MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1 2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2 3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3 4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3 5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4 6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 4 7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 4 Chương I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO 5 1.1. Nguồn nhân lực và vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế xã hội 5 1.1.1. Các khái niệm cơ bản 5 1.1.2. Các yếu tố cấu thành nguồn nhân lực. 7 1.1.3. Vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế xã hội. 8 1.1.3.1. Nguồn nhân lực mục tiêu và động lực chính của sự phát triển. 8 1.1.3.2. Vai trò nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 9 1.2. Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đào tạo 11 1.2.1. Đặc điểm nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đào tạo 11 1.2.1.1.Là một bộ phận nguồn nhân lực có học vấn cao nhất 11 1.2.1.2. Kết quả hoạt động của nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đào tạo không chỉ phụ thuộc vào bản thân nó mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội 12 1.2.1.3 Chất lượng nguồn nhân lực giáo dục đào tạo quyết định đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực nói chung của quốc gia 14 1.2.2. Nội dung phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đào tạo 15 1.2.2.1. Số lượng nguồn nhân lực giáo dục đào tạo 15 1.2.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực giáo dục đào tạo 16 1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực giáo dục đào tạo 18 1.2.3.1 Chính sách phát triển giáo dục đào tạo của Quốc gia 19 1.2.3.2 Đầu tư cho giáo dục đào tạo 19 1.2.3.3 Cơ chế, chính sách sử dụng, bố trí sắp xếp nguồn nhân lực giáo dục đào tạo 21 1.3. Kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đào tạo 22 Chương II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM 24 2.1. Tổng quan về giáo dục đào tạo ở Việt Nam 24 2.1.1. Hệ thống giáo dục đào tạo 24 2.1.2. Cơ cấu giáo dục đào tạo. 26 2.1.3. Quy mô giáo dục. 28 2.1.4. Ngân sách cho giáo dục và đào tạo. 31 2.1.5. Chất lượng giáo dục 33 2.2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực giáo dụcđào tạo trong thời gian qua ở nước ta. 36 2.2.2. Động thái chất lượng nguồn nhân lực giáo dục đào tạo 40 2.2.2.1 Về chất lượng đội ngũ giáo viên. 40 2.2.2.2 Về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục 42 2.3 Đánh giá chung 45 2.3.1. Những thành tựu và bất cập chủ yếu. 45 2.3.1.1. Thành tựu 45 2.3.1.2. Những tồn tại và bất cập chủ yếu. 47 2.3.2. Nguyên nhân. 48 2.3.2.1. Ngân sách dành cho nguồn nhân lực giáo dục đào tạo còn thấp 48 2.3.2.2. Cơ chế, chính sách đối với nguồn nhân lực giáo dục đào tạo còn nhiều bất cập 49 2.3.2.3.Quản lý nguồn nhân lực giáo dục đào tạo yếu kém 51 Chương III.QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Ở NƯỚC TA 53 3.1. Quan điểm phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đào tạo ở nước ta 53 3.1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực đặt ra đối với việc phát triển giáo dục đào tạo 53 3.1.2. Mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục đào tạo 55 3.1.3. Quan điểm phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đào tạo ở nước ta. 65 3.1.3.1. Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đào tạo phải xuất phát từ yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH và tiếp cận kinh tế tri thức 65 3.1.3.2. Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đào tạo phải đặt trong điều kiện cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. 65 3.1.3.3. Phát triển nguồn lực lực giáo dục đào tạo theo hướng hội nhập quốc tế và khu vực 66 3.1.3.4. Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đào tạo phải đảm bảo sự cân đối, đồng bộ về nguồn nhân lực giữa các bậc học ở các vùng, miền của đất nước 68 3.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đào tạo 69 3.2.1. Xây dựng kế hoạch, quy hoạch nguồn nhân lực giáo dục đào tạo 69 3.2.2. Xã hội hoá phát triển nguồn nhân lực giáo dục đào tạo 71 3.2.3 Các chính sách hỗ trợ cho việc phát triển nguồn nhân lực giáo dục đào tạo 72 KẾT LUẬN 77
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 4
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 4
Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO 5
1.1 Nguồn nhân lực và vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội 5
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 5
1.1.2 Các yếu tố cấu thành nguồn nhân lực 7
1.1.3 Vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội 8
1.1.3.1 Nguồn nhân lực - mục tiêu và động lực chính của sự phát triển 8
1.1.3.2 Vai trò nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 9
1.2 Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo 11
1.2.1 Đặc điểm nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo 11
1.2.1.1.Là một bộ phận nguồn nhân lực có học vấn cao nhất 11
1.2.1.2 Kết quả hoạt động của nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo không chỉ phụ thuộc vào bản thân nó mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội 12
1.2.1.3 Chất lượng nguồn nhân lực giáo dục- đào tạo quyết định đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực nói chung của quốc gia 14
1.2.2 Nội dung phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo 15
1.2.2.1 Số lượng nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo 15
1.2.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo 16
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo .18 1.2.3.1 Chính sách phát triển giáo dục - đào tạo của Quốc gia 19
Trang 21.2.3.2 Đầu tư cho giáo dục - đào tạo 19
1.2.3.3 Cơ chế, chính sách sử dụng, bố trí sắp xếp nguồn nhân lực giáo dục- đào tạo 21
1.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo 22
Chương II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM 24
2.1 Tổng quan về giáo dục - đào tạo ở Việt Nam 24
2.1.1 Hệ thống giáo dục - đào tạo 24
2.1.2 Cơ cấu giáo dục - đào tạo 26
2.1.3 Quy mô giáo dục 28
2.1.4 Ngân sách cho giáo dục và đào tạo 31
2.1.5 Chất lượng giáo dục 33
2.2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực giáo dục-đào tạo trong thời gian qua ở nước ta 36
2.2.2 Động thái chất lượng nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo 40
2.2.2.1 Về chất lượng đội ngũ giáo viên 40
2.2.2.2 Về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục 42
2.3 Đánh giá chung 45
2.3.1 Những thành tựu và bất cập chủ yếu 45
2.3.1.1 Thành tựu 45
2.3.1.2 Những tồn tại và bất cập chủ yếu 47
2.3.2 Nguyên nhân 48
2.3.2.1 Ngân sách dành cho nguồn nhân lực giáo dục- đào tạo còn thấp 48
2.3.2.2 Cơ chế, chính sách đối với nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo còn nhiều bất cập 49
2.3.2.3.Quản lý nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo yếu kém 51
Chương III.QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO Ở NƯỚC TA 53
3.1 Quan điểm phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo ở nước ta 53
Trang 33.1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực đặt ra đối với việc phát triển giáo dục - đào tạo 53 3.1.2 Mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo 55 3.1.3 Quan điểm phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo ở nước ta 65 3.1.3.1 Phát triển nguồn nhân lực giáo dục- đào tạo phải xuất phát từ yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH và tiếp cận kinh tế tri thức 65 3.1.3.2 Phát triển nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo phải đặt trong điều kiện cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN 65 3.1.3.3 Phát triển nguồn lực lực giáo dục - đào tạo theo hướng hội nhập quốc tế
và khu vực 66 3.1.3.4 Phát triển nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo phải đảm bảo sự cân đối, đồng bộ về nguồn nhân lực giữa các bậc học ở các vùng, miền của đất nước 68 3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo 69 3.2.1 Xây dựng kế hoạch, quy hoạch nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo 69 3.2.2 Xã hội hoá phát triển nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo 71 3.2.3 Các chính sách hỗ trợ cho việc phát triển nguồn nhân lực giáo dục- đào tạo 72
KẾT LUẬN 77
Trang 4MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường tất yếu của mọi quốc gianhằm phát triển kinh tế - xã hội Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá cầnphải huy động mọi nguồn lực cần thiết (trong nước và từ nước ngoài), bao gồm:nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ, nguồn lực tàinguyên, các ưu thế và lợi thế (về điều kiện địa lý, thể chế chính trị, …) Trongcác nguồn này thì nguồn nhân lực là quan trọng , quyết định các nguồn lực khác
Hiện nay, ở nước ta sự nghiệp cộng nghiệp hoá, hiện đại hoá đang đặt ra yêucầu ngày càng cao đối với việc phát triển nguồn nhân lực (PTNNL), nhất là NNL
GD - ĐT (vì NNL GD - ĐT là cái quyết định chất lượng nguồn nhân lực nói chungcủa đất nước), đòi hỏi một đội ngũ lao động trí tuệ có trình độ quản lý, chuyên môn
và kỹ thuật cao, có ý thức kỷ luật, lòng yêu nước, có thể lực, để có thể đảm đươngnhiệm vụ GD - ĐT, cung cấp nguồn nhân lực theo yêu cầu phát triển kinh tế - xãhội
Trên thực tế, trong những năm qua và hiện nay mặc dù NNL GD- ĐT đãtăng cả về số lượng, chất lượng và sự thay đổi về cơ cấu v.v…Tuy nhiên với yêucầu cao của phát triển kinh tế và quá trình hội nhập đang đặt ra thì NNL trong
GD - ĐT còn nhiều bất cập: chất lượng NNL GD - ĐT còn chưa cao so với đòihỏi của phát triển kinh tế – xã hội, cơ cấu NNL GD - ĐT còn thiếu cân đối giữacác bậc học giữa các vùng/miền; cơ chế, chính sách sử dụng, sắp xếp, bố tríNNL (nhất là sử dụng nhân tài trong lĩnh vực này) còn chưa phù hợp, chưa thoảđáng, việc đầu tư cho NNL GD-ĐT còn thấp, chưa xứng đáng với vai trò và vịthế của đội ngũ Chính vì vậy việc PTNNL trong GD - ĐT đang đặt ra là hết sứcquan trọng, và cần thiết Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX đã định hướng choPTNNL Việt Nam “Người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, cóphẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng và phát triển bởi một nền giáo dụctiên tiến gắn với một nền khoa học- công nghệ và hiện đại’’
Như vậy, việc PTNNL trong lĩnh vực GD - ĐT phải đặt trong chiến lượcphát triển, kinh tế - xã hội, phải đặt ở vị trí trung tâm, chiến lược của mọi chiến
Trang 5lược phát triển kinh tế – xã hội Chiến lược phát triển NNL GD-ĐT của nước taphải đặt trên cơ sở phân tích thế mạnh và những yếu điểm của nó, để từ đó cóchính sách khuyến khích, phát huy thế mạnh ấy, đồng thời cần có những giảipháp tích cực, hạn chế những mặt yếu kém trong việc PTNNLtrong GD - ĐT.
Có như vậy chúng ta mới có được nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêucầu đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trên cơ sở đó, việc làm rõ vấn đề: “Phát triển nguồn nhân lực trong
lĩnh vực giáo dục - đào tạo ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp’’ Tác giả
luận văn nhằm luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lựctrong lĩnh vực GD-ĐT đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay và những năm tới
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong những năm gần đây, vấn đề PTNNL đã thu hút không ít sự quantâm các nhà quản lý, các nhà khoa học ,đặc biệt các nhà nghiên cứu, các việncác trường đại học… Đã có rất nhiều công trình khoa học được công bố trên cácsách báo, tạp chí, yêu cầu về phương hướng , giải pháp PTNNL và sử dụngnguồn nhân lực có hiệu quả phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Chẳng hạn :
- GS.TS Phạm Minh Hạc phân tích vấn đề con người trong “sự nghiệp côngnghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam’’, NXB Chính trị quốc gia ,Hà Nội 1996
- TS Nguyễn Hữu Dũng : “Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực con người ởViệt Nam, NXB Lao động – xã hội , Hà Nội 2003”
- Tác giả Mai Quốc Chánh : “Các giải pháp nâng cao chất lượng nguồnnhân lực theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá’’, NXB Chính trị quốc gia,
Trang 6tạp chí GD số 11 năm 2004; bài của PGS.TS Mạc Văn Trang:"Quản lí nguồnnhân lực trong GD-ĐT những vấn đề cần nghiên cứu-trong quản lí nguồn nhânlực ở Việt Nam một số vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Khoa học Giáo dục, HàNội 2004" Tuy nhiên những kết quả được nghiên cứu về nguồn nhân lực mớichỉ đề cập tới những vấn đề chung của nguồn nhân lực, và mới chỉ từng bướcgiải quyết tháo gỡ những khó khăn trước mắt của những vấn đề cơ bản này Cònvấn đề phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực GD - ĐT chưa được đề cập đến.
Kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các tác giả đi trước, luận văn tập trungphân tích luận giải những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn đang đặt ra trongquá trình PTNNL trong lĩnh vực GD - ĐT ở Việt Nam
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Mục đích của đề tài: Phân tích thực trạng NNL trong lĩnh vực GD-ĐT,chỉ ra những thành công, hạn chế chủ yếu trong lĩnh vực này, từ đó đưa ranhững quan điểm và một số giải pháp cơ bản nhằm PTNNL trong lĩnh vực GD-
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự phát triển NNL trong lĩnh vựcGD-ĐT với tư cách là nhân tố quan trọng nhất để phát triển nguồn nhân lực Phạm vi nghiên cứu của luận văn là lĩnh vực GD-ĐT trong những năm gần đây
ở nước ta (Bao gồm: đội ngũ những người làm công tác giảng dạy, cán bộ quản
lý GD Không chỉ về mặt số lượng mà cả về mặt chất lượng)
Trang 75 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để làm rõ những nội dung cơ bản đặt ra của luận văn, trong quá trìnhnghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp: Phương pháp hệ thống, phươngpháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp trong quá trình nghiên cứu
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Một là, hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về PTNNL tronglĩnh vực GD- ĐT và đúc rút những kinh nghiệm của một số nước trên thế giớitrong việc PTNNL trong lĩnh vực này
- Hai là, đánh giá thực trạng PTNNL trong lĩnh vực GD-ĐT ở Việt Namtrong những năm qua, đưa ra những đánh giá , nhận xét về ưu điểm và tồn tạitrong việc PTNNL
- Ba là, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm PTNNL trong lĩnh vựcGD-ĐT ở Việt Nam
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận , mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn gồm ba chương:
- Chương I: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân
lực trong lĩnh vực GD - ĐT.
- Chương II: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực
GD-ĐT ở Việt Nam.
- Chương III: Quan điểm và một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân
lực trong lĩnh vực GD-ĐT ở Việt Nam trong giai đoạn tới
Trang 8Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO 1.1 Nguồn nhân lực và vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
* Nguồn nhân lực:
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực (NNL) được hiểu là nguồn lực conngười (Human resources) của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phậncủa các nguồn lực có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình pháttriển kinh tế - xã hội.Theo quan niệm của kinh tế học hiện đại, NNL là một trongbốn nguồn lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế Các nguồn lực đó là: nguồn lựcvật chất (physical resouces ), nguồn lực tài chính ( finalcial resources )…
- Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động haynguồn nhân lực xã hội Đó là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khảnăng lao động
Nguồn nhân lực được nghiên cứu trên giác độ số lượng, chất lượng.
Số lượng nguồn nhân lực được xác định dựa trên quy mô dân số, cơ cấutuổi, giới tính và sự phân bố theo khu vực và vùng lãnh thổ của dân số Ở nước
ta, số lượng nguồn nhân lực được xác định bao gồm tổng số người trong độ tuổilao động (Nam: 15 đến 60; nữ : 15 đến 55 ) vì người lao động phải ít nhất đủ 15tuổi và được hưởng chế độ hưu trí hàng năm khi có đủ điều kiện về tuổi đời(Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi ) và thời gian đóng bảo hiểm xã hội ( 20 năm trởlên) Đây là lực lượng lao động tiềm năng của nền kinh tế - xã hội
Sự gia tăng tổng dân số là cơ sở để hình thành và gia tăng nguồn nhân lực,
có nghĩa là sự gia tăng dân số sau 15 năm sẽ kéo theo sự gia tăng nguồn nhânlực Nhưng nhịp độ tăng dân số chậm lại cũng không giảm ngay lập tức nhịp độtăng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiển trạng thái nhất định của nguồn nhânlực với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi
Trang 9hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thểnhững nét đặc trưng phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạtđộng sản xuất và phát triển con người Do vậy chất lượng nguồn nhân lực baogồm: Tình trạng sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn và năng lựcphẩm chất… Chất lượng nguồn nhân lực liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vựcnhư đảm bảo dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và đào tạo, lao động vàviệc làm gắn với tiến bộ kỹ thuật, trả công lao động và các mối quan hệ xã hộikhác.
* Phát triển nguồn nhân lực (PTNNL).
Về phát triển nguồn nhân lực ( Human resources development ) có nhiềucách tiếp cận khác nhau UNESCO sử dụng khái niệm PTNNL dưới góc độ hẹp
là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan
hệ phát triển của đất nước Các nhà kinh tế có quan niệm PTNNL gần với quanniệm của UNESCO là phải gắn với phát triển sản xuất và chỉ nên giới hạnPTNNL trong phạm vi phát triển kĩ năng lao động và thích ứng với yêu cầu vềviệc làm
Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO): Sự phát triểnnguồn nhân lực như một quá trình mở rộng các khả năng tham gia hiệu quả vàophát triển nông thôn bao gồm cả tăng năng lực sản xuất
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng PTNNL không chỉ chiếm lĩnhtrình độ lành nghề hoặc bao gồm cả vấn đề đào tạo nói chung mà còn là pháttriển năng lực và sử dụng năng lực đó của con người để phát triển tiến tới cóviệc làm hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân
Mặc dù có sự diễn đạt khác nhau, song có một điểm chung nhất của tất cảcác định nghĩa là đều coi phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao nănglực của con người về mọi mặt để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình pháttriển quốc gia
Do vậy, có thể hiểu, PTNNL là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế - xã hội Quá trình đó bao gồm phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận
Trang 10thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề; tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hoá, truyền thống lịch sử dân tộc….
Phát triển nguồn nhân lực bị tác động bởi nhiều yếu tố: Sinh đẻ và sứckhoẻ sinh sản; chăm sóc sức khoẻ ( dinh dưỡng, vệ sinh môi trường, phòng ngừabệnh tật…); giáo dục và đào tạo nghề nghiệp; văn hoá và truyền thống dân tộc;mối quan hệ xã hội và gia đình; việc làm và trả công lao động; thu nhập và mứcsống; trình độ phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2 Các yếu tố cấu thành nguồn nhân lực.
Theo quan niệm của Thủ tướng Phan Văn Khải: “Nguồn lực con ngườibao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộcta”[19] Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rất rộng, bao gồm cácyếu tố cấu thành về lực lượng (Số lượng) trí thức, khả năng nhận thức và tiếp thukiến thức, tính năng động xã hội và sức sáng tạo, truyền thống lịch sử, nền vănhoá…
Có thể cụ thể hoá và phân loại các yếu tố cấu thành nguồn nhân lực theocác nhóm sau đây:
- Quy mô, cơ cấu dân số, lao động và sức trẻ của nguồn nhân lực Nhómnày liên quan đến các biến đổi về dân số, lao động tham gia vào phát triển kinh
tế - xã hội của một quốc gia trong từng thời kỳ nhất định
- Trình độ dân số và chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực Đây là yếu
tố cấu thành đặc biệt quan trọng có tính chất quyết định của NNL trong tiếp thu,làm chủ và thích nghi với kỹ thuật, công nghệ và quản lý nền kinh tế tri thức.Nhóm này liên quan và phụ thuộc vào sự phát triển giáo dục - đào tạo và dạynghề của một quốc gia, trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hộinhập trong xu thế toàn cầu hoá
- Nhóm yếu tố cấu thành NNL thể hiện tính năng động xã hội và sức sángtạo của con người Nhóm này liên quan đến môi trường pháp luật, thể chế và cácchính sách, cơ chế giải phóng sức lao động, tạo động lực để con người pháttriển, phát huy tài năng và sức sáng tạo của mình trong nền kinh tế
- Truyền thống lịch sử, nền văn hoá của một quốc gia Nó bồi đắp và kết
Trang 11tinh trong mỗi con người và cả cộng đồng dân tộc, hun đúc nên bản lĩnh, ý chí,tác phong của con người trong lao động.
1.1.3 Vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.3.1 Nguồn nhân lực - mục tiêu và động lực chính của sự phát triển.
Nói đến vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển là nói đến vai tròcủa con người trong phát triển
* Con người là động lực của sự phát triển.
Bất cứ một sự phát triển nào cũng đều phải có một động lực thúc đẩy.Phát triển kinh tế - xã hội được dựa trên nhiều nguồn lực: Nhân lực (nguồn lựccon người), vật lực (nguồn lực vật chất: Công cụ lao động, đối tượng lao động,tài nguyên thiên nhiên…), tài lực (nguồn lực về tài chính, tiền tệ)… Song chỉ cónguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lựckhác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người
Từ thời kỳ xa xưa con người bằng công cụ lao động thủ công và nguồn lực dochính bản thân mình tạo ra để sản xuất ra sản phẩm thoả mãn nhu cầu của bảnthân Sản xuất ngày càng phát triển, phân công lao động ngày càng chi tiết, hợptác càng chặt chẽ tạo cơ hội để chuyển dần hoạt động của con người cho máymóc thiết bị thực hiện, làm thay đổi tính chất của lao động từ lao động thủ côngsang lao động cơ khí và lao động trí tuệ Nhưng cả trong điều kiện đạt được tiến
bộ khoa học kỹ thuật hiện tại như hiện nay thì cũng không thể tách rời nguồn lựccon người bởi lẽ:
kiểm tra của con người (tức tác động của con người) thì chúng chỉ là vật chất,chỉ có tác động của con người mới phát động chúng và đưa chúng vào hoạtđộng
Vì vậy nếu xem xét nguồn lực là tổng thể những năng lực ( cơ năng và trínăng) của con người được huy động vào qúa trình sản xuất, thì năng lực đó lànội lực con người Đối với những nước có nền kinh tế đang phát triển như nước
ta dân số đông, nguồn nhân lực dồi dào đã trở thành một nội lực quan trọng
Trang 12nhất Nếu biết khai thác nó sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển.
* Con người là mục tiêu của sự phát triển.
Phát triển kinh tế - xã hội suy cho cùng là nhằm mục tiêu phục vụ conngười, làm cho cuộc sống con người ngày càng tốt hơn, xã hội ngày càng vănminh Nói cách khác, con người là lực lượng tiêu dùng của cải vật chất và tinhthần của xã hội Và như vậy, nó thể hiện rõ nét nhất mối quan hệ giữa sản xuất
và tiêu dùng Mặc dù mức độ phát triển sản xuất quyết định mức độ tiêu dùng,song nhu cầu tiêu dùng của con người lại tác động mạnh mẽ tới sản xuất, địnhhướng phát triển sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường
Nhu cầu con người vô cùng phong phú, đa dạng và thường xuyên tănglên, nó bao gồm nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, về số lượng và chủng loạihàng hoá càng ngày càng phong phú, đa dạng, điều đó tác động tới quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội
1.1.3.2 Vai trò nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Về vai trò của NNL trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa(CNH,HĐH) đất nước, Nghị quyết Đại hội Đảng VIII đã khẳng định: "Nâng caodân trí và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyếtđịnh thắng lợi của CNH, HĐH đất nước."[49,Tr78]
Các công trình nghiên cứu và thực tế phát triển của đất nước đều khẳngđịnh vai trò có tính chất quyết định của nguồn nhân lực đối với quá trình CNH,HĐH Vai trò đó được thể hiện trên hai mặt:
Thứ nhất, Các nguồn lực như vốn, tài nguyên thiên nhiên không có sức
mạnh tự thân Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực xã hội khiđược kết hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động của con người
Thứ hai, con người với trí tuệ của mình - là nguồn lực không bao giờ cạn
kiệt, có khả năng phục hồi và tự tái sinh Quan điểm phát triển nguồn nhân lực
đã được nhiều quốc gia quan tâm và vấn đề này đang nổi lên ở khu vực Đông Á.Xuất phát là những nước nghèo, chỉ có thể rút ngắn thời kỳ công nghiệp hoá vàđạt được tốc độ tăng trưởng cao, bền vững trong trường hợp đầu tư phát triển
Trang 13nhanh nguồn nhân lực Sự đầu tư được hiểu ở cả ba mặt: Chăm sóc sức khoẻ,nâng cao mức sống và phát triển giáo dục, trong đó đầu tư có hiệu quả nhất làđầu tư giáo dục.
Vào những năm 80 quan điểm về phát triển nguồn nhân lực đã trở thànhvấn đề được quan tâm đặc biệt ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Conngười được coi là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển Không thể xem xétkhía cạnh nguồn nhân lực theo quan hệ một phía mà phải nhận thấy vai trò sảnxuất của nguồn nhân lực - vấn đề cốt lõi của học thuyết “vốn con người”, và vaitrò tiêu dùng của nó được thể hiện bằng chất lượng cuộc sống Cơ chế nối liềnhai vai trò là trả công cho người lao động tham gia các hoạt động kinh tế và thunhập đó đầu tư trở lại cho con người để nâng cao mức sống Đặc biệt từ nhữngnăm 90, khi cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật bước sang giai đoạn mới vớibước tiến phi thường của công nghệ thông tin, việc áp dụng kỹ thuật tin học vớinhững sản phẩm phần mềm tự động hoá đã liên tục làm biến đổi quá trình sảnxuất và tăng năng suất lao động Điều này làm nảy sinh mâu thuẫn giữa thực tiễnsản xuất và sự phân công lao động hiện tại, buộc hình thành một cơ chế mới vềlao động trong sự thay đổi thang giá trị con người; đồng thời phải xem xét lạitoàn bộ hệ thống đào tạo nhân công khi mối quan hệ chặt chẽ giữa các khía cạnhcông nghệ, xã hội và kinh tế được hình thành Triết lý kinh doanh chuyển từcông nghệ là trung tâm sang con người là trung tâm với các ưu tiên tri thức,trình độ chuyên môn và động cơ lao động
Xem xét yếu tố con người với tư cách là nguồn lực cơ bản của sự pháttriển kinh tế-xã hội, UNESCO nêu “con người đứng ở trung tâm của sự pháttriển, là tác nhân và là mục đích của sự phát triển” [47,Tr82].Trong bối cảnhgiao lưu, mở cửa đất nước hiện nay, chúng ta có lợi thế của nước đi sau, thấyđược những thuận lợi, khó khăn để rút ra những bài học cho chính mình Côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, về thực chất là qúa trình thực hiện chiến lượcphát triển con người Thực ra, đây không phải là hai vấn đề song song hay táchbiệt nhau mà là hai cách thể hiện của một nội dung thống nhất phát triển đấtnước Đi lên từ xã hội nông nghiệp lạc hậu, điểm xuất phát công nghiệp hoá,
Trang 14hiện đại hoá thấp, kết cấu hạ tầng yếu kém, trình độ khoa học và công nghệ lạchậu, khả năng về vốn còn hạn chế Do vậy, phải biết huy động và sử dụng cóhiệu quả tất cả mọi nguồn lực mà một trong những nguồn lực lớn nhất, quyếtđịnh nhất là nguồn lực con người.
Khi xác định nguồn lực con người là yếu tố quyết định của qúa trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần xem xét nguồn lực đó trên cả hai bìnhdiện: số lượng và chất lượng để có giải pháp xây dựng và khai thác hợp lý Mặc
dù ở nước ta có số lượng nguồn lao động đông, trẻ, nhưng chất lượng nguồnnhân lực còn hạn chế, việc sử dụng NNL còn chưa hợp lý, chưa sử dụng mộtcách có hiệu quả Trước yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang đặt ra hiệnnay là Việt Nam cần tăng trưởng nguồn nhân lực này, tạo ra khả năng lao độngmới cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu nhân lực, sử dụng NNL nhằm đẩymạnh, nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá như mục tiêu Đại hội VIII
đã đề ra, đồng thời theo kịp xu hướng phát triển của khu vực và thế giới Điều
đó không có lựa chọn nào khác là phải chuẩn bị tốt hơn chiến lược con người, có
ý thức khai thác, sử dụng nguồn nhân lực vô tận này
1.2 Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo
1.2.1 Đặc điểm nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo
1.2.1.1.Là một bộ phận nguồn nhân lực có học vấn cao nhất
Nhìn chung, nguồn nhân lực GD là lực lượng lao động có trình độ khá cao
và được đào tạo cơ bản, hệ thống là chủ yếu Đội ngũ nhân lực GD-ĐT này trình
độ đào tạo có một phổ khá rộng:
- Trình độ THCN cho giáo viên mầm non
- Trình độ đào tạo cao đẳng cho giáo viên THCS, tiểu học và mầm non
- Trình độ đào tạo đại học cho giáo viên THPT, THCS và một bộ phậngiáo viên tiểu học, giáo viên mầm non
- Trình độ sau đại học (Thạc sĩ, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học) cho giáo viên caođẳng, đại học, THPT, cán bộ quản lý; các cơ quan nghiên cứu khoa học
Bộ phận nguồn nhân lực trong lĩnh vực GD từ giáo viên, giảng viên,chuyên viên, thanh tra viên cho đến cán bộ quản lý GD từ Bộ, Sở cho đến
Trang 15Phòng… đều có một trình độ học vấn khá cao so với nguồn nhân lực nói chungtrong nền kinh tế Đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo nguồnnhân lực quốc gia có một chất lượng tốt phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế
Cũng chính hoạt động NNL GD - ĐT là một hoạt động đặc thù, nó khôngchỉ đào tạo ra con người có trình độ chuyên môn, kỹ năng mà nó còn pháttriển nhân cách, giáo dục cho con người có một lý tưởng cách mạng, có phẩmchất đạo đức chính trị, làm cho con người sống có ích không chỉ cho chính bảnthân mình mà còn cho cả xã hội Hoạt động của đội ngũ nhân lực GD - ĐT thựcchất là giáo dục và đào tạo NNL đáp ứng những yêu cầu cơ bản của sự nghiệpphát triển nền kinh tế đất nước nói chung và sự nghiệp GD - ĐT nói riêng Để
Trang 16hoạt động này có hiệu quả, thì bản thân NNL GD - ĐT phải đảm bảo về chấtlượng, được trang bị những yêu cầu cơ bản về: kiến thức, trình độ chuyên môn,phẩm chất đạo đức, chính trị, có kỹ năng , nghiệp vụ, có bề dày kinh nghiệm và
cả được trang bị cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho hoạt động của mình mộtcách hiện đại, tiên tiến, đủ về số lượng và có sự phù hợp về cơ cấu loại hìnhnhân lực
Bản thân hoạt động NNL GD - ĐT là một hoạt động mang tính xã hộicao, sản phẩm của nó tạo ra có đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi của xã hộihay không, điều đó còn phụ thuộc vào môi trường xã hội vì sản phẩm của hoạtđộng này tạo ra phải có một quá trình tác động nhất định và phải có một môitrường nhất định mới khẳng định được Chẳng hạn hoạt động nghiên cứu khoahọc hay sinh viên tốt nghiệp ra trường có trình độ kiến thức, kỹ năng hay không,hay nói cách khác có đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi của xã hội hay khôngthì phải được thu hút sử dụng – tức có việc làm, có môi trường làm việc tốt, cóchính sách xã hội thích hợp thì mới đánh giá được sản phẩm của hoạt động
GD cao hay thấp Như vậy môi trường xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến kết quảcuả hoạt động NNL GD - ĐT Môi trường xã hội ở đây bao gồm cả môi trườngpháp luật, các chính sách xã hội: việc làm, thu nhập, trả công lao động ; sự kếthợp giữa gia đình, các tổ chức xã hội, các đoàn thể với nhà trường ngành GD
Kết quả hoạt động cuối cùng của NNL GD-ĐT là sản phẩm- người học cónhân cách, có trình độ, kĩ năng, có khả năng tham gia vào các hoạt động sảnxuất, hoạt động xã hôi Vì thực chất hoạt động của NNLGD-ĐT là đào tạo, pháttriển NNL cả về số lượng, chất lượng và nhằm biến đổi NNL theo từng thời kỳkhác nhau cho phù hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế Để tạo ra mộtNNL có trình độ chuyên môn nhất định và có một kỹ năng vững chắc thì phụthuộc phần lớn vào đội ngũ NNL GD - ĐT, tức là cần có những cán bộ quản lý
GD chuyên sâu, có kinh nghiệm, các thanh tra, chuyên viên vững chắc… và vớimột đội ngũ những người làm công tác giảng dạy có một trình độ chuyên sâu, có
kỹ năng sư phạm, có một lòng nhiệt tình… cùng với các trang thiết bị cơ sở vậtchất trong giáo dục mới tạo ra một kết quả NNL cao, có hiệu quả đáp ứng nhu
Trang 17cầu đòi hỏi của sự phát triển nền kinh tế và quá trình hội nhập nền kinh tế.
Nhưng hoạt động GD - ĐT là một hoạt động đặc thù như đã phân tích ởtrên, nó đòi hỏi cần phải có một môi trường xã hội tốt như: Chính sách xã hội ưutiên phát triển GD - ĐT, cần có sự quan tâm các cấp, ngành có liên quan, môitrường gia đình kết hợp…có như vậy mới tạo ra được NNL vừa có tính năngđộng xã hội, vừa có nhân cách hoàn chỉnh có khả năng tham gia vào đời sống xãhội, thúc đẩy xã hội phát triển
1.2.1.3 Chất lượng nguồn nhân lực giáo dục- đào tạo quyết định đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực nói chung của quốc gia
Chất lượng NNL nói chung liên quan đến nhiều vấn đề như: Đảm bảodinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục - đào tạo và các mối quan hệ khác,trong đó GD - ĐT có vai trò quyết định Nói một cách khác việc đào tạo NNL cóchất lượng cho một quốc gia (vùng lãnh thổ) chỉ có thể thực hiện được bởi độingũ nhân lực trong GD - ĐT Đội ngũ nhân lực này bao gồm từ cán bộ quản lí
GD, nhân viên giáo dục cho đến cán bộ giảng dạy Những lực lượng này làngười trực tiếp kết hợp các yếu tố khác (cơ sở vật chất, trang thiết bị…) để đàotạo ra đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn cao từ công nhân kỹ thuật chođến đại học và sau đại học cho xã hội Mặt khác chất lượng nguồn nhân lực chỉ
có thể nâng cao khi được giáo dục đào tạo tốt Nguồn NLGD-ĐT là một mắtxích quan trong của một chu trình phát trình phát triển NNL Nó tạo nên sựchuyển biến về chất (kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp) của NNL Nângcao chất lượng NNLGD-ĐT cũng là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến chấtlượng đào tạo NNL nói chung của đất nước
Ở nước ta để có một NNL vừa đảm bảo về số lượng, chất lượng đáp ứngnhững yêu cầu đòi hỏi cao của sự phát triển kinh tế - xã hội, của sự hội nhậpkinh tế quốc tế, thì NNL nói chung ở nước ta phải được đào tạo theo một quytrình nhất định (dù đào tạo chính quy hay tại chức hoặc dưới dạng hình thứckhác), thì phụ thuộc vào đội ngũ nhân lực GD - ĐT, NNLGD-ĐT cũng cần phảitrang bị những kiến thức kỹ năng cần thiết để đào tạo nguồn nhân lực cho đấtnước Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2001 - 2010 đã định hướng cho
Trang 18phát triển NNL Việt Nam với mục tiêu “Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạonhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộquản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nângcao sức cạnh tranh của nền kinh tế”
Vì vậy, phát triển NNLGD-ĐT để đảm bảo cả về số lượng nâng cao chấtlượng, phù hợp cơ cấu và có chính sách đào tạo, sử dụng hợp lý là hết sức quantrọng, có vai trò quyết định đến chất lượng NNL nói chung của đất nước
1.2.2 Nội dung phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đào tạo
-1.2.2.1 Số lượng nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo
Số lượng NNL GD - ĐT là muốn đề cập đến lực lượng lao động đang làmviệc trong ngành GD - ĐT, bao gồm: số CBQLGD, giáo viên, nhân viên kỹthuật, nghiệp vụ từ cơ sở đến cấp Bộ trong ngành GD Họ là lực lượng laođộng có vai trò đào tạo nguồn nhân lực nói chung cho đất nước Lực lượng nàynhiều hay ít là phụ thuộc vào quy mô GD - ĐT, cũng như chính sách phát triểnGD- ĐT ở mỗi quốc gia trong mỗi vùng nhất định Lực lượng lao động trongngành GD-ĐT được phân thành:
+ Lực lượng giảng dạy bao gồm: Những người trực tiếp làm công tácgiảng dạy
+ Lực lượng không giảng dạy bao gồm: Các cán bộ quản lý, thanh traviên, nhân viên, cán bộ phụ trách, cán bộ hỗ trợ…
Ở Việt Nam theo qui định của bộ GD - ĐT nhu cầu giáo viên tính theođịnh mức hiện nay là:
+ 6 trẻ em nhà trẻ / giáo viên;
+ 22 trẻ em mẫu giáo / giáo viên;
+ 1,15 giáo viên/ lớp tiểu học ( 30 học sinh);
+ 1,85 giáo viên / lớp THCS (40 học sinh);
+ 2,1 giáo viên/ lớp THPT ( 45 học sinh);
+ 20 học sinh THCN và dạy nghề/ giáo viên;
+ 20 sinh viên CĐ và ĐH / giáo viên
Trang 19Số học sinh, sinh viên/ giáo viên còn tuỳ thuộc vào từng ngành học bậchọc Ở bậc cao đẳng, đại học, ngành năng khiếu: âm nhạc, mỹ thuật hay ở ngànhtin học, ngoại ngữ thì tỉ lệ học sinh, sinh viên/ giáo viên còn nhỏ hơn Tỉ lệ sốcán bộ quản lý/ giáo viên cũng phải phù hợp chẳng hạn ở khối phổ thông như ở
hệ THCS số cán bộ quản lý lãnh đạo tối thiểu là một Hiệu trưởng, hai Hiệu phó,một nhân viên kế toán , văn thư
Việc PTNNL GD - ĐT đòi hỏi phải luôn đảm bảo về số lượng nguồn nhânlực trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của ngành GD - ĐT Vì ở mỗi giaiđoạn phát triển nền kinh tế, sự phát triển của quy mô trường, lớp, học sinh, sinhviên đòi hỏi số lượng NNLGD & ĐT là khác nhau
Ngoài ra, để đáp ứng đủ về số lượng phải tính đến nguồn NNL GD - ĐTcho tương lai vì để có một nguồn nhân lực GD - ĐT đủ về số lượng cho ngành
GD ở mỗi quốc gia phải mất một thời gian nhất định Chẳng hạn ở Việt Nam đểđào tạo một giáo viên tiểu học có bằng trung học sư phạm phải mất thời gian ítnhất là 2,5 năm, giáo viên THPT có bằng Đại học sư phạm thời gian là 4 nămhay đố với cán bộ quản lí giáo dục cũng đòi hỏi phải được đào tạo trong mộtthời gian nhất định mới đảm đương và làm tốt chức năng công việc ở vị trí lãnhđạo Việc phát triển NNL GD - ĐT này phải gắn với các cơ sở đào tạo đội ngũnhân lực trong ngành GD
1.2.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực giáo dục - đào tạo
Chất lượng NNL GD-ĐT thể hiện ở trình độ chuyên môn được đào tạo,
kỹ năng nghiệp vụ, quản lý GD, phẩm chất đạo đức, chính trị Nên có thể đochất lượng NNL GD-ĐT qua một hệ thống các chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêuchủ yếu sau:
+ Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn được đào tạo và được phản ánhqua bằng cấp, tuổi đời thâm niên công tác trong ngành Trình độ chuyên mônnày được đo bằng :
Tỉ lệ cán bộ trung cấp;
Tỉ lệ cán bộ CĐ, ĐH;
Tỉ lệ cán bộ trên ĐH ở các cấp học, các cơ sở đào tạo trong cả nước
Trang 20Trong mỗi chuyên môn có thể phân thành những chuyên môn nhỏ hơnnhư ĐH bao gồm: kỹ thuật, kinh tế, ngoại ngữ, quản lý Thậm chí trong từngchuyên môn lai chia thành những chuyên môn hẹp hơn.
Chất lượng NNL này còn phản ánh qua công tác đào tạo bồi dưỡngthường xuyên NNLGD-ĐT như: Đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, sư phạm,tin học, ngoại ngữ ; Tỉ lệ đạt chuẩn về trình độ, tỉ lệ đạt trình độ lý luận chínhtrị Hay được hiểu thông qua khái niệm chuẩn hóa Chuẩn hóa được hiểu là mộtquá trình biến đổi hoạt động hay công việc, dịch vụ hay sản phẩm,… theohướng đạt tới những tiêu chuẩn đã đề ra đối với hoạt động, dịch vụ hay sảnphẩm đó Chuẩn hóa cũng chính là đưa những công việc, sản phẩm, dịch vụ,….vào phạm vi kiểm soát của người quản lí dựa theo tiêu chuẩn Còn tiêu chuẩnngười ta thường hiểu đó là quy tắc, quy định, yêu cầu tối thiểu cần đạt tới hoặctiêu chuẩn dùng làm thước đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phâm, dịch vụ,
… trong một lĩnh vực nhất định Nếu hoạt động, công việc, sản phẩm, dịch vụ,
… đạt được những chỉ tiêu, tiêu chí của tiêu chuẩn thì điều đó có nghĩa là chúng
ta đạt được mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lí để đáp ứng yêu cầu "tốithiểu" của người sử dụng
Chuẩn hóa đối với NNLGD-ĐT được hiểu bao gồm chuẩn hóa về trình độchuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, quản lí; chuẩn hóa chức vụ…
Ở Việt Nam theo Luật GD năm 1998 và Luật GD sửa đổi năm 2005 quyđịnh trình độ đạt chuẩn được đào tạo ở các cấp bậc học như sau:
- Đối với giáo viên mầm non, giáo viên tiểu học trình độ đạt chuẩn cóbằng Trung học Sư phạm
- Đối với giáo viên trung học cơ sở có bằng cao đẳng Sư phạm hoặc cóbằng tốt nghiệp Cao đẳng và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ Sư phạm
- Đối với giáo viên THPT có bằng đại học sư phạm hoặc có bằng Đại học
và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ Sư phạm
- Đối với giáo viên THCN có bằng Đại học sư phạm hoặc bằng Đại họckhác và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo viên dạy nghề phải cóbằng CĐ sư phạm hoặc bằng CĐ khác
Trang 21- Đối với giảng viên CĐ và ĐH phải có bằng ĐH trở lên, có chứng chỉnghiệp vụ sư phạm và đối với giảng viên sau Đại học trình độ đạt chuẩn Tiến sĩtrở lên.
Tỉ lệ đạt chuẩn của cán bộ quản lý, ngoài bằng cấp ra còn phải có lý luậnchính trị từ sơ cấp đến cao cấp, chứng chỉ tin học, ngoại ngữ tuỳ theo cán bộ ởcấp cơ sở hay cấp bộ hoặc cơ quan ngang bộ
Tỉ lệ đạt chuẩn đối với nhân viên ở cấp bộ, sở ngoài bằng cấp quy địnhcủa bộ GD-ĐT ra còn phải có các chứng chỉ khác: tin học, ngoại ngữ
Tiêu chí trình độ chuẩn của chất lượng nguồn nhân lực GD-ĐT cũng có
sự khác nhau ở các nước và cũng thay đổi theo thời kỳ Như ở Trung Quốc quyđịnh chuẩn đối với giáo viên hiện nay là:
- Giáo viên tiểu học phải có trình độ cao đẳng trở lên;
- Giáo viên trung học phải có trình độ từ đại học đến thạc sỹ trở lên;
- Giáo viên đại học phải có học vị tiến sỹ trở lên;
+ Chỉ tiêu phản ánh năng lực phẩm chất đạo đức, chính trị, sức khỏe, lốisống của NNL GD-ĐT; năng lực tư duy sáng tạo, tính năng động, khả năngthích ứng với công việc hay còn được biểu hiện ở các chỉ số phản ánh cơ chế tổchức vận hành, quản lý quá trình dạy và học hoặc tổ chức quản lý ở cấp độ vĩ
mô (đối với cán bộ quản lý GD)
Ngoài ra, chất lượng NNL GD - ĐT còn phản ánh qua công tác nghiêncứu khoa học, gắn nghiên cứu khoa học với giảng dạy, đánh giá qua việc độingũ cán bộ QLGD, cán bộ giảng dạy được đi khảo sát thực tế, tham gia hội thảo
về các chuyên đề hoặc các chuyên ngành đào tạo và qua việc đào tạo bồidưỡng thường xuyên và định kỳ về nghiệp vụ sư phạm, nghiệp vụ quản lý…
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực giáo dục đào tạo
-Phát triển NNL GD-ĐT bị ảnh hưởng bởi rất nhiều nhân tố như: chínhsách phát triển GD-ĐT ( trong đó có chính sách PTNNL GD - ĐT), chính sách
sử dụng, bố trí sắp xếp NNL, chính sách đầu tư và hàng loạt các chính sáchkhác Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến một số chính sách cơ bản có ảnh hưởng đến
Trang 22PTNNL GD -ĐT ở Việt Nam.
1.2.3.1 Chính sách phát triển giáo dục - đào tạo của Quốc gia
Chính sách phát triển GD-ĐT mà trong đó trọng tâm là chính sáchPTNNLGD-ĐT thể hiện ở, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, đượcghi nhận trong các nghị quyết của đại hội Đảng và các Nghị quyết của các hộinghị BCHTW Đảng (Hội Nghị trung ương 4 khoá VII; Nghị quyết trung ương 2khoá VIII )
Xuất phát trên quan điểm, đường lối, chính sách và mục tiêu của Đảng vànhà nước để xây dựng chiến lược phát triển GD-ĐT mà trong đó nòng cốt làchiến lược PTNNLGD-ĐT cho từng giai đoạn như: giai đoạn 2001-2010 vànhững giai đoạn tiếp theo Thông qua chiến lược này tạo cơ sở định hướng choviệc phát triển NNL GD-ĐT nhằm đạt những mục tiêu đã đề ra Đặc biệt từnhững mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội, NNLGD-ĐT có vai trò quan trọngnhằm đào tạo NNL đáp ứng những yêu cầu cơ bản của sự nghiệp CNH, HĐHđất nước Nguồn nhân lực GD-ĐT muốn thực hiện những mục tiêu GD-ĐT đề racần phải xây dựng chiến lược phát triển NNLGD-ĐT thích ứng cho từng thời
kỳ, đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH , cũng nhưđáp ứng kịp với sự mở rộng của các cơ sở GD-ĐT, sự mở rộng của quy mô họcsinh, sinh viên ở các cấp bậc học trong cả nước Do vậy việc PTNNL GD-ĐT ởmỗi thời kỳ đều bị tác động bởi chính sách phát triển GD-ĐT của mỗi quốc gianhư : Chính sách mở rộng các cơ sở đào tạo NNL cho ngành GD - ĐT, sự mởrộng về quy mô sinh viên các trường sư phạm, các khoa sư phạm, các trườngđào tạo cán bộ quản lý GD, chính sách của nhà nước về tăng cường biên chế chongành GD-ĐT sẽ là nhân tố tác động đến việc tăng số lượng NNL GD-ĐTcho thời kỳ đó hoặc nếu Nhà nước chủ trương chính sách cắt giảm biên chế,nâng cao mức chuẩn hoá nghề nghiệp hoặc những quy định khác sẽ tác động đếnviệc thu hẹp chỉ tiêu đào tạo ở các trường sư phạm, các khoa sư phạm, cáctrường đào tạo cán bộ quản lý thì cũng bị ảnh hưởng đến phát triển NNL GD-ĐT
1.2.3.2 Đầu tư cho giáo dục - đào tạo
Trang 23Đầu tư cho GD-ĐT mà trong đó chủ yếu là việc đầu tư cho đội ngũ nhânlực GD-ĐT đóng vai trò then chốt quyết định đến chất lựơng NNL GD-ĐT vàquyết định đến việc đào tạo NNL nói chung cho đất nước Đầu tư cho NNL GD-ĐT bao gồm:
- Ngân sách nhà nước, dành cho việc chi trả lương, chi cho phụ cấp ưuđãi;
- Chi cho đào tạo bồi dưỡng thường xuyên nhằm nâng cao trình độchuyên môn, nghiệp vụ, quản lý GD; chi cho việc đầu tư ở các trường Sư phạm,trường CBQLGD, ở các viện nghiên cứu GD;
- Chi cho việc nghiên cứu khoa học, khoả sát tham quan thực tế trongnước và ngoài nước là động lực thu hút phát triển NNLGD-ĐT và lực lượnglao động khác tham gia vào ngành GD-ĐT
Đầu tư cho việc phát triển NNLGD-ĐT cần nhiều lực lượng tham gia: nhànước, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nứơc, hay là các tổ chức quốc tế chínhphủ và phi chính phủ Nhưng trong đó nhà nước đóng vai trò chủ yếu quyếtđịnh Việc tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho đội ngũ NL GD-ĐT sẽ lànhân tố tác động rất lớn đến việc làm tăng về số lượng và nâng cao chất lượngNNLGD-ĐT Đặc biệt việc tăng cho trả lương, phụ cấp ưu đãi, và tăng cho việcđào tạo, bồi dưỡng cũng sẽ có tác dụng kích thích lực lượng lao động trongngành GD-ĐT nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và cả tình yêu nghề.Ngoài ra, để tăng cường cho đầu tư cho NNLGD-ĐT sẽ khắc phục hạn chế, khảnăng của ngân sách nhà nước nên cần phải thúc đẩy tăng cường nhiều nguồn đầu
tư khác nhau: nguồn đầu tư của các cá nhân, tổ chức trong nước và ngoàinước…nhằm nâng cao hiệu quả GD-ĐT và PTNNLGD-ĐT
Kinh nghiệm ở một số nước phát triển cho thấy đầu tư cho GD-ĐT mànòng cốt là đội ngũ NLGD-ĐT là một trong những giải pháp khôn ngoan nhấttrong việc đào tạo NNL có chất lượng cao và là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng vàphát triển nền kinh tế Số liệu từ Vụ Tài chính hành chính sự nghiệp (Bộ Tàichính) cho biết, cùng với chi đầu tư từ nguồn thu xổ số kiến thiết 7 nghìn tỷđồng cho giáo dục đào tạo trong quốc phòng an ninh, thì tổng nguồn NSNN
Trang 24dành cho lĩnh vực giáo dục đào tạo năm 2015 là 224.826 tỷ đồng, chiếm khoảng20% tổng chi NSNN Tỷ lệ chi này đảm bảo theo Nghị quyết của Quốc hội.
Do vậy để nguồn nhân lực GD-ĐT đủ về số lượng, đảm bảo về cơ cấunhân lực ở các cấp bậc học giữa các vùng, miền của đất nước đều bị ảnh hưởngcủa chính sách đầu tư, cho nên nếu sử dụng chính sách đầu tư thích hợp có hiệuquả sẽ là nhân tố làm tăng cả về số lượng và chất lượng NNLGD-ĐT ở nước ta
1.2.3.3 Cơ chế, chính sách sử dụng, bố trí sắp xếp nguồn nhân lực giáo dục- đào tạo
Phát triển NNLGD-ĐT cần phải có một cơ chế chính sách thích hợp baogồm: chính sách sử dụng, bố trí, sắp xếp NNLGD-ĐT một cách hợp lý, tạođộng lực cho đội ngũ nhân lực GD-ĐT phát huy được tính năng động sáng tạo,nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, quản lý, yêu nghề, thu hút được lựclượng lao động khác tham gia vào ngành GD-ĐT đáp ứng được những yêu cầuđòi hỏi của sự nghiệp phát triển GD-ĐT của đất nước
Cơ chế chính sách sử dụng, bố trí sắp xếp NNLGD-ĐT là nhân tố ảnhhưởng rất lớn đến chất lượng NNLGD-ĐT ở mỗi một quốc gia trong mỗi thời kỳnhất định Xây dựng cơ chế chính sách trên cơ sở đặc điểm của mỗi vùng mỗiđịa phương phù hợp với tình hình NNLGD-ĐT hiện có sẽ là động lực thúc đẩyNNLGD-ĐT phát triển, khắc phục được những bất cập về NNLGD-ĐT hiện có(đặc biệt là ở vùng sâu, xa, vùng kinh tế khó khăn) Chẳng hạn việc bố trí luânchuyển sắp xếp NNLGD-ĐT không căn cứ vào năng lực, trình độ chuyên môn
và những phẩm chất khác của mỗi người; không căn cứ vào nhu cầu đòi hỏi củamỗi địa phương, khu vực về NNLGD-ĐT sẽ gây ảnh hưởng đến chất lượng củaNNLGD-ĐT, tạo tâm lý xã hội không tốt cho mọi người, đặc biệt tâm lý củanhững người đang theo học ở các trường sư phạm, các trường quản lý GD
Để phát huy hiệu quả nguồn nhân lực GD-ĐT nhà nước, ngành GD-ĐTcần ban hành những chính sách cần thiết nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triểnnguồn nhân lực như: Chính sách tiền lương phù hợp, chính sách phụ cấp ưu đãi,chính sách sử dụng nhân tài; chính sách trợ cấp cho đội ngũ nhân lực ở nhữngvùng, nơi khó khăn để nhằm nâng cao chất lượng NNLGD-ĐT, đáp ứng
Trang 25những yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới và phát triển nên kinh tế-xã hội.
Ở Việt Nam hiện nay Đảng và nhà nước đã ban hành hàng loạt nhữngchính sách nhằm khuyến khích về tinh thần, đãi ngộ về vật chất đối với ngườithầy: “Phong các danh hiệu nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú; tặng huy chương
vì sự nghiệp giáo dục; sinh viên sư phạm được miễn học phí, được cấp họcbổng; các trường sư phạm được ưu tiên đầu tư”
Bộ GD-ĐT đã ban hành tiêu chuẩn giáo viên, cán bộ quản lý GD ở ngànhhọc, tổ chức bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên và cán bộ quản lý GD ở cáccấp theo chu kỳ ngắn hạn, dài hạn nhằm tạo điều kiện cho đội ngũ NNLGD-ĐT
có đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội
Cơ chế, chính sách sử dụng NNLGD-ĐT phải linh hoạt, hợp lý, đủ mạnhphù hợp với sự vận hành của nền kinh tế thị trường, tạo được động lực khuyếnkhích người lao động nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghề nghiệp Việc bố trí sắp xếp NNLGD-ĐT phải căn cứ vào năng lực, trình độ, phẩm chấtkhác phù hợp với đặc điểm từng vùng, địa phương ở trong mỗi thời kỳ phát triểnkinh tế xã hội nhất định Do vậy những vấn đề cần tập trung giải quyết cho NNLGD-ĐT là phải có cơ chế chính sách thích hợp để đảm bảo đủ về số lượng, nângcao chất lượng và phù hợp về cơ cấu nhân lực sẽ là nhân tố tác động đếnPTNNLGD-ĐT
1.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo
Về NNLGD- ĐT, Nhật Bản luôn đề cao vai trò của đội ngũ nhân lực giáodục Đối với đội ngũ giáo viên chính phủ quy định, để trở thành một giáo viêndạy ở bất kỳ bậc học nào do cơ quan chính phủ hay phi chính phủ thành lậpcũng cần có bằng chứng nhận giáo viên Bằng chứng nhận giáo viên được cấpdựa trên tiêu chuẩn do các cơ quan có thẩm quyền nhà nước quy định Theonguyên tắc các sinh viên muốn trở thành giáo viên ở một bậc học cụ thể phảiđược đào tạo ở một trường CĐ hoặc ĐH Sau khi nhận được các chứng chỉ cầnthiết, sinh viên đệ đơn xin bằng giáo viên do Ban giáo dục ở tỉnh, nơi trường
CĐ, ĐH đặt trụ sở Khi nhận được một đơn hợp lệ, Ban GD sẽ cấp một bằng
Trang 26giảng dạy Việc cấp các bằng giáo viên của Ban GD là một trong những nhiệm
vụ được bộ GD giao và một bằng giáo viên được cấp như vậy sẽ có hiệu lực trêntoàn nước Nhật Bản
Về hệ thống QLGD, cơ quan Trung ương về QLGD là Bộ GD và ngườithừa hành cao nhất là Bộ trưởng Bộ GD Bộ trưởng nhận thông tin từ các lãnhđạo tỉnh/thành phố và các Ban GD tỉnh/thành phố gồm các thành viên do cáclãnh đạo tỉnh/thành phố tương ứng chỉ định
Nhật Bản thực hiện nhất quán chính sách ưu đãi và chăm lo đến cuộcsống và trình độ của giáo viên Giáo viên có một vị trí xã hội rất quan trọngtrong đời sống xã hội Nhật bản, đội ngũ nhân lực này được quan tâm ưu đãinhiều về lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng, miễn các khoản phải đóng góp nghĩa
vụ xã hội (miễn đi lính ) Nhật Bản tăng cường và đa dạng hoá các nguồn đầu
tư cho GD, bao gồm cả đầu tư từ ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương,các tổ chức cá nhân, các tổ chức quốc tế và cả đầu tư từ người học (cha mẹ họcsinh) Chính sách đầu tư phát triển NNL của Nhật Bản là lấy phát triển GD-ĐTlàm trung tâm (mà trong đó trọng tâm là NNLGD-ĐT) Cho nên chính phủ NhậtBản luôn xác định việc đầu tư cho GD-ĐT là nhiệm vụ hàng đầu để phát triểnnền kinh tế
Trang 27Chương II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về giáo dục - đào tạo ở Việt Nam
2.1.1 Hệ thống giáo dục - đào tạo
Hệ thống giáo dục ở Việt Nam cũng tương tự như hệ thống giáo dục củahầu hết các nước Châu Á Chính phủ quản lý các trường ĐH, CĐ, trung họcchuyên nghiệp; tỉnh, thành phố quản lý giáo dục trung học ; quận, huyện quản lýgiáo dục tiểu học Hệ thống giáo dục Việt Nam đang được mở rộng, bao gồm giáodục mầm non, có nhà trẻ và mẫu giáo; giáo dục phổ thông có tiểu học, THCS,THPT Sau giáo dục phổ thông là giáo dục dạy nghề có dạy nghề ngắn hạn thờigian từ 3 tháng đến 12 tháng và dạy nghề dài hạn từ 1-3 năm ; trung học chuyênnghiệp theo chương trình 3-4 năm đối với người tốt nghiệp THPT (điều 32 luậtgiáo dục sửa đổi 2005); giáo dục ĐH, CĐ từ 3 đến 6 năm Cuối cùng là giáo dụcsau đại học đào tạo hai trình độ là trình độ thạc sĩ và tiến sĩ kéo dài từ 3 đến 5 năm(xem sơ đồ)Phương thức GD gồm có GD chính quy và không chính quy
Hệ thống giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, THCS, THPT hay gọichung là giáo dục phổ thông được phân bố ở khắp các vùng, miền của đất nước.Mỗi làng xã đều có ít nhất một trường tiểu học hoặc trung học cơ sở, mỗi huyện
có ít nhất từ một trường THPT trở lên Số trường phổ thông (tiểu học, THCS,THPT) trong cả nước tăng liên tục trong các năm Các trường dạy nghề,THCN, Cao đẳng và Đại học cũng ngày một phát triển
Tổng số trường học từ mầm non đến đại học là 43.874 trường, trong đócó: 14.203 trường mầm non (tăng 336 trường), 15.277 trường tiểu học (giảm 60trường), 10.878 trường trung học cơ sở, phổ thông cơ sở (giảm 4 trường), 2.767trường trung học phổ thông (tăng 9 trường); 313 trường trung cấp chuyênnghiệp (tăng 18 trường), 217 trường cao đẳng (tăng 3 trường), 219 trường đạihọc (tăng 5 trường)
Cả nước hiện nay có 726 trung tâm giáo dục thường xuyên (71 cấp tỉnh,
655 cấp huyện), 10.992 trung tâm học tập cộng đồng (đạt tỷ lệ 98,75% số xãphường có TTHTCĐ) và 1.752 trung tâm ngoại ngữ, tin học; 308 trường phổthông dân tộc nội trú với 88.247 học sinh (tăng 4 trường và 1539 học sinh) và
Trang 28876 trường phổ thông dân tộc bán trú với 140.849 học sinh (tăng 79 trường,12.204 học sinh) Đến năm học 2014-2015, cả nước có 16.276 trường đạt chuẩnquốc gia (Giaoduc.net.vn – 5/9/2015)
Sơ đồ :Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân
(Đại học) 18 tuổi
Giáo dục đại học Sau đại học
Đại học, cao đẳng
Trong hệ thống giáo dục trung học chuyên nghiệp và dạy nghề được trải
Trung học cơ
sở (4 năm )
Đào tạo nghề ngắnhạn (dưới 1 năm)
Tiểu học (5 năm)
Trường lớp mẫu giáo (3 năm)
Nhà trẻ (1 năm)
Trang 29rộng trên khắp các vùng, địa phương trong cả nước, với nhiều loại hình phongphú Số lượng các trường THCN và dạy nghề cũng liên tục tăng Mạng lưới cáctrường dạy nghề phân bố theo lãnh thổ tập trung chủ yếu tại vùng đồng bằngSông Hồng, Đông Nam Bộ Đông Nam Bộ, vùng Tây Nguyên, Tây Bắc còn ít.
Hệ thống GD ĐH ở Việt Nam trước đây áp dụng mô hình của Liên Xô cũ,
từ sau khi đổi mới nền kinh tế đến nay, hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam đãtừng bước mở rộng về quy mô đào tạo Tính đến tháng 7/2014, cả nước đã cótới 472 trường đại học, cao đẳng Hàng năm mỗi cơ sở đào tạo từ hàng trămđến hàng nghìn sinh viên ở các chuyên ngành khác nhau
Hầu hết các trường ĐH, CĐ tập trung ở các thành phố lớn (thành phố HồChí Minh, thành phố Hà Nội, Hải Phòng hoặc các khu dân cư lớn của cả nước,các vùng ) Việc phân bố không đồng đều giữa các cơ sở đào tạo ở Việt Namnên dẫn đến có vùng (tỉnh) đào tạo NNL vượt quá nhu cầu về lao động trong nềnkinh tế, có nơi lại thiếu hụt về NNL được đào tạo trong khi sinh viên tốt nghiệplại mong muốn làm việc tại các thành phố, do đó tạo nên sự mất cân đối NNLđược đào tạo giữa các vùng, miền của đất nước
2.1.2 Cơ cấu giáo dục - đào tạo.
Cơ cấu trình độ đào tạo nguồn nhân lực của nước ta trong những năm quacòn rất nhiều vấn đề đáng được quan tâm
Thứ nhất là, cơ cấu mạng lưới nhà trường vẫn chưa hoàn thiện, vượt quy
hoạch nhưng chỗ thiếu chỗ thừa Năm 2007, Thủ tướng Chính phủ ra Quyếtđịnh quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng đến năm 2020 nước ta
sẽ có 573 trường Đến tháng 6/2013, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định điềuchỉnh quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng Theo đó, đến năm
2020 nước ta sẽ có 460 trường đại học, cao đẳng, giảm 100 trường so với quyhoạch năm 2007 Thế nhưng, tính đến tháng 7/2014, cả nước đã có tới 472trường đại học, cao đẳng Từ năm 2007 - 2013, đã có 133 trường đại học, caođẳng được thành lập Trong đó, có tới 108 trường được nâng cấp từ trung cấplên cao đẳng hoặc từ cao đẳng lên đại học
Việc nâng cấp trường ồ ạt đã gây ra nhiều hệ lụy Một số trường đại học,
Trang 30cao đẳng không kịp trang bị cơ sở vật chất, tuyển không đủ giảng viên Theothống kê của Bộ GD&ĐT, cả nước mới có 286 giảng viên có chức danh Giáo
sư, 2.009 Phó Giáo sư, 8.519 Tiến sĩ và 28.037 Thạc sĩ Chính điều này đã khiếnsinh viên ra trường không tìm được việc làm Cả nước hiện có tới 162.000 cửnhân thất nghiệp
Thứ hai là: Vẫn còn tình trạng mất cân đối, không đồng bộ trong cơ cấuđội ngũ ở các địa bàn khác nhau (thừa giáo viên ở các trung tâm, thành phố, thị
xã, thị trấn nhưng lại thiếu giáo viên ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khókhăn), theo môn học (thừa giáo viên dạy văn hoá, thiếu giáo viên dạy các mônđặc thù, tự chọn) và theo ngành nghề đào tạo
Tính đến năm học 2007-2008, cả nước có khoảng 1.069.100 nhà giáo(bao gồm: 171.900 giáo viên mầm non; 344.900 giáo viên tiểu học; 312.400giáo viên trung học cơ sở; 136.600 giáo viên trung học phổ thông; 15.100 giáoviên các trung tâm giáo dục thường xuyên; 14.500 giáo viên trung cấp chuyênnghiệp; 20.200 giáo viên các trường dạy nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề,trung tâm dạy nghề và 53.500 giảng viên đại học, cao đẳng) Tình trạng thiếugiáo viên diễn ra ở nhiều nơi, nhiều cấp học, cụ thể:
- Đối với giáo dục mầm non: tỷ lệ bình quân trong nhóm nhà trẻ là 10 trẻem/giáo viên (quy định là 8 trẻ em/giáo viên), trong nhóm mẫu giáo là 20,6 trẻem/giáo viên (quy định là 20 trẻ em/giáo viên);
- Đối với giáo dục tiểu học: tỷ lệ bình quân đạt 1,29 giáo viên/lớp, tuyvượt định mức 1,20 giáo viên/lớp dạy học 1 buổi/ngày, song so với yêu cầu dạyhọc 2 buổi/ngày (định mức là 1,50 giáo viên/lớp) thì mới chỉ đáp ứng được 86%nhu cầu về số lượng giáo viên
- Đối với giáo dục trung học phổ thông: tỷ lệ giáo viên/lớp đạt 2,01, songcòn quá thấp (định mức là 2,25);
- Đối với giáo dục đại học: khối cao đẳng có tỷ lệ bình quân 23,86 sinhviên/giảng viên; khối đại học có tỷ lệ bình quân 27,75 sinh viên/giảng viên, đềucao hơn mức 20 sinh viên/giảng viên
Thứ ba là : Chất lượng đội ngũ nhà giáo:
Trang 31- Hầu hết nhà giáo có trình độ đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn, cụ thể:giáo viên mầm non đạt 90%; giáo viên tiểu học đạt 97,8%; giáo viên trung học
cơ sở đạt 98,6%; giáo viên trung học phổ thông đạt 97,5%; giáo viên trung cấpchuyên nghiệp đạt 94,66%; giáo viên dạy nghề đạt 58,88%; giáo viên cao đẳngnghề đạt 82,83%; giáo viên trung cấp nghề đạt 73,16% và giảng viên đại học,cao đẳng đạt 92,93% Số chưa đạt chuẩn giảm dần hàng năm
Mặc dù số lượng nhà giáo đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo làrất cao, nhưng năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhiều nhà giáocòn hạn chế, chưa thực sự đổi mới phương pháp giảng dạy, vẫn còn có nhữnggiáo viên xếp loại yếu về chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là nhà giáo công tác ởmiền núi, ít có điều kiện nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức
- Về nghiệp vụ sư phạm: phần lớn nhà giáo đều đã qua đào tạo, bồi dưỡngnghiệp vụ sư phạm Trình độ tin học và ngoại ngữ của đội ngũ nhà giáo đã được nânglên (đặc biệt ở các cấp học cao và đối với giảng viên) Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phậnkhông nhỏ chưa đạt yêu cầu về năng lực sư phạm, trình độ tin học và ngoại ngữ Đây
là nguyên nhân dẫn tới tình trạng nhà giáo gặp khó khăn trong việc tiếp cận vớiphương pháp giảng dạy tiên tiến, hạn chế khả năng nghiên cứu khoa học và hợp tácquốc tế
Tất cả những khó khăn trên dẫn đến hậu quả là các trường đào tạo nghềgiảm sút nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng đào tạo, gây ra nhiều sự bấtcập như đã trình bày ở trên Cũng từ những vấn đề trên cần phải điều chỉnh lại
cơ cấu các ngành học, bậc học cho phù hợp với yêu cầu của từng ngành, trongcác lĩnh vực kinh tế, từng vùng, đáp ứng các nhu cầu và là động lực thúc đẩykinh tế phát triển ổn định, bền vững
2.1.3 Quy mô giáo dục.
Quy mô giáo dục tăng nhanh ở các vùng, các ngành học và các cấp học.Quy mô phát triển giáo dục trước hết thể hiện ở số lượng người học Cùng với
số lượng người học, quy mô giáo dục còn được đánh giá qua mạng lưới trườnghọc theo địa bàn dân cư, số luợng nhà giáo, trang thiết bị dạy học Nhưng sốlượng người học không phải chỉ là số lượng tuyệt đối Bởi vì đối với một số đối
Trang 32tượng đặc biệt như người khuyết tật, cần có một số điều kiện đặc biệt để thựchiện việc giáo dục như lớp học có sĩ số bé, tỉ lệ giáo viên/ học viên cao vì vậyđánh giá quy mô giáo dục qua tỉ lệ phần trăm người được tiếp nhận giáo dục còn
có ý nghĩa lớn hơn Như vậy, phát triển quy mô giáo dục không chỉ là tăng sốlượng người học, mà còn phải tính đến cơ cấu người học theo địa bàn dân cư,hoàn cảnh xã hội, làm cho tỉ lệ người học trong cộng đồng dân cư cũng nhưtrong từng nhóm ngày càng cao, làm cho giáo dục đến với mọi nhà
Theo Bộ GD-ĐT thì cơ bản số học sinh đi học có xu hướng tăng, có thểnhìn vào bàng sau:
Bảng so sánh số lượng học sinh đi học qua 2 năm học 2013 – 2014 với 2014 –
-SO SÁNH NĂM 2013- 2014
VÀ 2014 - 20151
số học sinh trong các trường ngoài công lập tăng nhanh ở cấp THCS năm 2013– 2014 so với 2014 - 2015 tăng 2,95 lần, số học sinh THPT cũng tăng được2,05 lần
Tỉ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi:Theo kết quả điều tra đánh giá các mụctiêu phụ nữ và trẻ em Việt Nam năm 2014, số trẻ em trong độ tuổi đi học mầmnon tham gia chương trình giáo dục mầm non đạt tỷ lệ 71,3% Ở cấp tiểu học,
số trẻ em nhập học lớp 1 theo học đến lớp 5 đặt 98,6%; tỷ lệ đi học đúng tuổi
Trang 33của cấp tiểu học là 96,2% Ở cấp THCS, tỷ lệ các em theo học đạt 90,4% và cấpTHPT đạt 70,7%.
Đào tajosau đại học từ năm 2000 đến nay (năm 2009), các cơ sở đào tạotrung bình mỗi năm đào tạo 650 tiến sĩ trong nước So với chỉ tiêu đào tạo ởnước ngoài, năm 2009, số lượng nghiên cứu sinh trong nước cao hơn 3,57 lần,học viên cao học gấp 15,3 lần” Trong giai đoạn 2000 - 2005, số học viên caohọc tăng 51,9%/năm, số nghiên cứu sinh tăng 61,1%/năm Năm 2005 có 34.789người được đào tạo sau đại học (tăng 3,1% so với năm trước) So sánh với giaiđoạn 1996 - 2000 có số lượng thạc sĩ được đào tạo tăng 10,5%/năm và tiến sĩtăng 6,2%/năm thì trong những năm gần đây, quy mô đào tạo sau đại học tăngquá nhanh Năm học 2011 - 2012, quy mô đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ cả nước là trên96.000 người Trong năm 2014, ngành giáo dục vẫn tăng quy mô đào tạo sau đạihọc (chỉ tiêu đào tạo tiến sĩ tăng khoảng 7%; thạc sĩ tăng khoảng 5%) Đến đầunăm 2014, cả nước có hơn 130 cơ sở đào tạo trình độ tiến sĩ và hơn 150 cơ sởđào tạo trình độ thạc sĩ Không chỉ các trường đại học, các viện nghiên cứu khoahọc công lập được giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học, mà cả các trường đại họcngoài công lập nếu đủ điều kiện bảo đảm chất lượng cũng được giao nhiệm vụđào tạo sau đại học Mỗi năm, ngành giáo dục cung cấp cho xã hội 20.000 -25.000 thạc sĩ và hàng nghìn tiến sĩ Con số đó đã nói lên vai trò quan trọng củađào tạo sau đại học trong nước đối với việc cung ứng nguồn nhân lực trình độcao cho đất nước (Tạp trí cộng sản tháng 2- 2017 )
Bảng so sánh quy mô học sinh qua 3 năm từ 2012 đến 2015
Trang 34Quan bảng thống kê có thể thấy số học sinh đi học ngày càng tăng, vớihọc sinh tiểu học năm 2012- 2013 so với năm 2013 – 2014 tăng lên 39.121 họcsinh, tương đương 3,09 % TỶ LỆ NĂM 2013-2014 với 2014-2015 tăng lên14.812
Học sinh tương đương 1,14 % Các bậc đào tạo THCS và THPT cúng
có chiều hướng tăng đáng kể
Sự phát triển quy mô giáo dục trong những năm qua là một thành tựu gópphần tích cực thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡngnhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước theo hướngCNH, HĐH
2.1.4 Ngân sách cho giáo dục và đào tạo.
Trong những năm gần đây, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có mứcchi tiêu cho giáo dục vào loại cao trên thế giới
Nhìn từ phía Nhà nước, trong tổng chi phí, phần chi ngân sách nhà nướccho giáo dục tăng từ 4,2% năm 2000 (chiếm 16,9% tổng chi ngân sách nhànước) lên 5,6% GDP năm 2006 (chiếm 18,6% tổng chi ngân sách nhà nước),năm 2007 giữ nguyên ở mức 5,6% và giai đoạn 2009-2014 giữ ở mức 5,5%GDP hàng năm, chiếm 20% tổng chi ngân sách nhà nước
Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo (MOET), tỷ lệ chi ngân sáchcho giáo dục hàng năm của Việt Nam ở mức xấp xỉ 20%, hay tương đương 5%GDP
Đây là mức rất cao so với nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước cótrình độ phát triển kinh tế cao hơn Việt Nam rất nhiều Ngay ở Hoa Kỳ, tỷ lệ chingân sách cho giáo dục cũng chỉ 13% mà thôi, hay so với các nước trong khuvực, tỷ lệ chi ngân sách của Việt Nam cũng cao hơn so với mức khoảng 18%của Singapore hay 16% của Thái Lan Nếu so với quy mô nền kinh tế, tỷ lệ chitiêu công trên GDP của Việt Nam đạt mức 6,3%,2 cao hơn nhiều so với mứcbình quân của thế giới là 4,9%, thậm chí còn cao hơn Hoa Kỳ (5,4%), Nhật Bản(3,8%), Đức (5,1%), và các nước OECD (5,6%) Trong khu vực, tỷ lệ chi tiêucông cho giáo dục của Việt Nam cao hơn hẳn nhiều nước, thậm chí so với các
Trang 35nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn, chẳng hạn như Singapore (3,2% năm2010), Malaysia (5,1%), Thái Lan (3,8%), Hàn Quốc (5,2% năm 2011), HồngKông (3,5%).
Tuy nhiên nếu xét về số tỷ lệ thì đúng là chi ngân sách cho giáo dục ởViệt Nam luôn chiếm tỷ phần lớn nhất, tuy nhiên nếu nhìn vào con số tuyệt đốithì xem ra mức chi cho giáo dục hàng năm vẫn còn quá khiêm tốn, dù có tỷ lệchi cho giáo dục rất cao, song mức chi cho giáo dục của Việt Nam năm 2010cũng chỉ khoảng 7,3 tỉ USD, tương đương với Singapore và Hồng Kông và chỉcao hơn Lào, Cam-puchia và Philippines nhưng thấp hơn nhiều so với các nước
có trình độ phát triển tương đương như Thái Lan, Ma-lai-xia, In-đô-nê-xia vàhiển nhiên là không đáng kể so với các nước phát triển Mức chi cho giáo dục ởcác nước phát triển như Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản thậm chí còn tương đươnghoặc lớn hơn GDP bình quân một năm của Việt Nam, chưa kể Hoa Kỳ theo đónếu tính bình quân đầu người, mỗi người dân Việt Nam được ngân sách chitrung bình 84 USD một năm cho giáo dục Đây là mức rất thấp so với nhiềunước trên thế giới cũng như trong khu vực, chỉ tương đương với In-đô-nê-xia,cao hơn Cam-pu-chia, Lào, Ấn Độ, Philippines nhưng thấp hơn so với Thái Lan,Ma-lai-xia, và tất nhiên không thể so với nhiều nước phát triển khác
Mặt khác cơ chế quản lý ngân sách còn chưa tạo thế chủ động cho ngànhgiáo dục Một số địa phương còn cắt xén ngân sách giáo dục cho các khoản chikhác nên dẫn đến ảnh hưởng chất lượng giáo dục
Các trường đại học bị cắt giảm kinh phí và xuất phát từ nhu cầu của tìnhhình mới, do đó phải tự tìm các hình thức giáo dục mới Hầu hết các trường đạihọc và cao đẳng đứng vững trong hoàn cảnh khó khăn về tài chính đó là nhờ mởrộng các hình thức đào tạo khác như: Tại chức, từ xa hoặc liên kết đào tạo vớicác tỉnh, trường khác Hơn nữa, một hướng khắc phục sự khó khăn về nguồn tàichính là nhờ nhà nước cho phép cấp học mở các trường dân lập, bán công bậcphổ thông và đại học Mô hình mới đó đến nay dã đạt được nhiều kết quả tốt vừacho xã hội vừa có lợi cho các trường khi thực hiện
Trang 362.1.5 Chất lượng giáo dục
Chất lượng giáo dục là vấn đề quan tâm của các cơ quan có trách nhiệm
cũng như của cả xã hội, từng được bàn bạc và tranh luận sôi nổi trên các phương
tiện thông tin đại chúng và ở các kỳ họp của Quốc hội, được nhắc đi nhắc lại
trong các thắc mắc, chất vấn của đông đảo cử tri
Ở nước ta trong những năm gần đây nhà nước luôn quan tâm đến đầu tư
cho giáo dục Nhờ đó, cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học đã được nâng lên
đáng kể Tuy nhiên phương tiện học tập còn nghèo nàn, trường lớp còn thiếu,
đời sống vật chất khó khăn đã làm cho chất lượng giáo dục của ta nói chung ở
các bậc học đều giảm sút trong nhiều năm
Tỉ lệ đậu tốt nghiệp tăng dần
Từ năm 2013 trở về trước,kỳ thi tốt nghiệp THPT tổ chức 6 môn thi,
trong đó có 3 môn bắt buộc (cố định) là toán, văn, ngoại ngữ và 3 môn thay đổi
theo từng năm (chọn từ các môn vật lý, hóa học, sinh học, địa lý và lịch sử)
Năm 2014, thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT với 4 môn, trong đó có 2 môn bắt
buộc (văn, toán) và 2 môn tự chọn trong 6 môn còn lại (hóa học, vật lý, địa lý,
lịch sử, sinh học, ngoại ngữ) Mặc dù có khá nhiều thay đổi nhưng tỉ lệ tốt
nghiệp những năm gần đây luôn ở mức xấp xỉ 100%
Về mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục, theo báo cáo, tỷ lệ biết chữ
trong độ tuổi 15-50 toàn quốc là 97,3% (cao hơn 1,3% so với mục tiêu Đề án),
trong độ tuổi 15-35 là 98,5% (cao hơn 0,5% so với mục tiêu Đề án) Số người
mới biết chữ tiếp tục học và không mù chữ trở lại là 83,9%
Trung bình mỗi năm cả nước huy động được khoảng 35.000 người theo
học các lớp xóa mù chữ, khoảng 22.000 người học theo học chương trình giáo
Trang 37dục tiếp tục sau khi biết chữ, 13 triệu lượt người tham gia các lớp chuyên đề bồidưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng trong các trung tâm học tập cộng đồng đểduy trì, củng cố kết quả xóa mù chữ.
Năm học 2014 - 2015 cả nước có 27.512 người học xóa mù chữ và 12.867người học chương trình giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, hơn 18 triệu lượtngười học tại các Trung tâm học tập cộng đồng
Đối với các tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ tỷ lệtương ứng với 94,6% và 97,0% Tính đến tháng 12.2015, 63/63 tỉnh, thành phốđạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS
Kết quả học tập nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ cũng đạt được nhữngthành tích đáng kể Số cán bộ, công chức, viên chức tham gia học tập nâng caotrình độ ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu, vị trí việc làm đạt81,2%, cao hơn mục tiêu đề ra 1,2%
Cụ thể hơn, cán bộ, công chức, viên chức có trình độ ngoại ngữ bậc 2 đạt31,2%, bậc 3 đạt 9,9%; số công nhân lao động có kiến thức cơ bản về tin học vàngoại ngữ đáp ứng yêu cầu công việc và giao lưu văn hóa đạt 43,7%
Theo đánh giá của Bộ giáo dục và đào tạo, đội ngũ giáo viên ở mọi cấphọc đều thiếu và yếu Bài toán nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên rất nangiải vì khoản thu nhập tính bằng tiền lương cơ bản rất ít ỏi ( mặc dù hệ số lươnghiện nay đã được điều chỉnh tăng lên), chỉ số giá tiêu dùng lên cao, không đủđảm bảo cho cuộc sống, do đó trong khi vừa dạy học, họ vừa phải làm thêmnhiều nghề khác để có thêm thu nhập ( thể hiện rõ nhất là số giáo viên cấp họcphổ thông hiện nay) Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu của quy mô giáo dục pháttriển, ngành giáo dục buộc phải sử dụng đội ngũ giáo viên không đủ tiêu chuẩn(đặc biệt vùng sâu, vùng xa) Yếu tố này cũng làm cho chất lượng giáo dục giảmsút
Ở bậc đại học sau hơn 20 năm đổi mới, số lượng đội ngũ GVĐH nước ta
đã tăng gấp 3 lần, từ 20.212 người trong cả nước vào năm 1987 lên 61.190người vào năm 2009 Mặc dù vậy, so với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống cơ
sở GDĐH (gấp 4,1 lần) cũng như sự gia tăng nhanh chóng quy mô đào tạo (gấp
Trang 3813 lần) trong những năm qua thì số lượng đội ngũ GVĐH của nước ta hiện chưađáp ứng được yêu cầu Tỉ lệ sinh viên/giảng viên (SV/GV) của cả nước còn ởmức quá cao so với quy định: trung bình là 28 SV/GV vào năm học 2008-2009;
tỉ lệ này tại một số cơ sở GDĐH còn lên tới trên 40 SV/GV, cao hơn nhiều sovới quy định hiện hành
Về cơ cấu, tỉ lệ giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên chiếm chưa tới 50%
tổng số GVĐH, trong đó trình độ tiến sĩ chiếm 10,16% (giảm so với thời điểmnăm 1997) và chỉ có 3,74% giảng viên có chức danh Phó Giáo sư, Giáo sư Con
số này còn quá thấp so với mục tiêu của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra là đếnnăm 2020 phải đạt ít nhất 35% giảng viên có trình độ tiến sĩ Đội ngũ GVĐH cótrình độ cao, đặc biệt là các Phó Giáo sư, Giáo sư có độ tuổi trung bình khá cao,phân bố tập trung chủ yếu ở một số trường đại học lớn tại các khu vực trung tâm(Cồng thông tin điện tử )
Đối với giáo dục đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, Bộ GD
-ĐT, Bộ lao động thương binh và xã hội đã tiến hành xây dựng chương trìnhchung của các nhóm ngành, trên cơ sở đó chỉ đạo và tạo điều kiện để các trườngđại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề chủ động xây dựngchương trình cụ thể và biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo Tuy vậy cácchương trình giáo dục đã xây dựng còn chưa bảo đảm tính liên thông giữa cáccấp học, bậc học; tình trạng chung là còn thiếu giáo trình ở bậc đại học, nhất làcác giáo trình có chất lượng, cập nhật với trình độ khoa học, công nghệ và quản
lý hiện đại; nhiều giáo trình còn xa mới đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế Mộtthực tế cần tập trung giải quyết tích cực là phương pháp giáo dục còn lạc hậu,học sinh, sinh viên còn học chay, chép bài giảng do thầy đọc, nặng nề nhồi nhétkiến thức, chưa coi trọng việc bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên năng lực độclập tư duy và năng lực thực hành
Vấn đề giáo dục toàn diện đã được thể hiện trong nội dung chương trình,phương pháp giáo dục Giáo dục phổ thông đã từng bước khắc phục tình trạngthiếu về “ dạy chữ ”, lơi lỏng “ dạy người ” Ở giáo dục đại học và giáo dụcnghề nghiệp, đã chú ý dạy đủ và cố gắng cải tiến nâng dần chất lượng các môn
Trang 39học chính trị , lý luận Mác - Lênin cho học sinh, sinh viên Ngành giáo dục cùngcác tổ chức Đảng, đoàn thể trong nhà trường đã chú trọng giáo dục chính trị, tưtưởng cho cán bộ, giáo viên và học sinh, sinh viên Tỉ lệ sinh viên được kết nạpvào Đảng ngày càng cao, Các hoạt động tình nguyện "Tương thân tương ái", "lálành đùm lá rách " được sinh viên tích cực tham gia và đạt hiệu quả giáo dục, có
ý nghĩa xã hội sâu sắc Tổ chức nhiều hoạt động nhằm bồi dưỡng tích cực chínhtrị xã hội cho thầy và trò, nhờ đó mà chất lượng giáo dục có sự chuyển biếnđáng kể
2.2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực giáo dục-đào tạo trong thời gian qua ở nước ta.
Hiện tại ngành GD - ĐT có khoảng hơn 1 triệu giáo viên, nhân viên kỹthuật, nghiệp vụ và cán bộ quản lý giáo dục các cấp Họ làm việc ở hàng trăm cơ
sở đào tạo và hàng vạn lớp học trên khắp mọi miền đất nước Số lượng NLGD
ĐT liên tục tăng lên trong nhiều năm trở lại đây
Đối với đội ngũ đội ngũ giáo viên hiện nay :
Theo Bộ GD&ĐT, Tổng số giáo viên, giảng viên cả nước là 1,24 triệu(tăng so với năm học trước 14.383 giáo viên), trong đó gồm: 277.684 giáo viênmầm non, 856.730 giáo viên phổ thông, 10.911 giáo viên trung cấp chuyênnghiệp, 91.183 giảng viên đại học, cao đẳng và khoảng 300 nghìn cán bộ quản
lý giáo dục các cấp
Giáo viên mầm non
Bộ GDĐT cho biết, tỉ lệ thiếu phòng học cho trẻ mầm non và thiếu hụtđội ngũ giáo viên mầm non của năm học 2011 – 2012 vẫn khá lớn
Theo đó, trong năm học 2011-2012, cả nước có 12.976 trường mầm non,tăng 265 trường so với năm học trước Trong đó, trường công lập: 9.742 trường,chiếm tỷ lệ 75,1%; trường ngoài công lập: 3.234 trường, chiếm tỷ lệ 24,9%
Tổng số phòng học cho Giáo dục Mầm non là 138.843, trong đó có65.629 phòng học kiên cố (chiếm tỷ lệ 48%) Trong năm học 2010 -2011, cảnước đã xây dựng mới 10.746 phòng học, 3.684 công trình nước sạch và 10.202
bệ, hố vệ sinh
Trang 40Mặt khác, sự chênh lệch quá lớn về học phí, chất lượng giáo viên, cơ sởvật chất giữa các trường mầm non công lập và trường mầm non tư thục lànguyên nhân dẫn đến chạy trường, chạy lớp để trẻ được vào trường mầm noncông lập, xảy ra tình trạng quá tải cho các trường mầm non này.
Về giáo viên mầm non, chủ yếu là giáo viên làm việc theo chế độ hợpđồng lao động (ngoài biên chế) trong các trường mầm non công lập, bán công và
tư thục Theo báo cáo của các tỉnh/thành phố, cả nước hiện có 196.639 giáo viênmầm non, trong đó trong biên chế 84.606 giáo viên, ngoài biên chế 112.033 giáoviên Trên cả nước còn thiếu 22.811 giáo viên
Số giáo viên ngoài biên chế hiện nay đã được các địa phương hỗ trợ từngân sách nhà nước để có mức thu nhập bằng mức lương tối thiểu, được thamgia đóng Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Thực tế mức thu nhập của giáo viênngoài biên chế hiện nay rất khác nhau đối với từng tỉnh Trong năm 2010, bìnhquân thu nhập của giáo viên ngoài biên chế thấp nhất là 1.192.000đ/ tháng, caonhất là 2.566.000đ/tháng Tuy nhiên, có một số huyện thuộc một số tỉnh có mứcthu nhập của giáo viên mầm non rất thấp như Bình Định, Phú Yên: 540.000đ,
Hà Nam 800.000đ, Thanh Hóa từ 500.000đ - 800.000đ/tháng.Đây cũng là mộtvấn đề mà ngành GD nên cân đối lại cho hợp lý nhằm khuyến khích, đông viêntinh thần cho giáo viên
Bảng Số lượng giáo viên mầm non, phổ thông.
Số giáo viên mầm non tăng lên trong những năm qua đã giải quyết đựơc
sự thiếu hụt về đội ngũ giáo viên mầm non trong cả nước Tính đến năm
2003-2004 số giáo viên mầm non đã tăng lên và nếu so với định mức 8 trẻ từ 0-2 tuổi/
1 cô giáo và 30 trẻ từ 3-5 tuổi/ 1-1,5 cô giáo, thì hiện tại vẫn còn thiếu khoảng
20 nghìn giáo viên mầm non Đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa đang thiếu hụt mộtcách trầm trọng