I. Khái quát về trọng tài thương mại 1. Khái niệm 2. Đặc điểm của trọng tài thương mại 3. Vai trò của tòa án đối với hoạt động tọng tài thương mại II. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thể hiện sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại 1. Tòa án có thể quyết định thay đổi trọng tài viên 3. Tòa án có thể quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trang 1MỞ ĐẦU
Hiện nay, để nâng cao hiệu quả hoạt động của trọng tài thương mại, Luật trọng tài thương mại đã có nhiều quy định về sự hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại Trọng tài thương mại hoạt động có hiệu quả tốt sẽ làm giảm bớt gánh nặng cho tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, đáp ứng yêu cầu của các nhà kinh doanh trong việc giải quyết nhanh chóng, dứt điểm các tranh chấp thương mại Để tìm hiểu sau hơn về vấn đề, em xin chọn đề bài: “Phân tích 04 (bốn) quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thể hiện sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại và bình luận thực tiễn áp dụng các quy định đó.” làm bài tập học kỳ của mình
NỘI DUNG
I Khái quát về trọng tài thương mại
1 Khái niệm
Theo khoản 1 Điều 3 Bộ luật tọng tài thương mại 2010 thì: “ trọng tài
thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này.”
2 Đặc điểm của trọng tài thương mại
Thứ nhất, trọng tài thương mại là một tổ chức phi Chính phủ, hoạt
động theo pháp luật và quy chế về trọng tài thương mại Nhà nước không can thiệp sâu vào các hoạt động của cơ quan trọng tài, nhưng sẽ thực hiện vai trò quản lý của mình thông qua hệ thống các quy định pháp luật, cũng như những tác động khác như tham gia điều ước quốc tế, đào tạo, hỗ trợ kinh phí và cơ sở vật chất
Thứ hai, trọng tài là sự kết hợp của hai yếu tố thỏa thuận và tài phán Trước tiên, trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của pháp luật về trọng tài
Trang 2Một trong những nguyên tắc cơ bản của trọng tài đó là thẩm quyền được hình thành từ ý chí thỏa thuận của các bên tranh chấp
Thứ ba, pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng như pháp luật Việt Nam đều ghi nhận sự hỗ trợ của Tòa án đối với việc tổ chức và hoạt động của trọng tài thương mại Tòa án hỗ trợ trọng tài về các nội dung như: thông qua trình tự, thủ tục công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài thương mại
Thứ tư, trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức cơ bản đó là trọng tài vụ việc và trọng tài quy chế
Thứ năm, phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trước bất kỳ cơ quan, tổ chức nào Trọng tài chỉ xét xử một lần, phán quyết có giá trị chung thẩm, và nếu không bị hủy thì phán quyết sẽ được chuyển sang Cơ quan thi hành án
3 Vai trò của tòa án đối với hoạt động tọng tài thương mại
Xuất phát từ bản chất của trọng tài: trọng tài là cơ quan tài phán phi chính phủ có quyền lực bắt nguồn từ “quyền lực hợp đồng” do các bên tranh chấp giao phó, ủy nhiệm do đó trọng tài không mang trong mình quyền lực nhà nước khi giải quyết tranh chấp, phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực nhà nước, không đại diện cho ý chí của Nhà nước mà đại diện cho ý chí của các bên tranh chấp Do đó cần đến sự giúp đỡ của Tòa án và các cơ quan tư pháp khác
Xuất phát từ yêu cầu, thực tiễn giải quyết tranh chấp ở Việt Nam: Các tranh chấp phát sinh trong thực tiễn kinh doanh ở Việt Nam ngày một nhiều hơn và đa dạng về chủng loại, phức tạp về tính chất Điều này đòi hỏi phải
có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả để đáp ứng các yêu cầu khác nhau của chủ thể kinh doanh
Trang 3Xuất phát từ tình trạng quá nhiều án tồn đọng tại các Tòa kinh tế: Cùng với sự phát triển sôi động của các quan hệ kinh tế, các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại được đưa đến Tòa kinh tế ngày càng nhiều, đã tạo ra tình trạng "quá tải", án tồn đọng tại các Tòa kinh tế, đặc biệt
là ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
Xuất phát từ yêu cầu quản lý Nhà nước đối với hoạt động trọng tài: Nhà nước nói chung và các cơ quan Nhà nước nói riêng có thẩm quyền quản
lý hoạt động của cá nhân, tổ chức trong xã hội, trong đó có trọng tài Nhà nước thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật quy định về trọng tài đã thể hiện sự quản lý của mình đối với hoạt động của trọng tài, đồng thời tạo
ra hành lang pháp lý cho hoạt động của trọng tài
II Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thể hiện sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của trọng tài thương mại, Luật trọng
tài thương mại 2010 đã có nhiều quy định về sự hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại Trọng tài thương mại hoạt động có hiệu quả tốt sẽ giảm bớt gánh nặng cho tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, đáp ứng các yêu cầu của nhà kinh doanh trong việc giải quyết nhanh chóng, dứt điểm các tranh chấp thương mại
Sự hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại được thể hiện ở các vẫn đề sau đây:
1 Tòa án có thể quyết định thay đổi trọng tài viên
Theo yêu cầu của nguyên đơn, tòa án cấp tỉnh nơi bị đơn có trụ sở hoặc
cư trú có thể quyết định thay đổi trọng tài viên, trong trường hợp hội đồng trọng tài được các bên thành lập cần phải thay đổi một trọng tài viên mà các trọng tài viên khác trong hội đồng trọng tài không quyết định được hoặc cần
Trang 4phải thay đổi hai trọng tài viên trong hội đồng hoặc thay đổi trọng tài viên duy nhất khi trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết vụ tranh chấp
Theo Điều 9 Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định luật trọng tài thương mại số 01/2014/NQ-HĐTP về thay đổi Trọng tài viên trọng tài vụ việc quy định tại khoản 4 Điều 42 Luật trọng tài thương mại
1 Tòa án chỉ thụ lý và giải quyết việc thay đổi Trọng tài viên trọng tài
vụ việc trong những trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 42 Luật trọng tài thương mại
Người có yêu cầu thay đổi Trọng tài viên phải làm đơn yêu cầu bằng văn bản, trong đó nêu rõ trường hợp và lý do thay đổi Trọng tài viên
2 Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh
án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền phân công một Thẩm phán thực hiện việc thay đổi Trọng tài viên Tòa án có thẩm quyền thông báo ngay cho Hội đồng trọng tài, các Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc, các bên tranh chấp về việc thụ lý đơn yêu cầu và Thẩm phán được phân công giải quyết
3 Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán xét đơn yêu cầu thay đổi Trọng tài viên mà không phải mở phiên họp
để xét đơn yêu cầu, không phải triệu tập các bên tranh chấp
4 Khi xét đơn yêu cầu, Thẩm phán căn cứ vào quy định tại Điều 20, Điều 21 và khoản 6 Điều 42 Luật trọng tài thương mại, danh sách Trọng tài viên của các tổ chức trọng tài hoạt động tại Việt Nam quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 Luật trọng tài thương mại, khoản 4 Điều 2 và Điều 19 Nghị định số 63/2011/NĐ-CP ngày 28 tháng 7 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật trọng tài thương mại và các
Trang 5tài liệu kèm theo để xem xét, quyết định Trọng tài viên có thuộc trường hợp
bị thay đổi hay không
Trường hợp yêu cầu thay đổi Trọng tài viên là có căn cứ, thì tùy từng trường hợp cụ thể mà Thẩm phán căn cứ quy định tương ứng để quyết định việc thay đổi Trọng tài viên Trường hợp không chấp nhận yêu cầu thay đổi Trọng tài viên, thì Thẩm phán phải ra quyết định bằng văn bản, trong đó nêu
rõ lý do của việc không chấp nhận yêu cầu thay đổi Quyết định thay đổi Trọng tài viên được thực hiện theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Nghị quyết này
5 Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, Tòa án gửi quyết định cho các bên, Hội đồng trọng tài, Trọng tài viên, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp
2 Tòa án có thể xem xét lại quyết định về thẩm quyền của hội đồng trọng tài.
Thẩm quyền giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể của hội đồng trọng tài
do thỏa thuận trọng tài là do thỏa thuận trọng tài của các bên xác định Trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, nếu có đơn khiếu lại của một bên
về việc hội đồng trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp, vụ tranh chấp không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu, hội đồng trọng tài phải xem xét quyết định xem vụ tranh chấp có thuộc thẩm quyền của mình hay không Nếu các bên không đồng ý với quyết định của trọng tài thì quyền yêu cầu tòa án cấp tỉnh, nơi hội đồng trọng tài đã ra quyết định, xem xét lại quyết định của hội đồng trọng tài Trong trường hợp, tòa án quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của hội đồng trọng tài, vụ tranh chấp không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Trang 6thì hội đồng trọng tài phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp Các bên có quyền khởi kiện vụ tranh chấp ra tòa án
Khoản 1 Điều 44 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định,Trong trường hợp không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài quy định tại Điều 43 của Luật này (Xem xét thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài) , trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Hội đồng trọng tài, các bên có quyền gửi đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng trọng tài Bên khiếu nại phải đồng thời thông báo việc khiếu nại cho Hội đồng trọng tài
3 Tòa án có thể quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
Có các tranh chấp xảy ra với nội dung phức tạp, mức độ tranh chấp
gay gắt… chúng đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời, nhằm bảo vệ quyền lợi cho các đương sự Do đó, trong quá trình hội đồng trọng tài giải quyết
vụ tranh chấp, nếu cảm thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại thì các bên có quyền làm đơn đến Tòa
án để yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời thích hợp để bảo vệ tài sản đang bị tranh chấp theo quy định tại Điều 48 Luật trọng tài thương mại 2010 “Các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài, Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Luật này và các quy định của pháp luật có liên quan, trừ trường hợp các bên
có thỏa thuận khác; Việc yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không bị coi là sự bác bỏ thỏa thuận trọng tài hoặc khước từ quyền giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài” Theo đó, hội đồng trọng tài hoặc Tòa án
có quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có một hoặc các bên đương sự yêu cầu, tùy theo sự thỏa thuận giữa các bên
Trang 7Cụ thể, những biện pháp khẩn cấp tạm thời thuộc thẩm quyền của hội đồng trọng tài được quy định tại Khoản 2 Điều 49:
a) Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;
b) Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một
số hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng trọng tài;
c) Kê biên tài sản đang tranh chấp;
d) Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp;
đ) Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên;
e) Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp Các trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác do Tòa án
thực hiện được quy định tại Khoản 1 Điều 53: “Sau khi nộp đơn khởi kiện,
nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, một bên có quyền làm đơn gửi đến Toà án có thẩm quyền
yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời”
Các biện pháp khẩn cấp tạm thời mà Tòa án có thẩm quyền thực hiện được quy định tại Điều 114 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Vì vậy, khi yêu cầu
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, các bên cần lưu ý để gửi đơn yêu cầu tới đúng cơ quan có thẩm quyền
Bên có đơn yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có bằng chứng chứng minh việc áp dụng các biện pháp đó là cần thiết và phải chịu trách nhieemh về yêu cầu của mình Trong trường hợp yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng và gây thiệt hại thì phải bồi thường
Ngoài ra, bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm cấp tạm thời phải nộp một khoản tiền bảo đảm do tòa án ấn định nhưng không quá nghĩa
Trang 8vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để bảo vệ lợi ích của bị đơn
và ngăn ngừa sự lạm dụng biện pháp khẩn cấp tamh thời từ phía có người yêu cầu
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Tòa án áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Điều 53 Luật trọng tài thương mại 2010 Điều này cho thấy pháp luật cũng có sự can thiệp đáng kể bằng sức mạnh của quyền lực nhà nước đối với hoạt động của trọng tài thương mại, giúp cho trọng tài hoạt động có hiệu quả hơn và bảo vệ tốt quyền lợi của các đương sự tham gia vụ kiện
Ngoài ra, Khoản 3 Điều 49 Luật có quy định: “Trong quá trình giải
quyết tranh chấp, nếu một trong các bên đã yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 2 Điều này mà sau đó lại có đơn yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời thì Hội đồng trọng tài phải từ chối” và Khoản 5 Điều 53 cũng có quy định: “Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu một trong các bên đã
yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời mà lại có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án phải từ chối và trả lại đơn yêu cầu, trừ trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không thuộc thẩm quyền của Hội đồng
trọng tài” Theo đó, nguyên tắc của Luật là nếu hội đồng trọng tài đã áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án sẽ từ chối, trừ trường hợp những nội dung không thuộc thẩm quyền của hội đồng trọng tài, và ngược lại Ta có thể thấy Tòa án đóng vai trò hỗ trợ rất lớn trong trường hợp các bên đã có yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp khẩn cấp tạm thời không thuộc thẩm quyền của hội đồng trọng tài.Luật đã dự liệu và phân định phạm vi thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời giữa hội đồng trọng tài và Tòa án nhằm tránh tình trạng
Trang 9xung đột về thẩm quyền, nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc trong mọi trường hợp các bên đều có thể làm đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án có giá trị pháp
lý cao hơn, hiệu quả thi hành tốt hơn việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của hội đồng trọng tài
4 Tòa án có thể quyết định hủy hay không hủy quyết định trọng tài
Tố tụng trọng tài không có nhiều giai đoạn xét xử, không có thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Không ai có thể đảm bảo rằng quyết định giải quyết tranh chấp của trọng tài luôn luôn đúng về mọi phương diện
Để có thể hạn chế tối đa những sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Luật trọng tài thương mại quy định trọng tài có quyền làm đơn gửi tòa án cấp tỉnh nơi hội đồng trọng tài đã ra quyết định trọng tài yêu cầu hủy quyết định trọng tài Trên cơ sở yêu cầu đó, tòa án có quyền ra quyết định hủy hay không hủy quyết định trọng tài
Căn cứ tuyên hủy phán quyết trọng tài: Tòa án xem xét việc hủy phán quyết trọng tài khi có đơn yêu cầu của một bên
Theo Điều 69 Luật trọng tài thương mại 2010, Trong thời hạn 30 ngày,
kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 của Luật này, thì có quyền làm đơn gửi Toà án có thẩm quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là có căn cứ và hợp pháp Trường
Trang 10hợp gửi đơn quá hạn vì sự kiện bất khả kháng thì thời gian có sự kiện bất khả kháng không được tính vào thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải kèm theo các tài liệu, chứng
cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là có căn cứ vào hợp pháp
Phán quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu;
Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật này;
Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ;
Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để
ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;
Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
III Bình luận thực tiễn áp dụng các quy định về sự hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại
Thực tiễn áp dụng bốn quy định của luật tọng tài thương mại 2010 trong những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ so với Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, tuy nhiên vẫn có những bất cập, cụ thể như sau:
1 Về quy định Tòa án có thể quyết định thay đổi trọng tài viên