1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phần 1 Sách “Bộ Ngoại giao: 70 năm xây dựng và phát triển ” LSNG P1 p001 p100

100 269 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 693,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình xây dựng và phát triển, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã tích cực tham gia nhiều hoạt động mang tính lịch sử của đất nước, đàm phán, ký kết các văn kiện ngoại giao quan trọng nh

Trang 2

Ban Chỉ đạo Biên soạn

Ban Biên soạn

Vụ Thi đua khen thưởng và Truyền thống

ngoại giao, Bộ Ngoại giao

- Ngô Hướng Nam (Trưởng ban)

Trang 3

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập cũng đánh dấu thời khắc Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định thành lập Bộ Ngoại giao, ngày 28-8-1945, và Người kiêm nhiệm vai trò Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Việt Nam Trong quá trình xây dựng và phát triển, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã tích cực tham gia nhiều hoạt động mang tính lịch sử của đất nước, đàm phán, ký kết các văn kiện ngoại giao quan trọng như tại Hội nghị Giơnevơ, dẫn tới ký kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954; tham gia các hoạt động hướng tới việc Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995, bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995, tham gia diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm 1998, nỗ lực thúc đẩy hoạt động ngoại giao để Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2006, tham gia các vòng đàm phán của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) từ năm 2010 đến 2015,…

Cho đến nay, nhờ những đóng góp không ngừng của ngành ngoại giao cũng như đội ngũ cán bộ, nhân viên Bộ Ngoại giao, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với khoảng 185 quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế lớn trên thế giới Có thể nói, sự phát triển của hoạt động ngoại giao gắn liền với quá trình phát triển của đất nước, góp phần to lớn vào thắng lợi vẻ vang của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành độc lập và tự do cho dân tộc

Trang 4

Để tôn vinh ngành ngoại giao nói chung và Bộ Ngoại giao nói riêng trong suốt 70 năm xây dựng và trưởng thành với những thành tựu nổi bật đã đạt được trong công tác đối ngoại của đất nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật phối hợp với Vụ Thi đua - khen thưởng và Truyền thống ngoại giao, Bộ Ngoại giao

xuất bản cuốn sách Bộ Ngoại giao: 70 năm xây dựng và phát

triển (1945 - 2015) Nội dung cuốn sách là bức tranh toàn cảnh

sắc nét về Bộ Ngoại giao và hoạt động ngoại giao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến ngày Toàn quốc kháng chiến năm 1946; cơ cấu tổ chức và hoạt động của Bộ Ngoại giao trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thời kỳ đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như thời kỳ chủ động, tích cực hội nhập quốc tế Cuốn sách hướng tới nhiều đối tượng độc giả khác nhau, từ các nhà nghiên cứu, các giảng viên, sinh viên đến đông đảo quần chúng quan tâm đến sự phát triển của ngành ngoại giao và hoạt động ngoại giao của đội ngũ cán bộ, nhân viên Bộ Ngoại giao trong quá trình 70 năm xây dựng và phát triển

Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc

Tháng 8 năm 2015

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT

Trang 5

MỤC LỤC

Lời Nhà xuất bản 5

Lời nói đầu 11 Lời tựa 15

CHƯƠNG MỘT: SỰ HÌNH THÀNH BỘ NGOẠI GIAO VÀ

HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN

CHỦ CỘNG HÒA TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

TỚI NGÀY TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN (tháng 8-1945 -

I Bối cảnh trong nước và quốc tế 23

II Những nét lớn trong đường lối, chính sách đối ngoại của

IV Những đóng góp chủ yếu của Bộ Ngoại giao vào hoạt

động đối ngoại của Đảng và Nhà nước 36

CHƯƠNG HAI: BỘ NGOẠI GIAO NƯỚC VIỆT NAM DÂN

CHỦ CỘNG HÒA TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG

THỰC DÂN PHÁP (tháng 12-1946 - tháng 7-1954) 57

I Bối cảnh trong nước và quốc tế 57

II Những nét lớn trong đường lối, chính sách đối ngoại của

III Bộ Ngoại giao trong kháng chiến chống thực dân Pháp 66

IV Những đóng góp chủ yếu của Bộ Ngoại giao vào hoạt

động đối ngoại của Đảng và Nhà nước 70

Trang 6

CHƯƠNG BA: BỘ NGOẠI GIAO TRONG THỜI KỲ KHÔI

PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, XÂY

DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC, ĐẤU

TRANH THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ NHẰM

LẬP LẠI HÒA BÌNH, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

I Bối cảnh trong nước và quốc tế 105

II Những nét lớn trong đường lối, chính sách đối ngoại của

Đảng và Nhà nước 109 III Bộ Ngoại giao sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 114

IV Những đóng góp của Bộ Ngoại giao vào hoạt động đối

ngoại của Đảng và Nhà nước 138

CHƯƠNG BỐN: BỘ NGOẠI GIAO TRONG THỜI KỲ

KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC, THỐNG

NHẤT TỔ QUỐC (tháng 8-1964 - tháng 7-1976) 156

I Bối cảnh trong nước và quốc tế 156

II Những nét lớn trong đường lối, chính sách đối ngoại của

III Hai Bộ Ngoại giao (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng

hòa miền Nam Việt Nam) trong kháng chiến chống đế

quốc Mỹ, cứu nước 166

IV Những đóng góp chủ yếu của Bộ Ngoại giao Việt Nam

Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào

hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước 187

CHƯƠNG NĂM: BỘ NGOẠI GIAO TRONG THỜI KỲ ĐẤT

NƯỚC THỐNG NHẤT, CẢ NƯỚC ĐI LÊN CHỦ NGHĨA

XÃ HỘI (tháng 6-1976 - tháng 12-1986)

I Bối cảnh trong nước và quốc tế

II Một số nét lớn về đường lối, chính sách đối ngoại của

Đảng và Nhà nước

Trang 7

III Bộ Ngoại giao trong thời kỳ đất nước bị bao vây, cấm vận

IV Những đóng góp của Bộ Ngoại giao vào hoạt động đối

ngoại của Đảng và Nhà nước

CHƯƠNG SÁU: BỘ NGOẠI GIAO TRONG THỜI KỲ ĐỔI

MỚI VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ (tháng

12-1986 - tháng 1-2011)

I Bối cảnh trong nước và quốc tế

II Những nét lớn trong đường lối, chính sách đối ngoại của

Đảng và Nhà nước

III Bộ Ngoại giao trong thời kỳ đổi mới

IV Những đóng góp chủ yếu của Bộ Ngoại giao vào các hoạt

động đối ngoại lớn của Đảng và Nhà nước

CHƯƠNG BẢY: BỘ NGOẠI GIAO TRONG THỜI KỲ CHỦ

ĐỘNG, TÍCH CỰC HỘI NHẬP QUỐC TẾ (tháng 1-2011

- tháng 5-2015)

I Bối cảnh trong nước và quốc tế

II Những nét lớn trong đường lối, chính sách đối ngoại của

Đảng và Nhà nước

III Bộ Ngoại giao trong thời kỳ hội nhập quốc tế

IV Những đóng góp chủ yếu của Bộ Ngoại giao vào hoạt

động đối ngoại của Đảng và Nhà nước

Kết luận

Phụ lục

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày 28-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố trước toàn thể đồng bào và thế giới danh sách các thành viên Chính phủ Cách mạng lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong

đó Người trực tiếp làm Bộ trưởng Ngoại giao Ngày đó được coi

là ngày thành lập của Bộ Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong 70 năm xây dựng và trưởng thành, Bộ Ngoại giao đã

có nhiều đóng góp hết sức quan trọng vào thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay

Có được những thành tích rất đáng tự hào như vậy là nhờ

sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Trung ương Đảng, trực tiếp

là Thường vụ, sau này là Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng; sự chỉ đạo, dìu dắt sát sao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thế hệ lãnh đạo Đảng và Nhà nước; nhờ xương máu,

mồ hôi và nước mắt của toàn quân và toàn dân ta, tạo nên thế

và lực cho đất nước và sức mạnh cho ngành ngoại giao

Những thành tựu của Bộ Ngoại giao trong bảy thập niên qua là kết quả từ những nỗ lực lớn lao của lớp lớp cán bộ, nhân viên của Bộ trong công tác đối ngoại cũng như công tác xây dựng ngành, qua đó đào tạo, rèn luyện nên đội ngũ vững vàng

về chính trị - tư tưởng, ngày càng thành thạo về chuyên môn,

Trang 10

nghiệp vụ, ngoại ngữ; hình thành và không ngừng hoàn thiện

cơ cấu tổ chức và phương pháp công tác của Bộ cũng như các đơn vị trong và ngoài nước

Quá trình 70 năm xây dựng ngành trải qua biết bao sự kiện,

để lại biết bao bài học kinh nghiệm quý báu, nhưng tiếc rằng cho tới nay chưa xây dựng được một cuốn lịch sử về lĩnh vực công tác quan trọng này

Lãnh đạo Bộ Ngoại giao qua các thời kỳ đã từng chủ trương

bổ khuyết lỗ hổng đó và đã giao cho các đơn vị hữu quan thu thập tư liệu, soạn thảo lịch sử xây dựng và phát triển ngành ngoại giao Việt Nam Tuy vậy, do những hạn chế trong công tác lưu trữ thông tin, tư liệu và sự lúng túng trong cách thức soạn thảo nên vẫn chưa có được một công trình hoàn chỉnh như mong muốn

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 70 ngày thành lập ngành ngoại giao, lãnh đạo Bộ Ngoại giao đã giao cho một nhóm cán bộ công tác lâu năm trong ngành, kinh qua nhiều lĩnh vực công tác cố gắng soạn thảo một cuốn lịch sử xây dựng ngành theo phương châm: mạnh dạn thực hiện bước đi ban đầu rồi từng bước bổ sung, hoàn thiện vì thời gian càng lùi xa thì các thông tin, tư liệu liên quan ngày càng mai một, các nhân chứng lịch sử về các thời kỳ trước ngày càng ít đi, do đó sẽ càng khó thực hiện được công việc này

Trong một thời gian rất ngắn, các thành viên của Ban Biên soạn đã nỗ lực làm việc, tận dụng tối đa thành quả của các nhóm tổng kết trước để hình thành nên cuốn sách này Sở dĩ

cuốn sách này được đặt tên là Bộ Ngoại giao: 70 năm xây dựng

và phát triển (1945 - 2015) mà chưa gọi là Lịch sử Bộ Ngoại giao (1945 - 2015) vì chưa có điều kiện soạn thảo một bộ lịch sử với

đúng nghĩa của từ đó; cuốn sách xuất bản lần này mới là tài liệu đầu tiên, một bộ khung để rồi tiếp tục bồi đắp, hoàn thiện

Trang 11

Trong quá trình soạn thảo, Ban Biên soạn phải xử lý một khó khăn là làm thế nào dung hòa giữa hai nội hàm gắn bó mật thiết với nhau - đó là “lịch sử hoạt động ngoại giao” và “lịch sử xây dựng ngành” Để khắc phục khó khăn này, Ban Biên soạn

đã cố gắng theo cách làm đậm nội dung xây dựng ngành, còn các phần nói về bối cảnh trong nước và quốc tế cũng như đường lối, chính sách đối ngoại và những hoạt động ngoại giao chỉ là nền móng, trên đó ngành ngoại giao đã được xây dựng, trưởng thành và đóng góp vào sự nghiệp chung của đất nước

Như trên đã nói, tư liệu về công tác xây dựng ngành nói chung rất thiếu và rất phân tán, thậm chí có những mảng thiếu vắng hoàn toàn, ví dụ tư liệu về một mảng quan trọng là công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể quần chúng cho tới nay vẫn chưa thu thập được Vì lẽ đó, nhiều thông tin, tư liệu nêu trong sách có thể chưa thật chính xác, thậm chí còn nhiều khoảng trống

Sự nghiệp do con người làm nên; thành tựu của ngành thuộc

về toàn thể cán bộ, nhân viên trong ngành Ban Biên soạn rất muốn nêu tên tuổi và sự đóng góp của mọi người nhưng không có cách nào thực hiện được ý nguyện đó, vì vậy chỉ có thể nhắc đến tên một số người, chủ yếu là các đồng chí lãnh đạo Bộ và các Vụ trưởng, Cục trưởng khi mới thành lập; còn tên tuổi các thủ trưởng đơn vị tiếp sau sẽ nêu trong Phụ lục kèm theo

Để giảm thiểu những khó khăn trên, bản phác thảo đã được gửi tới một số đồng chí vốn công tác lâu năm trong ngành để đóng góp ý kiến và đã nhận được sự hưởng ứng, góp ý rất nhiệt tình Sau đó, Bộ đã tổ chức một buổi tọa đàm với sự tham gia của nhiều đồng chí cán bộ cũ để xin thêm ý kiến, trên cơ sở đó

đã chỉnh sửa lần cuối bản thảo trước khi ấn hành

Vụ Thi đua - khen thưởng và Truyền thống ngoại giao, Bộ Ngoại giao và Ban Biên soạn xin chân thành cảm ơn các đồng

Trang 12

chí lãnh đạo Bộ, nguyên lãnh đạo Bộ, các cán bộ của Bộ đã nghỉ hưu, các đơn vị chức năng và cá nhân trong Bộ Ngoại giao đã đóng góp những ý kiến quý báu trong quá trình hoàn chỉnh cuốn sách này

Cuốn sách được phát hành như một món quà kỷ niệm lần thứ 70 ngày Bộ Ngoại giao Việt Nam ra đời, thể hiện lòng tri

ân đối với lớp lớp cán bộ, nhân viên trong ngành qua các thời

kỳ Cuốn sách được biên soạn lần đầu, vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót Mong rằng bạn đọc chia sẻ những nhận xét, góp ý để từng bước xây dựng một pho sử đầy đủ hơn về những năm tháng xây dựng và trưởng thành của Bộ Ngoại giao nước nhà

Vụ Thi đua - khen thưởng và Truyền thống ngoại giao

Bộ Ngoại giao và Ban Biên soạn

Trang 13

LỜI TỰA

Đồng hành cùng dân tộc, sự ra đời và trưởng thành của ngành ngoại giao nói chung và Bộ Ngoại giao nói riêng gắn liền với lịch sử vẻ vang của dân tộc, của Nhà nước cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh Mỗi bước phát triển đi lên của Bộ Ngoại giao không tách khỏi sự nghiệp cách mạng lâu dài, gian khổ nhằm hoàn thành triệt để mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện công cuộc đổi mới, không ngừng mở rộng hợp tác hữu nghị với các nước trên thế giới và hội nhập quốc tế

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, người khai sinh Nhà nước cách mạng Việt Nam, cũng là người đặt nền móng xây dựng nền ngoại giao hiện đại, xây dựng và lãnh đạo Bộ Ngoại giao từ những ngày đầu tiên của chính quyền cách mạng Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Ngoại giao đã cùng với dân tộc vượt qua những chặng đường đầy thử thách nhưng cũng vô cùng vẻ vang của đất nước

Đó là thời kỳ xây dựng và củng cố chính quyền công - nông non trẻ sau Cách mạng Tháng Tám, kiên quyết đấu tranh chống cuộc xâm lược trở lại của thực dân Pháp nhằm giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng một nước Việt Nam mới Bộ Ngoại giao đã góp phần vào nhiệm vụ

Trang 14

tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu

đó và được thể hiện qua quá trình đấu tranh ngoại giao, xúc tiến các cuộc đàm phán, ký kết nhiều văn kiện ngoại giao với nước ngoài ở những thời điểm khó khăn, phức tạp và có tính chất bước ngoặt của cách mạng Việt Nam Không thể không nhắc đến ý nghĩa và tầm quan trọng của Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, cuộc đàm phán ở Phôngtennơblô và Tạm ước ngày 14-9-1946, Hội nghị Giơnevơ năm 1954 với 75 ngày đấu tranh khó khăn, phức tạp, kết thúc bằng việc ký kết Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào và Campuchia Với Hiệp định Giơnevơ năm 1954, bằng ngoại giao, chúng ta đã đạt được sự công nhận quốc tế về những quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ

Đó là thời kỳ đất nước bị tạm thời chia cắt thành hai miền Cách mạng nước ta một lúc phải làm hai nhiệm vụ: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước Miền

Bắc là hậu phương lớn, miền Nam là tiền tuyến lớn “Đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”,1

vừa phối hợp và phục vụ đấu tranh quân sự, chính trị, vừa phát huy thắng lợi trên chiến trường, giành thắng lợi từng bước Với tinh thần đó, Bộ Ngoại giao đã cùng quân, dân cả nước góp phần tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế rộng rãi đối với cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước của nhân dân ta và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, đồng thời góp phần phục vụ xây dựng miền Bắc, tăng cường đoàn kết quốc

tế Đặc biệt, từ sau Nghị quyết Trung ương 13 (tháng 1-1967),

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2003, t 28, tr 174

Trang 15

mặt trận ngoại giao đã được mở ra với cuộc đàm phán Pari kéo dài suốt từ năm 1968 đến đầu năm 1973 Đây thực sự là cuộc đấu trí giữa Việt Nam và Mỹ Trải qua quá trình bền bỉ “vừa đánh vừa đàm”, đấu lực và đấu trí, kiên trì và sáng tạo, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết Hoạt động ngoại giao đã song hành cùng

sự nghiệp kháng chiến anh dũng của dân tộc, góp phần làm thất bại mọi nỗ lực xâm lược, nô dịch của các thế lực thực dân,

đế quốc mạnh nhất trong thế kỷ XX để giành và bảo vệ độc lập dân tộc Kết hợp “đánh và đàm” trở thành một đặc điểm mang tính quy luật trong các cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta Trong thời kỳ này, ngoại giao Việt Nam đã có bước trưởng thành vượt bậc, không những đã hỗ trợ đắc lực cho cuộc kháng chiến trường kỳ vĩ đại của dân tộc, mà còn phát huy tính sáng tạo, phất cao ngọn cờ chính nghĩa, nắm chắc xu thế của thời đại, buộc đối phương phải lùi dần từng bước, tạo điều kiện cho mặt trận quân sự tiến lên giành thắng lợi lịch sử mùa xuân năm 1975

Đó là chặng đường dài bốn thập niên vừa qua từ năm 1975 đến nay, khi cách mạng nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Trong hơn một thập kỷ sau khi thống nhất đất nước, những khó khăn bên trong và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bên ngoài đã đặt ra cho đất nước nói chung và ngành ngoại giao nói riêng những thách thức rất lớn Với tinh thần “nhìn thẳng vào

sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”,1 Đại hội VI của Đảng đã nhìn lại thực trạng của đất nước, phân tích rõ những thành tựu và khuyết điểm, đề ra đường lối đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy về kinh tế Nghị quyết số 32-NQ/BCT của Bộ

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t 49, tr 247

Trang 16

Chính trị (tháng 7-1986), Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị “Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới” (tháng 5-1988) và nghị quyết của các Đại hội VII, VIII, IX,

X và XI của Đảng đã xác định rõ nhiệm vụ đối ngoại là củng cố môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam “là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”,1 tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác khu vực và toàn cầu, phấn đấu vì hòa bình, ổn định và phát triển

Trong thời kỳ phức tạp đầy sóng gió này, ngoại giao đã đi đầu trong cuộc đấu tranh nhằm phá vỡ sự bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, đồng thời chứng tỏ một thực tế là không thể giải quyết vấn đề liên quan đến hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á mà không tính đến vai trò của Việt Nam Ngoại giao cũng luôn có mặt trên tuyến đầu trong sự nghiệp kiến thiết, xây dựng đất nước, nhất là từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới Ngoại giao đã chủ động, tích cực triển khai đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, đưa đất nước hội nhập ngày càng sâu vào khu vực và thế giới Nghị quyết số 32 (tháng 7-1986), Nghị quyết số 13 (tháng 5-1988), Nghị quyết số 22 (tháng 4-2013) của Bộ Chính trị đều thể hiện rõ vai trò tiên phong của Bộ Ngoại giao trong quá trình đổi mới mạnh mẽ tư duy của Đảng và Nhà nước về đối ngoại Việc bình thường hóa quan hệ với các nước lớn, gia nhập ASEAN, gia nhập WTO, tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc đã

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr 236

Trang 17

mở ra cục diện mới có lợi hơn cho đất nước Trong tất cả những thời điểm bước ngoặt đó, ngoại giao đã kiên trì tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong các chủ trương, quyết sách lớn về đối ngoại để con tàu Việt Nam vững vàng tiến ra biển lớn Có thể nói, ngoại giao đã đóng vai trò quan trọng vào việc duy trì môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đặc biệt, ngoại giao đã và đang là động lực quan trọng của tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Sau gần 30 năm đổi mới, từ chỗ bị bao vây về kinh tế, cô lập về chính trị và chỉ quan

hệ với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, đến nay, nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 185/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, có quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, thu hút được khoảng 260 tỷ USD vốn FDI, là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong ASEAN và nhiều

cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc Vị thế của đất nước được nâng cao đáng kể với việc đảm nhiệm tốt vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009, Chủ tịch ASEAN năm 2010, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016, tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế quan trọng như Hội nghị Cấp cao ASEM 2005, Hội nghị Cấp cao APEC 2006, Đại hội đồng Liên minh Nghị viện Thế giới - IPU (tháng 3-2015)

Ngoại giao cũng phối hợp chặt chẽ với lực lượng quốc phòng,

an ninh trong việc bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo Từ các

cơ chế hợp tác đa phương ở khu vực do ASEAN dẫn dắt như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) đến các diễn đàn quốc tế rộng lớn hơn như Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết, Hội nghị Á - Âu (ASEM), chúng ta đã vận động

Trang 18

được sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế đối với lập trường chính nghĩa và các lợi ích chính đáng của Việt Nam ở Biển Đông Nhấn mạnh vai trò của ngoại giao, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: trong thời bình, ngoại giao là lực lượng “đi đầu trong kiến tạo hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”,1 “giữ vững được độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”.2

Trong những năm vừa qua, mặc dù tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động, tình hình kinh tế - xã hội trong nước gặp không ít khó khăn, nhưng chúng ta vẫn giành được những thành tựu quan trọng trong công tác đối ngoại Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử ngoại giao Việt Nam hiện đại, chúng ta đã hoàn thành việc xây dựng khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với tất cả các nước lớn, trong đó có năm nước ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc

Suốt 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sát cánh cùng với các mặt trận khác, ngoại giao đã góp phần đưa Việt Nam từ một đất nước không có tên trên bản đồ thế giới đến vị thế đàng hoàng của một quốc gia đóng vai trò ngày càng quan trọng ở khu vực Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói:

“Chưa bao giờ đất nước ta có cơ đồ như ngày nay”,3 và “mặt trận ngoại giao luôn đóng vai trò trọng yếu trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, góp phần tạo nên những thắng lợi hết sức to lớn, làm rạng rỡ lịch sử của dân tộc”.4

Trang 19

Nhìn lại chặng đường vẻ vang 70 năm qua, ngành ngoại giao rất đỗi tự hào đã luôn hoàn thành xuất sắc những nhiệm

vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó Đóng vai trò cầu nối giữa Việt Nam và thế giới, ngoại giao luôn nỗ lực định vị đất nước trong cục diện khu vực và quốc tế một cách có lợi nhất, đồng thời khẳng định bản sắc của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại mang đậm tinh thần hòa hiếu, nhân văn, kiên định về nguyên tắc nhưng linh hoạt về sách lược theo đúng phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn Từ lúc chỉ có vẻn vẹn 20 cán bộ trong những ngày đầu thành lập đến khi đã thực sự trở thành một “binh chủng” hùng hậu với 2.400 cán bộ, nhân viên như hiện nay, Bộ Ngoại giao luôn đóng vai trò nòng cốt trong các lực lượng đối ngoại của Đảng và Nhà nước Đội ngũ cán bộ, nhân viên Bộ Ngoại giao tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, vững vàng về bản lĩnh chính trị, tinh thông về chuyên môn nghiệp vụ, luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó

Cuốn sách Bộ Ngoại giao: 70 năm xây dựng và phát triển (1945 - 2015) được biên soạn và xuất bản nhân dịp 70 năm

thành lập ngành ngoại giao Đây là kết quả của quá trình nỗ lực sưu tầm tư liệu, biên soạn, nghiên cứu và tổng hợp của nhóm tác giả gồm một số đồng chí nguyên là Lãnh đạo Bộ, Đại

sứ, cán bộ quản lý, chuyên gia cao cấp của Bộ Ngoại giao, trong

đó có tập thể cán bộ nhân viên Vụ Thi đua - khen thưởng và Truyền thống ngoại giao Cuốn sách được biên soạn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Vũ Khoan, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ và nhiều đồng chí cán bộ lão thành của Bộ Ngoại giao qua các thời kỳ

Với mong muốn xây dựng một bộ sách đầy đủ, hoàn thiện về lịch sử ngoại giao Việt Nam hiện đại để tổng kết những chặng đường đã qua, đúc kết những bài học quý báu của nền ngoại

Trang 20

giao cách mạng theo tư tưởng và phong cách Hồ Chí Minh,

chúng tôi tin rằng cuốn sách Bộ Ngoại giao: 70 năm xây dựng

và phát triển (1945 - 2015) xứng đáng là bộ phận cấu thành của

bộ sách đó

Bên cạnh các cuốn sách đã xuất bản trước đây về lịch sử ngoại giao Việt Nam, bạn đọc sẽ tìm thấy trong cuốn sách này những thông tin hữu ích, chưa từng được chính thức công bố về quá trình xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy của Bộ Ngoại giao cũng như quá trình phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành của đội ngũ cán bộ Bộ Ngoại giao trong chặng đường lịch sử 70 năm qua Qua đó, bạn đọc sẽ hiểu thêm về những đóng góp, hy sinh thầm lặng của những con người đã góp phần làm nên thành công và bản sắc của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại Cuốn sách thể hiện sự tri ân của các cán bộ, nhân viên Bộ Ngoại giao hiện nay đối với các thế hệ cán bộ ngoại giao đi trước Cuốn sách cũng sẽ góp phần giúp các thế hệ cán bộ ngoại giao hôm nay và mai sau, nhất là các cán bộ trẻ, hiểu và tự hào hơn

về chặng đường gian lao nhưng đầy vinh quang của các thế hệ

đi trước, từ đó có thêm ý thức và động lực phấn đấu để đóng góp ngày càng tích cực hơn vào việc triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ mới

PHẠM BÌNH MINH

Ủy viên Trung ương Đảng Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ ngoại giao

Trang 21

CHƯƠNG MỘT

SỰ HÌNH THÀNH BỘ NGOẠI GIAO VÀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM TỚI NGÀY TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN

(tháng 8-1945 - tháng 12-1946)

I BỐI CẢNH TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ

1 Bước vào năm 1945, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai đi

đến hồi kết Ngày 9 tháng 5, nước Đức Quốc xã buộc phải ký văn bản đầu hàng vô điều kiện; ngày 2 tháng 9, quân phiệt Nhật Bản cũng phải chấp nhận điều tương tự

Nắm vững và dự báo chuẩn xác diễn biến tình hình, trong

“Thư gửi đồng bào toàn quốc” vào tháng 10-1944, Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã tiên đoán: “Các Đồng minh quốc sắp tranh được

sự thắng lợi cuối cùng Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa”.1 Theo tinh thần Chỉ thị ngày 12-3-1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, Mặt trận Việt Minh đã ra Lời hiệu triệu, trong đó

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 3, tr XI

Trang 22

nói rõ: “Vận mệnh dân tộc ta đang treo trên sợi tóc Nhưng cơ hội ngàn năm có một đang lại”.1 Ngày 16, 17-8-1945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng và bầu ra Ủy ban Giải phóng dân tộc do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch - đó là tiền thân của Chính phủ nước Việt Nam độc lập

Ngày 19-8-1945, tổng khởi nghĩa nổ ra và giành được thắng lợi ở Thủ đô Hà Nội và trong khoảng mười ngày sau đã thắng lợi hoàn toàn trong cả nước Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường

Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ

lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, trong đó trịnh trọng tuyên bố:

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.2

Những sự kiện lịch sử dồn dập diễn ra vào mùa thu năm

1945 đã mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc ta Tuy nhiên, sau khi giành được độc lập, nước ta phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách hết sức to lớn và vô cùng nghiêm trọng

Thay cho chế độ thực dân, phong kiến vừa bị xóa bỏ hoàn toàn, chúng ta phải xây dựng một thể chế chính trị và một bộ máy quản lý nhà nước hoàn toàn mới từ Trung ương tới làng xã với nhân lực, vật lực, tài lực cũng như kinh nghiệm rất hạn chế Trong hoàn cảnh thù trong, giặc ngoài chống phá quyết liệt,

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, 2000,

t 7, tr 533

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội,

2011, t 4, tr 3

Trang 23

chính quyền mới phải ra sức củng cố, phát triển nhanh chóng lực lượng vũ trang cách mạng Trong khi đó, kinh tế đất nước kiệt quệ: nạn đói năm Ất Dậu (1945) cướp đi hơn 2 triệu sinh mạng; trận lụt lịch sử vào mùa thu năm đó càng làm cho sản xuất nông nghiệp đình đốn, tiêu điều, tới 50% ruộng đất bị bỏ hoang Sản xuất công nghiệp ngưng trệ do bị tàn phá trong chiến tranh và bọn chủ thực dân bỏ đi hoặc phá hoại, hàng vạn công nhân lâm vào cảnh thất nghiệp Hàng hóa khan hiếm, giá

cả tăng vọt, đời sống của các tầng lớp dân cư hết sức khó khăn, cực khổ Nền tài chính quốc gia nguy ngập, ngân khố Trung ương khánh kiệt, chỉ còn vẻn vẹn 1.200.000 đồng trong khi Ngân hàng Đông Dương vẫn do người Pháp quản lý không chịu ứng tiền cho Chính phủ lâm thời Thêm vào đó, quân Tưởng

“nhập Việt” đã tung vào lưu thông một lượng khổng lồ tiền quan kim vốn đã bị mất giá làm cho nạn lạm phát càng nghiêm trọng Hơn nữa, chúng còn nhũng nhiễu, hạch sách, đòi Chính phủ ta cung ứng cho chúng tiền, vàng, lương thực, thực phẩm

và cả thuốc phiện, làm cho nền kinh tế nước ta vốn khó khăn càng khó khăn hơn

Tình hình an ninh chính trị cũng hết sức rối ren, căng thẳng Theo thỏa thuận giữa các nước lớn trong Mặt trận Đồng minh chống phát xít, tháng 8-1945, hai mươi vạn quân Tưởng kéo vào miền Bắc nước ta dưới chiêu bài tước vũ khí quân đội Nhật, mưu toan xóa bỏ chính quyền cách mạng, lập nên chính quyền tay sai của chúng để thao túng nước ta Theo đuôi chúng

là bọn Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân Đảng do Vũ Hồng Khanh làm Đảng trưởng) và Việt Cách (Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội của Nguyễn Hải Thần) trở về nước, hành động rất hung hãn, ngang tàng, ra sức chống phá chính quyền cách

Trang 24

mạng, khủng bố nhân dân Ở miền Nam, đội quân viễn chinh Pháp núp sau lưng quân đội Anh gây hấn, buộc quân dân Nam

Bộ phải cầm vũ khí đứng lên chiến đấu từ ngày 23 tháng 9, vẻn vẹn chỉ 20 ngày sau Lễ tuyên bố độc lập Đó là chưa kể sự tồn tại của 60.000 quân Nhật chưa giải giáp

Trong tình hình ngàn cân treo sợi tóc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên hàng loạt nhiệm vụ cấp bách, nổi lên là các nhiệm vụ chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Trong

bài viết “Nhân tài và kiến quốc” đăng trên báo Cứu quốc ngày

14-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra bốn nhiệm vụ: kiến thiết ngoại giao, kiến thiết kinh tế, kiến thiết quân sự, kiến thiết giáo dục.1

2 Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối

cảnh quốc tế vừa có những thuận lợi mới vừa ẩn chứa nhiều khó khăn, phức tạp

Chiến thắng của các lực lượng đồng minh chống phát xít đã xóa bỏ chủ nghĩa phát xít Đức - Italia ở châu Âu và chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản ở châu Á Thắng lợi đó đã khích lệ phong trào dân chủ, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, kể cả ở châu Á Cuộc nội chiến ở Trung Quốc giữa Đảng Cộng sản và chính quyền Quốc dân Đảng bước vào giai đoạn mới, trong đó Hồng quân Trung Quốc giành được những thắng lợi ngày càng to lớn; nhân dân Inđônêxia giành được độc lập từ tay thực dân Hà Lan cùng lúc với Cách mạng Tháng Tám ở nước ta; nhân dân Ấn Độ, Miến Điện (Mianma ngày nay) đẩy mạnh đấu tranh nhằm thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Anh;

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 4, tr 114

Trang 25

phong trào yêu nước ở Lào và Campuchia có những bước phát

triển mới

Lúc này, các nước lớn trong Mặt trận Đồng minh chống phát xít là Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp và chính quyền Tưởng Giới Thạch vẫn duy trì quan hệ hợp tác để giải quyết hậu quả chiến tranh, thực hiện những thỏa thuận tại Hội nghị Yanta (Yalta)

và Pốtxđam (Potsdam), nhất là thỏa thuận về đất đai, lãnh thổ, phân chia vùng ảnh hưởng trên thế giới Riêng ở châu Á, Liên

Xô được quyền “thuê lâu dài” cảng Lữ Thuận và Đại Liên ở Đông Bắc Trung Quốc làm cảng tự do Ngoại Mông tiếp tục nằm trong vùng ảnh hưởng của Liên Xô với quy chế tự trị Liên Xô tiếp tục sử dụng đường sắt Mãn Châu Lý, thu hồi toàn bộ đảo Xakhalin (Sakhalin) và quần đảo Curin (Kuril) Bán đảo Triều Tiên bị chia cắt, miền Bắc vĩ tuyến 38 do Liên Xô tiếp quản;

Mỹ tiếp quản phía Nam và lãnh thổ Nhật Bản Trung Hoa Quốc dân Đảng thu hồi Đài Loan, đưa quân vào giải giáp quân đội Nhật ở phía Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra Quân đội Anh - Ấn (lúc đó Ấn Độ còn là thuộc địa của Anh), núp sau lưng

là quân Pháp, vào miền Nam Việt Nam để giải giáp quân đội Nhật Bản

Tuy nhiên, ngay lúc này, nhiều mâu thuẫn giữa các nước Đồng minh với nhau đã bộc lộ công khai, gay gắt Bài diễn văn của Thủ tướng Anh U Sớcsin (Winston Churchill) ở Phuntơn (Fulton) tháng 2-1946 đã mở đầu cuộc “chiến tranh lạnh”

Riêng ở Đông Dương, giữa các nước lớn trong Mặt trận Đồng minh chống phát xít vừa có mặt thống nhất, vừa bộc lộ những mâu thuẫn sâu sắc Một mặt, các nước phương Tây và chính quyền Trung Hoa Quốc dân Đảng thống nhất với nhau trong âm mưu cản phá lực lượng cách mạng do Đảng Cộng

Trang 26

sản Đông Dương lãnh đạo nắm chính quyền, mặt khác họ tranh giành quyết liệt với nhau Chính quyền Mỹ dưới thời Tổng thống F Rudơven (F Roosevelt) mưu toan phân chia lại thế giới nhằm giành thuộc địa của Anh, Pháp thông qua chế độ “thác quản quốc tế” Theo hướng đó, ngày 21-1-1944, trong thư gửi Chính phủ Anh, Tổng thống F Rudơven đã thẳng thừng khước từ việc trao Đông Dương cho Pháp Sau khi Tổng thống F Rudơven qua đời, H Truman lên thay đã điều chỉnh chiến lược theo hướng chống Liên Xô, từ đó chuyển từ chính sách “thác quản quốc tế” sang lập trường

“chính thức thừa nhận bằng văn bản chủ quyền của nước Pháp trên xứ Đông Dương” như H Truman đã nói trong cuộc gặp ngày 22-8-1945 với Thủ tướng Pháp Sác Đờ Gôn (Charles De Gaulles).1

Nước Anh cũng theo đuổi chính sách tương tự Ngày 24-8-1945, Anh ký với Pháp một thỏa hiệp về những nguyên tắc và cách thức khôi phục quyền hành chính của Pháp ở Đông Dương; ngày 19-10-1945 lại ký Hiệp định quy định “Quyền hành chính của Pháp ở Việt Nam”; ngày 1-1-1946 ký tiếp Hiệp định nhượng quyền cho Pháp giải giáp quân đội Nhật Bản ở khu vực Nam Đông Dương (nam vĩ tuyến 16), do vậy Pháp đã gây hấn ở Nam Bộ nước ta và đưa quân vào Campuchia bắt giam Thủ tướng Chính phủ Khơme độc lập là ông Sơn Ngọc Thành, dựng lên chính quyền của Hoàng thân Môniret (Monireth) theo chế

độ “tự trị” trong Liên hiệp Pháp

1 Philippe Devillers: Paris - Sài Gòn - Hà Nội, Tài liệu lưu trữ

của cuộc chiến tranh 1944-1947, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993,

tr 5

Trang 27

Còn Trung Hoa Quốc dân Đảng đưa quân vào Việt Nam dưới chiêu bài giải giáp quân đội Nhật Bản, mưu toan “diệt Cộng, cầm Hồ”, nhưng do khó khăn trong nước đã phải thỏa hiệp với Pháp bằng Hiệp ước ngày 28-2-1946 ký ở Trùng Khánh, theo đó quân Tưởng rút khỏi Việt Nam ngày 31-3-1946 và quân Pháp thay thế quân Tưởng tại Việt Nam Đổi lại, Pháp trả lại những nhượng địa của Pháp trên đất Trung Quốc, nhượng lại cho Trung Quốc phần đường sắt Vân Nam bên phía Trung Quốc, chấp nhận cho hàng hóa Trung Quốc được miễn thuế khi vào cảng Hải Phòng, nới rộng quy chế đối với Hoa kiều ở Việt Nam

Liên Xô tuy không muốn Pháp trở lại thống trị Đông Dương, có lúc ngả theo ý tưởng của F Rudơven, song không làm gì cụ thể để ủng hộ Việt Nam do còn phải tập trung vào việc khôi phục đất nước bị tàn phá hết sức nặng nề trong Chiến tranh thế giới thứ hai, củng cố Đông Âu và cần tranh thủ Pháp để đối phó với mưu toan của Mỹ tập hợp các nước Tây Âu chống Liên Xô, tranh thủ chính quyền Trung Hoa Quốc dân Đảng có chung biên giới với Liên Xô, thực hiện thỏa thuận Xô - Mỹ về Trung Quốc Ngoài ra, nhiều thông tin cho thấy, trong Quốc tế Cộng sản có sự hiểu lầm về quan điểm, lập trường của Nguyễn Ái Quốc khi cho rằng Nguyễn Ái Quốc theo quan điểm dân tộc chủ nghĩa

Những diễn biến trên chứng tỏ đánh giá của Hội nghị toàn quốc của Đảng ta trong các ngày 13, 14, 15-8-1945 là hoàn toàn chuẩn xác Hội nghị nhấn mạnh: “Hiện nay, về chính sách ngoại giao, chúng ta cần phải nhận định cho rõ hai điều này: a) Sự mâu thuẫn giữa hai phe Đồng minh Anh, Pháp và Mỹ, Tàu về vấn đề Đông Dương là một điều ta cần lợi dụng

Trang 28

b) Sự mâu thuẫn giữa Anh, Mỹ, Pháp và Liên Xô có thể làm cho Anh, Mỹ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương”.1

Trong hoàn cảnh sức mạnh vật chất của nước ta còn yếu, cục diện quốc tế diễn biến hết sức phức tạp, trong quan hệ giữa các nước lớn vừa có sự thỏa hiệp vừa cạnh tranh ảnh hưởng gay gắt, hoạt động ngoại giao tích cực, khôn khéo của chúng ta đóng vai trò sống còn

Trong bối cảnh trên, cùng với sự ra đời của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bộ Ngoại giao cũng được thành lập với vinh dự lớn của ngành ngoại giao là Chủ tịch

Hồ Chí Minh trực tiếp kiêm nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đầu tiên

II NHỮNG NÉT LỚN TRONG ĐƯỜNG LỐI,

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

Từ sau Cách mạng Tháng Tám tới ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946 vẻn vẹn chưa tới một năm rưỡi Trong giai đoạn ngắn ngủi ấy diễn ra nhiều hoạt động ngoại giao hết sức sôi động, cam go, đầy kịch tính, thể hiện bản lĩnh và nghệ thuật ngoại giao của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Theo nhận định của Đảng, cách mạng nước ta “là cuộc cách

mạng dân tộc giải phóng”, khẩu hiệu vẫn là “Dân tộc trên hết

Tổ quốc trên hết”; kẻ thù chính lúc này là “thực dân Pháp xâm lược”;

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, 2000,

t 7, tr 427

Trang 29

nhiệm vụ là “củng cố chính quyền chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân” Về ngoại giao, Đảng ta kiên trì chủ trương ngoại giao với các nước trên nguyên tắc “bình đẳng và tương trợ”; thuật ngoại giao là

“làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết”, muốn ngoại giao được thắng lợi “phải biểu dương thực lực”.1 Theo đường lối, chính sách chung đó, có thể nêu vắn tắt chính sách ngoại giao trong giai đoạn này gồm những nội dung sau:

Một là, mục tiêu của chính sách ngoại giao bao hàm hai nội

dung cơ bản gắn bó mật thiết với nhau: đó là kiên quyết bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất giang sơn, đồng thời ra sức tranh thủ một thời gian hòa hoãn tạm thời để chuẩn bị đi vào cuộc kháng chiến không tránh khỏi

Hai là, nhấn mạnh vai trò quyết định của thực lực đối với

thành công trên mặt trận ngoại giao Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào từ ngày 13 đến 15-8-1945 nêu rõ: “Dù sao chỉ có thực lực của ta mới quyết định được sự thắng lợi giữa ta

và Đồng minh”.2 Trong Chỉ thị về kháng chiến kiến quốc ngày 25-11-1945, Trung ương Đảng ta lại nhấn mạnh: “muốn ngoại giao được thắng lợi là phải biểu dương thực lực”.3 Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện tư tưởng này một cách đầy hình ảnh: “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng Chiêng có to tiếng mới lớn”.4

Trang 30

Ba là, thực thi chính sách “thêm bạn bớt thù”, khai thác

triệt để mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương, tập trung mũi nhọn vào đối tượng chủ yếu lúc đó là thực dân phản động Pháp Ngay khi phát động cuộc tổng khởi nghĩa, trên cơ sở phân tích sâu sắc mâu thuẫn giữa các nước lớn, Đảng ta đã nhấn mạnh:

“Chính sách chúng ta là phải tránh cái trường hợp một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng minh (Tàu, Pháp, Anh, Mỹ) tràn vào nước ta và đặt chính phủ của Pháp Đờ Gôn hay một chính phủ bù nhìn khác trái với ý nguyện dân tộc

Bởi vậy cần tranh thủ sự đồng tình của Liên Xô và Mỹ chống lại mưu mô của Pháp định khôi phục địa vị cũ ở Đông Dương và mưu mô của một số quân phiệt Tàu định chiếm nước ta”.1 Cũng theo tinh thần đó, trong Chỉ thị về kháng chiến kiến quốc ngày 25-11-1945, Đảng đã chỉ rõ: “Phải đặc biệt chú ý những điều này: một là thuật ngoại giao là làm cho nước mình

ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết…”.2

Bốn là, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân các

nước thuộc địa, nhất là ở châu Á, cũng như nhân dân tiến bộ Pháp, Trung Quốc mà chúng ta coi là bè bạn

Năm là, về phương pháp tiến hành, thực thi phương châm

“dĩ bất biến ứng vạn biến”, kiên định về nguyên tắc, linh hoạt

về sách lược, giành thắng lợi từng bước

III SỰ HÌNH THÀNH BỘ NGOẠI GIAO

Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ngày 28-8-1945, thời gian đầu (từ tháng 8-1945 đến tháng 3-1946

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t 7 , tr 427

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t 8, tr 27

Trang 31

và từ tháng 11-1946 đến tháng 3-1947) do Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh trực tiếp kiêm nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Như vậy, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người sáng lập, nhà lãnh đạo, đồng thời trực tiếp tiến hành hoạt động ngoại giao của nước Việt Nam độc lập

Vốn là thuộc địa của Pháp, không có vị trí và quyền hành gì trong quan hệ đối ngoại, khi trở thành quốc gia độc lập, nước ta phải xây dựng bộ máy chính quyền nói chung và Bộ Ngoại giao nói riêng từ “con số không” Ban đầu, Bộ Ngoại giao chỉ có khoảng 20 cán bộ, nhân viên, bao gồm một số cán bộ cách mạng

và trí thức trẻ giỏi các thứ tiếng Pháp, Anh, Hoa, Nga

Về cơ cấu tổ chức, dần dần hình thành ba bộ phận: Tổng Thư ký, Ban Tham nghị và Văn phòng Luật gia Nguyễn Văn Lưu làm Tổng Thư ký Ban Tham nghị gồm bốn thành viên là nhà khoa học gồm: ông Tạ Quang Bửu - phụ trách quan hệ với Anh và Mỹ, ông Bùi Lâm - phụ trách quan hệ với Pháp, ông Nguyễn Đức Thụy - phụ trách quan hệ với Trung Hoa Quốc dân Đảng và ông Trần Đình Long - phụ trách quan hệ với Nga, đồng thời xử lý các vụ việc rắc rối liên quan tới hoạt động đối ngoại ở địa phương Các ông Bùi Lâm và Trần Đình Long đều là cán bộ cách mạng từng hoạt động ở Pháp, sau đó được cử sang học tập tại Liên Xô trong những năm 1930 Ông Trần Đình Long đã bị bọn Trung Hoa Quốc dân Đảng bắt cóc rồi thủ tiêu,

và như vậy, ông là liệt sĩ đầu tiên của ngành ngoại giao Trong đội ngũ cán bộ của Bộ Ngoại giao lúc đó còn có một số trí thức trẻ, chủ yếu là các luật gia tốt nghiệp Trường Luật Hà Nội, như các ông Nguyễn Thương, Lê Kim Chung,… mà sau này là cán bộ cốt cán của Bộ Ngoại giao

Trang 32

Ông Nguyễn Đức Thụy kể lại một số chi tiết thú vị: nhóm cán bộ nói trên hình thành một tổ công tác được gọi là “Ủy hội” làm việc ngay trong Bắc Bộ Phủ, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc (tức Nhà khách Chính phủ, 12 Ngô Quyền hiện nay) Khi triệu tập số cán bộ trên đến giao việc, Bác Hồ nói: “Tôi mời các chú đến đây để tổ chức Ủy viên hội của Bộ Ngoại giao nhưng chỉ dùng chữ “Ủy viên hội” hay “Ủy viên” trong nội bộ thôi, tránh

để bọn Tưởng biết vì chúng coi đó là cách gọi của Đảng Cộng sản Ở bên ngoài nên gọi là “tham nghị” - một chức phổ biến trong bộ máy của Trung Hoa Quốc dân Đảng” Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn dặn anh em khắc các con dấu vì bọn Tưởng chỉ coi trọng con dấu, không coi trọng chữ ký!

Chi tiết nhỏ trên đây cho thấy làm ngoại giao cần hiểu biết cặn kẽ văn hóa, tâm lý, tập quán của đối tác hay đối phương tới mức nào

Ông Thụy còn cho biết, nhóm cán bộ này cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành một tổ Đảng, và đây chính là tổ chức Đảng đầu tiên trong Bộ Ngoại giao

Văn phòng Bộ Ngoại giao bao gồm các phòng bí thư, cơ mật, thông tin và phát ngôn; bộ phận sự vụ bao gồm các phòng công văn, kế toán, nghi lễ - khánh tiết, thông tin - báo chí, thông dịch, hộ chiếu - kiều dân, chính trị - kinh tế

Sau cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, theo sách lược hòa hoãn với Trung Hoa Quốc dân Đảng, chúng ta chấp nhận cho Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội cử người tham gia Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, trong

đó Nguyễn Tường Tam (tức nhà văn Nhất Linh trong nhóm Tự lực văn đoàn) thuộc Việt Nam Quốc dân Đảng được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Nghiêm Kế Tổ, đại diện cho Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, làm Thứ trưởng

Trang 33

Ngày 7-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 47/SL quy định về tổ chức của Bộ Ngoại giao Đây là văn bản pháp quy đầu tiên về Bộ Ngoại giao Theo sắc lệnh này, Bộ Ngoại giao được chia thành hai bộ phận: nội bộ và ngoại bộ Bộ phận nội bộ là cơ quan trong nước, còn ngoại bộ là các đại sứ quán (lúc đó gọi là sứ bộ) và lãnh sự quán ở bên ngoài sẽ được quy định trong một sắc lệnh khác

Các đơn vị trong nước được chia thành hai khối:

- Khối Văn phòng, thực chất là Văn phòng Bộ trưởng, bao gồm ba phòng:

+ Phòng Bí thư: chuyên sắp xếp công văn, giấy tờ, các cuộc tiếp xúc của Bộ trưởng, giao thiệp với báo giới và Quốc hội; + Phòng Cơ mật: phụ trách các công việc cơ mật do Bộ trưởng giao; và

+ Phòng Thông tin - Phát ngôn: chịu trách nhiệm thu thập tin tức, soạn thảo các thông báo, thay mặt Bộ trưởng đưa ra các tuyên bố về ngoại giao

- Khối Đổng lý sự vụ bao gồm tám phòng:

+ Phòng Công văn có ba ban: Ban Tiếp phát công văn, Ban

Mã điện, Ban Lưu trữ công văn;

+ Phòng Nhân viên, Vật liệu và Kế toán có ba ban: Ban Nhân viên, Ban Vật liệu, Ban Tài chính - Kế toán;

Trang 34

do Ban Thường vụ Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh,1 thực hiện Các hoạt động ngoại giao chủ yếu đều do Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo chính trị như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp hoặc một số nhân sĩ như Hoàng Minh Giám, Tạ Quang Bửu, Phan Anh, Phạm Ngọc Thạch, Hoàng Xuân Hãn,… đảm nhiệm

IV NHỮNG ĐÓNG GÓP CHỦ YẾU CỦA BỘ NGOẠI GIAO VÀO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI

CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

Mặc dầu sự đóng góp trực tiếp của đội ngũ cán bộ Bộ Ngoại giao vào các hoạt động ngoại giao của Nhà nước còn hạn chế, song do Chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trực tiếp tiến hành hoạt động ngoại giao, nên có thể

1 Ban Thường vụ Trung ương Đảng lúc đó bao gồm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt; đến năm 1947, đồng chí Phạm Văn Đồng mới tham gia

Trang 35

coi những ý tưởng, chủ trương, hoạt động ngoại giao của Người với sự trợ giúp của các nhà lãnh đạo khác và bộ máy của Bộ Ngoại giao là một phần không tách rời của lịch sử Bộ Ngoại giao Việt Nam Với nhận thức như vậy, có thể nêu bật một số hướng hoạt động chủ yếu sau:

1 Hình thành và công bố chính sách ngoại giao của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Những nội dung cơ bản của chính sách ấy đã được nêu trong các nghị quyết của Đảng và chương trình của Mặt trận Việt Minh, trong đó nêu bốn chính sách lớn: “(1) Hủy bỏ tất cả các hiệp ước mà Pháp đã ký với bất kỳ nước nào; (2) Tuyên bố các dân tộc bình đẳng và hết sức giữ hòa bình; (3) Kiên quyết chống tất cả các lực lượng xâm phạm đến quyền lợi của nước Việt Nam; (4) Mật thiết liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp

vô sản trên thế giới”.1

Sau khi Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến ra đời sau cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Tuyên bố chính sách của Chính phủ, trong đó đề ra Chương trình đối ngoại với nội dung “Làm sao cho các nước công nhận nền độc lập của nước Việt Nam Thân thiện với các kiều dân ngoại quốc, nhất là Hoa kiều Đối với Pháp, chỉ đánh bọn thực dân, còn đối với những kiều dân không làm hại gì cho nền độc lập của ta, ta sẽ phải bảo vệ tính mệnh và tài sản của họ”.2

Trước đó, ngày 3-10-1945, Chính phủ lâm thời đã ra “Thông cáo về chính sách ngoại giao”, trong đó nêu rõ mục tiêu là

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t 7,

tr 151

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 4, tr 174

Trang 36

“Đưa nước nhà đến tự do độc lập hoàn toàn và vĩnh viễn…; tất

cả chính sách ngoại giao phải có mục đích cốt yếu là giúp cho sự đấu tranh ấy thắng lợi bằng mọi phương pháp êm dịu hay kiên quyết”, đồng thời cam kết cùng các nước đồng minh “xây lại nền hòa bình của thế giới”

Bản thông cáo nêu ra một số “chính sách đối tượng” chủ yếu,

cụ thể là:

- Với các nước trong Mặt trận Đồng minh chống phát xít, nhất là các nước lớn, thì “hết sức thân thiện và thành thực hợp tác trên lập trường bình đẳng và tương ái”;

- Đối với kiều dân Pháp, “nếu yên tĩnh làm ăn và tôn trọng

sự độc lập của Việt Nam thì sinh mệnh và tài sản của họ được bảo vệ theo luật quốc tế”; đối với Chính phủ De Gaulle (Đờ Gôn) chủ trương thống trị Việt Nam thì “kiên quyết chống lại”;

- Với các nước láng giềng, chúng ta nhấn mạnh chính sách hữu nghị hợp tác và bình đẳng, trong đó với Trung Quốc, chúng

ta chủ trương “thắt chặt tình thân ái khiến hai dân tộc Việt - Hoa tương trợ mà cùng tiến hóa”; với Lào và Campuchia - “sẽ giúp đỡ lẫn nhau và sánh vai ngang hàng mà tiến hóa”;

- Với các nước nhược tiểu trên thế giới, chúng ta tỏ ý sẵn sàng “thân thiện hợp tác chặt chẽ trên nguyên tắc bình đẳng để ủng hộ lẫn nhau trong sự xây đắp và giữ vững nền độc lập”.1

2 Tranh thủ sự công nhận quốc tế đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Đối tượng tranh thủ hàng đầu mà nước ta hướng tới là các

1 Bộ Ngoại giao: “Thông cáo về chính sách ngoại giao”, báo Cứu quốc,

số 57, ngày 3-10-1945

Trang 37

nước lớn (Liên Xô, Mỹ, Trung Quốc), Liên hợp quốc và hai nước láng giềng là Lào và Campuchia Người đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện sau khi nước nhà tuyên bố độc lập là Đại Nguyên soái J Xtalin (J Stalin) để thông báo về việc Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, yêu cầu Liên Xô giúp đỡ để đối phó với lũ lụt, đói kém Tiếp đó, trong các ngày 21-10-1945, 14-1-1946, 18-2-1946, 9-11-1946

và tháng 2-1946, Việt Nam đã gửi công hàm tới Chính phủ, Bộ Ngoại giao và đại diện Liên Xô ở Liên hợp quốc để thông báo tình hình nước ta, trình bày nguyện vọng và chính sách đối ngoại của Chính phủ ta, lên án thực dân xâm lược Pháp, yêu cầu đưa vấn đề Việt Nam ra Liên hợp quốc, ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc,…

Đối với Mỹ, riêng trong giai đoạn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 10 lần gửi điện, thư cho Tổng thống và bốn lần gửi điện cho Ngoại trưởng Trong các văn kiện đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo tình hình nước ta; tỏ ý mong muốn thiết lập quan hệ với Mỹ, kể cả việc cử thanh niên Việt Nam sang học tập ở Mỹ; kêu gọi giúp đỡ chống lụt, cứu đói; khai thác những khía cạnh tích cực trong các tuyên bố của Mỹ, trong đó có tuyên bố 12 điểm ngày 17-10-1945 về chính sách đối ngoại; tố cáo những hành vi sai trái của Anh, nhất là của Pháp ở Việt Nam; yêu cầu Mỹ ủng hộ Việt Nam tham gia Liên hợp quốc và Hội đồng Viễn Đông

Đối với Trung Hoa Quốc dân Đảng, trong bức điện gửi Tưởng Giới Thạch ngày 28-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi công nhận nền độc lập hoàn toàn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Ngoài quan hệ song phương, chúng ta còn lên tiếng đối với

Trang 38

Liên hợp quốc Trong bức thư gửi Ngoại trưởng năm nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc H Xpaác (H Spaak) ngày 14-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi mang vấn đề của Việt Nam ra trước Đại hội đồng Liên hợp quốc nghiên cứu kỹ càng…; yêu cầu công nhận nền độc lập của Việt Nam và chấp nhận Việt Nam vào Liên hợp quốc.1

Trong giai đoạn này, chúng ta đã đưa ra nhiều gợi ý về sự hợp tác kinh tế quốc tế với tinh thần hết sức cởi mở Chủ trương này được thể hiện tập trung trong Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Liên hợp quốc, trong đó Người nói rõ rằng “trong chính sách đối ngoại của mình, nhân dân Việt Nam sẽ tuân thủ những nguyên tắc dưới đây:

“… 2 Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:

(a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình

(b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế (c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc

(d) Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân”.2

1, 2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 4, tr 180, 523

Trang 39

Bên cạnh việc tranh thủ sự công nhận từ các nước lớn và Liên hợp quốc, Việt Nam quan tâm tranh thủ sự đồng tình, ủng

hộ của các nước đấu tranh cho độc lập dân tộc

Theo hướng đó, Việt Nam đã dành mối quan tâm hàng đầu cho việc xây đắp quan hệ hữu nghị với Lào và Campuchia, hai nước láng giềng cùng chung biên giới, cùng bị thực dân Pháp

đô hộ; đồng thời, những người cộng sản của ba nước này cùng nằm trong Đảng Cộng sản Đông Dương Chúng ta chủ trương hình thành mặt trận thống nhất với Lào và Campuchia chống thực dân Pháp xâm lược trên tinh thần giúp đỡ lẫn nhau, cùng phát triển, hoàn toàn không nhằm mục đích hình thành Liên bang Đông Dương với vai trò chi phối của nước ta như nhiều thế lực cố tình xuyên tạc

Với Lào, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chính phủ Việt Nam đã liên lạc với nhà Vua Xixavang Vông (Sisavang Vong) và Hoàng thân Xuphanuvông (Souphanouvong) nhằm phối hợp hành động Ngày 12-10-1945, Chính phủ lâm thời Lào Ítxara (Issara) được thành lập và tuyên bố nước Lào độc lập, ban bố Hiến pháp tạm thời, Hoàng thân Phếtxarat (Phetsarath) được cử làm Quốc trưởng và Hoàng thân Xuphanuvông được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ngày 14-10-1945, Chính phủ Việt Nam gửi điện chúc mừng và đề nghị kiến lập quan hệ ngoại giao Ngày 30-10-1945, Hiệp ước liên minh quân sự giữa hai bên được ký kết, theo đó các đơn vị quân đội Lào và Việt Nam sẽ phối hợp chiến đấu chống kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ nền độc lập dân tộc của mỗi nước, mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ giữa hai nước Việt Nam - Lào Tháng 3-1946, sau khi Hiệp định sơ bộ giữa Việt Nam và Pháp được ký kết, chúng ta chủ trương làm trung gian đề nghị

Trang 40

Pháp mở cuộc đàm phán trực tiếp với những người lãnh đạo phong trào giành độc lập ở Lào để mau chóng kết thúc chiến tranh với những điều kiện có lợi cho dân tộc Lào, song Pháp đã không chấp nhận.1

Đối với Campuchia, ngày 14-8-1945, Chính phủ Khơme độc lập ra đời do ông Sơn Ngọc Thành làm Thủ tướng, nhưng tháng 9-1945, với sự trợ giúp của Anh, thực dân Pháp trở lại xâm lược Campuchia, bắt giam ông Sơn Ngọc Thành, lập nên Chính phủ

do Hoàng thân Mônirết (Monireth) đứng đầu; một số người trong chính phủ của Thủ tướng Sơn Ngọc Thành chạy về vùng biên giới giáp với nước ta lập ra tổ chức kháng chiến Khơme Ítxarắc (Khmer Issarak) Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chỉ thị cho Ủy ban kháng chiến Nam Bộ giúp họ xây dựng lực lượng, tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; cuối năm 1946, một đơn vị vũ trang của Campuchia đã phối hợp với bộ đội Việt kiều đánh chiếm thị xã Xiêm Riệp, mở đầu cho liên minh chiến đấu Việt Nam - Campuchia trong thời

kỳ mới

Một hướng đối ngoại nữa là nước ta đã tìm cách bang giao với các nước đấu tranh cho độc lập dân tộc, trước hết ở châu Á Điều đó thể hiện trong các bức điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng Philíppin nhân dịp nước này tuyên bố độc lập tháng 7-1946, gửi Thủ tướng J Nêru (J Nehru) nhân dịp Chính phủ lâm thời Ấn Độ được thành lập tháng 8-1946, mừng Quốc khánh Inđônêxia tháng 8-1946, cảm ơn Hội nghị liên Phi đã ra nghị quyết ủng hộ nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp,…

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t 8, tr 56

Ngày đăng: 24/01/2018, 16:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm