1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thực trạng tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

19 544 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 40,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam . 1. Lý do chọn đề tài Chiếm trên 97% số doanh nghiệp cả nước, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã và đang góp phần quan trọng tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đều có chủ trương, chính sách tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển Trước xu thế hài hòa các chuẩn mực và quy định về kế toán trên phạm vi toàn cầu, nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đều xây dựng chuẩn mực kế toán doanh nghiệp trên cơ sở chuẩn mực quốc tế. Do đó, việc nghiên cứu xây dựng chế độ kế toán áp dụng riêng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang là một vấn đề thiết yếu, phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay 2. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu này nhằm hướng tới việc xây dựng một chế độ kế toán hợp lý cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các mục tiêu cụ thể được xác định như sau: • Nhận định các quan điểm của một số nước trên thế giới về việc ban hành chuẩn mực kế toán cho các DNVVN. • Xác định những hạn chế khi các DNVVN áp dụng chuẩn mực kế toán chung. • Xác định chuẩn mực kế toán quốc tế cho các DNVVN. • Xác định sự cần thiết trong việc xây dựng chuẩn mực kế toán riêng cho các DNVVN tại Việt Nam. • Định hướng xây dựng chuẩn mực kế toán riêng cho các DNVVN tại Việt Nam. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài:Sự cần thiết có một chế độ kế toán riêng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu về sự cần thiết có một chế độ kế toán riêng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.Trong quá trình nghiên cứu không chỉ tập trung đánh giá sự cần thiết có một chế độ kế toán riêng cho DN, tình hình phát triển của tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ.Khảo sát thực tế, vận dụng đánh giá những ưu nhược điểm của công tác tổ chức kế toán.Đề xuất những giải pháp nhằm giúp hệ thống ngày càng hoàn thiện hơn, phục vụ tốt hơn cho công tác kế toán. Về thời gian nghiên cứu: Tài liệu, dữ liệu, thông tin được thu thập chủ yếu trong 2 năm 2013 và 2014, các giải pháp đến năm 2020. Về không gian nghiên cứu của đề tài: Trên địa bàn Thành phố Hà Nội. 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm so sánh, đối chiếu, phương pháp phân tích và tổng hợp… Để có căn cứ cho việc đánh giá thực trạng tổ chức công tác tại DNVVN, chúng em đã sử dụng phương pháp thống kê trên một mẫu DNVVN. 5. Bố cục của bài nghiên cứu Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan về tổ chức kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Chương I: TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Tiêu chuẩn xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp siêu nhỏ, vừa và nhỏ hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước mình. Ở Việt Nam, theo Điều 3, Nghị định số 562009NĐCP ngày 3062009 của Chính phủ, quy định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp vừa. 2. Khái niệm chế độ kế toán doanh nghiệp Chế độ kế toán là những quy định và hướng dẫn về kế toán trong một lĩnh vực hoặc một số công việc cụ thể do cơ quan quản lý nhà nước về kế toán hoặc tổ chức được cơ quan quản lý nhà nước về kế toán ủy quyền ban hành. Các doanh nghiệp đều phải tuân thủ theo các chế độ kế toán đã quy định, việc áp dụng các chế độ kế toán này không chỉ nâng cao hiệu quả của bộ máy kế toán trong các doanh nghiệp mà còn giúp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý các hoạt động kinh tế tài chính ngày càng phức tạp, phong phú và đa dạng của nền kinh tế nói chung với tiến trình mở cửa, hội nhập nói riêng. 3. Các yêu cầu của tổ chức kế toán doanh nghiệp Việc tổ chức công tác kế toán trong một doanh nghiệp phải đảm bảo những yêu cầu sau: Yêu cầu về pháp lý: Khi tổ chức công tác kế toán phải xem xét đến việc tuân thủ Luật kế toán, hệ thống chuẩn mực kế toán, các qui định, thông tư hướng dẫn thực hiện chế độ kế toán trong doanh nghiệp và các văn bản pháp qui khác có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động kế toán như các bộ luật về thuế, Luật doanh nghiệp… Do đó, doanh nghiệp cần nắm vững hệ thống văn bản pháp quy và việc vận hành trong thực tế của hệ thống này. Yêu cầu về quản lý: Yêu cầu quản lý của doanh nghiệp thường rất đa dạng và không giống nhau, mặc dù mục đích cuối cùng của hoạt động kinh doanh là như nhau. Do đó khi tổ chức công tác kế toán cần nắm bắt đầy đủ các yêu cầu về quản lý của doanh nghiệp để xây dựng hệ thống kế toán cho phù hợp. Các yêu cầu về quản lý có thể là nội dung, tính chất, thời điểm cung cấp thông tin kế toán; các yêu cầu quản lý hoạt động kinh doanh trong nội bộ doanh nghiệp; yêu cầu về quản lý vốn, tài sản hay quản lý nguồn nhân lực… 4. Các nội dung cơ bản của tổ chức công tác kế toán Nhìn chung, tổ chức công tác kế toán của một doanh nghiệp bao gồm các nhiệm vụ: tổ chức hệ thống chứng từ kế toán; tổ chức hệ thống tài khoản kế toán; tổ chức hệ thống sổ kế toán và tổ chức cung cấp thông tin qua hệ thống báo cáo kế toán. 5. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán của DNVVN a) Người sử dụng và thông tin cần thiết: Đối với DNVVN, người sử dụng thông tin thường chỉ giới hạn ơ hai đối tượng là nhà quản lý và cơ quan thuế vì họ chưa có nhu cầu huy động vốn từ nhà đầu tư bên ngoài và từ các ngân hàng. Để phục vụ cho hai đối tượng sử dụng thông tin trên, hệ thống kế toán của DNVVN thường đơn giản, các báo cáo tài chính thường không phức tạp, ít chỉ tiêu, phù hợp với chi phí mà doanh nghiệp có thể chi trả. b) Các quy định pháp lý Quy định pháp lý là các chính sách quản lý kinh tế tài chính mà cơ quan nhà nước ban hành nhằm bắt buộc hoặc hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện. Phần lớn các quốc gia trên thế giới đều có những quy định về kế toán cho cả doanh nghiệp lớn lẫn các DNVVN. Tuy nhiên, các quy định chi phối DNVVN sẽ ít và đơn giản hơn, trách nhiệm về báo cáo và trách nhiệm về kiểm toán của các doanh nghiệp này cũng được tinh giảm nhiều. c) Hệ thống kiểm soát nội bộ Hệ thống kiểm soát nội bộ là những thủ tục sử dụng nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức công tác kế toán là đảm bảo an toàn cho tài sản và đảm bảo dữ liệu kế toán có độ chính xác cao, đáng tin cậy. Một sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ là cần thiết đối với bất kì kế toán viên nào vì việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ ảnh hưởng đến khối lượng công việc mà họ phải thực hiện khi tiến hành kiểm tra độ chính xác của các thông tin kế toán. d) Yêu cầu và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin Công nghệ thông tin có ảnh hưởng rất lớn đến công tác kế toán trong một doanh nghiệp. Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT cào công tác kế toán tại các DNVVN còn gặp nhiều trở ngại do những nguyên nhân như: nhận thức của người quản lý, thiếu tầm nhìn chiến lược về ứng dụng CNTT, thiếu vốn… Song hiện nay, những hạn chế trên đã giảm đáng kể nhờ sự phát triển của thị trường CNTT, việc cung cấp những phần mềm kế toán như Accnet 2004, Fast Accounting 2006, Bravo 6.0, Effect…hay thuê viết một chương trình phần mềm kế toán phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp không còn xa lạ với các DNVVN. e) Các dịch vụ tài chính – kế toán Dịch vụ tài chính – kế toán là loại hình nhằm trợ giúp, tư vấn cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp về luật pháp, chế độ, thể chế tài chính kế toán của nhà nước, cũng như việc lập, ghi sổ kế toán, tính thuế và lập báo cáo tài chính. Hiện nay, các dịch vụ tài chính kế toán phổ biến thường là dịch vụ làm kế toán, lập báo cáo tài chính, các dịch vụ thuế như hướng dẫn và tư vấn thuế, lập tờ khai thuế… và các dịch vụ về kế toán quản trị như phân tích, đánh giá hoạt động kinh doanh và lập chiến lược kinh doanh cho các doanh nghiệp.   Chương II: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM 1. Việc áp dụng chuẩn mực kế toán cho doanh nghiệp vừa và nhỏ của một số quốc gia trên thế giới Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về phương thức ban hành chuẩn mực kế toán toán áp dụng cho các DNVVN: Quan điểm 1: Không ban hành chuẩn mực kế toán áp dụng cho các DNVVN. Các doanh nghiệp này phải áp dụng đầy đủ và triệt để hệ thống chuẩn mực kế toán chung, không có ngoại lệ cho bất kể một loại hình doanh nghiệp nào. Lý do ủng hộ cho quan điểm này là việc áp dụng một hệ thống chuẩn mực kế toán duy nhất sẽ tăng cường tính so sánh của thông tin kế toán trong nền kinh tế. Quan điểm 2: Không ban hành chuẩn mực kế toán riêng cho các DNVVN mà trên cơ sở chuẩn mực kế toán chung để quy định lược bỏ một số chuẩn mực hoặc nội dung của chuẩn mực cụ thể các DNVVN không phải áp dụng. Mô hình này hiện đang được một số quốc gia áp dụng trong đó có Việt Nam. Quan điểm 3: Ban hành chuẩn mực kế toán riêng áp dụng cho các DNVVN.

Trang 1

Lời mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Chiếm trên 97% số doanh nghiệp cả nước, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã và đang góp phần quan trọng tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đều có chủ trương, chính sách tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển

Trước xu thế hài hòa các chuẩn mực và quy định về kế toán trên phạm vi toàn cầu, nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đều xây dựng chuẩn mực kế toán doanh nghiệp trên cơ sở chuẩn mực quốc tế Do đó, việc nghiên cứu xây dựng chế độ kế toán áp dụng riêng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang là một vấn đề thiết yếu, phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm hướng tới việc xây dựng một chế độ kế toán hợp lý cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các mục tiêu cụ thể được xác định như sau:

 Nhận định các quan điểm của một số nước trên thế giới về việc ban hành chuẩn mực kế toán cho các DNVVN

 Xác định những hạn chế khi các DNVVN áp dụng chuẩn mực kế toán chung

 Xác định chuẩn mực kế toán quốc tế cho các DNVVN

 Xác định sự cần thiết trong việc xây dựng chuẩn mực kế toán riêng cho các DNVVN tại Việt Nam

 Định hướng xây dựng chuẩn mực kế toán riêng cho các DNVVN tại Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 2

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:Sự cần thiết có một chế độ kế toán riêng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu về sự cần thiết có một chế độ kế toán riêng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.Trong quá trình nghiên cứu không chỉ tập trung đánh giá sự cần thiết có một chế độ kế toán riêng cho DN, tình hình phát triển của tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ.Khảo sát thực tế, vận dụng đánh giá những ưu nhược điểm của công tác tổ chức kế toán.Đề xuất những giải pháp nhằm giúp hệ thống ngày càng hoàn thiện hơn, phục

vụ tốt hơn cho công tác kế toán

- Về thời gian nghiên cứu: Tài liệu, dữ liệu, thông tin được thu thập chủ yếu trong

2 năm 2013 và 2014, các giải pháp đến năm 2020

- Về không gian nghiên cứu của đề tài: Trên địa bàn Thành phố Hà Nội

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm so sánh, đối chiếu, phương pháp phân tích và tổng hợp… Để có căn cứ cho việc đánh giá thực trạng tổ chức công tác tại DNVVN, chúng em đã sử dụng phương pháp thống kê trên một mẫu DNVVN

5 Bố cục của bài nghiên cứu

Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về tổ chức kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Chương I: TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN DOANH

NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

Trang 3

1 Tiêu chuẩn xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh nghiệp siêu nhỏ, vừa và nhỏ hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể chia thành ba loại cũng căn

cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa

Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ

Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước mình Ở Việt Nam, theo Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, quy định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi

là Doanh nghiệp vừa

2 Khái niệm chế độ kế toán doanh nghiệp

Chế độ kế toán là những quy định và hướng dẫn về kế toán trong một lĩnh vực hoặc một số công việc cụ thể do cơ quan quản lý nhà nước về kế toán hoặc tổ chức được cơ quan quản lý nhà nước về kế toán ủy quyền ban hành

Các doanh nghiệp đều phải tuân thủ theo các chế độ kế toán đã quy định, việc

áp dụng các chế độ kế toán này không chỉ nâng cao hiệu quả của bộ máy kế toán trong các doanh nghiệp mà còn giúp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý các hoạt động kinh tế tài chính ngày càng phức tạp, phong phú và đa dạng của nền kinh

tế nói chung với tiến trình mở cửa, hội nhập nói riêng

Trang 4

3 Các yêu cầu của tổ chức kế toán doanh nghiệp

Việc tổ chức công tác kế toán trong một doanh nghiệp phải đảm bảo những yêu cầu sau:

- Yêu cầu về pháp lý: Khi tổ chức công tác kế toán phải xem xét đến việc tuân thủ Luật kế toán, hệ thống chuẩn mực kế toán, các qui định, thông tư hướng dẫn thực hiện chế độ kế toán trong doanh nghiệp và các văn bản pháp qui khác có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động kế toán như các bộ luật về thuế, Luật doanh nghiệp… Do đó, doanh nghiệp cần nắm vững hệ thống văn bản pháp quy và việc vận hành trong thực tế của hệ thống này

- Yêu cầu về quản lý: Yêu cầu quản lý của doanh nghiệp thường rất đa dạng

và không giống nhau, mặc dù mục đích cuối cùng của hoạt động kinh doanh là như nhau Do đó khi tổ chức công tác kế toán cần nắm bắt đầy đủ các yêu cầu về quản

lý của doanh nghiệp để xây dựng hệ thống kế toán cho phù hợp Các yêu cầu về quản lý có thể là nội dung, tính chất, thời điểm cung cấp thông tin kế toán; các yêu cầu quản lý hoạt động kinh doanh trong nội bộ doanh nghiệp; yêu cầu về quản lý vốn, tài sản hay quản lý nguồn nhân lực…

4 Các nội dung cơ bản của tổ chức công tác kế toán

Nhìn chung, tổ chức công tác kế toán của một doanh nghiệp bao gồm các nhiệm vụ: tổ chức hệ thống chứng từ kế toán; tổ chức hệ thống tài khoản kế toán;

tổ chức hệ thống sổ kế toán và tổ chức cung cấp thông tin qua hệ thống báo cáo kế toán

5 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán của DNVVN

a) Người sử dụng và thông tin cần thiết:

Trang 5

Đối với DNVVN, người sử dụng thông tin thường chỉ giới hạn ơ hai đối tượng

là nhà quản lý và cơ quan thuế vì họ chưa có nhu cầu huy động vốn từ nhà đầu tư bên ngoài và từ các ngân hàng Để phục vụ cho hai đối tượng sử dụng thông tin trên, hệ thống kế toán của DNVVN thường đơn giản, các báo cáo tài chính thường không phức tạp, ít chỉ tiêu, phù hợp với chi phí mà doanh nghiệp có thể chi trả b) Các quy định pháp lý

Quy định pháp lý là các chính sách quản lý kinh tế tài chính mà cơ quan nhà nước ban hành nhằm bắt buộc hoặc hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện

Phần lớn các quốc gia trên thế giới đều có những quy định về kế toán cho cả doanh nghiệp lớn lẫn các DNVVN Tuy nhiên, các quy định chi phối DNVVN sẽ ít

và đơn giản hơn, trách nhiệm về báo cáo và trách nhiệm về kiểm toán của các doanh nghiệp này cũng được tinh giảm nhiều

c) Hệ thống kiểm soát nội bộ

Hệ thống kiểm soát nội bộ là những thủ tục sử dụng nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức công tác kế toán là đảm bảo an toàn cho tài sản và đảm bảo dữ liệu kế toán có độ chính xác cao, đáng tin cậy Một sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội

bộ là cần thiết đối với bất kì kế toán viên nào vì việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ ảnh hưởng đến khối lượng công việc mà họ phải thực hiện khi tiến hành kiểm tra độ chính xác của các thông tin kế toán

d) Yêu cầu và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin có ảnh hưởng rất lớn đến công tác kế toán trong một doanh nghiệp Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT cào công tác kế toán tại các DNVVN còn gặp nhiều trở ngại do những nguyên nhân như: nhận thức của người quản lý, thiếu tầm nhìn chiến lược về ứng dụng CNTT, thiếu vốn… Song hiện nay, những hạn chế trên đã giảm đáng kể nhờ sự phát triển của thị trường CNTT, việc

Trang 6

cung cấp những phần mềm kế toán như Accnet 2004, Fast Accounting 2006, Bravo 6.0, Effect…hay thuê viết một chương trình phần mềm kế toán phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp không còn xa lạ với các DNVVN

e) Các dịch vụ tài chính – kế toán

Dịch vụ tài chính – kế toán là loại hình nhằm trợ giúp, tư vấn cho các nhà đầu

tư, các doanh nghiệp về luật pháp, chế độ, thể chế tài chính kế toán của nhà nước, cũng như việc lập, ghi sổ kế toán, tính thuế và lập báo cáo tài chính Hiện nay, các dịch vụ tài chính kế toán phổ biến thường là dịch vụ làm kế toán, lập báo cáo tài chính, các dịch vụ thuế như hướng dẫn và tư vấn thuế, lập tờ khai thuế… và các dịch vụ về kế toán quản trị như phân tích, đánh giá hoạt động kinh doanh và lập chiến lược kinh doanh cho các doanh nghiệp

Trang 7

Chương II: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN

DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM

1 Việc áp dụng chuẩn mực kế toán cho doanh nghiệp vừa và nhỏ của một

số quốc gia trên thế giới

Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về phương thức ban hành chuẩn mực kế toán toán áp dụng cho các DNVVN:

Quan điểm 1: Không ban hành chuẩn mực kế toán áp dụng cho các DNVVN.

Các doanh nghiệp này phải áp dụng đầy đủ và triệt để hệ thống chuẩn mực kế toán chung, không có ngoại lệ cho bất kể một loại hình doanh nghiệp nào Lý do ủng hộ cho quan điểm này là việc áp dụng một hệ thống chuẩn mực kế toán duy nhất sẽ tăng cường tính so sánh của thông tin kế toán trong nền kinh tế

Quan điểm 2: Không ban hành chuẩn mực kế toán riêng cho các DNVVN mà

trên cơ sở chuẩn mực kế toán chung để quy định lược bỏ một số chuẩn mực hoặc nội dung của chuẩn mực cụ thể các DNVVN không phải áp dụng Mô hình này hiện đang được một số quốc gia áp dụng trong đó có Việt Nam

Quan điểm 3: Ban hành chuẩn mực kế toán riêng áp dụng cho các DNVVN.

Với việc ban hành “Chuẩn mực quốc tế về báo cáo tài chính áp dụng cho các DNVVN – IFRS for SMEs” của Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế vào tháng 7 năm 2009, nhiều quốc gia đã và đang xây dựng, ban hành chuẩn mực kế toán áp dụng cho các DNVVN trên cơ sở chuẩn mực quốc tế

Theo số liệu tại buổi hội thảo về việc “Thực hiện chuẩn mực kế toán áp dụng cho các DNVVN – Implementing IFRS for SMEs” do Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế IASB tổ chức, đến tháng 9 năm 2011, đã có 74 quốc gia quy định áp dụng hoặc công bố kế hoạch áp dụng IFRS for SMEs trong vòng 3 năm tới (Châu

Trang 8

Âu: Anh, Ireland, Thổ Nhĩ Kỳ, Thụy Sĩ; Châu Á: Hong Kong, Malaysia, Singapore, Myanmar, Nepal, Campuchia, Philippines… và có thể áp dụng tại Mỹ

và Canada)

Một số nước cũng đã hoàn thành việc dịch chuẩn mực sang ngôn ngữ quốc gia dưới sự giúp đỡ của Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế IASB, như Trung Quốc, Pháp, Ý, Nga, Tây Ban Nha, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Séc… Một số nước đang trong quá trình dịch như Nhật Bản, Ukrainian, Serbian…

2 Tình hình áp dụng các chuẩn mực kế toán cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

Khái niệm DNVVN được xác định theo những tiêu chuẩn khác nhau tại những quốc gia khác nhau Tại Việt Nam, theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ban hành ngày 30/06/2009 về trợ giúp phát triển DNVVN, DNVVN được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, vừa và nhỏ theo hai tiêu chí là quy mô tổng nguồn vốn và số lao động bình quân Những ngành nghề cụ thể sẽ có tiêu chuẩn khác nhau nhưng số lao động không quá 300 người và quy mô vốn dưới 100 tỷ đồng

Mặc dù có sự khác biệt giữa các quốc gia về tiêu chí ghi nhận DNVVN, song theo số liệu của Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế, số lượng các DNVVN chiếm trên 99% số doanh nghiệp toàn thế giới (Số liệu tại hội thảo “IFRS for SMEs Implementation Update” ngày 24/6/2010, IASB) Cụ thể, với 52 thị trường chứng khoán lớn nhất thế giới chỉ có khoảng 45.000 công ty niêm yết toàn cầu Châu Âu

có khoảng 25 triệu doanh nghiệp tư nhân, con số này ở Mỹ là 20 triệu và ở Anh có 4,7 triệu doanh nghiệp tư nhân có ít hơn 100 lao động, chiếm 99,6% tổng số doanh nghiệp

Trang 9

Đặc điểm chung của DNVVN là đối tượng sử dụng thông tin kế toán tương đối hẹp, chủ yếu là chủ doanh nghiệp, chủ nợ, nhà cung cấp, khách hàng mà không tập trung tới nhóm những nhà đầu tư tài chính tiềm năng Đây cũng là mục tiêu mà Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế IASB hướng tới khi xây dựng bộ chuẩn mực IFRS for SMEs

Với chủ trương tạo mọi điều kiện thuận lợi để các DNVVN phát triển, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, hệ thống chuẩn mực và chế

độ kế toán áp dụng cho các DNVVN đã được nghiên cứu và ban hành trong thời gian qua như:

Chế độ kế toán DNVVN ban hành theo quyết định 1177/TC-QĐ-CĐKT ngày 23/12/1996 của Bộ trưởng Bộ tài chính

Quyết định số 144/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định sửa đổi bổ sung chế độ kế toán DNVVN theo quyết định 1177 nêu trên

Hệ thống 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam được ban hành từ năm 2001 đến năm

2006 theo các quyết định của Bộ trưởng Bộ tài chính

Quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành chế độ kế toán DNVVN thay thế quyết định 1177/TC-QĐ-CĐKT

Chế độ kế toán DNVVN được xây dựng trên cơ sở kế thừa chuẩn mực kế toán chung đã ban hành, một số chuẩn mực áp dụng đầy đủ như:

STT Số hiệu và tên chuẩn mực

1 CM số 01 - Chuẩn mực chung

2 CM số 05 - Bất động sản đầu tư

3 CM số 14 - Doanh thu và thu nhập khác

Trang 10

4 CM số 16 - Chi phí đi vay

5 CM số 18 - Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng

6 CM số 23 - Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm

7 CM số 26 - Thông tin về các bên liên quan

Các chuẩn mực kế toán áp dụng không đầy đủ bao gồm:

STT Số hiệu và tên chuẩn mực

1 CM số 02- Hàng tồn kho

2 CM số 03- TSCĐ hữu hình

3 CM số 04 TSCĐ vô hình

4 CM số 06 - Thuê tài sản

5 CM số 07- Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết

6 CM số 08- Thông tin tài chính về những khoản vốn góp liên doanh

7 CM số 10- Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái

8 CM số 15 - Hợp đồng xây dựng

9 CM số 17- Thuế thu nhập doanh nghiệp

10 CM số 21- Trình bày báo cáo tài chính

11 CM số 24 - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

12 CM số 29 – Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và

Trang 11

các sai sót Các chuẩn mực kế toán không áp dụng:

STT Số hiệu và tên chuẩn mực

1 CM số 11- Hợp nhất kinh doanh

2 CM số 19- Hợp đồng bảo hiểm

3 CM số 22- Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự

4 CM số 25- Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con

5 CM số 27 - Báo cáo tài chính giữa niên độ

6 CM số 28 – Báo cáo bộ phận

7 CM số 30- Lãi trên cổ phiếu

Trong điều kiện hệ thống pháp lý về kế toán Việt Nam đang hoàn thiện, việc áp dụng có chọn lọc các chuẩn mực kế toán chung sẽ đảm bảo một khung pháp lý tương đối thống nhất, thuận lợi cho công tác quản lý Nhà nước

Tuy nhiên, việc lược bỏ một số chuẩn mực kế toán không áp dụng và áp dụng không đầy đủ đối với DNVVN sẽ làm giảm tính hệ thống và nhất quán của chuẩn mực kế toán Hơn nữa nguồn lực cho công tác kế toán tại các DNVVN có nhiều hạn chế nên việc tuân thủ chuẩn mực kế toán chung làm phát sinh nhiều chi phí, ảnh hưởng đến bộ máy kế toán trong các doanh nghiệp Đối tượng sử dụng thông tin kế toán tài chính tại các DNVVN tương đối hẹp nên việc áp dụng các chuẩn mực kế toán chung có thể dẫn đến thông tin mang tính dàn trải

Ngày đăng: 24/01/2018, 21:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w