1. Chức năng, vai trò của bảo lãnh ngân hàng. a) Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng: b) Khái niệm bảo lãnh ngân hàng. I CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG. 1. Pháp luật bảo lãnh ngân hàng. 1. Chức năng, vai trò của bảo lãnh ngân hàng. a) Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng: b) Khái niệm bảo lãnh ngân hàng. I CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG. 1. Pháp luật bảo lãnh ngân hàng. 2. Phân loại bảo lãnh ngân hàng. 3. Chủ thể trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng. 4. Hình thức và nội dung của bảo lãnh ngân hàng. 5. Phạm vi bảo lãnh. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng 6. Trình tự và thủ tục. A. THỰC TRẠNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRONG NĂM 2015
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Bảo lãnh ngân hàng vốn là một dịch vụ quen thuộc của ngân hàng, vừa mạng lại lợi nhuận lớn lại có thể mở rộng phạm vi kinh doanh của ngân hàng đến nhiều cá nhân, doanh nghiệp, nhiều địa phương khác nhau Hoạt động bảo lãnh ngân hàng đã, đang và sẽ là mang lại nhiều đóng góp lớn lao, không chỉ có ích cho ngân hàng mà còn nhiều bên liên quan, chính vì ý nghĩa này pháp luật về bảo lãnh ngân hàng ngày càng được chú trọng nhằm điều chỉnh một cách chính xác, kịp thời, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền tài chính đất nước
Nhận thấy vai trò quan trọng của vấn đề này em xin lựa chọn đề tài: “Phân
tích cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo lãnh ngân hàng và thực trạng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại tổ chức tín dụng trong năm 2015” để làm bài tập học kì.
NỘI DUNG
A CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG
I- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG.
1 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng.
a) Khái niệm bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh ngân hàng được quy định tại điều 3, Thông tư số 28/2012/TT-NHNN:
“Bảo lãnh ngân hàng (sau đây gọi là bảo lãnh) là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận.”
b) Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng:
Thứ nhất, bảo lãnh ngân hàng là một hành vi thương mại đặc thù, chủ thể thực
hiện là các tổ chức tín dụng và mang tính kinh doanh có rủi ro cao.Sở dĩ có thể nhận xét như vậy là bởi hoạt động bảo lãnh vừa do tổ chức tín dụng (với tư cách là một thương nhân) triển khai thực hiện trên thị trường nhằm mục tiêu lợi nhuận, vừa có tính chuyên nghiệp như một nghề nghiệp kinh doanh Và cũng do tính chất thương mại đặc thù cho nên ngân hàng buộc phải đăng ký kinh doanh với hoạt động này tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Thứ hai, thực hiện bởi hai hợp đồng:
Trang 2- Hợp đồng dịch vụ bảo lãnh được xác lập giữa tổ chức tín dụng bảo lãnh với khách hàng là tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ tài sản cần được đảm bảo bằng bảo lãnh
- Cam kết bảo lãnh phát sinh giữa tổ chức tín dụng bảo lãnh với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh)
Tính độc lập của hai hợp đồng này thể hiện ở chỗ khi vô hiệu một hợp đồng thì không thể đương nhiên vô hiệu hợp đồng còn lại Đồng thời việc thực hiện nghĩa
vụ của các bên trong thực hiện hợp đồng không thể bị phụ thuộc hay chi phối bỏi thực thi quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng còn lại
Hai quan hệ pháp luật này tuy tồn tại độc lập với nhau nhưng có ảnh hưởng chi phối lẫn nhau, theo đó hợp đồng dịch vụ bảo lãnh là căn cứ để hình thành cam kết bảo lãnh của tổ chức tín dụng bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh, còn cam kết bảo lãnh là bằng chứng về việc thực hiện hợp đồng dịch vụ giữa tổ chức tín dụng bảo lãnh với khách hàng được bảo lãnh
Thứ ba, được thực hiện và xác lập gắn liền với việc xác lập các chứng từ Tính
chất chứng từ của bảo lãnh ngân hàng thể hiện ở chỗ khi tổ chức tín dụng phát hành cam kết bảo lãnh cũng như khi người nhận bảo lãnh thực hiện quyền yêu cầu hay khi
tổ chức tín dụng bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh, các chủ thể này đều bắt buộc phải thiết lập bằng văn bản Những văn bản này không chỉ là bằng chứng chứng minh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia mà còn là cơ sở pháp lý để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với bên còn lại
Thứ tư, bảo lãnh không thể đơn phương hủy ngang, nó được thể hiện ở chỗ sau
khi cam kết bảo lãnh đã được phát hành hợp lệ bởi tổ chức tín dụng, không có một cơ quan nào có thể lấy danh nghĩa đại diện cho tổ chức tín dụng phát hành bảo lãnh để đơn phương tuyên bố hủy bỏ cam kết bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận Nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho bên nhận bảo lãnh được nhận tiền từ tổ chức tín dụng khi đến hạn bảo lãnh, nếu không có nguyên tắc này thì quyền của bên nhận bảo lãnh thực
sự dễ bị xâm hại
Thứ năm, bảo lãnh ngân hàng là loại hình bảo lãnh vô điều kiện, điều này
được thể hiện ở chỗ tổ chức tín dụng bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đối với người nhận bảo lãnh ngay sau khi người này xuất trình các chứng từ phù hợp với nội dung thư bảo lãnh hay cam kết bảo lãnh do tổ chức tín dụng phát hành mà không phụ thuộc
Trang 3vào việc người được bảo lãnh có khả năng thực hiện nghĩa vụ của họ hay không Như vậy đặc điểm này của bảo lãnh ngân hàng lần nữa khẳng định chắc chắn quyền và lợi ích dành cho bên nhận bảo lãnh trước mọi trường hợp xảy ra
2 Chức năng, vai trò của bảo lãnh ngân hàng.
a) Chức năng của bảo lãnh ngân hàng:
Chức năng bảo đảm: đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh ngân hàng, chức năng này đảm bảo sự công bằng về quyền và nghĩa vụ của bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh khi thực hiện các cam kết Bên cạnh đó, việc cam kết chi trả khi bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ, ngân hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra sự đảm bảo cho bên nhận bảo lãnh
Ngoài ra, bảo lãnh ngân hàng còn là công cụ bù đắp cho bên nhận bảo lãnh những tổn thất do bên được bảo lãnh gây ra Điều này làm yên lòng cho các bên chủ thể, sau khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì ngân hàng sẽ yêu cầu nợ và phí từ bên được bảo lãnh
Chức năng tài trợ, trong thực tế có nhiều ngành nghề kinh doanh cần nhiều vốn, thời gian thu hồi vốn lâu như bất động sản, hàng hóa đặc biệt…nếu không có bảo lãnh ngân hàng thì doanh nghiệp, cá nhân không thể đủ vốn và uy tín để tiếp tục kinh doanh Như vậy có nghĩa là, tuy không được trực tiếp cấp vốn nhưng bảo lãnh ngân hàng đã giúp khách hàng thuận lợi về ngân quỹ như khi cho vay
Chức năng thúc đẩy hoàn thành hợp đồng, thể hiện thông qua áp lực đối với bên được bảo lãnh trong nỗ lực thực thi các cam kết Trong thời hạn bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh hoàn toàn có quyền yêu cầu ngân hàng hoàn thành nghĩa vụ bảo lãnh cho mình nếu bên được bảo lãnh vi phạm, đứng trước nguy cơ đó, bên được bảo lãnh
sẽ luôn bị hối thúc hoàn thành đúng tiến độ hợp đồng, điều này thực sự tốt cho cả ba bên
b) Vai trò của bảo lãnh ngân hàng:
Đối với nền kinh tế, bảo lãnh có vai trò thu hút vốn cho sản xuất kinh doanh nhất là đối với một đất nước đang hiện đại hóa, công nghiệp hóa như nước ta hiện nay Ở nước ta, bảo lãnh giúp giải tỏa một phần nhu cầu về vốn trung và dài hạn, đồng thời giúp cho nền ngoại thương phát triển tốt do gây dựng quan hệ dựa trên uy
Trang 4tín của một ngân hành – doanh nghiệp kinh doanh đặc biệt, có hệ thống pháp luật điều chỉnh sâu sắc
Bảo lãnh xúc tiến quan hệ mua bán thương mại trở nên dễ dàng hơn, sản phẩm
dễ đến tay người tiêu dùng hơn và như vậy doanh nghiệp sẽ dễ thu lại vốn hơn
Đối với khách hàng (bên được bảo lãnh): khi kinh doanh không phải lúc nào tổ chức, cá nhân cũng sẵn nguồn vốn, để thực hiện kinh doanh, vậy cho nên khi có ngân hàng bảo lãnh sẽ đảm bảo được nguồn hàng hóa đảm bảo chất lượng, lưu thông, đảm bảo cho sự phát triển và mở rộng kinh doanh Khách hàng sẽ có điều kiện tìm đối tác, làm thủ tục và kí kết hợp đồng nhanh chóng, hạn chế được rủi ro cho cả hai bên
Đối với ngân hàng: bảo lãnh được xem là một trong những hình thức kinh doanh quan trọng của ngân hàng, việc nhận bảo lãnh cho khách hàng vừa mang lại lợi nhuận lẫn uy tín cho ngân hàng Từ đó ngân hàng có thể mở rộng phạm vi kinh doanh
Đối với bên nhận bảo lãnh: khi có sự bảo lãnh của ngân hàng với nguyên tắc bảo lãnh vô điều kiện thì bên nhận bảo lãnh có thể yên tâm về quyền và lợi ích của mình không bị đe dọa, xâm hại
II- CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG.
1 Pháp luật bảo lãnh ngân hàng.
Dựa trên những quy định về bảo lãnh ngân hàng, TCTD có thể hiểu pháp luật bảo lãnh ngân hàng là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, thực hiện hoạt động bảo lãnh của các TCTD và các bên liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Pháp luật bảo lãnh ngân hàng gồm các vấn đề sau:
- Phạm vi điều chỉnh
- Chủ thể trong bảo lãnh ngân hàng, điều kiện, quyền và nghĩa vụ của các bên
- Quy định về nội dung và hình thức bảo lãnh ngân hàng
- Quy định về thủ tục bảo lãnh ngân hàng
- Xác định thời hạn có hiệu lực và hết hiệu lực của bảo lãnh ngân hàng
Vai trò của pháp luật đối với bảo lãnh ngân hàng:
Trang 5- Pháp luật là công cụ pháp lý để Nhà nước xây dựng, tổ chức và quản lý, duy trì trật tự cho hoạt động bảo lãnh ngân hàng trong nền kinh tế
- Thúc đẩy sự phát triển của hoạt động bảo lãnh ngân hàng, kéo theo sự đi lên của các TCTD
- Có chế tài phù hợp với các hành vi xâm phạm các chủ thể trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng
2 Phân loại bảo lãnh ngân hàng.
Bảo lãnh ngân hàng có rất nhiều loại hình, sự đa dạng đó nhằm giúp ngân hàng
mở rộng phạm vi kinh doanh đến nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng khác nhau, đap ứng nhu cầu thiết yêu của nền kinh tế thị trường đang phát triển như ở nước ta Bao gồm:
- Bảo lãnh vay vốn (bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ tiền vay)
- Bảo lãnh thanh toán
- Bảo lãnh dự thầu
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
- Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm
- Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước
- Bảo lãnh đối ứng
- Xác nhận bảo lãnh
- Các loại bảo lãnh mà pháp luật không cấm và phù hợp với thông lệ quóc tế
3 Chủ thể trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng.
Chủ thể trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng gồm 3 chủ thể trong hai hợp đồng, mỗi chủ thể đều có quyền và nghĩa vụ đặc thù cho các bên còn lại Bao gồm:
- Bên bảo lãnh
- Bên được bảo lãnh
- Bên nhận bảo lãnh
a) Bên bảo lãnh
Theo khoản 5, điều 3, Thông tư số 07/2015/TT-NHNN thì “Bên bảo lãnh là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện bảo lãnh cho bên được bảo lãnh Trong trường hợp đồng bảo lãnh, bảo lãnh đối ứng và xác nhận bảo lãnh thì bên bảo lãnh bao gồm cả tổ chức tín dụng ở nước ngoài ”
Trang 6Để đảm bảo cho tài chính ngân hàng thì tổ chức tín dụng cần đáp ứng những điều kiện sau đây để có thể cung ứng dịch vụ bảo lãnh:
- Được Ngân hàng nhà nước cho phép thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với khách hàng, đây là điều kiện tiên quyết để tổ chức tín dụng triển khai kinh doanh dịch
vụ này Theo đó Ngân hàng nhà nước sẽ đánh giá điều kiện của tổ chức tín dụng và đưa ra quyết định
- Có đăng ký kinh doanh nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng và nghiệp vụ này phải được ghi rõ trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được cấp
Sở dĩ tổ chức tín dụng nói chung muốn triển khai dịch vụ bảo lãnh ngân hàng ra thị trường phải đáp ứng điều kiện này do bản chất của bảo lãnh ngân hàng mang tính rủi ro cao, nếu như không đáp ứng được điều kiện đề ra mà vẫn tổ chức thực hiện thì hậu quả sẽ rất lớn và ảnh hưởng đến nền kinh tế tài chính nước nhà
- Phương thức bảo lãnh:
+ Cầm cố tài sản
+ Thế chấp tài sản
+ Bảo lãnh của bên thứ ba
+ Ký quỹ và các biện pháp bảo đảm khác theo pháp luật quy định
b) Bên được bảo lãnh
Theo khoản 6, điều 3, Thông tư số 07/2015/TT-NHNN thì “Bên được bảo lãnh là tổ chức (bao gồm cả tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức tín dụng ở nước ngoài), cá nhân được bảo lãnh bởi bên bảo lãnh, bên bảo lãnh đối ứng.”
Theo đó, những chủ thể sau muốn được tổ chức tín dụng xem xét và chấp nhận bảo lãnh cần thỏa mãn các điều kiện sau:
- Có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự
- Mục đích đề nghị tổ chức tín dụng bảo lãnh là hợp pháp
- Có khả năng tài chính để hoàn thành nghĩa vụ cho tổ chức tín dụng theo hợp đồng
- Tuần thủ các quy định về quản lí ngoại hối của Việt Nam nếu khách hàng đề nghị bảo lãnh là tổ chức, cá nhân nước ngoài
Trang 7- Một khách hàng không thể yêu cầu bảo lãnh với mức dư nợ vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng Tổng số dư nợ của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng nước ngoài Nếu một khách hàng muốn được bảo lãnh với mức dư nợ lớn hơn 15% vốn tự
có của ngân hàng thì ngân hàng muốn bảo lãnh phải liên kết với ngân hàng khác để cùng liên đới chiu trách nhiệm bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh
Như đã biết thì hoạt động kinh doanh ngân hàng là một hoạt động kinh doanh đặc biệt, liên quan ảnh hưởng đến nền tài chính quốc gia, vậy cho nên các chủ thể muốn trở thành khách hàng của ngân hàng đặc biệt trong bảo lãnh ngân hàng cũng cần có những điều kiện cụ thể, rõ ràng Một khi đã đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng thì khách hàng sẽ được chấp thuận bảo lãnh, như vậy vừa đảm bảo quyền
và lợi ích giữa hai bên
- Ngoài ra Theo thông tư này cũng quy định cụ thể về bảo lãnh đối với khách hàng không cư trú tại điều 11:
Điều 11 Bảo lãnh đối với khách hàng là người không cư trú
1 Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được bảo lãnh cho khách hàng tổ chức là người không cư trú Việc bảo lãnh cho khách hàng tổ chức là người không cư trú phải đáp ứng một trong những điều kiện dưới đây: a) sKhách hàng là doanh nghiệp thành lập và hoạt động tại nước ngoài có vốn góp của doanh nghiệp Việt Nam dưới hình thức đầu tư quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 52 Luật Đầu tư 2014 hoặc dưới hình thức đầu tư trực tiếp khác tại nước ngoài theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư;
b) Khách hàng ký quỹ đủ 100% giá trị bảo lãnh;
c) Bên nhận bảo lãnh là người cư trú.
2 Trường hợp khách hàng là tổ chức tín dụng ở nước ngoài thì không phải thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này.
3 Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi thực hiện bảo lãnh cho khách hàng tổ chức là người không cư trú phải tuân thủ các quy định sau: a) Được Ngân hàng Nhà nước cho phép hoạt động ngoại hối cơ bản trên thị trường trong nước (đối với trường hợp bảo lãnh cho người không cư trú tại Việt Nam) và hoạt động ngoại hối cơ bản trên thị trường quốc tế (đối với trường hợp bảo lãnh cho người không cư trú ở nước ngoài);
Trang 8b) Tuân thủ quy định tại các Điều 126, Điều 127, Điều 128 và Điều 130 Luật các tổ chức tín dụng và hướng dẫn thực hiện các quy định này của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm thực hiện bảo lãnh cho khách hàng;
c) Có quy trình đánh giá, quản lý rủi ro tín dụng, trong đó có rủi ro trong bảo lãnh đối với người không cư trú;
d) Đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải tuân thủ quy định tại khoản 4 Điều này.
4 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được bảo lãnh bằng ngoại tệ đối với khách hàng tổ chức là người không cư trú ở nước ngoài, trừ các trường hợp sau:
a) Bảo lãnh cho bên được bảo lãnh tại Việt Nam trên cơ sở bảo lãnh đối ứng của tổ chức tín dụng ở nước ngoài;
b) Xác nhận bảo lãnh cho nghĩa vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng ở nước ngoài đối với bên được bảo lãnh tại Việt Nam.
5 Ngoài các quy định tại Điều này, các nội dung khác về việc bảo lãnh đối với người không cư trú phải thực hiện theo quy định tại Thông tư này .
Những trường hợp không được bảo lãnh theo điều 5 của Thông tư này:
Điều 5 Những trường hợp không được bảo lãnh, hạn chế bảo lãnh và thực hiện giới hạn cấp tín dụng
Khi thực hiện bảo lãnh, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải tuân thủ các quy định tại Luật các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước về trường hợp không được cấp tín dụng, hạn chế cấp tín dụng, giới hạn cấp tín dụng
c) Bên nhận bảo lãnh
Theo khoản 7, Điều 3, Thông tư 07/2015/TT-NHNN quy định: “Bên nhận bảo lãnh là tổ chức (bao gồm cả tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức tín dụng ở nước ngoài), cá nhân có quyền thụ hưởng bảo lãnh do bên bảo lãnh, bên xác nhận bảo lãnh phát hành.” Theo đó trong mỗi loại bảo lãnh ngân hàng khác
nhau lại có chủ thể bên nhận bảo lãnh khác nhau:
- Trong bảo lãnh thanh toán tiền xây lắp công trình hay lắp đặt máy móc, bên nhận bảo lãnh chính là nhà thầu
Trang 9- Trong bảo lãnh hợp đồng tín dụng, bên nhận bảo lãnh chính là người cho vay (tổ chúc tín dụng…)
- Trong bảo lãnh dự thầu, bên nhận bảo lãnh là bên mời thầu
Đương nhiên bên nhận bảo lãnh cũng cần có những điều kiện nhất định nhằm thỏa mãn điều kiện của ngân hàng:
- Có năng lực pháp luật và hành vi dân sự
- Có các giấy tờ, tài liệu hay bằng chứng chứng minh quyền chủ nợ trong một nghĩa vụ cần được đảm bảo
Trên thực tế, điều kiện này thường được bên bảo lãnh đưa ra nhằm bảo vệ quyền lợi của mình khi giao kết hợp đồng với bên được bảo lãnh hoặc bên nhận bảo lãnh
4 Hình thức và nội dung của bảo lãnh ngân hàng.
Về hình thức: pháp luật quy định việc bảo lãnh ngân hàng của tổ chức tín dụng
đối với khách hàng phải được lập thành văn bản Các văn bản này phải được công chứng, chứng thực nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định
Về nội dung, ca hợp đồng dịch vụ bảo lãnh và cam kết bảo lãnh đều phải hội
tụ đủ các nội dung chủ yếu sau đây:
- Đối với hợp đồng dịch vụ bảo lãnh cần phải có đủ nội dung chủ yếu như tên tuổi, địa chỉ của tổ chức tín dụng bảo lãnh và khách hàng được bảo lãnh; giá trị nghĩa
vụ được bảo lãnh, số tiền bảo lãnh và mức phí bảo lãnh; thời hạn bảo lãnh và điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh; mục đích bảo lãnh; hình thức bảo đảm bằng tài sản cho nghĩa vụ hoàn lại đối với người bảo lãnh; quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng dịch vụ bảo lãnh…
- Đối với cam kết bảo lãnh (bao gồm thư bảo lãnh, hợp đồng bảo lãnh và các hình thức khác của cam kết bảo lãnh phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế), phải hội tụ đủ các nội dung chủ yếu như tên, địa chỉ của tổ chức tín dụng bảo lãnh, khách hàng được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh; ngày phát hành bảo lãnh và số tiền bảo lãnh; thời hạn bảo lãnh và các điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh Ngoài ra, cam kết bảo lãnh còn có thể bổ sung các nội dung khác như quyền và nghĩa vụ của các bên; việc giải quyết các tranh chấp phát sinh và chuyển nhượng quyền, nghĩa vụ cho bên thứ ba,…
Trang 10- Chủ thể có thẩm quyền kí kết hợp đồng bảo lãnh, cam kết bảo lãnh được quy định tại điều 16, thông tư số 07/2015/TT-NHNN:
1 Thỏa thuận cấp bảo lãnh, cam kết bảo lãnh phải được ký bởi người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
2 Việc ủy quyền ký thỏa thuận cấp bảo lãnh, cam kết bảo lãnh phải được lập bằng văn bản và phù hợp với quy định của pháp luật.
5 Phạm vi bảo lãnh.
Trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng của các tổ chức tín dụng, phạm vi bảo lãnh được hiểu là giới hạn của nghĩa vụ tài sản mà bên bảo lãnh (tổ chức tín dụng) cam kết sẽ thực hiện thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) đối với bên nhận bảo lãnh Tổ chức tín dụng có thể quyết định bảo lãnh một phần hay toàn bộ nghĩa vụ cho khách hàng với bên nhận bảo lãnh
Các nghĩa vụ tài sản được tổ chức tín dụng bảo lãnh được quy định như sau:
1 Nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi vay và các chi phí khác có liên quan đến khoản vay.
2 Nghĩa vụ thanh toán tiền mua vật tư, hàng hóa, máy móc, thiết bị và các khoản chi phí thực hiện dự án hoặc phương án đầu tư, sản xuất, kinh doanh, hoặc dịch vụ đời sống.
3 Nghĩa vụ thanh toán các khoản thuế, phí, các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước.
4 Nghĩa vụ khi tham gia dự thầu.
5 Nghĩa vụ trong thực hiện hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm, nhận và hoàn trả tiền ứng trước.
6 Các nghĩa vụ hợp pháp khác do các bên thỏa thuận.
6 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng.
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật bảo lãnh ngân hàng đã được quy định cụ thể tại Thông tư số 07/2015/TT-NHNN Thông tư này đã đề cập một cách rõ ràng các quyền hạn và nghĩa vụ của mỗi bên, hơn hẳn so với Thông tư số 28/2012/TT-NHNN trước đây, ngoài ra ở thông tư số 07 này còn tăng thêm quy định
về quyền của bên bảo lãnh đối ứng và quyền của bên xác nhận bảo lãnh, điều này thể