng đặc biệt, ta đặt tên là Ngã ba Vua. Bà con sống khổ cực, thường xuyên bị nước biển dâng khiến cho đất bị nhiễm mặn, ruộng đồng không cày cấy được... Nay ta về kinh xin ý chỉ nhà Vua cấp kinh phí để quai đê, xây dựng hệ thống sông thoát nước. Bà con sẽ trồng được cây lúa mà ruộng đất không bị bỏ hoang.Dân đồng thanh: Đội ơn quan lớn ạ (kết hợp âm thanh 3)NCT và tùy tùng lên thuyền về kinh, dân đưa mắt nhìn theo mong mỏi, chờ đợi, đưa lời tấu của Nguyễn Công Trứ lên vua Minh Mệnh (HS đọc ở bên trong vọng ra): “Hiện ở trấn Ninh Bình ruộng bỏ hoang mênh mông bát ngát không biết mấy ngàn mẫu, nếu cấp cho tiền công thì có thể nhóm họp dân nghèo mà khai khẩn. Thêm nữa bãi lau sậy hoang rậm, trộm cướp thường tụ họp ở đấy làm sào huyệt, nay cho khai hoang lập làng, không những có thể cho dân nghèo làm ăn, lại còn dứt được đảng ác. Những đất hoang có thể khai khẩn được thì cho những người địa phương giàu có chia nhau trông coi cùng làm... Mộ được 50 người thì thành lập một làng cho làm lý trưởng. Mộ 30 người thì lập một ấp cho làm ấp trưởng. Mọi nhà đều được chia đất, cấp tiền công để làm cửa nhà, mua trâu bò nông cụ, lại lượng cấp tiền gạo, lương tháng trong hạn 6 tháng, ngoài hạn ấy thì làm lấy mà ăn. 3 năm thành ruộng chiếu lệ tư điền mà đánh thuế. Quan phủ huyện sở tại lập kho chứa thóc đề phòng năm mất mùa cho dân vay...”. Cảnh quan quay trở lại mảnh đất mới tại Ninh Bình. Dân làng ra đón mừng rỡ và đồng thanh nói: quan quay trở lại rồi bà con ơi.NCT: Thưa bà con, nay ta được vua Minh Mệnh chuẩn tấu về đây khai hoang vỡ đất, biến vùng bãi bồi hoang dại thành làng xóm thuần hậu. Ta thiết nghĩ đây là một vùng đất rộng lớn mà dân cư thưa thớt, sức người có hạn. Nay ta đem thêm các vị chiêu mộ, thứ mộ và nhân đinh đến cùng chung sức với bà con. Bà con có quyết tâm đồng lòng cùng ta mở mang bờ cõi không?Tất cả dân đồng thanh: Dạ có ạ Đội ơn đức vua, đội ơn quan lớn ạPhân cảnh 2: NCT chỉ đạo dân bằng bản đồ: Bây giờ, bà con hãy đào sông Ân nối sông Vạc với sông Càn để lấy nước ngọt. Mỗi làng lớn hoặc hai làng nhỏ thì đào kênh, đắp đường dẫn về đến thôn, xóm để tiêu úng lụt và thau chua rửa mặn. Tất cả mọi con sông nhỏ đều nối với sông Ân và sông Ân là thành động mạch chủ để dẫn nước về mọi ngả. Như vậy, bà con sẽ không lo ngập úng và bị nhiễm mặn, bà con sẽ trồng được cây lúa... Cảnh khai hoang, mở đất: Dùng dây thừng làm thành vòng tròn, cuốc xẻng đào sông, 4 người dùng dao chặt lau sậy hai bên sân khấu... khoảng 20 người dân cùng NCT và 2 lính canh. (kết hợp âm thanh di dân lấn biển) NCT: Bà con hãy cầm đèn chai để ngắm đường, đứng 1 hàng khi nào thẳng thì cắm 1 cọc, cứ vậy dịch chuyển, cắm cọc để đào sông, đào kênh mương... (kết hợp với âm thanh 5)Phân cảnh 3: Sau khi khai hoang mở đất xong, dân ngồi tâm sự.Dân 1: Phải nói là mệt nhưng vui phải không các bác?Dân 2: quan về đây Khai hoang mở đất cho chúng mình phải nói là qúa vui.Dân 3: Nhờ quan lớn quy hoạch đất đai theo ô bàn cờ mà việc tháo nước, mở nước vào ruộng của dân mình đều dựa vào thủy triều.Dân 4: Mà bà con này, tôi thấy quan mình thật sáng suốt khi dựa vào con bơn để đào rãnh, đào sông mà dân mình không tốn công tốn sức...quan giỏi thật đấy bà con nhỉ?NCT xuất hiện: Thưa bà con, đê đã quai, nước đã được dẫn vào đồng ruộng. Từ dòng sông Ân, bà con đã đào các nhánh sông nhỏ tỏa đi khắp thôn xóm như hình xương cá. Mỗi làng đã có 1 con sông chạy dọc theo chiều dài của làng để tiêu úng nước vào mùa lụt, thau chua rửa mặn cho đồng ruộng. Ta cũng yên tâm phần nào. Nay ta quyết định thành lập 7 tổng Chất, hồi, quy, hướng, tự, tuy, lai và 60 lý, trại, ấp; đất đai khai hoang được 16.400 mẫu ta cấp cho 1260 suất đinh. Bà con yên tâm sinh sống và làm ăn.Dân đồng thanh: Đội ơn quan lớn ạ... (Nhạc về Nguyễn Công Trứ nửa lời bài hát, và kết thúc phần kịch; HS ở dưới vỗ tay)Học sinh: Các bác ạ Kể từ ngày cụ Nguyễn Công Trứ về khẩn hoang, lập ấp tạo dựng nên vùng quê mới, quê hương cháu đã có thêm 7 lần quai đê, lấn biển, chinh phục bãi bồi, làm cho vùng đất mở ngày càng rộng dài thêm. Hiện nay, mảnh đất Kim Sơn có 27 xã, thị trấn, chiều dài của huyện tính từ xã Xuân Thiện (giáp Yên Khánh) về tới xã Kim Đông (giáp biển) là 32 km, chiều rộng tính từ xã Lai Thành (giáp Thanh Hoá) về đến Thượng Kiệm (giáp sông Đáy) là 8,5 km. Kim Sơn tính đến nay có diện tích tự nhiên trên 213 km2, trong đó đất canh tác lúa cói và nuôi trồng thủy sản chiếm gần 16 nghìn ha. Dân số Kim Sơn với 1.260 nhân đinh ngày mở đất đến nay đã có trên 175 nghìn người. Đồng bào theo đạo Thiên chúa chiếm gần 46% số dân trong huyện. Các thế hệ người Kim Sơn mãi tri ân công lao to lớn của cụ Doanh Điền Sứ Nguyễn Công Trứ. Công tích, cuộc đời và tên tuổi của ông mãi còn đó với thời gian. Khi còn sống, quê hương cháu đã lập đền thờ sống ông gọi là Sinh Từ. Khi ông mất, Truy Từ nơi thờ ông vẫn bốn mùa hương khói và đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia. Người Kim Sơn từ các bậc cao niên đến thế hệ trẻ chúng cháu hôm nay đều thán phục tài năng trong quy hoạch đồn điền của cụ từ ngày cụ di dân, mở đất, khai khẩn ruộng hoang và luôn ghi nhớ công lao to lớn của cụ:Truy Từ mới lập đền thờGhi công đức để đến giờ làm gương.Hoạt cảnh 3:

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KIM SƠN

TRƯỜNG THCS QUANG THIỆN

CHUYÊN ĐỀ TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO

Chủ đề:

KẾ THỪA, PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG QUÊ HƯƠNG

MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

Kim Sơn, tháng 1 năm 2018

CHƯƠNG TRÌNH BÁO CÁO

CHUYÊN ĐỀ TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO - MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

Trang 2

Chủ đề

KẾ THỪA, PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG QUÊ HƯƠNG

Buổi sáng, ngày /1/2018 Tại trường THCS Quang Thiện - huyện Kim Sơn

1 8h00 - 8h10 Văn nghệ chào mừng:

- Bài múa : Hào khí Việt Nam

- Bài hát múa: Quê hương tôi

- Song ca: thương ca tiếng Việt

Đội văn nghệ trường THCS Quang Thiện

2 8h10 - 8h15 Tuyên bố lí do

Giới thiệu đại biểu

Đ/c Chuyên viên PGDĐT

3 8h05 - 8h15 Báo cáo:

- Mục đích ý nghĩa chuyên đề;

- Qúa trình thực hiện,…

Đ/c Đinh Thị Minh Giáo viên Tr.THCS Quang Thiện

4 8h15 - 9h45 Thực hiện chuyên đề báo cáo Học sinh trường THCS

Quang Thiện

5 9h45 - 10h00 Giải lao

6 10h00 - 10h30 Thảo luận đánh giá chuyên đề - Đ/c Vũ Thị Hồng Nga

Lãnh đạo phòng GDTrH

7 10h30 - 10h45 Phát biểu chỉ đạo của Lãnh đạo

Sở GDĐT; Lãnh đạo Phòng GDTrH - Sở GDĐT

- Lãnh đạo Sở GDĐT

- Lãnh đạo phòng GDTrH

8 10h45 - 11h Phát biểu của Lãnh đạo Phòng

GDĐT Kim Sơn

Đ/c Đỗ Như Đường - Trưởng Phòng GDĐT Kim Sơn

9 11h-13h Mời Sở, các huyện & TP bạn

- Chương trình ẩm thực

- Phòng GDĐT Kim Sơn

- Tr.THCS Quang Thiện

NỘI DUNG HỌC SINH TRÌNH BÀY BÁO CÁO NỘI DUNG TRẢI NGHIỆM

Nhiệt liệt chào mừng các vị đại biểu, khách quý, các bậc huynh, các thầy cô giáo và các bạn học sinh đã về dự buổi báo cáo hoạt động trải nghiệm sáng tạo với chủ đề: “Kế thừa và phát huy truyền thống quê hương ”, môn giáo dục công dân trường THCS Quang Thiện

Trang 3

Kính thưa các vị đại biểu, khách quý!

Kính thưa các bậc phụ huynh, các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn!

Quê hương là cả một niềm cảm xúc đầy thương, đầy nhớ trong sâu thẳm trái tim mỗi con người Quê hương - hai tiếng gọi thân thương ngân nga trong lòng bao niềm tự hào về mảnh đất nơi ta sinh ra và lớn lên, nơi che chở, vỗ về cho tuổi thơ êm đềm, hạnh phúc Quê hương là bến đỗ bình yên trong cuộc đời mỗi con người, là cái đích để mỗi đứa con trở về

Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã từng viết :

Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người.

Chúng em tự hào được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương yêu dấu, nơi đây đã khắc ghi những kỉ niệm, những chiến công của các thế hệ cha anh, những người đã khai hoang mở đất, đã chiến đấu và lao động để dựng xây Kim Sơn giàu đẹp Là những học sinh khối 9, không bao lâu nữa chúng em sẽ cất bước vào đời, chúng em luôn mong muốn tìm hiểu về quê hương để có thể kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp của các thế hệ cha anh Sau thời gian thực hiện hoạt động trải nghiệm thực tế , Hôm nay, chúng em xin được báo cáo kết quả Hoạt động trải nghiệm sáng

tạo với chủ đề “Kế thừa, phát huy truyền thống quê hương” như là một sự tri ân đến

các thế hệ cha anh, một lời hứa sẽ kế thừa, tiếp nối để dựng xây quê hương Kim Sơn ngày một thêm tươi đẹp hơn nữa

Kính thưa các vị đại biểu, khách quý!

Kính thưa các bậc phụ huynh, các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn.

Từ khi được cô giáo dạy môn GDCD giao nhiệm vụ,chúng em đã cùng nhau đọc, tìm hiểu trao đổi, thảo luận và phân công mỗi người một nhiệm vụ: nhóm chuẩn

bị kịch bản; nhóm chuẩn bị đạo cụ, trang phục; nhóm tập diễn xuất, múa, hát, nhóm thì vẽ tranh dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô giáo Và đặc biệt chúng em được tham dự một chuyến đi trải nghiệm thực tế được tham gia thực hành để tìm hiểu

về mảnh đất, con người quê hương Kim Sơn đầy lí thú Qua thời gian tập luyện, hôm nay chúng em xin được vui mừng gửi tới các vị đại biểu, khách quý, các bậc phụ huynh, các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn kết quả của sự cố gắng, nỗ lực luyện tập của chúng em trong thời gian qua Em xin thay mặt cho tất cả các bạn HS gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo Dương Thị Thu Hiền, các thầy cô trong ban giám hiệu,

cô Trần Thị Thu Hiền, cô Nguyễn Phương Hiền và các thầy cô trong hội đồng sư phạm nhà trường đã giúp đỡ, chỉ bảo cho chúng em thực hiện hoạt động trải nghiệm thú vị này Chúng cháu cũng xin cảm ơn ông Hoàng Quốc Việt là thủ từ đền Nguyễn Công Trứ đã giúp chúng cháu có thêm nhiều hiểu biết về lịch sử hình thành huyện Kim Sơn và cụ Nguyễn Công Trứ Cảm ơn lãnh đạo Đảng, chính quyền và ban văn hóa xã và các nhà tài trợ, các bậc cha mẹ đã có những ủng hộ về tinh thần và vật chất

để chúng cháu thực hiện hoạt động trải nghiệm này

Trang 4

Nội dung của buổi báo cáo hôm nay gồm có:

Một là: Sân khấu hoá nội dung tìm hiểu về doanh điền sứ: Nguyễn công Trứ với vai trò thành lập huyện Kim Sơn

Hai là: Giới thiệu về sự kế thừa và phát huy truyền thống của Kim Sơn trong giai đoạn hiện nay

Ba là phần giao lưu và bình chọn của khán giả

Tham gia hoạt động TNST này, chúng em đã chia thành hai đội đó là đội Núi vàng và đội Biển bạc Sau đây xin mời đại diện hai đội lên sân khấu:

Đội Núi vàng:

Đội Núi vàng xin kính chào các vị đại biểu, khách quý, các bậc phụ huynh, các thầy cô giáo và toàn thể các bạn Đội Núi vàng chúng em gồm có 10 thành viên Đó

là các bạn: ……… và em đội trưởng :

Đội Biển bạc:

Xin giới thiệu đội chúng em mang tên Biển bạcgồm có 10 thành viên đại diện:

người đầu tiên cũng là đội trưởng là em, tiếp theo là các bạn: Xin một tràng vỗ tay của các quý vị đại biểu, các thầy cô giáo và các bạn để cổ vũ động viên cho đội chúng em Xin chân thành cảm ơn!

Xin cảm ơn phần giới thiệu của hai đội!

Góp phần quan trọng trong hoạt động TNST hôm nay còn có toàn thể các khán giả, các cổ động viên Xin hỏi các bạn ngồi ở đâu (bên dưới hs vẫy tay hò reo)

Xin cảm ơn các bạn!

Xin mời 2 đội về sau cánh gà để chuẩn bị các nội dung diễn xuất của đội mình

Đầu tiên : Xin mời các vị đại biểu khách quý, các bậc phụ huynh, các thầy cô

giáo cùng toàn thể các bạn thưởng thức hoạt cảnh:

NGUYỄN CÔNG TRỨ VÀ SỰ HÌNH THÀNH HUYỆN KIM SƠN

Đội 1: Núi vàng (kịch bản)

ĐỘI 1: NGUYỄN CÔNG TRỨ VÀ SỰ HÌNH THÀNH HUYỆN KIM SƠN

Hoạt cảnh chính thức: Đoàn khách du lịch gồm 5 người từ Hà Nội về thăm Kim Sơn Khi đi đến đền Nguyễn Công Trứ thì gặp lễ hội và dừng lại tham dự lễ hội

Trang 5

Hoạt cảnh 1: (Chiếu phong cảnh Kim Sơn, cầu ngói, nhà thờ đá Phát Diệm và dừng máy chiếu tại đền Nguyễn Công Trứ)

Khách 1 (nữ): Con, đi chậm thôi, mình đến đền phải trang nghiêm con

Con: Vâng, mẹ ạ!

Khách 2 (nam): Có vẻ như đây là một lễ hội của huyện Kim Sơn, chúng ta thật may mắn vì đến đúng ngày lễ hội

Khách 2 (nam): Cháu ơi, đây là lễ hội gì vậy?

Học sinh (người dẫn chương trình của đội 1): Dạ vâng các bác ạ! Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ là lễ hội truyền thống của quê hương Kim Sơn chúng cháu Cháu mời các bác cùng tham dự lễ hội, cháu xin được làm hướng dẫn viên du lịch cho các bác

Khách 2 (nam): Vậy thì tốt qúa, các bác cảm ơn cháu, cháu thật nhiệt tình HS: Cháu mời các bác ạ!

(Dẫn các vị khách vào)

HS: Các bác ạ Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ là lễ hội lớn nhất của cư dân huyện ven biển Kim Sơn chúng cháu để ghi nhớ công ơn của cụ Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ - người đã chiêu dân khai hoang lấn biển lập ra huyện Kim Sơn (núi vàng) của Ninh Bình Lễ hội diễn ra từ ngày 12 đến 14 tháng 11 âm lịch hàng năm tại xã quang Thiện – huyện Kim Sơn để ghi nhớ công ơn "di dân, lấn biển, lập ấp" của cụ Nguyễn Công Trứ

HS: Sau đây cháu mời các bác tham dự phần lễ dâng hương của lễ hội

(Chiếu video lễ dâng hương khoảng 2 phút Vừa chiếu vừa nói)

HS: Phần lễ dâng hương luôn diễn ra trang trọng, có sự tham gia của nhiều làng trong huyện Điều độc đáo là tại lễ hội có sự tham gia của đông đảo người dân trong huyện với những nghi thức khác nhau thể hiện tinh thần đoàn kết của nhân dân trong vùng

HS: Sau phần lễ là phần hội các bác ạ! Phần hội được tổ chức rất nhiều trò chơi dân gian như trò chơi bơi chải, cờ người đặc biệt là trò chơi đua thuyền trên dòng sông Ân là một đặc trưng của lễ hội cư dân đồng bằng ven biển chúng cháu Ngoài ra, phần hội còn có phần thi hát ca trù, loại hình dân ca có liên quan nhiều đến cụ Nguyễn

HS: Trước tiên, cháu mời các bác thưởng thức hoạt cảnh: cụ Nguyễn Công Trứ

"Khai hoang mở đất" thành lập huyện Kim Sơn chúng cháu do các bạn học sinh đội

"Núi vàng" dàn dựng và biểu diễn

Chuyển sang Hoạt cảnh 2:

Phân cảnh 1: Nguyễn Công Trứ cùng 2 lính canh (1 lính cầm giáo, 1 lính cầm lọng) ngồi trên thuyền đi " kinh lý" từ miền đất duyên hải Thái Bình về vùng đất mới (Có nhạc nền (hát chèo), dải lụa xanh tạo sóng) (kết hợp âm thanh 1)

NCT: Kia rồi, ta đã nhìn thấy mảnh đất mới Vùng đất hoang vu, toàn lau sậy, sình lầy ngập đến nửa người

(Nhạc nền (hát chèo) )

Lính canh 1 (vỗ muỗi): Cụ ơi! Sao lắm muỗi thế ạ?

Trang 6

NCT: Nơi đây còn hoang hóa nên muỗi bọ, rắn rết nhiều Nhưng ta thấy lau sậy phát triển cao, nếu trồng cây lúa sẽ tươi tốt lắm đây

Phân cảnh 2: Cảnh dân làng đang mò cua bắt ốc tại sông Vực

(Dân làng cúi xuống mò cua bắt ốc, cho vào giỏ Chợt có một người dân bị ngất vì đói lả Dân làng dìu lên trên bờ )

Dân 4 bị ngất, dân làng đồng thanh: Ôi thôi, cô ơi, tỉnh dạy đi nào

Dân 1: Chắc là mệt, đói qúa nên bị lả đi đấy Bà con đỡ cô ấy lên trên bờ cho uống tí nước

Dân 1: Ối bà con ơi, thủy triều lại lên rồi, bà con mình tìm chỗ đất cao tránh đi thôi kẻo bị ướt hết bây giờ

Dân 2: (Chỉ tay): Đằng kia đất cao, mình lại đấy đi bà con ơi

Bà con cùng nhau kéo ra chính giữa sân khấu

Dân 1: Bà con ơi! Đi nhanh lên nào đi lối này cơ mà

NCT: (thuyền dừng, quan bước xuống): Tất cả bà con, có chuyện gì thế này? Dân 1: Bẩm quan, nước biển theo thủy triều lại dâng rồi ạ!

NCT: Nước dâng rồi ư?

(NCT xuống thuyền đi dạo quanh một vòng, đi nhanh, dân đi theo, kết hợp âm thanh 2)

NCT: Thưa bà con, vậy bà con định đi đâu?

Dân 2: Dạ bẩm quan, chúng tôi chạy quanh chạy quẩn chứ còn biết chạy đi đâu nữa ạ, chỗ nào cao thì mình đến, chỗ nào ngập thì mình tránh đi Dân vùng này như con giun phải nước ạ?

Dân 3: Dạ thưa quan, vùng đất này rộng lớn nhưng thường xuyên bị nước biển dâng, ngập mặn Khổ lắm quan ạ! (dân đồng thanh nói và qùy xuống)

NCT: Chỗ cao thì tìm đến, chỗ ngập thì tránh đi ư? Nước biển dâng ngập mặn, không trồng được cây lúa thì dân sống làm sao nổi? Kìa cụ, kìa bà con; mời cụ, mời

bà con đứng dậy

NCT (NCT đến đỡ người dân đứng dậy): Cụ tên là gì?

Dân 1: Dạ bẩm quan, tên lão là Phạm Đình Nhương

NCT: Ta thấy mảnh đất nơi đây rộng lớn nhưng đều bị bỏ hoang mà không thấy bà con trồng lúa?

Dân 1: Dạ, Bẩm quan, vùng đất này rộng lớn nhưng bị bỏ hoang vì nhiễm mặn, dân muốn khai khẩn nhưng phí tổn nhiều, không đủ sức làm Khổ lắm quan ạ!

NCT: Ruộng bỏ hoang vì nhiễm mặn ư? Vậy hàng ngày, dân làng sinh sống bằng nghề gì?

Dân 1 (Cụ Phạm Đình Nhương): Dạ, hàng ngày dân chỉ biết mò cua bắt ốc, để đăng, đó ở ven bờ sông Vực sống cho qua ngày thôi ạ!

NCT: Hỡi ơi! Giá như các quan biết được nỗi khổ của dân giá như đức vua biết được dân khốn khó như thế này

NCT: Lính đâu?

Lính đồng thanh: Dạ!

NCT: Mang hết lương thảo trên thuyền ta mang theo xuống đây?

Lính canh đồng thanh: Vâng ạ!

Trang 7

NCT: Bà con hãy nhận lấy, đây là tấm lòng của ta.

Dân làng quay vào nói với nhau: Mình được cứu rồi bà con ơi Mình sống rồi

Dân 1: Kìa bà con, mau nhận lấy đi

Dân đồng thanh qùy xuống đáp: Đội ơn quan lớn ạ (chạy lại lấy lương thực)

NCT: Bây giờ, bà con hãy đưa ta đi thị sát tại khu vực sông Vực

Dân đồng thanh: Dạ vâng ạ!

Người dân đưa cụ Nguyễn Công Trứ đi quanh khu vực sông Vực (vừa đi vừa chỉ)

Dân 1: Dạ, đây là ngã ba sông Vực, con sông này đã cung cấp thức ăn cho dân

ở vùng này ạ

NCT (ngắm 1 lúc, suy nghĩ): Ngã ba này vô cùng đặc biệt, ta đặt tên là "Ngã ba Vua" Bà con sống khổ cực, thường xuyên bị nước biển dâng khiến cho đất bị nhiễm mặn, ruộng đồng không cày cấy được Nay ta về kinh xin ý chỉ nhà Vua cấp kinh phí

để quai đê, xây dựng hệ thống sông thoát nước Bà con sẽ trồng được cây lúa mà ruộng đất không bị bỏ hoang

Dân đồng thanh: Đội ơn quan lớn ạ!

(kết hợp âm thanh 3)

NCT và tùy tùng lên thuyền về kinh, dân đưa mắt nhìn theo mong mỏi, chờ đợi, đưa lời tấu của Nguyễn Công Trứ lên vua Minh Mệnh (HS đọc ở bên trong vọng ra):

“Hiện ở trấn Ninh Bình ruộng bỏ hoang mênh mông bát ngát không biết mấy ngàn mẫu, nếu cấp cho tiền công thì có thể nhóm họp dân nghèo mà khai khẩn Thêm nữa bãi lau sậy hoang rậm, trộm cướp thường tụ họp ở đấy làm sào huyệt, nay cho khai hoang lập làng, không những có thể cho dân nghèo làm ăn, lại còn dứt được đảng ác Những đất hoang có thể khai khẩn được thì cho những người địa phương giàu có chia nhau trông coi cùng làm Mộ được 50 người thì thành lập một làng cho làm lý trưởng Mộ 30 người thì lập một ấp cho làm ấp trưởng Mọi nhà đều được chia đất, cấp tiền công để làm cửa nhà, mua trâu bò nông cụ, lại lượng cấp tiền gạo, lương tháng trong hạn 6 tháng, ngoài hạn ấy thì làm lấy mà ăn 3 năm thành ruộng chiếu lệ

tư điền mà đánh thuế Quan phủ huyện sở tại lập kho chứa thóc đề phòng năm mất mùa cho dân vay ”.

Cảnh quan quay trở lại mảnh đất mới tại Ninh Bình Dân làng ra đón mừng rỡ

và đồng thanh nói: quan quay trở lại rồi bà con ơi

NCT: Thưa bà con, nay ta được vua Minh Mệnh chuẩn tấu về đây khai hoang

vỡ đất, biến vùng bãi bồi hoang dại thành làng xóm thuần hậu Ta thiết nghĩ đây là một vùng đất rộng lớn mà dân cư thưa thớt, sức người có hạn Nay ta đem thêm các vị chiêu mộ, thứ mộ và nhân đinh đến cùng chung sức với bà con Bà con có quyết tâm đồng lòng cùng ta mở mang bờ cõi không?

Tất cả dân đồng thanh: Dạ có ạ! Đội ơn đức vua, đội ơn quan lớn ạ!

Phân cảnh 2:

NCT chỉ đạo dân bằng bản đồ: Bây giờ, bà con hãy đào sông Ân nối sông Vạc với sông Càn để lấy nước ngọt Mỗi làng lớn hoặc hai làng nhỏ thì đào kênh, đắp đường dẫn về đến thôn, xóm để tiêu úng lụt và thau chua rửa mặn Tất cả mọi con

Trang 8

sông nhỏ đều nối với sông Ân và sông Ân là thành động mạch chủ để dẫn nước về mọi ngả Như vậy, bà con sẽ không lo ngập úng và bị nhiễm mặn, bà con sẽ trồng được cây lúa

Cảnh khai hoang, mở đất: Dùng dây thừng làm thành vòng tròn, cuốc xẻng

đào sông, 4 người dùng dao chặt lau sậy hai bên sân khấu khoảng 20 người dân cùng NCT và 2 lính canh

(kết hợp âm thanh di dân lấn biển)

NCT: Bà con hãy cầm đèn chai để ngắm đường, đứng 1 hàng khi nào thẳng thì cắm 1 cọc, cứ vậy dịch chuyển, cắm cọc để đào sông, đào kênh mương

(kết hợp với âm thanh 5)

Phân cảnh 3: Sau khi khai hoang mở đất xong, dân ngồi tâm sự.

Dân 1: Phải nói là mệt nhưng vui phải không các bác?

Dân 2: quan về đây "Khai hoang mở đất" cho chúng mình phải nói là qúa vui Dân 3: Nhờ quan lớn quy hoạch đất đai theo ô bàn cờ mà việc tháo nước, mở nước vào ruộng của dân mình đều dựa vào thủy triều

Dân 4: Mà bà con này, tôi thấy quan mình thật sáng suốt khi dựa vào "con bơn" để đào rãnh, đào sông mà dân mình không tốn công tốn sức quan giỏi thật đấy

bà con nhỉ?

NCT xuất hiện: Thưa bà con, đê đã quai, nước đã được dẫn vào đồng ruộng Từ dòng sông Ân, bà con đã đào các nhánh sông nhỏ tỏa đi khắp thôn xóm như hình xương cá Mỗi làng đã có 1 con sông chạy dọc theo chiều dài của làng để tiêu úng nước vào mùa lụt, thau chua rửa mặn cho đồng ruộng Ta cũng yên tâm phần nào Nay ta quyết định thành lập 7 tổng "Chất, hồi, quy, hướng, tự, tuy, lai" và 60 lý, trại, ấp; đất đai khai hoang được 16.400 mẫu ta cấp cho 1260 suất đinh Bà con yên tâm sinh sống và làm ăn

Dân đồng thanh: Đội ơn quan lớn ạ (Nhạc về "Nguyễn Công Trứ - nửa lời bài hát, và kết thúc phần kịch; HS ở dưới vỗ tay)

Học sinh: Các bác ạ! Kể từ ngày cụ Nguyễn Công Trứ về khẩn hoang, lập ấp tạo dựng nên vùng quê mới, quê hương cháu đã có thêm 7 lần quai đê, lấn biển, chinh phục bãi bồi, làm cho vùng đất mở ngày càng rộng dài thêm Hiện nay, mảnh đất Kim Sơn có 27 xã, thị trấn, chiều dài của huyện tính từ xã Xuân Thiện (giáp Yên Khánh)

về tới xã Kim Đông (giáp biển) là 32 km, chiều rộng tính từ xã Lai Thành (giáp Thanh Hoá) về đến Thượng Kiệm (giáp sông Đáy) là 8,5 km Kim Sơn tính đến nay

có diện tích tự nhiên trên 213 km2, trong đó đất canh tác lúa - cói và nuôi trồng thủy sản chiếm gần 16 nghìn ha Dân số Kim Sơn với 1.260 nhân đinh ngày mở đất đến nay đã có trên 175 nghìn người Đồng bào theo đạo Thiên chúa chiếm gần 46% số dân trong huyện

Các thế hệ người Kim Sơn mãi tri ân công lao to lớn của cụ Doanh Điền Sứ Nguyễn Công Trứ Công tích, cuộc đời và tên tuổi của ông mãi còn đó với thời gian Khi còn sống, quê hương cháu đã lập đền thờ sống ông gọi là Sinh Từ Khi ông mất, Truy Từ nơi thờ ông vẫn bốn mùa hương khói và đã được công nhận là di tích lịch sử

- văn hoá Quốc gia Người Kim Sơn từ các bậc cao niên đến thế hệ trẻ chúng cháu

Trang 9

hôm nay đều thán phục tài năng trong quy hoạch đồn điền của cụ từ ngày cụ di dân,

mở đất, khai khẩn ruộng hoang và luôn ghi nhớ công lao to lớn của cụ:

"Truy Từ mới lập đền thờ Ghi công đức để đến giờ làm gương."

Hoạt cảnh 3:

Học sinh: Các bác ạ! Phần hội của lễ hội đền Nguyễn Công Trứ không thể thiếu được hoạt động bơi chải và hát ca trù Trên dòng sông Ân hiền hòa, các đội bơi đến từ các xã tranh tài với nhau Bơi chải chính là hoạt động truyền thống của quê hương ven biển chúng cháu Cháu mời các bác cùng tham gia hoạt động bơi chải tại lễ hội năm nay

(HS vừa nói thuyết minh, các đội vừa tham gia tái hiện hoạt động bơi chải khoảng 1 phút, có tiếng hò reo cổ vũ của HS bên dưới)

Học sinh: Sinh thời, cụ Nguyễn Công Trứ rất mê hát ả đào nên tại lễ hội truyền thống đền Nguyễn Công Trứ thường xuyên tổ chức thi hát ca trù Tại lễ hội năm nay, bạn Ngọc Anh trường THCS quang Thiện có mang đến lễ hội tiết mục ca trù "Hồng hồng tuyết tuyết" Cháu mời các bác cùng thưởng thức tiết mục hát ca trù "Hồng hồng tuyết tuyết" ạ!

Sau khi học sinh giới thiệu xong, đoàn khách du lịch có điện thoại và phải dời đến địa điểm khác.

Khách 1 (nữ, nghe có tiếng chuông điện thoại): Alo Vâng vâng

Khách 1 (nữ, quay sang nói với vị khách nam): Có lẽ đoàn mình di chuyển sang địa điểm Nhà thờ đá Phát Diệm thôi bác ạ, mọi người đang chờ ở đó

Khách 2 ( nam gật đầu): Các bác cảm ơn cháu rất nhiều, ngày hôm nay bác và mọi người trong đoàn được tham dự lễ hội truyền thống vô cùng ý nghĩa của quê hương cháu Hẹn gặp lại cháu trong một thời gian gần nhất Tạm biệt cháu

Con: Chị ơi! quê hương chị đẹp qúa! Hẹn gặp lại chị ạ Em chào chị ạ!

Học sinh: Cháu chào các bác ạ! Chị chào em!

PhươngLiên: Các bạn ơi, các bạn thấy diễn xuất của đội núi vàng có hay không ạ (Khán giả trả lời) Xin hãy tặng thêm một tràng pháo tay thật lớn cho phần diễn xuất tuyệt vời của đội Núi vàng Xin cảm ơn vở kịch của các bạn, cảm ơn các bạn đã giúp chúng ta hiểu về sự ra đời của mảnh đất Kim Sơn, hiểu về công lao của doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ để chúng ta thêm trân trong biết ơn hơn những giá trị tươi đẹp của quê hương mà chúng ta đang thừa hưởng

- Trải qua 188 năm từ khi được cha ông khai mở, Kim Sơn hôm nay đã phát triển như thế nào, xin mời phần trình bày của các bạn đội biển bạc:

II Đội Biển Bạc: Giới thiệu về truyền thống của Kim Sơn trong giai đoạn

hiện nay

ĐỘI II – BIỂN BẠC Hai học sinh giới thiệu kết hợp trình chiếu

- Kính thưa:

Là một vùng đất trẻ nhưng Kim Sơn cũng đã góp phần không nhỏ trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng bộ và nhân

Trang 10

dân huyện Kim Sơn đã viết nên những trang sử hào hùng, góp phần cùng cả nước

đánh thắng hai “Đế quốc to” Đó là chiến công trên cả hai mặt trận vừa chiến đấu

vừa sản xuất

* Truyền thống đoàn kết, anh dũng trong kháng chiến:

- Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, cán bộ Đảng viên và nhân dân huyện Kim Sơn đã nêu cao tinh thần yêu nước, ý chí quật cường, không sợ hy sinh gian khổ tham gia đánh địch hàng trăm trận Trong đó có những trận đánh oanh liệt như: trận Bình Sa (tháng 10 năm 1949), trận đánh ở Thị trấn Phát Diệm (tháng 12 năm 1951), ở Tiểu khu I (tháng 4 năm 1952), ở Định Hóa, Văn Hải (tháng 3 năm 1954)…

- Tiêu diệt được 1089 tên địch, làm bị thương 11207 tên, bắt sống 7048 tên, thu

108 súng bộ binh, phá hủy 2 khẩu đại bác, 25 xe cơ giới, diệt 6 xe tăng, phá hủy 1 kho xăng,…Ngoài ra nhân dân Kim Sơn còn đóng góp cho kháng chiến gần 100 lạng vàng, 3.742.000 đồng mua công trái kháng chiến, hàng ngàn tấn lương thực thực phẩm, huy động hàng vạn ngày công phục vụ chiến đấu Trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, xuất hiện nhiều tấm gương dũng cảm như: anh hùng lực lượng vũ trang Đậu Quý Khiêm, Bùi Thị Nhạn, Trần Quý Ly, Nguyễn Bá Sơ và nhiều tấm gương dũng cảm khác.( Kèm hình ảnh minh họa)

- Lần theo những chiến công của quân, dân huyện Kim Sơn thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chúng tôi về địa phương tìm hiểu, “lật giở” chiến công bắn rơi máy bay Mỹ của những chiến sĩ dân quân Kim Đài năm xưa Nhắc đến những chiến công xưa, nét mặt họ ai nấy đều rạng ngời Qua lời kể đã hiện lên trong chúng tôi một quá khứ gian khổ nhưng oanh liệt của những năm tháng xây dựng, chiến đấu

và trưởng thành của Trung đội dân quân phòng không Kim Đài năm xưa

(Hình ảnh thầy, trò đi trải nghiệm)

- Thôn Kim Đài (xã Kim Chính, Kim Sơn) có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong chiến tranh chống đế quốc Mỹ phá hoại Đây là vùng ngã 3 sông Đáy, sông Vạc, tiếp giáp giữa 3 tỉnh Thanh Hóa, Nam Định, Ninh Bình, được coi là “cửa ngõ” của tỉnh, của quân khu.Ngoài vị trí là tuyến đường bay vào của máy bay địch, Kim Đài còn là một trọng điểm bắn phá để ngăn chặn các tuyến giao thông đường sông, đường biển của ta Nhận thức được vị trí chiến lược quan trọng của địa bàn vùng ven biển, Trung đội dân quân phòng không Kim Đài quyết tâm bảo vệ vị trí bằng tất cả nhiệt huyết, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mảnh đất quê hương ( Kèm bản đồ)

- Với quyết tâm đó, Trung đội dân quân phòng không Kim Đài hạ được 5 máy bay bằng súng trường K44 và lập được nhiều chiến công khác Những thắng lợi ấy của trung đội dân quân Kim Đài là chiến thắng của tinh thần đoàn kết, dũng cảm, mưu trí và nỗ lực vượt qua khó khăn, quyết chiến quyết thắng của toàn trung đội

- Bên cạnh những đóng góp to lớn đó thì rất nhiều những người con ưu tú của Huyện Kim Sơn đã nằm sâu và bỏ lại một phần thân thể ở các chiến trường, đó là: 1.908 người hy sinh, 866 thương binh, 823 bệnh binh,…Đó là biểu tượng sáng ngời của tinh thần yêu nước, sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng góp phần tô thắm thêm truyền thống cách mạng hào hùng, mãi mãi là niềm tự hào của Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân huyện Kim Sơn

Ngày đăng: 24/01/2018, 21:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w