các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ,tạo nền tảng thúc đẩy sự tăng trường kinh tế và duy trì các mục tiêu xã hội hợplý.Để đạt được các mục tiêu v
Trang 1PHẦN II: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM HIỆN
II Kết quả thực hiện chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay 14
1 Những thành tựu chung đạt được trong giai đoạn từ thời kỳ đổi mới đến nay 14
2 Những kết quả đạt được của chính sách tiền tệ trong năm 2016 16
PHẦN III: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
2 Nâng cao tính độc lập, trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước 22
3 Đẩy mạnh sự phát triển của thị trường tiền tệ 22
4 Sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài chính và một số chính sách kinh
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới hiện nay chính sách tiền tệ ngày càng tỏ rõ vai trò quantrọng của mình trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế Một chính sách tiền tệ hoànhảo sẽ giúp cho mỗi quốc gia theo đuổi các mục tiêu kinh tế vĩ mô như ổn địnhtiền tệ, tạo công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế một cách có hiệu quả hơn.Mặt khác việc điều hành chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia không chỉ ảnhhưởng tới quốc gia đó mà còn ảnh hưởng theo cơ chế lan truyền tới thị trườngtiền tệ thế giới Việc điều hành và thực thi chính sách tiền tệ là một vấn đề quantrọng trong xây dựng phát triển và hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách củamỗi nước
Đối với nước ta, ngay từ khi chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế bao cấpsang cơ chế thị trường Đảng và Nhà nước đã nhận thức được vai trò của chínhsách tiền tệ trong phát triển kinh tế Vì vậy ngay từ những ngày đầu chúng ta đãchú trọng trong việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ sao cho phù hợpvới nền kinh tế Kết quả là nước ta đã thu được những kết quả đáng khích lệnhư đẩy lùi lạm phát, tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống của ngườidân góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của đất nước
Tuy vậy nền kinh tế thị trường luôn biến động nên các mục tiêu củachính sách tiền tề cũng phải luôn biến đổi theo cho phù hợp với các giai đoạnphát triển của đất nước Việc xây dựng một chính sách tiền tệ linh hoạt là cầnthiết cho sự phát triển kinh tế Nhưng trên thực tế chính sách tiền tệ của nước tasau một thời gian dài thực thi vẫn còn bộc lộ nhiều thiếu sót và hạn chế Việctìm ra những thiếu sót và hạn chế đó để khắc phục và xây dựng hoàn thiệnchính sách tiền tệ là điều quan trọng nhất cần phải làm Nhận thức được vai tròquan trọng của chính sách tiền tệ đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền
kinh tế đất nước, học viên lựa chọn chuyên đề nghiên cứu là "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công cụ chính sách tiền tệ ở Việt Nam"
Trang 3PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CÁC CÔNG
CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
I Tổng quan về chính sách tiền tệ:
1 Khái niệm tiền tệ:
Tiền tệ là tiền khi chỉ xét tới chức năng là phương tiện thanh toán, làđồng tiền được luật pháp quy định để phục vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ củamột quốc gia hay nền kinh tế Vì định nghĩa như vậy, tiền tệ còn được gọi là
"tiền lưu thông" Tiền tệ có thể mang hình thức tiền giấy hoặc tiền kim loại(tiền xu) do Nhà nước (Ngân hàng Trung ương, Bộ Tài chính, v.v ) phát hành.Khi phân biệt tiền tệ của quốc gia này với tiền tệ của quốc gia khác, người tadùng cụm từ "đơn vị tiền tệ" Đơn vị tiền tệ của nhiều quốc gia có thể có cùngmột tên gọi (ví dụ: dollar, franc ) và để phân biệt các đơn vị tiền tệ đó người tathường phải gọi kèm tên quốc gia sử dụng đồng tiền (ví dụ: dollar Úc) Với sựhình thành của các khu vực tiền tệ thống nhất, ngày nay có nhiều quốc gia dùngchung một đơn vị tiền tệ như đồng EUR Đơn vị tiền tệ của Việt Nam được gọi
là đồng, ký hiệu dùng trong nước là "đ", ký hiệu quốc tế là VND Tiền tệ
là phương tiện thanh toán pháp quy nghĩa là luật pháp quy định người ta bắtbuộc phải chấp nhận nó khi được dùng để thanh toán cho một khoản nợ đượcxác lập bằng đơn vị tiền tệ ấy
2 Chức năng của tiền tệ: Tiền tệ có ba chức năng cơ bản, đó là:
- Thước đo giá trị: Trong nền kinh tế sử dụng tiền tệ, mọi hàng hoá đềuđược đổi ra tiền tệ Để có thể đổi ra được như vậy tiền tệ phải có khả năng biểuhiện giá trị của các hàng hoá khác Biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoáđược gọi là giá cả hàng hoá
- Phương tiện Cất trữ giá trị: Khi tạm thời chưa có nhu cầu sử dụng tiền
tệ làm phương tiện trao đổi và thanh toán, nó được cất trữ lại để dành chonhững nhu cầu giao dịch trong tương lai Khi đó, tiền có tác dụng như một nơichứa giá trị, nơi chứa sức mua hàng qua thời gian
- Phương tiện trao đổi: Giá cả hàng hóa được xác định trước khi diễn ralưu thông hàng hóa Chỉ sau khi giá cả hàng hóa được biểu hiện thành tiền mặtcủa người mua trao cho người bán thì hàng hóa mới từ tay người bán chuyểnsang người mua, lúc đó tiền tệ mới hoàn thành chức năng phương tiện lưu thông
và mới thực hiện đầy đủ vai trò vật ngang giá chung Việc trao đổi hàng hóa chỉxảy ra và được thực hiện sau khi tiền tệ đã hoàn thành cùng một thời điểm haichức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu thông
3 Chính sách tiền tệ:
Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó Ngânhàng Trung ương sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát
Trang 4các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ,tạo nền tảng thúc đẩy sự tăng trường kinh tế và duy trì các mục tiêu xã hội hợplý.
Để đạt được các mục tiêu về tăng trưởng và phát triển kinh tế, cácquốc gia đều phải sử dụng các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô như chính sáchtài khoá, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách tiền
tệ Thông qua việc sử dụng, điều hành các công cụ này sẽ tác động đến cácmục tiêu như tăng trưởng, lạm phát, việc làm… Như vậy, Chính sách tiền tệđóng vai trò là một bộ phận quan trọng và không thể thiếu trong hệ thống chínhsách kinh tế vĩ mô cũng như trong quá trình điều hành vĩ mô của Nhà nước.Tuy nhiên, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và góc độ nghiên cứu, người ta cóthể phân biệt Chính sách tiền tệ theo nghĩa rộng và Chính sách tiền tệ theonghĩa hẹp; Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương và Chính sách tiềntệquốc gia
Chính sách tiền tệ theo nghĩa rộng: Là chính sách điều hành toàn
bộ khối lượng tiền trong nền kinh tế nhằm phân bổ một cách có hiệu quảcác nguồn tài nguyên, thực hiện các mục tiêu tăng trưởng, cân đối kinh tế, trên
cơ sở đó ổn định giá trị đồng tiền
Chính sách tiền tệ theo nghĩa hẹp: Là chính sách bảo đảm sao cho
khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong một năm tương ứng với mức tăngtrưởng kinh tế và chỉ số lạm phát nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, góp phầnđạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương: Là tổng thể tất cả
các biện pháp, công cụ mà Ngân hàng Trung ương sử dụng nhằm điều tiết khốilượng tiền tệ, tín dụng, ổn định tiền tệ, góp phần đạt được các mục tiêu kinh tế
vĩ mô
Chính sách tiền tệ quốc gia: Là tổng thể các biện pháp của Nhà
nước pháp quyền nhằm cung ứng đầy đủ các phương tiện thanh toán cho nềnkinh tế, trên cơ sở đó không ngừng ổn định giá trị đồng tiền quốc gia
4 Mục tiêu của chính sách tiền tệ:
Chính sách tiền tệ của các quốc gia thường tập trung vào các mục tiêusau:
Trang 5có thể dự đoán chính xác kết quả sẽ xảy ra vào thời điểm nào trong tương lai, vìvậy sẽ là không khả thi đối với NHTW trong việc theo đuổi để kiểm soát giá cảtrong ngắn hạn.
Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hướng phát triển kinh
tế của quốc gia vì nó làm tăng khả năng dự đoán những biến động của môitrường kinh tế vĩ mô Mức lạm phát thấp và ổn định tạo nên môi trường đầu tư
ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu tư và đảm bảo sự phân bổ nguồn lực xã hội mộtcách hiệu quả Đây là lợi ích có tầm quan trọng sống còn đối với sự thịnh
vượng kinh tế của quốc gia Lạm phát cao hay thiểu phát liên tục là rất tốn kém
cho xã hội, thậm chí ngay cả trong trường hợp nền kinh tế phát triển khả quannhất Sự biến động liên tục của các tỷ lệ lạm phát dự tính làm méo mó, sai lệchthông tin và do đó làm cho các quyết định kinh tế trở nên không đáng tin cậy vàkhông có hiệu quả Nguy hiểm hơn, sự bất ổn định giá cả dẫn đến sự phân phốilại không dân chủ các nguồn lực kinh tế trong xã hội giữa các nhóm dân cư
Tuy nhiên, theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả không đồng nghĩa với tỷ lệlạm phát bằng không Những nghiên cứu về lạm phát cho thấy trong khi cốgắng duy trì lạm phát ở gần mức 0, chính sách tiền tệ dễ đưa nền kinh tế đi quá
đà và rơi vào tình trạng thiểu phát gây hậu quả còn trầm trọng hơn, đó là làmnền kinh tế suy thoái Hơn nữa một mức lạm phát dương được chứng minh là
có tác dụng bôi trơn và hâm nóng nền kinh tế nên sẽ có những ảnh hưởng tíchcực tới tăng trưởng kinh tế Theo các chuyên gia về chính sách tiền tệ ở châu
Âu, mức lạm phát từ 1.5% đến dưới 4% là phù hợp với các nền kinh tế pháttriển
4.2 Ổn định tỷ giá hối đoái
Trong điều kiện mở cửa kinh tế, các luồng hàng hoá và tiền vốn vào ramột quốc gia gắn liền với việc chuyển đổi qua lại giữa đồng nội tệ và đồngngoại tệ Việc ngăn ngừa những biến động mạnh, bất thường trong tỷ giá hốiđoái sẽ giúp cho các hoạt động kinh tế đối ngoại được hiệu quả hơn nhờ dựđoán được chính xác về mặt khối lượng giá trị Thêm vào đó, tỷ giá hối đoáicòn ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước với nước ngoài
về mặt giá cả
4.3 Ổn định lãi suất
Lãi suất là một biến số kinh tế vĩ mô hết sức quan trọng trong nền kinh tế
do nó ảnh hưởng tới quyết định chi tiêu của các doanh nghiệp và hộ gia đình.Những biến động bất thường trong lãi suất sẽ gây khó khăn cho các doanhnghiệp và cá nhân trong việc dự tính chi tiêu hay lập kế hoạch kinh doanh Do
đó ổn định lãi suất cũng là một mục tiêu quan trọng mà các NHTW hướng tớinhằm góp phần ổn định môi trường kinh tế vĩ mô
4.4 Ổn định thị trường tài chính
Thị trường tài chính được xem là nơi tạo ra nguồn vốn cho phát triểnkinh tế Nó góp phần quan trọng trong việc điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi
Trang 6thiếu vốn, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế Với vai trònhư vậy, sự ổn định của thị trường tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với nềnkinh tế các quốc gia NHTW với khả năng tác động tới khối lượng tín dụng vàlãi suất có nhiệm vụ đem lại sự ổn định cho thị trường tài chính.
4.5 Tăng trưởng kinh tế
Do chính sách tiền tệ có thể ảnh hưởng tới của cải và chi tiêu của xã hộinên có thể sử dụng nó làm đòn bẩy kích thích tăng trưởng kinh tế Tăng trưởngkinh tế phải được hiểu cả về khối lượng và chất lượng Chính sách tiền tệ phảiđảm bảo sự tăng lên của GDP thực tế, tức là tỷ lệ tăng trưởng có được sau khitrừ đi tỷ lệ tăng giá cùng thời kỳ Chất lượng tăng trưởng được biểu hiện ở một
cơ cấu kinh tế cân đối và khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng hoá trong nướctăng lên
Một nền kinh tế phồn thịnh với tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định là nềntảng cho mọi sự ổn định, là căn cứ để ổn định tiền tệ trong nước, cải thiện tìnhtrạng cán cân thanh toán quốc tế và khẳng định vị trí của nền kinh tế trên thịtrường quốc tế
4.6 Giảm tỷ lệ thất nghiệp
Tạo công ăn việc làm đầy đủ là mục tiêu của tất cả các chính sách kinh tế
vĩ mô trong đó có chính sách tiền tệ Công ăn việc làm đầy đủ có ý nghĩa quantrọng bởi ba lý do:
Chỉ số thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu phản ánh sự thịnh vượng
xã hội vì nó phản ánh khả năng sử dụng có hiệu quả nguồn lực xã hội
Thất nghiệp gây nên tình trạng căng thẳng cho mỗi cá nhân và gia đìnhcủa họ và là mầm mống của các tệ nạn xã hội
Các khoản trợ cấp thất nghiệp tăng lên có thể làm thay đổi cơ cấu chi tiêungân sách và làm căng thẳng tình trạng ngân sách
Đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ không có nghĩa là tỷ lệ thất nghiệpbằng 0 mà ở mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên được cấuthành từ tỷ lệ thất nghiệp tạm thời (những người đang tìm kiếm công việc thíchhợp) và tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu (thất nghiệp bởi sự không phù hợp giữa nhu cầu
về lao động và cung của lao động) Mỗi quốc gia cần xác định được tỷ lệ thấtnghiệp tự nhiên một cách chính xác để đạt được mục tiêu này Bên cạnh đó, cốgắng giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cũng được coi là mục tiêu của chính sáchtiền tệ
4.7 Mối quan hệ giữa các mục tiêu của chính sách tiền tệ
Các mục tiêu của chính sách tiền tệ không phải lúc nào cũng thống nhất
Trang 7ổn định giá cả là một minh chứng rõ rệt Thứ nhất, để giảm tỷ lệ lạm phát, cần
phải thực hiện một chính sách tiền tệ thắt chặt Dưới tác động của chính sáchnày, lãi suất thị trường tăng lên làm giảm các nhân tố cấu thành tổng cầu và do
đó làm giảm tổng cầu của nền kinh tế Thất nghiệp vì thế có xu hướng tăng lên.Ngược lại, việc duy trì một tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn thường kéo theo một
chính sách tiền tệ mở rộng và sự tăng giá Thứ hai, mục tiêu tạo công ăn việc
làm (hay giảm tỷ lệ thất nghiệp) mâu thuẫn với mục tiêu ổn định giá cả còn thểhiện thông qua sự phản ứng của NHTW đối với các cú sốc cung nhằm đảm bảo
mức cầu tiền thực tế, cung ứng tiền tăng đưa đến kết quả là giá cả tăng lên Thứ
ba, mâu thuẫn này còn được thể hiện thông qua định hướng điều chỉnh tỷ giá.
Bằng việc hạ giá đồng nội tệ (ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào và cungứng thêm nội tệ ra thị trường), các ngành kinh doanh hướng về xuất khẩu cókhả năng mở rộng Tỷ lệ thất nghiệp vì thế giảm thấp nhưng lại kèm theo sựtăng lên của mức giá chung
Phần lớn NHTW các nước coi ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dàihạn của chính sách tiền tệ, nhưng trong ngắn hạn đôi khi họ phải tạm thời từ bỏmục tiêu chủ yếu này để khắc phục tình trạng thất nghiệp cao đột ngột hoặc cácảnh hưởng của các cú sốc cung đối với sản lượng Ngân hàng trung ương đượcxem là có nhiều khả năng để làm việc này vì nó nắm trong tay các công cụ điều
chỉnh lượng tiền cung ứng Có thể nói ngân hàng trung ương theo đuổi một mục tiêu về dài hạn và đa mục tiêu trong ngắn hạn
II Các công cụ của chính sách tiền tệ:
Xét cho cùng, Ngân hàng Trung ương có thể thực thi hai loại chính sáchtiền tệ, phù hợp với tình hình thực tiền của nền kinh tế, đó là chính sách nớilỏng tiền tệ và chính sách thắt chặt tiền tệ
1 Chính sách nới lỏng tiền tệ: Là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh
tế, nhằm khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm
2 Chính sách thắt chặt tiền tệ: Là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh
tế nhằm hạn chế đầu tư, ngăn chặn sự phát triển quá đà của nền kinh tế là kiểmchế lạm phát
Để thực hiện hai chính sách tiền tệ này, Ngân hàng Trung ương có thể sửdụng hàng loạt các công cụ tiền tệ nằm trong tầm tay của mình đó là các công
cụ trực tiếp và công cụ gián tiếp
Các công cụ gián tiếp là những công cụ mà tác dụng của nó có được lànhờ cơ chế thị trường, bao gồm:
1 Nghiệp vụ thị trường mở: Là những hoạt động mua bán chứng khoán
do Ngân hàng Trung ương thực hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ sốtiền tệ qua đó điều tiết lượng tiền cung ứng
Cơ chế tác động: Khi Ngân hàng Trung ương mua (bán) chứng khoán thì
sẽ làm cho cơ số tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm
Trang 8đi) Nếu thị trường mở chỉ gồm Ngân hàng Trung ương và các Ngân hàngThương mại thì hoạt động này sẽ làm thay đổi lượng tiền dự trữ của các Ngânhàng Thương mại (R ), nếu bao gồm cả công chúng thì nó sẽ làm thay đổi ngaylượng tiền mặt trong lưu thông (C).
Đặc điểm: Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi làmột công cụ rất năng động, hiệu quả, chính xác của chính sách tiền tệ vì khốilượng chứng khoán mua (bán) tỷ lệ với qui mô lượng tiền cung ứng cần điềuchỉnh, ít tốn kém về chi phí, dễ đảo ngược tình thế Tuy vậy, vì được thực hiệnthông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào các chủ thể khác tham giatrên thị trường và mặt khác để công cụ này hiệu quả thì cần phải có sự pháttriển đồng bộ của thị trường tiền tệ ,thị trường vốn
2 Dự trữ bắt buộc: Số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các ngân hàngphải giữ lại, do Ngân hàng Trung ương qui định, gửi tại Ngân hàng Trungương, không hưởng lãi, không được dùng để đầu tư, cho vay và thông thườngđược tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng só tiền gửi của khách hàng để đảmbảo khả năng thanh toán, sự ổn định của hệ thống ngân hàng
Cơ chế tác động: Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếpđến số nhân tiền tệ (m=1+s/s+ER+RR) trong cơ chế tạo tiền của các Ngân hàngThương mại Mặt khác khi tăng (giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng chovay của các Ngân hàng thương mại giảm (tăng), làm cho lãi suất cho vay tăng(giảm), từ đó làm cho lượng cung ứng tiền giảm (tăng)
Đặc điểm: Đây là công cụ mang nặng tính quản lý Nhà nước nên giúpNgân hàng Trung ương chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng vàtác động của nó cũng rất mạnh (chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắtbuộc là ảnh hưởng tới một lượng rất lớn mức cung tiền) Song tính linh hoạt của
nó không cao vì việc tổ chức thực hiện nó rất chậm, phức tạp, tốn kém và nó cóthể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thươngmại
3 Chính sách tái chiết khấu: Đây là hoạt động mà Ngân hàng Trungương thực hiện cho vay ngắn hạn đối với các Ngân hàng thương mại thông quanghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu (đối vớithương phiếu) và hạn mức cho vay tái chiết khấu (cửa sổ chiết khấu)
Cơ chế tác động: Khi Ngân hàng Trung ương tăng (giảm) lãi suất táichiết khấu sẽ hạn chế (khuyến khích) việc các Ngân hàng thương mại vay tiềntại Ngân hàng Trung ương làm cho khả năng cho vay của các Ngân hàngThương mại giảm (tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong nền kinh tế giảm(tăng) Mặt khác khi Ngân hàng Trung ương muốn hạn chế Ngân hàng Thươngmại vay chiết khấu của mình thì thực hiện việc khép cửa sổ chiết khấu lại.Ngoài ra, ở các nước có thị trường chưa phát triển (thương phiếu chưa phổ biến
để có thể làm công cụ tái chiết khấu) thì Ngân hàng Trung ương còn thực hiện
Trang 9nghiệp vụ này thông qua việc cho vay tái cấp vốn ngắn hạn đối với các Ngânhàng thương mại.
Đặc điểm: Chính sách tái chiết khấu giúp Ngân hàng Trung ương thựchiện vai trò là người cho vay cuối cùng đối với các Ngân hàng thương mại khicác Ngân hàng thương mại gặp khó khăn trong thanh toán ,và có thế kiểm soátđựoc hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại đồng thời có thể tácđộng tới việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế thông qua việc ưu đãitín dụng vào các lĩnh vực cụ thể Tuy vậy, hiệu qủa của cộng cụ này còn phụthuộc vào hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại, mặt khác mức lãisuất tái chiết khấu có thể làm méo mó ,sai lệch thông tin về cung cầu vốn trênthị trường
Trên đây là 3 công cụ tác động gián tiếp tới qui mô lượng tiền cung ứng,trong một nền kinh tế nếu Ngân hàng Trung ương sử dụng có hiệu quả các công
cụ này thì sẽ không cần đến bất cứ một công cụ nào khác Tuy vậy trong nhữngđiều kiện cụ thể (các quốc gia đang phát triển; các giai đoạn kinh tế quá nóng)thì để đạt được mục tiêu của mình, Ngân hàng Trung ương có thể sử dụng cáccông cụ điều tiết trực tiếp sau:
1 Quản lý hạn mức tín dụng của các ngân hàng thương mại: là việc Ngânhàng Trung ương quy định tổng mức dư nợ của các Ngân hàng thương mạikhông được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định(một năm)
để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình Việc định ra hạn mứctín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô (tốc độtăng trưởng ,lạm phát, tiêu thụ ), sau đó Ngân hàng Trung ương sẽ phân bổ chocác Ngân hàng thương mại và Ngân hàng thương mại không thể cho vay vượtquá hạn mức do Ngân hàng Trung ương quy định
Cơ chế tác động: Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đốivới lượng tiền cung ứng, việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụngcho nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng theomục tiêu của Ngân hàng thương mại
Đặc điểm: Giúp Ngân hàng Trung ương điều chỉnh, kiểm soát đượclượng tiền cung ứng khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụngnhất thời của nó rất cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạmphát quá cao của nền kinh tế Song nhược điểm của nó rất lớn: triệt tiêu độnglực cạnh tranh giữa các Ngân hàng thương mại, làm giảm hiệu quả phân bổ vốntrong nến kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoài sự kiểm soát củaNgân hàng Trung ương và nó sẽ trở nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng choviệc phát triển kinh tế tăng lên
2 Quản lý lãi suất của các ngân hàng thương mại: Ngân hàng Trungương đưa ra một khung lãi suất hay ấn dịnh một trần lãi suất cho vay để hướngcác Ngân hàng thương mại điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó, từ đó ảnh
Trang 10hưởng tới qui mô tín dụng của nền kinh tế và Ngân hàng Trung ương có thể đạtđược quản lý mức cung tiền của mình.
Cơ chế tác động: Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽảnh hưởng trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các Ngân hàng thươngmại làm cho lượng tiền cung ứng thay đổi theo
Đặc điểm: Giúp cho Ngân hàng Trung ương thực hiện quản lý lượng tiềncung ứng theo mục tiêu của từng thời kỳ, điều này phù hợp với các quốc gia khichưa có điều kiện để phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp Song, nó dễlàm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì thực chất lãi suất là
“giá cả” của vốn do vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu vềvốn trong nến kinh tế Mặt khác việc thay đổi quy định đIều chỉnh lãi suất dễlàm cho các Ngân hàng thương mại bị động, tốn kém trong hoạt động kinhdoanh của mình
PHẦN II
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
I Quá trình đổi mới chính sách tiền tệ ở Việt Nam:
Nếu như chính sách tài khóa được áp dụng ở Việt Nam là sự kế thừa củachính sách thu - chi Ngân sách nhà nước từ thời bao cấp và mãi đến gần đâymới được sử dụng như một chính sách kinh tế vĩ mô, thì chính sách tiền tệ đượcchấp nhận sớm hơn và cũng đổi mới sớm hơn so với chính sách tài khóa Vềmặt nghiệp vụ, kỹ thuật, chính sách tiền tệ lại đòi hỏi đổi mới triệt để hơn khi
đã sử dụng các công cụ chính sách mới theo cơ chế thị trường, phải từ bỏ cáccông cụ mang tính hành chính trước đây vẫn sử dụng như những công cụ chủđạo
Trang 11Ngay từ khi chuẩn bị cho công cuộc đổi mới (1985-1986), biện pháp đầu
tư được xác định là “cải cách giá - lương - tiền”, với các biện pháp tiền tệ, giá
cả có vai trò chủ đạo Thời kỳ 1986-1990 là thời kỳ bắt đầu đổi mới với nhữngnhận thức mơ hồ về cơ chế thị trường, đặc biệt là về tiền tệ Những biện pháptiền tệ thời kỳ này vẫn mang nặng tư duy và phương pháp điều hành tiền tệ thờibao cấp Các biện pháp áp dụng như mở rộng tín dụng cho các doanh nghiệp,mệnh lệnh hành chính trong cung ứng tiền, chế độ lãi suất và tỷ giá cố định,không có cạnh tranh trong kinh doanh tín dụng, rồi đổi tiền, giám sát tín dụng,
rõ ràng mang tính ấu trĩ, thiếu căn cứ, duy ý chí, kết quả là những vấp váp, thậmchí là sự đổ vỡ hệ thống tiền tệ, lạm phát tăng cao, phải thực hiện đổi tiền nhiềulần, kinh tế vĩ mô rồi loạn và bất ổn, đời sống nhân dân sa sút, nền kinh tế rơivào khủng hoảng
Năm 1988 là năm thấm thía bài học ấu trĩ trong điều hành chính sách tiền
tệ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, đồng thời là năm đánh dấu bước đổimới mang tính bước ngoặt với sự ra đời của Nghị định số 53/HĐBT ngày26/3/2008 về tổ chức Ngân hàng nhà nước Việt Nam Theo tinh thần Nghị định53/HĐBT, bước đột phá trong tổ chức là việc tách các ngân hàng thương mại sởhữu nhà nước độc lập với Ngân hàng nhà nước cả về tư cách pháp lý và tàichính; đồng thời cho phép các tổ chức tín dụng cổ phần tư nhân hoạt độngnhưng phải được quản lý và giám sát theo nguyên tắc quản lý ngân hàng thươngmại trong cơ chế thị trường Còn các nghiệp vụ về chính sách tiền tệ theo Nghịđịnh 53/HĐBT vẫn chưa có bước tiến bộ gì đáng kể so với thời kỳ trước Theođịnh 53/HĐBT, các công cụ sử dụng gồm: kế hoạch tín dụng, kế hoạch tiềnmặt, tỷ giá hối đoái và lãi suất tín dụng Trên thực tế mới chỉ dụng các công cụnhư lãi suất tín dụng, hạn mức tín dụng áp dụng trong năm 1999 ở mức rất cao,sau điều chỉnh hạ dần theo biến động thị trường đã có tác dụng như liều thuốcmạnh làm cho giá trị đồng tiền tăng, tỷ giá giảm, giá cả trở nên ổn định, làmphát giảm mạnh từ mức trên 700% trong các năm 1986-1987 xuống chỉ còn35% năm 1989, tạo đà ổn định tiền tệ trong thập niên 1990
Giai đoạn 1990-1997 là giai đoạn thử nghiệm, xây dựng và thực hiện hệthống pháp luật về hệ thống ngân hàng, kinh doanh tiền tệ và chính sách tiền tệ.Pháp lệnh Ngân hàng nhà nước Việt Nam được ban hành tháng 5-1990 đã hìnhthành khung khổ pháp lý theo cơ chế thị trường cho hệ thống ngân hàng vàchính sách tiền tệ Đến năm 1997, Luật Ngân hàng nhà nước và Luật cac tổchức tín dụng được ban hành đánh dấu sự hình thành cơ chế mới của hệ thốngngân hàng và chính sách tiền tệ Trong điều hành chính sách tiền tệ từ 1990 bắtđầu tuân thủ các nguyên tắc thị trường, ngày càng sử dụng nhiều hơn và triệt đểhơn các công cụ gián tiếp kết hợp các công cụ trực tiếp truyền thống
Thực hiện Pháp lệnh Ngân hàng nhà nước 1990, công cụ dự trữ bắt buộc
đã bắt đầu được sử dụng từ giữa năm 1992 với Quyết định số 117/QĐ-NH ngày26/6/1992 Mức dự trữ ban đầu được áp dụng ở mức khá cao là 10%, sau đóđiều chỉnh giảm theo mức độ ổn định của thị trường tiền tệ
Trang 12Công cụ lãi suất cũng được áp dụng với nhiều phương án và quan điểmkhả trái chiều nhưng xu hướng chung là càng ngày càng tiến tới chế độ tự dohóa lãi suất, lấy lãi suất chiết khầu làm công cụ chính sách của chính sách tiền
tệ Tuy nhiên, bước tiến của sử dụng công cụ lãi suất ở Việt Nam khá giantruân Ban dầu, từ năm 1990 đến năm 1992 kế thừa cơ chế cũ, áp dụng chế độlãi suất cố định do Ngân hàng nhà nước quy định Lãi suất cố định cũng đượcđiều chỉnh từng thời kỳ do biến động của thị trường nhưng bắt buộc do Ngânhàng nhà nước quy định và áp dụng thống nhất toàn quốc Sang giai đoạn 1992-
1995, cùng với sự đa dạng hóa sở hữu các ngân hàng thương mại cơ chế lãi suấttrần được áp dụng cho cả đầu vay vào và cho vay đối với các ngân hàng thươngmại Cơ chế này đã có tác dụng tăng quyền tự chủ trong giới hạn cho các ngânhàng thương mại, góp phần ổn định thị trường, kiểm soát lạm phát, đưa lãi suấtthực trên thị trường trở về lãi suất dương, góp phần kích thích phát triển thịtrường tín dụng và kinh doanh ngân hàng Sang giai đoạn 1995-1998, áp dụngchế độ tự do hóa lãi suất vay vào nhưng vẫn quy định lãi suất trần đối với cáckhoản cho vay Đồng thời trong năm 1997, Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng cơchế lãi suất chiết khấu (kèm lãi suất tái cấp vốn) đối với các nghiệp vụ chiếtkhấu và cho vay dự trữ Công cụ lãi suất chiết khấu được đẩy mạnh sử dụng từnăm 1999 như một công cụ điều chỉnh gián tiếp thay tếh cho cơ chế khung lãisuất Lãi suất cơ bản ban đầu được sử dụng như công cụ phản ánh lãi suất liênngân hàng, sau sử dụng như công cụ định hướng lãi suất
Giai đoạn từ 1998 đến nay là giai đoạn tiếp tục hoàn thiện khung phápluật về hệ thống tiền tệ, ngân hàng, đồng thời nâng khả năng chuyên nghiệptrong sử dụng chính sách tiền tệ như một công cụ quản lý vĩ mô, ứng phó vớicác tình huống biến động kinh tế Trước hết, thực hiện Luật Ngân hàng nhànước 2007, trong các năm từ 1998 đến 2006 Ngân hàng nhà nước đã chủ độngthực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng có tác dụng tốt đến kinh tế vĩ mô Trong
đó có những thay đổi đáng kể trong sử dụng các cộng cụ của chính sách tiền tệ.Chẳng hạn, từ tháng 8/2000 đến tháng 5/2002, Ngân hàng nhà nước đã áp dụng
cơ chế điều hành thông qua công cụ lãi suất cơ bản kèm theo biên độ lãi suất,trong đó lãi suất cơ bản được xác định bám sát lãi suất liên ngân hàng Từ tháng6/2002 đến 2007 thực hiện cếh độ lãi suất thỏa thuận (tự do hóa lãi suất) với sựđịnh hướng và điều chỉnh của các công cụ gián tiếp như lãi suất cơ bản, lãi suấtchiết khấu, dự trữ bắt buộc Gần đây, Ngân hàng nhà nước tiếp tục thực hiệnchế độ lãi suất thỏa thuận, bãi bỏ các công cụ hành chính như lãi suất cơ bản
Trong giai đoạn này, từ tháng 7-2000, Ngân hàng nhà nước bắt đầu chínhthức sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở (OMO) Từ đó đến nay, công cụOMO với quy mô, tần suất, liều lượng sử dụng ngày càng mạnh đã trở thànhcông cụ chính trong điều chỉnh cung tiền trong lưu thông Trong giai đoạn này,tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt trung bình 25%/năm Bên cạnh đó, tiền cònđược bơm thêm vào lưu thông qua kênh chi tài chính và mua ngoại tệ dự trữ (dựtrữ ngoại tệ đã tăng từ 6 tỷ lên 24 tỷ USD, sau đã giảm xuống) Nếu tính về