1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đè xây dựng đảng PHẦN III 1 lý luận chính trị

22 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 247,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp xây dựng hệ thống chính trị theo quan điểm Đại hội XII của Đảng Để thực hiện tốt quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, ngoài nhữngphươ

Trang 1

PHẦN III.1 Bài 1:

Câu 1 – Tổ 1: Từ những yếu kém trong hệ thống chính trị, hãy chỉ ra những yếu kém trong HTCT nơi đồng

chí đang công tác? (Tự làm)

Câu 2- Tổ 1: Cần vận dụng nội dung, phương hướng hoàn thiện HTCT trong xây dựng , củng cố HTCT cơ

sở nơi đồng chí công tác như thế nào?

Theo quan điểm của Đại hội XII, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh là xây dựng ba thành tố trụ cột là Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.

1 Những quan điểm cơ bản của Đại hội XII về xây dựng hệ thống chính trị

- Với tư cách là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị, Đảng phải thật sự trong sạch, vững mạnh.

Đại hội XII xác định sáu nhiệm vụ trong nhiệm kỳ (2016-2020), trong đó nhiệm vụ trọng tâm đầu tiên là “Tăngcường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểuhiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộcấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(2)

Để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm đó, Đại hộiđề ra yêu cầu trước hết phải chú trọng xây dựng Đảng về chính trị,

bảo đảm sự kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợpvới thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới Nâng caobản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng; tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức cáchmạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng Tập trung thực hiện mục tiêu xây dựng Đảng trong sạch,vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức

Đại hội XII đề ra chủ trương đổi mới bộ máy của Đảng theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnhđạo, chỉ đạo, điều hành; xác định rõ quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; quyền hạn đi đôi vớitrách nhiệm và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu Hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyềnlực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương Nghiêm túc thực hiện quan điểm Đảng thống nhấtlãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy quyền và trách nhiệm của các tổ chức

và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ

Để có được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu về phẩm chất và tài năng, cần có thiết chế và cơ chế thích hợp để

thực hiện hiệu quả công tác cán bộ, trực tiếp là công tác nhân sự Đại hội XII chủ trươngđổi mới bầu cử trong Đảng, phương thức tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, để lựa chọn những người có bản lĩnh chính trị vững vàng,

phẩm chất đạo đức tốt, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặnnhững hiện tượng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, gây mất đoàn kết trong Đảng

Với tư cách là một Đảng “đạo đức và văn minh”, để thuyết phục quần chúng nhân dân ủng hộ, hưởng ứng thực

hiện Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết của Đảng, Đại hội XII chủ trương đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối

với Đảng; đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, cótrách nhiệm với dân Quy định rõ hơn Đảng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệmtrước nhân dân về những quyết định của mình Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo,Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, nhất là nội dung nhân dân làm chủ và phương châm “Dân biết, dân bàn,dân làm, dân kiểm tra, giám sát”

Xuất phát từ nhận thức tham nhũng, lãng phí là một trong những nguyên nhân căn bản làm giảm lòng tin củanhân dân đối với Đảng và Nhà nước, ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước, Đại hội XII đề ra quyết

tâm:Kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Xây dựng cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn quan hệ “lợi ích

Trang 2

quyền, điều kiện cầm quyền; vấn đề phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền; các nguy

cơ cần lưu ý phòng ngừa đối với đảng cầm quyền”(3[1])

Đảng cầm quyền là Đảng giữ vai trò lãnh đạo, chi phối toàn bộ hệ thống chính trị, vì vậy phải đổi mới phươngthức lãnh đạo, trước hết là đổi mới phương thức lãnh đạo trong hệ thống tổ chức của Đảng; đổi mới phươngpháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan Đảng từ Trung ương tới cơ sở; tiếp tục đổi mới mạnh mẽphương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, đặc biệt là với Nhà nước Đảng lãnh đạo Nhà nướcbằng các chủ trương, chính sách lớn, lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thànhchính sách, pháp luật, lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chấtlượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặttrận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước

Đại hội XII nêu các phương hướng, nhiệm vụ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhànước Trong đó, Đảng ta xác định: Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh

đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị ([1]4)

Trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền và phảitạo ra sự chuyển biến tích cực, đạt kết quả cao hơn Xây dựng Nhà nước pháp quyền phải tiến hành đồng bộ cảlập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới kinh tế

Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhànước pháp quyền XHCN

Lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện hệ thống pháp luật theo các nguyên tắc được quyđịnh trong Hiến pháp năm 2013 Bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ

để nhân dân kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước

Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữacác cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhànước là thống nhất

Về vấn đề tổ chức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước Quan điểm của Đảng là:Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhândân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Hoàn thiện cơ chế để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, nhất

là hoạt động lập pháp của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, cơ chế giám sát, đánh giá đối với người giữ chức vụ doQuốc hội bầu hoặc phê chuẩn Tăng cường hơn nữa sự gắn kết giữa giám sát của Quốc hội với kiểm tra, giámsát của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và giám sát của nhân dân

Hoàn thiện cơ cấu tổ chức Chính phủ, xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ là cơquan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội

Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh,dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, lợi ích củaNhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân

Đại hội XII đề ra yêu cầu chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, thông qua các biện pháp,như: Đẩy mạnh dân chủ hóa công tác cán bộ, quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của mỗi tổ chức, mỗi cấptrong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị vững vàng, có trình độ, năng lực chuyên mônphù hợp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới Thực hiện thí điểm dân trực tiếp bầu một số chức danh ở cơ sở và

ở cấp huyện; mở rộng đối tượng thi tuyển chức danh cán bộ quản lý Hoàn thiện tiêu chí đánh giá và cơ chếkiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi công vụ; xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu cơquan hành chính

Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm trong các cơ quan nhà nước và độingũ cán bộ, công chức

- Củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

Trang 3

Hệ thống chính trị nước ta là một hình thức tổ chức thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân, là phương thứcquan trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình Để thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ quan trọng

đó, ngoài việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máynhà nước, cần phải tập trung xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

Đại hội XII đề ra các phương hướng và nhiệm vụ:

Tiếp tục tăng cường củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và cácđoàn thể nhân dân

Phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc trong tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc,thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhànước, hoạt động ngoại giao nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ động, sáng tạo của Mặt trận

Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

Tổ chức thực hiện tốt Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xãhội; thực hiện tốt Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân góp ý xây dựngĐảng, xây dựng chính quyền

2 Một số giải pháp xây dựng hệ thống chính trị theo quan điểm Đại hội XII của Đảng

Để thực hiện tốt quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, ngoài nhữngphương hướng và biện pháp chung được nêu trong Báo cáo chính trị tại Đại hội XII, xuất phát từ thực tiễn, tácgiả đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:

Một là, công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của Đảng trong hệ thống chính trị cần phải thể hiện đúng quan điểm “ý Đảng, lòng dân”, nghĩa là phải tạo cơ chế để nhân dân được trực tiếp tham gia quy trình bầu, chọn cán bộ của Đảng, nhất là cán bộ cao cấp đứng đầu Nhà nước, Chính phủ và các tổ chức chính trị - xã hội.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi cán bộ là cái gốc của mọi công việc, “Muôn việc thành công hoặc thất bại,đều do cán bộ tốt hoặc kém” Đảng với tư cách lực lượng lãnh đạo duy nhất đối với Nhà nước và xã hội, là hạtnhân lãnh đạo hệ thống chính trị, nên chất lượng công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của Đảng quyếtđịnh chất lượng, hiệu quả tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta

Để bầu, chọn cán bộ của hệ thống chính trị theo tiêu chuẩn “vì công tác, vì tài năng” mà lựa chọn, cắt cử cán bộ,chứ không phải “vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang”, công tác nhân sự của Đảng cần phải có sự tham gia

của nhân dân Cụ thể là: Đảng chỉ quyết định bổ nhiệm cán bộ, bố trí cán bộ trên cơ sở lá phiếu tín nhiệm của nhân dân Nếu công tác bổ nhiệm cán bộ, bố trí cán bộ khép kín trong tổ chức Đảng, nội bộ Đảng sẽ dễ bị nạn

“bè phái”, “nhóm lợi ích”, “thân thích” chi phối, rất khó tìm được người xứng đáng Trên cơ sở quan điểmĐảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của Đại hội XII, nếu Đảng biết dựa vàonhân dân, Đảng sẽ“hiểu, đánh giá đúng cán bộ” Bởi vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Dân chúng rất đông”, “Taimắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy” - Nhân dân là người nhìn thấu được phẩm chất, tài năng cũngnhư những thói hư, tật xấu của những người lãnh đạo, quản lý họ Nhân dân tham gia bầu, chọn cán bộ của hệthống chính trị thì sẽ hạn chế được nạn “bè phái”, “nhóm lợi ích”, “thân thích” và sẽ dễ dàng phát hiện đượctham nhũng, thoái hóa, biến chất, sẽ xây dựng được đội ngũ cán bộ tốt Do đó, muốn xây dựng hệ thống chínhtrị vững mạnh, hệ thống chính trị của dân, do dân, vì dân, thì phải tạo cơ chế để nhân dân được trực tiếp thamgia quy trình bầu, chọn cán bộ của Đảng, nhất là cán bộ cao cấp giữ vị trí đứng đầu

Hai là,Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, phải dựa vào dân để chống quan liêu, tham nhũng một cách hiệu quả.

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nếu Đảng thiếu sự gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng sẽ mất sángsuốt, trở thành quan liêu, độc đoán chuyên quyền Đây cũng chính là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng phátsinh, phát triển Vì vậy, để chống quan liêu, tham nhũng một cách hiệu quả, Đảng phải gắn bó mật thiết vớinhân dân, phải dựa vào nhân dân Mặt khác, nhân dân là nạn nhân trực tiếp của quan liêu, tham nhũng, do đónhân dân là lực lượng sáng suốt nhất, mạnh mẽ nhất, kiên quyết nhất trong cuộc chiến chống quan liêu, thamnhũng dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trang 4

Để phát huy được vai trò của nhân dân chống quan liêu, tham nhũng, Đảng, Nhà nước cần xây dựng cơ chế,môi trường thuận lợi để nhân dân tham gia Đó là cơ chế công khai, minh bạch các hoạt động của Đảng, Nhànước trên các lĩnh vực tổ chức, nhân sự, kinh tế, tài chính ; là cơ chế để những phản ánh của người dân đượctiếp nhận thuận lợi, và giải quyết kịp thời; là cơ chế để báo chí, truyền thông tham gia chống quan liêu, thamnhũng; là cơ chế bảo vệ người dân chống quan liêu, tham nhũng

Ba là, củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc phải bảo đảm Mặt trận

Tổ quốc là một liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện, phải bảo đảm tính độc lập tương đối của Mặt trận Tổ quốc trong quan hệ với các thành tố khác của hệ thống chính trị.

Do đặc thù quá trình hình thành quyền lực chính trị của Đảng gắn liền với quá trình giành độc lập dân tộc,thống nhất Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay đều do Đảng xâydựng và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Đây là một sự thuận lợi rất lớn cho thực hiện các nhiệm vụ chính trịcủa Đảng Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có vấn đề đặt ra là các tổ chức này dễ trở thành “cánh tay nối dài củaĐảng” - trở thành cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, hành chính hóa chức năng, nhiệm vụ cơ bản trong quá trìnhhoạt động, xa rời tính tự nguyện, dân chủ, hiệp thương, phối hợp hành động, cùng có lợi trong một mục tiêuchung của các tổ chức chính trị - xã hội đúng nghĩa Đây là một nguyên nhân lớn làm giảm sức mạnh và hiệuquả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc

Để Mặt trận Tổ quốc hoàn thành tốt nhiệm vụ tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc, tạo đồng thuận xã hội, phát huyvai trò giám sát và phản biện xây dựng Đảng, Nhà nước, một mặt cần phải xây dựng những thiết chế, cơ chế cụthể để nhân dân trực tiếp bày tỏ ý kiến và nguyện vọng trong việc đấu tranh bảo vệ các quyền, lợi ích hợp phápcủa bản thân, trong việc tham gia xây dựng, quản lý Nhà nước và xã hội Mặt khác, trong quá trình củng cố tổchức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc phải bảo đảm Mặt trận Tổ quốc là mộtliên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt độngcủa Mặt trận; bảo đảm tính độc lập tương đối của Mặt trận trong quan hệ với các thành tố khác của hệ thốngchính trị

Thực hiện tốt các quan điểm của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị cùng các giải pháp cụ thể nêu trên, sẽthiết thực góp phần hoàn thành mục tiêu tổng quát trong 5 năm tới, được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIIcủa Đảng là: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền vàsức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xãhội chủ nghĩa Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, xây dựngnền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nâng cao đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổquốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa Giữ gìn hòa bình, ổn định để phát triển đấtnước Nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”(5)

Câu 3 - Tổ 1 : Nguyên tắc hoạt động của HTCT XHCN? Liên hệ?

Trả lời:

Theo quy định của Hiến pháp, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Vì vậy, Nhà nước ta tổ chức và hoạt độngtrên nền tảng các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân,

do Nhân dân và vì Nhân dân, bao gồm:

- Nguyên tắc chủ quyền Nhân dân: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ,

tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấpnông dân và đội ngũ trí thức

Để thực hiện tốt nguyên tắc này phải bảo đảm cho Nhân dân tham gia đông đảo và tích cực vào việc tổ chứclập ra bộ máy nhà nước, tham gia đông đảo vào việc quản lý các công việc của Nhà nước và quyết địnhnhững vấn đề trọng đại của đất nước; phải có cơ chế bảo đảm cho Nhân dân thực hiện việc kiểm tra, giám sáthoạt động của các cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước, các tổ chức và cá nhân khác được trao chonhững quyền hạn nhất định để quản lý một số công việc của Nhà nước

- Nguyên tắc Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền

Trang 5

công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiếnpháp và pháp luật Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trongtrường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏecủa cộng đồng.

- Nguyên tắc Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật: Theo đó, Nhà nước được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ quy định của Hiến

pháp và pháp luật; được làm tất cả những việc mà Hiến pháp và pháp luật cho phép làm; hoạt động trongkhuôn khổ quy định của Hiến pháp và pháp luật; công cụ quản lý xã hội của Nhà nước chủ yếu bằng Hiếnpháp và pháp luật

- Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước: Theo nguyên tắc

này, trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đảngvạch ra đường lối chính trị, những chủ trương và phương hướng lớn, quyết định những vấn đề quan trọng về

tổ chức bộ máy, chỉ đạo quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật để thông qua Nhà nước thể chếhóa các chủ trương, chính sách của Đảng thành pháp luật để áp dụng chung, thống nhất trên quy mô toàn xãhội, thực hiện và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, thường xuyên theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn các cơquan nhà nước hoạt động theo đúng đường lối của Đảng và đào tạo cán bộ tăng cường cho bộ máy nhà nước

Nguyên tắc tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa sự chỉ đạo tập trung,

thống nhất của các cơ quan nhà nước ở Trung ương và các cơ quan nhà nước cấp trên với việc mở rộng dânchủ, phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cơ quan nhà nước ở địa phương và các cơ quan nhà nước cấpdưới Nguyên tắc này còn là cơ sở để phát huy tính chủ động, sáng tạo của quần chúng nhân dân, của tập thể

và đề cao trách nhiệm, ý thức kỷ luật của cán bộ, công chức nhà nước

- Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc: Theo đó, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộc bình đẳng (vềchính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục), đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấmmọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc,phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; Nhà nước thực hiện chính sách pháttriển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước

- Nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất , có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, tư pháp: Nguyên tắc này thể hiện bản chất thống nhất của

quyền lực Nhà nước là thuộc về Nhân dân nhưng có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhànước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (chỉ ra cấu trúc của quyền lực Nhà nướcbao gồm các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp)

Phần liên hệ: Các đ/c tự liên hệ theo chức năng của cơ quan mình.

Bài 2:

Câu 1 – Tổ 2: Đồng chí hiểu như thế nào là nhà nước Pháp quyền XHCN Việt Nam?

Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân là một quan điểm chỉ đạo thống nhất và xuyên suốt Đảng ta, Đến Đại hội XI, Đảng ta nhận định: Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN tại Việt Nam là một tất yếu khách quan  Điều này cũng đã được  Hiến pháp năm 1992 (bổ sung) nhận tại

Điều 2 : “Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.” Bằng lý luận về nhà nước pháp luật, chúng ta cùng phân tích làm rõ thế nào là nhà nước pháp quyền VN xã hội

chủ nghĩa? Đồng thời thời xem xét thực tiễn để tìm hướng đi đúng nhằm xây dựng hoàn thiện NN VN XHCN.

Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa ViệtNam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

XHCN là một xã hội dược tổ chức trên cơ sở luật pháp Luật pháp là cái thể hiện, là cái đảm bảo cho quyền làm chủ của nhân dân lao động và là công cụ để quản lý xã hội Nói Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền có nghĩa là nhà nước hoạt động dựa trên cơ sở của pháp luật, vai trò và nhiệm vụ của Nhà nước chỉ được thực hiện thông qua pháp luật

và cũng bị hạn chế bởi chính pháp luật Nói cách khác,  nguyên tắc của nhà nước pháp quyền XHCN là nhà nước và công dân đều phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật Tính  pháp quyền XHCN của nhà nước ta được thể hiện ở các đặc trưng như sau :

- Nhà nước pháp quyền XHCN là nhà nước trong đó quyền dân chủ, quyền tự do và lợi ích chính đáng của con người, của công dân được nhà nước bảo đảm và bảo vệ.

- Nhà nước pháp quyền là nhà nước có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp để điều chỉnh các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội và pháp luật giữ vai trò tối cao Nhà nước pháp quyền quản lý và điều hành xã hội bằng pháp luật,

Trang 6

dùng pháp luật làm công cụ điều tiết chủ yếu mối quan hệ giữa con người với con người, tăng cường pháp chế, xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do dân chủ, đặc biệt là quyền tự do kinh doanh và lợi ích hợp pháp của nhân dân, ngăn ngừa sự tuỳ tiện lạm dụng từ phía cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước, đồng thời ngăn ngừa hiện tượng dân chủ cực đoan, vô kỷ luật, thiếu kỷ cương Đó là nhà nước mà mọi tổ chức, kể cả tổ chức Đảng đều hoạt động dựa cơ sở pháp luật, tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước công dân về các hoạt động của mình Mọi công dân đều phải có nghĩa vụ chấp hành hiến pháp và pháp luật Tất cả mọi người không loại trừ ai (kể cả những người ban hành pháp luật) cũng phải chịu sự chi phối của pháp luật. 

- Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó xác định  rõ trách nhiệm của cả hai bên:  nhà nước và công dân trên cơ sở pháp luật, quyền của nhà nước  là nghĩa   vụ của công dân, quyền của công dân là nghĩa vụ của nhà nước

 - Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó quyền lực nhà nước được thực hiện theo cơ chế quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phù hợp giữa các cơ quan nhà nước trong vịêc thực hiện các quyền : hành pháp, lập pháp và tư pháp.

- Nhà nước pháp quyền là nhà nước có những hình thức giám sát, kiểm tra, thanh tra, xét xử có hiệu quả việc thực hiện pháp luật và có một hệ thống tài phán hoàn chỉnh (của cả cơ quan tư pháp và cơ quan hành chính).

- Nhà nước pháp quyền là nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo Nhà nước CHXHCN Việt Namcòn là nhà nước thống nhất của các dân tộc, dân chủ thực sự, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân.

Câu 2- Tổ 2: Theo đ/c cần vận dụng phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền trong xây dựng , củng cố chính quyền địa phương cùng cấp như thế nào?

Từ thực tiễn trên, để cho NNPQ ở VN trở thành hiện thực, cần thực hiện các p/hướng XD NNPQ cơ bản sau:

Một là, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân: mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm

chủ của ND trong XD và quản lý NN Đây là p/hướng vừa cơ bản, vừa cấp bách hàng đầu là nhằm giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp của NN ta, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về đạo đức, tham nhũng, lãng phí, quan liêu sách nhiễu ND trong bộ máy NN Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta Mở rộng dân chủ phải đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, quyền lợi đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ.

Hai là,Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật

+cần tập trung xây dựng p/luật trong lĩnh vực kinh tế như hoàn thiện p/luật d/nghiệp,Luật đầu tư nước ngoài tại

VN, pháp luật về sở hữu…

+ Tập trung xây dựng p/luật trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, KH-CN

+Tập trung xây dựng p/luật trong lĩnh vực XH: trước hêt coi trọng  hoàn thiện p/luật về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, hoàn thiện về p.luật dân tộc và tôn giáo, hoàn thiện p.luật về báo chí và xuất bản, quan tâm việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm PL đảm bảo th/hiện các ch/sách công bằng XH về xóa đói, giảm nghèo về bảo

vệ người tiêu dung…

+ tập trung xây dựng p/luật trong lĩnh vực ANQP và trật tự an toàn XH: xây dựng hoàn thiện PL VỀ BẢO VỆ biên giới, PL trong việc đ/tranh phòng chống tội phạm và vi phạm PL…

Ba là, Tiếp tục đổi mới, tổ chức, hoạt động của Quốc Hội:

Xây dựng Quốc hội đảm bảo thực hiện được vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và luật quy định; bảo đảm hiệu lực, hiệu quả tính chuyên nghiệp, hiện đại, tính minh bạch, công khai trong tổ chức, hoạt động cảu QH.Để thực hiện tốt nọi dung nêu trên cân thực hiện nhưng giải pháp sau đây:

+ Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện các chức năng của QH như lập pháp; đối nội và đối ngoại; giám sát.

+Phát huy vai trò, trách nhiệm, năng lực, bản lĩnh và nghiệp vụ h/động đại biểu của đại biểu QH.

+ Tăng cường mqh giữa QH với nhân dân: QH là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân, có cơ chế phản ánh kịp thời tâm tư nguyện vọng và ý chí của nhân dân với QH.

+ Tăng cường các đk về đội ngũ cán bộ tham mưu, giúp việc, bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, trụ sở làm việc của QH, thong tin hiện đại,

Bốn là, đẩy mạnh cải cách nền hành chính NN Đây là nhiệm vụ trọng tâm của việc XD và hoàn thiện NN

trong những năm trước mắt, trong đó có yêu cầu là XD nếp sống và làm việc theo PL trong XH Cải cách hành chính phải được tiến hành trên cơ sở PL và tiến hành đồng bộ nhưng có bước đi thích hợp trên cả ba mặt: cải cách thể chế

hành chính; tổ chức bộ máy và XD, kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức hành chính; cải cách tài chính công.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp Các cơ quan tư pháp là các cơ quan giữ gìn

và bảo vệ PL mà trọng tâm là đối với tòa án ND các cấp Vì thế toàn bộ hoạt động của nó là  biểu hiện điển hình của việc tuân thủ và thực hiện PL Tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống PL; đổi mới tổ chức h/động của các cơ quan tư pháp; Chấn chỉnh các tổ chức và các h/động bổ trợ tư pháp; đẩy mạnh công tác xây dựng đội ngũ Cb tư pháp đáp ứng

về số lượng và chất lượng theo yêu cầu mới…

Trang 7

Sáu là,Xây dựng đội ngũ CB, công chức đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN của dân , do dân, vì dân:

+Xây dựng và thực hiện tốt chiến lượt cán bộ

+Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng CB,CC nhằm nâng cao chất lượng về chuyên môn, nâng cao nhận thức

về trình độ lý luận chính trị Mác- Lê Nin.

+Đổi mới cơ chế đánh giá , tuyển dụng Cb, CC đảm bảo tính công khai, dân chủ

+Dổi mới chế độ chính sách tiền lương cho phù hợp với CB,CC.

+Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra , giám sát CB, CC

Bảy là, Đẩy mạnh hoạt động đấu tranh chống quan lieu và những biểu hiện tiêu cực khác trong bộ máy NN:

+Đánh gia đúng thực trạng tình hình về kết quả đấu tranh với các căn bệnh nêu trên

+ Những trường hợp vi phạm phải được xử lý nghiêm minh và phải được chuẩn mực đạo đức điều chỉnh +nhẬn thỨc đúng tẦm quan trỌng cỦa cuỘc đẤu tranh chỐng quan liêu, tham nhũng và nhỮng biỂu hiỆn tiêu cỰc khác

+Cần phải xác định đúng quan điểm và thái độ trong đấu tranh

+Triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện để đ/tranh chống quan lieu, tham nhũng.

Tám là,Đổi mới tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với NN trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN của

dân, do dân và vì dân:

Sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng NNPQ của dân, do dân và vì dân phải bao quát toàn bộ tổ

chức, hoạt động của NN và được  thể hiện trên những nội dung sau:

Một là, Đường lối, chính sách của Đảng là định hướng chính trị và nội dung hoạt động của nhà nước

Hai là, Đảng xác định những quan điểm, phương hướng ,ndung cơ bản nhằm xây dựng, hoàn thiện tổ chức h/động của NN đáp ứng y/cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn

Ba là, Đảng lãnh đạo h/động bầu cử QH, HDND các cấp đảm bảo thật sự phát huy qyền làm chủ của nhân dân trong việc lựa chọn các đại biểu xứng đáng vào các cơ quan này.

Bốn là, Đảng lanh đạo công tác Ktra, thanh tra,gsat h/động của các cơ quan NN, CB,CC NN trong việc th/hiện đường lối,ch/sách của Đảng và PL của NN.

Năm là,Đảng lãnh đạo h/động xây dựng PL và tổ chức th/hiện PL, tăng cường pháp chế trong đời sống XH và h/động của NN, CB,CC NN

Sáu là, Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, CC đáp ứng y/cầu của sự nghiệp đổi mới và yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân và vì dân

Tóm lại, trong công cuộc đổi mới của đất nước, XD NNPQ của dân, do dân, vì dân là yêu cầu khách quan của

sự nghiệp XD CNXH, và việc tiếp tục XD và hoàn thiện NNPQ là đòi hỏi khách quan và phù hợp với xu hướng chung của thời đại Vì vậy, trong đ/lối l/đạo của mình, Đảng ta đặc biệt coi trọng việc đề ra đ/lối XD và hoàn thiện BMNN- yếu tố trung tâm của HTCT Để thực hiện mục tiêu đó, phải tăng cường hiệu lực của BMNN, mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của ndân trong XD và quản lý NN, đồng thời tăng cường sự l/đạo của Đảng trên mọi lĩnh vực….

Với cương vị là một đảng viên, qua đây tôi nhận thức rằng, để góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền Việt nam XHCN, thì cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa, không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ chính trị, tích cực tuyên truyenf, vận động người thân, gia đình và nhân dân nâng cao nhận thức về nhà nước pháp quyền việt Nam, chấp hành tốt các chủ trương chính sách pháp luật của nhà nước; các nội duy, qui định tại địa phương; tích cực tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; phê phán với những biểu hiện tieu cực ở địa phương… góp phần xây dựng hoàn thiện nhà nước PQ VN XHCN.

(Liên hệ :Với 08 nội dung, vận dụng cụ thể vào từng cấp, trong đó cấp nào cũng phải nói về: Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng, ban hành văn bản QPPL, văn bản quản lý nhà nước khác và tổ chức thực hiện pháp luật; cải cách hành chính; Xây dựng đội ngũ cán bộ; Đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng

và những hiện tượng tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước; Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, cấp

ủy đối với chính quyền (HDDND và UBND).

Cấp huyện bàn thêm về cải cách tư pháp;)

Bài 3Câu 1 – Tổ 2: Những quy định có tính chất mới về tổ chức HĐND và UBND

Luật Tổ chức chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở sửa đổi toàn diện Luật tổ chức Hộiđồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 cho phù hợp với tinh thần Hiến pháp năm 2013

Ngày 19/6/2015 Tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII với tỷ lệ phiếu tán thành là 85,22% đã thôngqua Luật tổ chức chính quyền địa phương (luật 2015) Luật này đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp

Trang 8

năm 2013 và các chủ trương, định hướng của Đảng về chính quyền địa phương; đồng thời kế thừa những nộidung hợp lý và sửa đổi, bổ sung các bất cập, vướng mắc trong 12 năm thực hiện Luật tổ chức Hội đồng nhândân và Ủy ban nhân dân năm 2003 (gọi là Luật 2003) Luật gồm 8 chương và 143 điều, tăng 2 chương và 3điều so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.

Dưới đây là 10 điểm mới nổi bật của Luật Tổ chức chính quyền địa phương:

Thứ nhất, về đơn vị hành chính: Luật Tổ chức chính quyền địa phương xác định các đơn vị hành

chính gồm có tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phốthuộc thành phố trực thuộc Trung ương; xã, phường, thị trấn và đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Như vậy,

so với Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã bổ sung thêm đơn

vị hành chính: thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Đây

là quy định nhằm cụ thể hóa Điều 110 Hiến pháp năm 2013

Thứ hai, về tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính: Điều 4 Luật Tổ chức chính

quyền địa phương quy định cấp chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính gồm cóHĐND và UBND Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã.Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị

xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn

Như vậy, sau một thời gian dài thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường theo Nghịquyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốchội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã quy định cấp chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn

vị hành chính đều phải có HĐND và UBND Ngoài ra, một trong những điểm mới nổi bật của Luật Tổ chứcchính quyền địa phương so với Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đó là có sự phân biệt giữa chínhquyền địa phương ở nông thôn và ở đô thị, phù hợp với đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư, kết cấu hạ tầng vàyêu cầu quản lý ở mỗi địa bàn

Thứ ba, về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương:

- Đối với HĐND: Luật quy định rõ hơn về cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân tạo cơ sở pháp lý để

củng cố, hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp Về cơ cấu tổ chứccủa HĐND, Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định HĐND thành phố trực thuộc trung ương đượcthành lập thêm Ban đô thị vì đây là những đô thị tập trung, có quy mô lớn, mức độ đô thị hóa cao và có nhiềuđiểm đặc thù khác với các địa bàn đô thị thị xã, thành phố thuộc tỉnh Về số lượng đại biểu HĐND thành phố

Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ 95 đại biểu lên 105 đại biểu để phù hợp với quy mô dân số, đặc điểm,tính chất của các đô thị lớn này (Điều 39) Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện (số lượng là 2) và PhóChủ tịch HĐND cấp xã (số lượng là 1) hoạt động chuyên trách; Trưởng các Ban của HĐND cấp tỉnh, huyện

có thể hoạt động chuyên trách; Phó Trưởng Ban HĐND cấp tỉnh, cấp huyện hoạt động chuyên trách; Trưởng,Phó Ban của HĐND cấp xã hoạt động kiêm nhiệm

- Đối với UBND: Về cơ cấu tổ chức của UBND, nếu như trước đây, theo quy định của Luật tổ chức

HĐND và UBND năm 2003, không phải người đứng đầu của các cơ quan chuyên môn của UBND nào cũng

là ủy viên của UBND thì đến Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã mở rộng cơ cấu tổ chức UBND theo

đó tất cả người đứng đầu của các cơ quan chuyên môn của UBND đều là ủy viên của UBND Đây là quy địnhnhằm phát huy trí tuệ tập thể của các thành viên UBND, tăng cường hiệu lực giám sát của HĐND đối vớiUBND cùng cấp thông qua cơ chế lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ doHĐND bầu

Về số lượng Phó Chủ tịch UBND các cấp được quy định theo phân loại đơn vị hành chính, theo đó đối vớiđơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt (Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) có không quá 05 Phó Chủ tịch,loại I có không quá 04 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có không quá 03 Phó Chủ tịch Đối với đơn vị hànhchính cấp huyện loại I có không quá 03 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có không quá 02 Phó Chủ tịch

- Đối với đơn vị hành chính cấp xã loại I có không quá 02 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có 01 PhóChủ tịch Ngoài ra, Luật còn bổ sung Điều 124 quy định về việc điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịchUBND cho phù hợp với quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ

Thứ tư, về việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính: Luật Tổ chức

chính quyền địa phương quy định khi có trên 50% tổng số cử tri trên địa bàn đồng ý với đề án thành lập, giảithể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính thì cơ quan xây dựng đề án mới được hoàn thiện đề án,

Trang 9

trình HĐND các cấp thông qua chủ trương Luật còn bổ sung quy định về thẩm quyền đặt tên, đổi tên đơn vịhành chính và giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính giữa các đơn vị hành chính.Theo đó, Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh;đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính cấp tỉnh; giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới đơn vị hành chính cấptỉnh Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hànhchính cấp huyện, cấp xã; đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; giải quyết tranh chấp liên quanđến địa giới đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã.

Thứ năm, Về tiêu chí, tiêu chuẩn thành lập Ban dân tộc của Hội đồng nhân dân là vấn đề rất cụ thể,

liên quan đến việc bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc chung của cả nước cũng như ở từng địa phương nơi

có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, cần phải được tiếp tục xem xét, cân nhắc kỹ thêm Do đó, để có thờigian nghiên cứu kỹ lưỡng, luật quy định Quốc hội giao Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể tiêu chí,tiêu chuẩn thành lập Ban dân tộc của Hội đồng nhân dân

Thứ sáu, Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện có thể hoạt động chuyên trách, Phó

Trưởng Ban Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện hoạt động chuyên trách Trưởng, Phó Ban của Hội đôngnhân dân cấp xã hoạt động kiêm nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (số lượng là 2)

và Phó Chủ tịch Hội động nhân dân cấp xã (số lượng là 1) hoạt động chuyên trách

Về các Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã, đây là quy định mới, gồm Ban pháp chế và Ban kinh tế

-xã hội, Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các thành viên khác của Ban của Hội đồng nhân dân hoạt động kiêmnhiệm; Trưởng ban không nằm trong Thường trực Hội đồng nhân dân nên không dẫn đến tăng biên chế và bộmáy ở cấp xã Luật quy định Thường trực Hội đồng nhân dân phê chuẩn Ủy viên của các Ban của Hội đồngnhân dân theo đề nghị của Trưởng ban; Hội đồng nhân dân chỉ tiến hành bầu Trưởng ban, Phó Trưởngban.Ban đô thị của Hội đồng nhân dân chỉ tổ chức ở thành phố trực thuộc trung ương vì đây là những đô thịtập trung, có quy mô lớn, mức độ đô thị hóa cao và có nhiều điểm đặc thù khác với các địa bàn đô thị đơn lẻkhác là thị xã, thành phố thuộc tỉnh  

Thứ bảy, Cơ cấu Thường trực HĐND tỉnh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Trưởng các Ban và Chánh

Văn phòng Hội đồng nhân dân; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện gồm Chủ tịch, hai Phó Chủ tịch

và Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân

Luật cũng quy định rõ cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương ở nông thôn và đô thị và hải đảo, vùng kinh tế

xã hội đặc biệt

Thứ tám, về cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân: Một điểm mới đáng chú ý khác là luật đã bổ sung

những điểm mới nhằm quy định chi tiết hơn về số lượng, cơ cấu thành viên UBND, nguyên tắc hoạt động củaUBND; phiên họp UBND; phạm vi, trách nhiệm giải quyết công việc của các thành viên UBND Theo đó, cơcấu tổ chức và hoạt động của UBND có những nội dung mới Trong đó, nổi bật là việc quy định số lượng PhóChủ tịch UBND các cấp theo phân loại đơn vị hành chính Cụ thể, đối với cấp tỉnh, thành phố Hà Nội và TP

Hồ Chí Minh có không quá 5 Phó Chủ tịch UBND; các thành phố trực thuộc Trung ương còn lại và các tỉnhloại I có không quá 4 Phó Chủ tịch UBND; tỉnh loại II và loại III có không quá 3 Phó Chủ tịch UBND Đốivới cấp huyện, loại I có không quá 3 Phó Chủ tịch UBND; loại II và loại III có không quá 2 Phó Chủ tịchUBND

Đối với cấp xã, loại I có không quá 2 Phó Chủ tịch UBND, loại II và loại III có 1 Phó Chủ tịch UBND Theoquy định của Luật, thì cơ cấu Ủy ban nhân dân bao gồm người đứng đầu của các cơ quan chuyên môn của Ủyban nhân dân nhằm phát huy trí tuệ tập thể của các thành viên Ủy ban ban nhân dân, tăng cường hiệu lựcgiám sát của Hội đồng nhân dân đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp thông qua cơ chế lấy phiếu tín nhiệm, bỏphiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu Thành phần của Ủy ban nhân dân cáccấp gồm người đứng đầu các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân và quy định rõ 01 Ủy viên phụ tráchquân sự và 01 Ủy viên phụ trách công an để phụ trách về các lĩnh vực hoạt động quan trọng này ở địaphương

Thứ chín, Phân định thẩm quyền giữa trung ương, địa phương và giữa các cấp chính quyền.

Một trong những điểm mới của luật là phân định thẩm quyền giữa trung ương, địa phương và giữa cáccấp chính quyền nhằm cụ thể hóa Điều 112 Hiến pháp năm 2013 Theo đó, để tạo cơ sở pháp lý cho việcphân quyền, phân cấp, ủy quyền cho chính quyền địa phương, Luật năm 2015 đã quy định các nguyên tắcphân định thẩm quyền, các trường hợp phân quyền, phân cấp, ủy quyền

Trang 10

Cụ thể, có 6 nguyên tắc về phân định thẩm quyền gồm: Bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất về thểchế, chính sách, chiến lược và quy hoạch đối với các ngành, lĩnh vực; bảo đảm tính thống nhất, thông suốtcủa nền hành chính quốc gia Phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương Kếthợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ, phân định rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước giữachính quyền địa phương các cấp đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ Việc phân địnhthẩm quyền phải phù hợp điều kiện, đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và đặc thù của các ngành, lĩnh vực.Công việc liên quan đến phạm vi từ hai đơn vị hành chính cùng cấp trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyếtcủa chính quyền cấp trên, trừ trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy banthường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ có quy định khác Nguyên tắc cuối cùng là chính quyền địaphương được bảo đảm nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân quyền, phân cấp.

Về phân quyền, Luật quy định việc phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương phải được quyđịnh trong các luật; chính quyền địa phương tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ,quyền hạn được phân quyền Về phân cấp, Luật quy định căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện vàđiều kiện, tình hình cụ thể khác của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyềnphân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thườngxuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quyđịnh khác Việc phân cấp phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước thựchiện phân cấp

Về ủy quyền, Luật quy định trong trường hợp cần thiết, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủyquyền bằng văn bản do UBND cấp dưới hoặc cơ quan, tổ chức khác thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ,quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể

Thứ mười, Quy định nhiệm vụ, quyền hạn đặc trưng của chính quyền đô thị

Luật đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính theohướng chủ yếu tập trung ở cấp tỉnh, giảm dần xuống cấp huyện đến cấp xã để tránh tình trạng dồn việc về cấp

cơ sở mà không tính đến khả năng đáp ứng của từng cấp chính quyền; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyềnđịa phương ở địa bàn nông thôn tập trung thực hiện quản lý theo lãnh thổ; ở địa phương đô thị chú trọng thựchiện quản lý theo ngành, lĩnh vực

Luật quy định chung về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương phải thực hiện như tổ chức và bảođảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn; quyết định những vấn đề của địa phương trong phạm

vi được phân quyền, phân cấp; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủyquyền…

Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND trên các lĩnh vực nhằm thể hiện rõ sự gắn kết chặtchẽ, thống nhất giữa hai thiết chế HĐND và UBND hợp thành chính quyền địa phương

Đặc biệt, luật đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn đặc trưng của chính quyền đô thị nhằm thể hiện sựkhác biệt với chính quyền nông thôn Theo đó, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở thànhphố, thị xã ngoài việc quyết định các vấn đề của địa phương như đối với địa bàn nông thôn, còn tập trungquyết định các vấn đề quy hoạch phát triển đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, quản lý và tổ chức đờisống dân cư đô thị…

Bên cạnh đó, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương quận và phường đã được điều chỉnh chophù hợp vơi yêu cầu quản lý thống nhất, liên thông trong khu vực nội thành, nội thị tại các đô thị Cụ thể, ngoàiviệc thực hiện chức năng đại diện và giám sát theo quy định chung, tập trung thực hiện 2 nhóm nhiệm vụ liênquan đến việc quyết định các vấn đề ở địa phương gồm: thông qua ngân sách quận, phường theo quy định củaLuật Ngân sách nhà nước và bầu nhân sự của HĐND, UBND cùng cấp

Câu 2 – Tổ 3: Đánh giá (dự liệu) những quy định mới về tổ chức HĐND, ubnd tác động như thế nào đến nâng cao năng lực hiệu quả của HĐND – UBND?

Trả lời:

Những điểm mới về cơ cấu tổ chức và hoạt động của HĐND, UBND quy định tại Luật tổ chức chính quyền

địa phương gồm:

a Đối với HĐND, Luật quy định thay chức danh ủy viên thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp huyện

bằng chức danh phó chủ tịch HĐND Thực hiện quy định này, tại kỳ họp đầu tiên vừa qua, HĐND tỉnh khóaXII đã bầu 2 phó chủ tịch HĐND tỉnh HĐND các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh cũng đã bầu mỗi nơi 2

Trang 11

phó chủ tịch HĐND cấp mình. Vai trò của thường trực HĐND cũng được tăng cường với cơ cấu thường trựcHĐND tỉnh gồm chủ tịch, các phó chủ tịch, trưởng các ban và chánh văn phòng HĐND; thường trực HĐNDcấp huyện gồm chủ tịch, các phó chủ tịch và trưởng các ban của HĐND.

b Đối với UBND, nổi bật là việc quy định số lượng phó chủ tịch UBND các cấp theo phân loại đơn

vị hành chính Theo quy định này, Bình Định là tỉnh loại II, có không quá 3 phó chủ tịch UBND và tại kỳ họpvừa qua, HĐND tỉnh khóa XII đã bầu 3 phó chủ tịch UBND tỉnh

Một quy định mới nữa về cơ cấu tổ chức của UBND cấp tỉnh và huyện là, tất cả người đứng đầu củacác cơ quan chuyên môn của UBND đều là ủy viên UBND, ngoài ra còn có ủy viên phụ trách quân sự và ủyviên phụ trách công an Nhiệm kỳ 2016- 2021, số lượng ủy viên UBND tỉnh vừa được bầu là 21 người, gồm

19 ủy viên là người đứng đầu 19 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, 1 ủy viên phụ trách quân sự và 1 ủyviên phụ trách công an

* Đánh giá về những tác động tích cực từ việc triển khai thực hiện Luật TCCQĐP đối với tổ chức

và hoạt động của chính quyền địa phương tỉnh Bình Định?

- Luật TCCQĐP quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND trên các lĩnh vực, nhằm thểhiện rõ sự gắn kết chặt chẽ, thống nhất giữa hai thiết chế HĐND và UBND hợp thành chính quyền địaphương Với những quy định rõ hơn về cơ cấu tổ chức của HĐND, tăng số lượng đại biểu chuyên trách,HĐND các cấp sẽ được củng cố, hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động

Tương tự, quy định mở rộng cơ cấu tổ chức của UBND cấp tỉnh và huyện là nhằm phát huy trí tuệ tậpthể của các thành viên UBND, tăng cường hiệu lực giám sát của HĐND đối với UBND cùng cấp thông qua

cơ chế lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu

Nói tóm lại, với việc quy định về đơn vị hành chính và tổ chức, hoạt động của chính quyền địaphương ở các đơn vị hành chính, Luật TCCQĐP tạo cơ sở pháp lý để hoạch định chính sách phát triển KT-XH; xây dựng tổ chức bộ máy, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức của chính quyền địa phương phùhợp với từng loại đơn vị hành chính Đồng thời, việc triển khai thực thi Luật TCCQĐP là nhằm đảmbảo chính quyền địa phươngđược tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc: Tuân thủ Hiến pháp và phápluật, quản lý xã hội bằng pháp luật; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; hiện đại, minh bạch, phục vụnhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân

- Hiến pháp là văn bản duy nhất quy định về chủ quyền nhân dân, tổ chức quyền lực nhà nước; quyền conngười, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; là hình thức pháp lý thể hiện tập trung nhất hệ tư tưởng của giaicấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc; ở từng giai đoạn phát triển, Hiến pháp còn là văn bản, làphương tiện pháp lý thực hiện tư tưởng, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới hình thứcnhững quy phạm pháp luật

- Về nội dung, đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội,

đó là những quan hệ xã hội cơ bản liên quan đến các lợi ích cơ bản của mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mọi côngdân trong xã hội, như: chế độ chính trị; quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân; chế độ kinh tế, xã hội, văn hóa,giáo dục, khoa học công nghệ và môi trường; quyền con người; tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

- Về mặt pháp lý, Hiến pháp có hiệu lực pháp lý cao nhất, phản ánh sâu sắc nhất quyền của Nhân dân

và mối quan hệ giữa Nhà nước với Nhân dân; Hiến pháp là nguồn, là căn cứ để ban hành luật, pháp lệnh, nghịquyết và các văn bản khác thuộc hệ thống pháp luật: Tất cả các văn bản khác không được trái với Hiến pháp

mà phải phù hợp với tinh thần và nội dung của Hiến pháp, được ban hành trên cơ sở quy định của Hiến pháp

và để thi hành Hiến pháp Các điều ước quốc tế mà Nhà nước tham gia không được mâu thuẫn, đối lập vớiquy định của Hiến pháp; khi có mâu thuẫn, đối lập với Hiến pháp thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền khôngđược tham gia ký kết, không phê chuẩn hoặc bản lưu đối với từng điều Ngoài ra, tất cả các cơ quan nhà nướcphải thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo Hiến pháp, sử dụng đầy đủ các quyền hạn,

Ngày đăng: 23/01/2018, 19:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w