Trong điều kiện toàn cầu hoá và khu vực hoá của đời sống kinh tế thế giới hướng tới thế kỷ XXI, không một quốc gia nào phát triển nền kinh tế của mình mà không tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế và khu vực , điều đó không loại trừ đối với Việt Nam đặc biệt là trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước hiện nay, Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII rồi IX tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới và mở cửa nền kinh tế,thực hiện chiến lược CNH_HĐH hướng mạnh vào xuất khẩu. Để tăng xuất khẩu thời gian tới, Việt Nam chủ trương kết hợp xuất khẩu những mặt hàng mà đất nước có lợi thế tương đối (những mặt hàng xuất khẩu truyền thống: hàng nông lâm thuỷ sản, khoáng sản, nhiên liêụ và hàng dệt may) và một số hàng có hàm lượng kỹ thuật công nghệ cao bao gồm cả ô tô, xe máy , hàng điện tử và dịch vụ phần mềm ... Hàng thuỷ sản là mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu năm1997 đạt 670 triệu USD, đến năm 1998 đã tăng lên 776 triệu đô la, đặc biệt năm 2001 đã có bước nhảy vọt, vượt qua ngưỡng 1 tỷ USD, đạt mức 1,479 tỷ USD, chiếm hơn 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 3 sau dầu thô, dệt may. Trong thời gian tới, tuy có sự thay đổi các mặt hàng xuất khẩu chính yếu của Việt Nam, nhưng thuỷ sản vẫn là một trong những mặt hàng xuất khẩu lớn của đất nước. Hơn nữa ngành thuỷ sản còn giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam và góp phần quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu ngư dân và đảm bảo an ninh xã hội cho đất nước cũng như góp phần thở mãn nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng của thị trường nội địa.Do đó, ngành thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế quan trọng, nhưng “rất nhạy cảm " nên vai trò của quản lý nhà nước là không thể thiếu được. Nhận biết được tầm quan trọng của xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong thời gian tới, em đã chọn nghiên cứu đề tài "Tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong thời gian gần đây - Thưc trạng và giải pháp." .Trong bài viết này em sẽ đề cập đến một vài vấn đề chủ yếu có tính hệ thống giúp chúng ta có tầm nhìn chiến lược về tiềm năng và triển vọng của ngành thuỷ sản Việt Nam trong tương lai cũng như định hướng, giải pháp phát triển ngành thuỷ sản xuất khẩu.
Trang 1Mở đầu
Trong điều kiện toàn cầu hoá và khu vực hoá của đời sống kinh tế thếgiới hớng tới thế kỷ XXI, không một quốc gia nào phát triển nền kinh tế củamình mà không tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế và khu vực , điều đókhông loại trừ đối với Việt Nam đặc biệt là trong sự nghiệp công nghiệp hoá
và hiện đại hoá đất nớc hiện nay, Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản ViệtNam lần thứ VIII rồi IX tiếp tục khẳng định đờng lối đổi mới và mở cửa nềnkinh tế,thực hiện chiến lợc CNH_HĐH hớng mạnh vào xuất khẩu
Để tăng xuất khẩu thời gian tới, Việt Nam chủ trơng kết hợp xuất khẩunhững mặt hàng mà đất nớc có lợi thế tơng đối (những mặt hàng xuất khẩutruyền thống: hàng nông lâm thuỷ sản, khoáng sản, nhiên liêụ và hàng dệtmay) và một số hàng có hàm lợng kỹ thuật công nghệ cao bao gồm cả ô tô, xemáy , hàng điện tử và dịch vụ phần mềm
Hàng thuỷ sản là mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Việt Nam, kimngạch xuất khẩu năm1997 đạt 670 triệu USD, đến năm 1998 đã tăng lên 776triệu đô la, đặc biệt năm 2001 đã có bớc nhảy vọt, vợt qua ngỡng 1 tỷ USD,
đạt mức 1,479 tỷ USD, chiếm hơn 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam và là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 3 sau dầu thô, dệt may.Trong thời gian tới, tuy có sự thay đổi các mặt hàng xuất khẩu chính yếu củaViệt Nam, nhng thuỷ sản vẫn là một trong những mặt hàng xuất khẩu lớn của
đất nớc
Hơn nữa ngành thuỷ sản còn giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu tổngsản phẩm quốc nội của Việt Nam và góp phần quan trọng trong việc giảiquyết công ăn việc làm cho hàng triệu ng dân và đảm bảo an ninh xã hội cho
đất nớc cũng nh góp phần thở mãn nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng của thịtrờng nội địa.Do đó, ngành thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế quantrọng, nhng “‘rất nhạy cảm " nên vai trò của quản lý nhà nớc là không thểthiếu đợc
Nhận biết đợc tầm quan trọng của xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
trong thời gian tới, em đã chọn nghiên cứu đề tài "Tình hình xuất khẩu thuỷ
sản của Việt Nam trong thời gian gần đây - Thc trạng và giải pháp " Trong
bài viết này em sẽ đề cập đến một vài vấn đề chủ yếu có tính hệ thống giúpchúng ta có tầm nhìn chiến lợc về tiềm năng và triển vọng của ngành thuỷ sảnViệt Nam trong tơng lai cũng nh định hớng, giải pháp phát triển ngành thuỷsản xuất khẩu
Trang 2Tuy nhiên, trình độ viết còn có nhiều hạn chế cho nên không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong muốn nhận đợc sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô và bạn bè để em có những tiến bộ hơn sau này.
Trang 3Chơng một:
Vị trí, vai trò của xuất khẩu thuỷ sản trong
sự phát triển kinh tế Việt Nam
Việt Nam có tiềm năng tài nguyên biển phong phú: Dầu khí, thuỷ sản,dịch vụ hàng hải, du lịch, tài nguyên khoáng sản ven biển… đặc biệt thuỷ sản đặc biệt thuỷ sản
đã và đang và sẽ có vai trò ngày càng quan trọng trong sự nghiệp phát triểnkinh tế – xã hội,công nghiệp hoá , hiện đại hoá
Khi đất nớc bắt đầu thời kỳ đổi mới, các doanh nghiệp thuỷ sản khôngcòn đợc bao cấp trong khi thị trờng truyền thống là các nớc khối xã hội chủnghĩa bị mất, những yếu kém của các doanh nghiệp trong ngành càng bộc lộ
rõ Công nghệ lạc hậu, sản phẩm chủ yếu là dạng sơ chế, xuất khẩu hầu nh lệthuộc hoàn toàn vào thị trờng Nhật… đặc biệt thuỷ sản
Kinh tế thế giới ngày nay đã đạt đến sự phát triển cao dới sự tác độngmạnh của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và chịu ảnh hởngkhông nhỏ bởi xuất khẩu Trên con đờng đổi mới kinh tế, Việt Nam đã nhanhchóng nắm bắt đợc xu thế phát triển khách quan này, từ đó nhận thức đợcnhững tiềm năng quý giá của đất nớc là yếu tố quan trọng góp phần phát triểnkinh tế và sớm đa Việt Nam hoà nhập với các nớc trong khu vực và trên thếgiới Để đạt đợc mục đích này, Đảng và Nhà nớc cùng các cơ quan hữu quan
đã đề ra những chính sách, biện pháp để thúc đẩy ngành thuỷ sản phát triển,tiếp tục giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
I./ Tổng quan về ngành thuỷ sản Việt Nam.
1 Nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam.
Việt Nam có 3260 km bờ biển từ Móng Cái đến Hà Tiên, trải qua 13 vĩ
độ, từ 8o23' bắc đến 21o39' bắc Diện tích vùng nội thuỷ và lãnh hải của ViệtNam rộng 226.000 km2 và Vùng biển đặc quyền kinh tế trên 1 triệu km2, rộnggấp 3 lần diện tích đất liền
Trong vùng biển Việt Nam có trên 4000 hòn đảo, trong đó có nhiều
đảo lớn nh Cô Tô, Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Hòn Mê, Phú Quí, Côn Đảo, PhúQuốc, v.v có c dân sinh sống, là nơi có tiềm năng để phát triển du lịch đồngthời đã, đang và sẽ đợc xây dựng thành một tuyến căn cứ cung cấp các dịch
Trang 4vụ hậu cần, trung chuyển sản phẩm cho đội tàu khai thác hải sản, đồng thờilàm nơi trú đậu cho tàu thuyền trong mùa bão gió
Trong vùng biển có nhiều vịnh, vụng, đầm, phá, cửa sông, chằng hạnvịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, vịnh Cam Ranh, phá Tam Giang, v.v vàtrên 400 nghìn hécta rừng ngập mặn, là những khu vực đầy tiềm năng chophát triển giao thông, du lịch, đồng thời cũng rất thuận lợi cho phát triển nuôi,trồng thuỷ sản và tạo nơi trú đậu cho tàu thuyền đánh cá
Về mặt kỹ thuật trong lĩnh vực khai thác hải sản, ngời ta thờng chiavùng biển nớc ta thành 4 vùng nhỏ, nhiều khi cũng ghép thành 3 vùng, đó làvùng biển Bắc Bộ, vùng biển miền Trung và vùng Đông - Tây Nam Bộ Vùngbiển Bắc Bộ và Đông - Tây Nam Bộ có độ sâu không lớn, độ dốc nền đáynhỏ, trên 50% diện tích vùng biển có độ sâu nhỏ hơn 50m Vùng biển miềnTrung có nét khác biệt lớn với các vùng trên, mang đặc tính biển sâu Nền đáyrất dốc
Biển Việt Nam có trên 2.000 loài cá, trong đó khoảng 130 loài cá cógiá trị kinh tế Theo những đánh giá mới nhất, trữ lợng cá biển trong toànvùng biển là 4,2 triệu tấn, trong đó sản lợng cho phép khai thác là 1,7 triệutấn/năm, bao gồm 850 nghìn cá đáy, 700 nghìn tấn cá nổi nhỏ, 120 nghìn tấncá nổi đại dơng
Bên cạnh cá biển còn nhiều nguồn lợi tự nhiên nh trên 1.600 loài giápxác, sản lợng cho phép khai thác 50 - 60 nghìn tấn/năm, có giá trị cao là tômbiển, tôm hùm và tôm mũ ni, cua, ghẹ; khoảng 2.500 loài động vật thân mềm,trong đó có ý nghĩa kinh tế cao nhất là mực và bạch tuộc (cho phép khai thác
60 - 70 nghìn tấn/năm); hằng năm có thể khai thác từ 45 á 50 nghìn tấn rongbiển có giá trị kinh tế nh rong câu, rong mơ v.v Bên cạnh đó, còn rất nhiềuloài đặc sản quí nh bào ng, đồi mồi, chim biển và có thể khai thác vây cá,bóng cá, ngọc trai, v.v
Bị chi phối bởi đặc thù của vùng biển nhiệt đới, nguồn lợi thuỷ sản nớc
ta có thành phần loài đa dạng, kích thớc cá thể nhỏ, tốc độ tái tạo nguồn lợicao Chế độ gió mùa tạo nên sự thay đổi căn bản điều kiện hải dơng học, làmcho sự phân bố của cá cũng thay đổi rõ ràng, sống phân tán với quy mô đànnhỏ Tỷ lệ đàn cá nhỏ có kích thớc dới 5 x 20m chiếm tới 82% số đàn cá, các
đàn vừa (10 x 20m) chiếm 15%, các đàn lớn (20 x 50m trở lên) chỉ chiếm0,7% và các đàn rất lớn (20 x 500m) chỉ chiếm 0,1% tổng số đàn cá Số đàncá mang đặc điểm sinh thái vùng gần bờ chiếm 68%, các đàn mang tính đạidơng chỉ chiếm 32%
Trang 5Phân bố trữ lợng và khả năng khai thác cá đáy tập trung chủ yếu ở vùngbiển có độ sâu dới 50m (56,2%), tiếp đó là vùng sâu từ 51 - 100m (23,4%).Theo số liệu thống kê, khả năng cho phép khai thác cá biển Việt Nam baogồm cả cá nổi và cá đáy ở khu vực gần bờ có thể duy trì ở mức 600.000 tấn.Nếu kể cả các hải sản khác, sản lợng cho phép khai thác ổn định ở mức700.000 tấn/năm, thấp hơn so với sản lợng đã khai thác ở khu vực này hằngnăm trong một số năm qua Trong khi đó, nguồn lợi vùng xa bờ còn lớn, chakhai thác hết.
Theo vùng và theo độ sâu, nguồn lợi cá cũng khác nhau Vùng biển
Đông Nam Bộ cho khả năng khai thác hải sản xa bờ lớn nhất, chiếm 49,7%khả năng khai thác cả nớc, tiếp đó là Vịnh Bắc Bộ (16,0%), biển miền Trung(14,3%), Tây Nam Bộ (11,9%), các gò nổi (0,15%), cá nổi đại dơng (7,1%),
2 Vài nét về ngành thuỷ sản Việt Nam.
Việc khai thác các nguồn lợi thuỷ sản để phục vụ những nhu cầu đadạng của con ngời nh làm thực phẩm, đồ trang sức, thuốc chữa bệnh, đã có
từ lâu đời cùng với sự hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam Tuyvậy, trải qua hàng nghìn năm, nghề cá Việt Nam, trớc hết là nghề đánh bắt cávẫn mang nặng nét đặc trng của một nền sản xuất tự cấp, tự túc và chỉ đóngvai trò một nghề phụ cho dân c Mãi cho đến nửa đầu của thế kỷ này, nghề cávẫn hết sức thô sơ, lạc hậu và cha đợc xem nh một ngành kinh tế
Đến ngày 5 tháng 10 năm 1961, Chính phủ nớc Việt Nam Dân chủCộng hoà ban hành Nghị định 150 CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổchức bộ máy của Tổng cục Thuỷ sản Đây là thời điểm ra đời của ngành Thuỷsản Việt Nam nh một chính thể ngành kinh tế - kỹ thuật của đất nớc, pháttriển một cách toàn diện về khai thác, nuôi trồng, hậu cần dịch vụ, chế biến,nghiên cứu khoa học và mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển Cũng trongthời kỳ đó, nghề cá phía Nam đợc quản lý bởi Nha Ng nghiệp thuộc chínhquyền Sài Gòn
Từ khi thành lập cơ quan quản lý Nhà nớc đầu tiên của ngành và cũngchính là thời điểm ra đời của một ngành kinh tế - kỹ thuật mới của đất nớc,
đến năm 2001, ngành Thuỷ sản đã đi qua chặng đờng 40 năm xây dựng và ởng thành Đó là một chặng đờng dài với nhiều thăng trầm, biến động Song
tr-đứng về góc độ tổng quan, có thể cha chia thành 2 thời kỳ chính
Thời kỳ thứ nhất, từ năm 1980 vể trớc, ngành Thuỷ sản Việt Nam
về cơ bản vẫn là một ngành kinh tế tự cấp, tự túc, thiên về khai thácnhững tiềm năng sẵn có của thiên nhiên theo kiểu "hái, lợm" : Cơ chế
Trang 6quản lý kế hoạch hoá tập trung kéo dài, tiêu thụ theo cách giao nộpsản phẩm đã khiến chúng ta quen đánh giá thành tích theo tấn, theotạ, bất kể giá trị, triệt tiêu tính hàng hoá của sản phẩm Điều đó dẫn tới
sự suy kiệt của các động lực thúc đẩy sản xuất, đa ngành tới bờ vựcsuy thoái vào cuối những năm 70
Sản lợngnuôi thủysản (tấn)
Giá trịxuất khẩu(1.000USD)
Tổng sốtàuthuyền(chiếc)
Diện tích mặtnớc nuôitrồng thuỷsản (ha)
Số lao
động(1.000ngời)
Nguồn : Báo cáo tổng kết hằng năm của Bộ Thủy sản
Thời kỳ thứ hai, từ năm 1980 đến nay, đợc mở đầu bằng chủ trơng đẩymạnh xuất khẩu và thử nghiệm cơ chế "Tự cân đối, tự trang trải" mà thực chất
là chú trọng nâng cao giá trị của sản phẩm làm ra nhằm tạo nguồn đầu t để táisản xuất mở rộng đã tạo nguồn động lực mới cho sự phát triển Ngành Thuỷsản có thể coi là một ngành tiên phong trong quá trình đổi mới, chuyển h ớngsang nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta Trongquá trình đó, từ những nghề sản xuất nhỏ bé, ngành đã có vị thế xứng đáng và
đến năm 1994 đã đợc Đảng và Nhà nớc chính thức xác định là một trongnhững ngành kinh tế mũi nhọn của đất nớc Tổng sản lợng thuỷ sản đã vợtqua ngỡng 1 triệu tấn vào năm 1991 Đặc biệt, nớc ta đã đứng vào hàng ngũnhững nớc có sản lợng khai thác hải sản trên 1 triệu tấn kể từ năm 1998 Kimngạch xuất khẩu thuỷ sản đã vợt qua mức 500 triệu đôla năm 1996 và đangtiến tới rất gần mốc 1 tỷ đôla So với năm 1980, đến năm 2000 tổng sản lợngtăng gấp 3 lần, còn giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng tới 87 lần
Trang 7II./ Vị trí, vai trò của ngành thuỷ sản nói chung
và xuất khẩu thuỷ sản nói riêng trong nền kinh tế Việt Nam.
1 Ngành thuỷ sản xuất khẩu với vấn đề tăng tr ởng kinh tế.
Từ lâu thuỷ sản đã đợc coi là một ngành hàng thiết yếu và đựơc a chuộnghàng tiêu dùng ở rất nhiều nớc trên thế giới Nớc ta có vị trí địa lý và điềukiện tự nhiên u đãi giúp thuận lợi cho việc khai thác, nuôi trồng thuỷ sản Với
3260 km bờ biển và vùng biển đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu cây sốvuông Mặc dù cha có đủ điều kiện cần thiết để điều tra và đánh giá đầy đủcác nguồn lợi, đặc biệt là ngoài khơi, nhng theo số liệu thống kê hàng nămcho thấy Việt Nam khai thác đợc khoảng 1,2-1,4 triệu tấn thuỷ sản Trong đóngoài cá còn có khoảng 50-60 nghìn tấn tôm biển, 30-40 nghìn tấn mực vànhiều đặc sản có giá trị kinh tế cao
Xuất phát từ tiềm năng thiên nhiên to lớn, vai trò quan trọng cuả ngànhthuỷ sản trong sự phát triển kinh tế xã hội và nhất là 15 năm qua với mật độphát triển kinh tế nhanh chóng về sản lợng và gía trị xuất khẩu , ngành kinh tếthuỷ sản ngày càng đợc xác định rõ là ngành kinh tế mũi nhọn và là một trongnhững hớng u tiên của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc hiệnnay
Các kết quả trong quá khứ đã cho thấy nghề đánh bắt và nuôi trồng thuỷsản có vai trò quan trọng nh thế nào trong việc hỗ trợ công ăn việc làm ở vùngnông thôn Nó cũng đã chứng minh tiềm năng của ngành thuỷ sản đóng gópcho thu nhập ngoại tệ và thơng mại quốc tế Theo báo cáo của Bộ Thủy sản,trong khoảng 10 năm qua, lao động thuỷ sản cũng đã tăng lên gần 10 lần: từ380.000 ngời vào năm 1980 lên 3.350.000 ngời vào năm 1999 Năm 2000, vớitổng sản lợng 1.827.310 tấn thuỷ sản, kim ngạch xuất khẩu đạt 971,1 triệu
đôla.1
Những năm qua là giai đoạn tăng trởng liên tục của ngành thuỷ sản trênmọi mặt Ngoài các hoạt động đầu t, đổi mới quản lý nhằm tạo ra sản phẩmbắt kịp với yêu cầu của các thị trờng nhập khẩu , Bộ Thủy sản đã cùng cácdoanh nghiệp đổi mới các hoạt động xúc tiến thơng mại, tiếp thị Ngành thuỷsản chủ động tổ chức đoàn doanh nghiệp đi tìm kiếm khách hàng, tham giacác hội chợ quốc tế lớn về thuỷ sản để giới thiệu sản phẩm, tiếp xúc giao lutìm đối tác mới Bằng cách đó, ngành thuỷ sản Việt Nam vẫn duy trì đợc tốc
độ tăng trởng ngay cả trong những thời kỳ khó khăn nhất, nh thời kỳ khủnghoảng kinh tế khu vực 1999 cũng đạt mức tăng 10%
1 Theo tài liệu trên trang eb của Bộ Thuỷ sản.
Trang 8GDP và các thành phần trong năm 2001.
Các lĩnh vực kinh tế Tỷ lệ trong
GDP
Mức đóng góp tính bằng nghìn tỷ VND.
Nguồn : Bộ Thơng mại, Tổng cục thống kê.
Ngành thuỷ sản thực sự là một ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp 7%GDP, dự tính đến năm 2010 sẽ thu hút khoảng 4,4 triệu lao động trong cả n-
ớc Ngoài ra, ngành thuỷ sản cũng góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng trênvùng biển của Tổ quốc
Nếu trong GDP, ngành thuỷ sản đóng góp tơng đối yếu thì ngành đã
có sự bù đắp lại bởi sự đóng góp mạnh mẽ vào nền xuất khẩu Năm 2001, kimngạch xuất khẩu thuỷ sản là 1,479 tỷ USD, chiếm 10,24% tổng kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam năm 2001, chỉ sau xuất khẩu dầu thô 3,501 tỷ USD
và dệt may 1,892 tỷ USD1 Các xí nghiệp thuộc ngành thuỷ sản nằm trong sốcác xí nghiệp đầu tiền đợc hởng lợi ích đầy đủ khi chính phủ cho phép tự dohoá các xí nghiệp Nhà nớc Điều này đã dẫn đến việc hình thành một trongnhững ngành xuất khẩu năng động nhất Việt Nam
Xuất khẩu thuỷ sản chủ yếu là tôm Trong năm 1999, kim ngạch xuấtkhẩu đã tăng dần trong những năm gần đây, đặc biệt ngày 1/10/2001, ngànhthuỷ sản vợt ngỡng xuất khẩu 1 tỷ đôla Ngành cũng vợt kế hoạch 1.940.000tấn tổng sản lợng thuỷ sản trớc thời gian 2 tháng Điều này càng khẳng định
vị trí của ngành nh một mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân
2 Ngành thuỷ sản xuất khẩu với vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Nhìn lại chặng đờng phát triển của ngành thuỷ sản trong thời gianqua, ngoài sự tăng trởng đánh dấu bằng những con số nêu trên, có thể thấy đ-
ợc những biến đổi về chất thực sự góp phần vào sự lớn mạnh tiếp tục củangành
Nghề thuỷ sản từ tự cung tự cấp đã trở thành một nghề nuôi hàng hoá,
từ chỗ nuôi trồng chỉ phục vụ cho nhu cầu cá tơi nội địa, đến nay ngoài tôm,các thuỷ đặc sản xuất khẩu cũng đã đợc xác định là đối tợng chủ yếu để pháttriển nuôi trồng Phát triển nuôi trồng thủy sản sẽ góp phần làm chuyển đổi cơcấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện mức sống cho
1 Báo cáo chính phủ.
Trang 9nông, ng dân Góp phần xây dựng trật tự xã hội, an ninh nông thôn, vùngbiển, biên giới, vùng sâu, vùng xa Cả nớc hiện có hơn 600.000 hécta nuôitrồng thuỷ sản ngọt, mặn, lợ Đáng kể là sản lợng tôm phục vụ ở nớc ta đã
đứng vào hàng thứ 5 trên thế giới Khảo sát mới đây của Viện nghiên cứunuôi trồng thủy sản II cho thấy, vùng nuôi tôm tập trung của cả nớc là đồngbằng sông Cửu Long Ngoài ra, việc nuôi cá biển có giá trị xuất khẩu cao nh:song, hồng, cam, giỏ, vợc… đặc biệt thuỷ sản cũng đợc nhiều địa phơng cho ng dân vay vốn
đầu t Theo yêu cầu của thị trờng EU (Liên minh châu Âu), ta cũng tiến hànhviệc nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ ven bờ để xuất khẩu
Công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu mà chủ yếu là công nghiệp
đông lạnh, cho đến nay, toàn ngành đã có trên 250 nhà máy chế biến côngnghiệp Công suất chế biến theo thiết kế vào khoảng 1.000 tấn thành phẩmmỗi ngày, tăng gấp 2,5 lần về số lợng nhà máy và gấp ba lần về công suất sovới năm 2000 Đặc biệt, đến nay đã có 49 nhà máy đợc EU cấp mã số xuấtkhẩu vào tất cả các nớc trong thị trờng này và 75 nhà máy đợc công nhận ápdụng HACCP (Hệ thống phân tích tại điểm kiểm soát tới hạn ) để xuất khẩuvào thị trờng Mỹ Đây là một sự tiến bộ rất lớn nếu so với bốn năm trớc đâyhoàn toàn không có nhà máy nào đáp ứng đợc những yêu cầu này
Sự đóng góp đáng kể của khoa học công nghệ đã đợc xây dựng và ápdụng trong 15 năm qua Trớc hết phải kể đến kỹ thuật sinh sản nhân tạo đểtạo nguồn tôm giống vào cuối những năm 80, cung cấp hàng năm hơn 1 tỷcon giống các cỡ Trong đánh bắt dần tạo ra các công nghệ để chuyển dịch cơcấu nghề khai thác, du nhập nghề mới từ nớc ngoài để có thể vơn ra khai thác
xa bờ
Hoạt động hợp tác quốc tế xét cả ba mặt: thị trờng xuất khẩu, nguồnvốn nớc ngoài và chuyển giao công nghệ đều đạt những kết quả khích lệ Từcơ chế lấy phát triển xuất khẩu để tự cân đối, tự trang trải, tạo vốn đầu t chokhai thác và nuôi trồng, qua thời kỳ Nhà nớc thực hiện chính sách mở cửa,
đến nay sản phẩm thuỷ sản của nớc ta đã có mặt ở nhiều nớc trên thế giới vớimột số sản phẩm bắt đầu có uy tín trên những thị trờng khó tính
3 Ngành thuỷ sản xuất khẩu với vấn đề xã hội.
- Tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập và mức sống của các cộng
đồng đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản
- Tăng sự đóng góp của ngành thuỷ sản vào sự phát triển kinh tế và xãhội trong nớc, bao gồm ổn định xã hội và an ninh quốc gia
Trang 10- Cải thiện tiêu chuẩn dinh dỡng của nhân dân bằng cách cung cấp cá
và hải sản cho tiêu thụ nội địa
- Tăng xuất khẩu và thu ngoại tệ
- Đẩy mạnh hiện đại hoá và công nghiệp hoá ngành thuỷ sản
Dân số Việt Nam có khoảng 78 triệu ngời trong đó có khoảng 62,4 triệu ngời,chiếm 80% sống ở vùng nông thôn và 15,6 triệu ngời chiếm 20% sống ở đôthị Tỷ lệ nữ là 55,6% và nam là 44,4%
Lao động nghề cá.
Đơn vị 1000 ngời
Nguồn: thông tin KH & CN Thủy sản số 3/99
Lao động nghề cá với hơn 3 triệu ngời, chiếm 10% tổng số lao động xã hộitrong đó nhiều nhất là nuôi trồng thủy sản có 2.219.400 ngời, đánh bắt435.000 ngời, chế biến 250.000 ngời
Sự đóng góp của ngành thuỷ sản với mục tiêu dinh dỡng quốc dân cũng
đợc tăng cờng Cung cấp cá và các sản phẩm thuỷ sản cả nớc tăng từ mức11,5 kg năm 1999 lên 13,5 kg một đầu ngời năm 2001 Mức tămg trởng này
có tính đến nhu cầu dinh dỡng của số dân tăng
Việc đẩy mạnh hiện đại hóa và công nghiệp hoá nghề cá và nuôi trồngthuỷ sản sẽ tăng cờng năng lực của ngành này Bằng cách đó sẽ tăng sự đónggóp của ngành đối với xã hội Hiện đại hoá và phát triển sẽ giúp thiết lập cácngành công nghiệp mới và những ngành công nghiệp đã hoàn thiện tại cácvùng ven biển mà sẽ nâng cao vai trò của ngành thuỷ sản đối với việc pháttriển kinh tế xã hội
Trang 11III./ Chủ tr ơng, chính sách của Đảng, Nhà n ớc đối với ngành thuỷ sản và xuất khẩu thuỷ sản.
Thực hiện tiến trình đổi mới, bằng nỗ lực to lớn, Việt Nam đã phấn
đấu vơn lên trở thành một quốc gia có tốc độ tăng trởng kinh tế cao Với sựtăng trởng đó Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể về nền tảng kinh tế –xã hội, trở thành thành viên tích cực ở khu vực Đông Nam á và trong cộng
đồng quốc tế
Vì vậy nhiệm vụ đặt ra cho chơng trình phát triển kinh tế đối ngoạicủa Đảng ta là “mở rộng thị trờng ,đổi mới cơ cấu và nâng cao chất lợnghàng xuất khẩu có khối lợng và giá trị lớn Củng cố thị trờng quenthuộc ,khôi phục quan hệ với thị trờng truyền thống,tìm thị trờng và bạnhàng mới ,lâu dài;giảm xuất nhập khẩu qua thị trờng trung gian Thực hiệnchính sách khuyến khích xuất khẩu”.1
Trong sự phát triển chung đó, ngành thuỷ sản đã có đóng góp quantrọng vào những năm 80, sản xuất kinh doanh thuỷ sản còn ở mức rất khiêmtốn, đến nay đã vơn lên đứng thứ 19 về sản lợng, thứ 30 về giá trị kim ngạchxuất khẩu, thứ 5 về sản lợng tôm nuôi trên thế giới Vị thế của thuỷ sản ViệtNam trên trờng quốc tế không ngừng đợc củng cố và mở rộng Để đẩy mạnhphát triển thuỷ sản, bên cạnh việc phát huy cao độ nguồn lực bên ngoài Vớinhững chính sách thích hợp Đảng và Nhà nớc ta đã tạo thêm nguồn lực chothuỷ sản phát triển Văn kiện Đại hội VIII của Đảng khẳng định vai trò củathuỷ sản trong chơng trình phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn: “Pháttriển nghề nuôi trồng thuỷ hải sản, tổ chức tốt các dịch vụ hậu cần phục vụnuôi trồng Quản lý tốt việc khai thác, bảo vệ các nguồn lợi thủy hải sản,khuyến khích hỗ trợ ng dân tự sắm phơng tiện và tổ chức khai thác thuỷ hảisản nhất là các nghề đị xa bờ Tiếp tục điều tra, nghiên cứu tài nguyên sinhvật biển để có kế hoạch khai thác, bảo vệ, chống ô nhiễm môi trờng biển,sông ngòi, ao hồ Đến năm 2001 có diện tích nuôi trồng thủy sản trên 60 vạn
ha, khai thác khoảng 1,6-1,7 triệu tấn (nuôi trồng khoảng 50-55 vạn tấn), xuấtkhẩu thuỷ hải sản khoảng 1-1,1 tỷ USD”2
Ngoài ra, thuỷ sản cũng là một trong những ngành đợc “đầu t vốn đểphát triển mạnh”3 cùng với chè , cà phê ,cao su ,thịt,sữa… đặc biệt thuỷ sản
1 Văn kiện Đại hội VIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.26
2 Văn kiện Đại hội VIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.50.
3
Trang 12Từ Đại hội Đảng VIII năm 1997 đến năm 1999, Thủ tớng Chính phủ
đã ra Quyết định số 251/1999/QĐ-TTg ngày 2/12/1999 phê duyệt chơng trìnhphát triển xuất khẩu thuỷ sản đến năm 2005 Chơng trình này đợc thực hiệnvới mục tiêu:
Đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH ngành thuỷ sản, đa kim ngạch xuấtkhẩu thuỷ sản tăng nhanh, đạt 1,1 tỷ đôla vào năm 2001 và 2 tỷ đôla vào năm2005; đa kinh tế thuỷ sản phát triển thành ngành mũi nhọn trong nền kinh tế
đất nớc, tạo thêm nhiều việc làm, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, cảithiện bộ mặt nông thôn và ven biển, đồng thời góp phần giải quyết các vấn đề
về môi trờng sinh thái
Gắn chế biến, xuất khẩu thuỷ sản với nuôi trồng,khai thác, bảo quảnnguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm, tạo cơ sở vững chắc cho sản xuất và khaithác có hiệu quả tiềm năng thuỷ sản, nâng cao chất lợng, giảm giá thành, tănghiệu quả và tăng tích luỹ là để tái sản xuất mở rộng, nâng cao khả năng cạnhtranh, giữ vững và phát triển thị trờng tiêu thụ hàng thuỷ sản Việt Nam
Để đạt đợc mục tiêu trên, nhiệm vụ đặt ra trớc mắt đối với ngành thủysản là:
Phát triển nuôi trồng, khai thác, đảm bảo đủ nguyên liệu phục vụ chochế biến thuỷ sảnxuất khẩu Đa nuôi trồng thuỷ sản trở thành nguồn chínhcung cấp nguyên liệu cho xuất khẩu Phát triển nuôi tôm, tổ chức rộng rãivịêc nuôi cá biển có giá trị xuất khẩu cao, mở rộng và khuyến khích việc nuôicác loài thuỷ sản nớc ngọt phục vụ xuất khẩu
Tiếp tục cải tiến nghề nghiệp và công nghệ khai thác hải sản, từng bớcxây dựng đội tàu đánh cá xa bờ để khai thác hợp lý nguồn lợi ven biển đi đôivới khai thác có hiệu quả nguồn lợi hải sản xa bờ, nhằm tăng nhanh tỷ trọngsản lợng hải sản có giá trị xuất khẩu trong tổng sản lợng hải sản khai thác đạt
20 đến 25% vào năm 2001 và trên 22 đến 24% vào năm 2005
Tăng cờng trang thiết bị và phơng tiện bảo quản trên các tàu cá, từngbớc đầu t đóng mới đội tàu chuyên môn hoá để bảo quản, vận chuyển sảnphẩm hải sản, cung cấp các dịch vụ ngoài khơi; xây dựng mới nâng cấp hệthống cảng cá, chợ cá để thay đổi công nghệ bảo quản sau thu hoạch, nhằmnâng cao chất lợng nguyên liệu chế biến xuất khẩu
Khuyến khích việc nhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản để chế biến táixuất khẩu, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho ngời lao động, tăng kimngạch xuất khẩu và sử dụng có hiệu quả công suất của các cơ sở chế biếnthuỷ sản để tiếp tục đầu t nâng cấp và xây dựng mới, cụ thể là:
Trang 13- Đầu t xây dựng mới một số cơ sở chế biến đi đôi với mở rộng, nângcấp đồng bộ cả về cơ sở hạ tầng, điều kiện sản xuất , đổi mới công nghệ, đổimới trang thiết bị, thực hiện đầu t chiều sâu cho số cơ sở chế biến thuỷ sảnhiện có, có đủ điều kiện mở rộng nâng cấp trên cơ sở tính toán kỹ về hiệu quảkinh tế của từng cơ sở, nâng công suất chế biến lên 1.000 tấn sản phẩm /ngàyvào năm 2001 và 1.500 tấn sản phẩm/ ngày vào năm 2005; đồng thời đẩymạnh việc áp dụng hệ thống quản lý chất lợng tiên tiến phấn đấu đến năm
2002 các cơ sở chế biến thuỷ sản đều đợc áp dụng hệ thống quản lý chất lợngtiên tiến,đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và chất lợng sản phẩm xuấtkhẩu
- Mở rộng chủng loại và khối lợng các mặt hàng thuỷ sản chế biến cógiá trị gia tăng, đa tỷ trọng mặt hàng có giá trị gia tăng từ 17,5% hiện nay lên25% đến 30% vào năm 2001 và 40% đến 45% vào năm 2005
- Nâng tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng thuỷ sản tơi sống từ 4% đến5% trong tổng sản phẩm xuất khẩu hiện nay lên 10% vào năm 2001 và 14%vào năm 2005 Quyết định nêu rõ các giải pháp để thực hiện, đó là giống(tôm, cá, bảo tồn giống) thức ăn cho thuỷ sản; thị trờng; khoa học công nghệ,
đổi mới quan hệ sản xuất; đào tạo cán bộ, chính sách đầu t, chính sách thuế
và về hợp tác đầu t nớc ngoài
Kế tục và phát huy tinh thần của Đại hội Đảng VIII, Đại hội Đảng IXcũng đa ra những chính sách và chiến lợc phát triển kinh tế ,trong đó có pháttriển kinh tế biển Dự thảo báo cáo chính trị của có nêu rõ: “Phát triển mạnhkinh tế biển kết hợp với bảo vệ vùng biển : mở rộng nuôi trồng và đánh bắt,chế biến hải sản ,tiến ra biển xa ;khai thác và chế biến dầu khí ;phát triển vậntải viễn dơng , du lịch và dịch vụ ;bảo vệ môi trờng và an ninh vùng biển” 1
1 Dự thảo báo cáo chính trị Đại hội IX của Đảng, báo “Nhân dân” số 16639, ngày 3/2/2002.
Trang 14Chơng II
Tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong thời gian gần đây
1 Đặc điểm thị tr ờng thuỷ sản thế giới.
Đánh giá sơ bộ tình hình thuỷ sản thế giới: Theo thống kê của FAO hiệnnay trên thế giới có 179 quốc gia ở đó nhân dân sử dụng thuỷ sản làm thựcphẩm Do điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, phong tục tập quán hay tôngiáo mà mức độ sử dụng thuỷ sản làm thực phẩm của các quốc gia của cácdân tộc rất khác nhau Lợng tỉêu thụ thuỷ sản đợc tính theo mức độ trungbình là: 13,1kg thuỷ sản/ ngời/ năm trên toàn thế giới
Trong những năm đầu của thập niên 90, tổng sản lợng thuỷ sản trên thếgiới tăng rất chậm, trung bình 0,23%/ năm thấp hơn so với mức bình quân 3%của những năm trong thập niên 80 Nhng tổng sản lợng thuỷ sản thế giới năm
2000 là 126,17 triệu tấn tăng 7,8% so với mức của năm 1999 Sở dĩ có đợcmức tăng cao nh vậy là nhờ vào sản lợng cá cơm của Pêru và Chilê tăng vọt vàsản lợng nuôi trồng thuỷ sản tăng đều đặn
Tình hình sản xuất thuỷ sản thế giới.
99.01 6
100.0 2
97.43 3
97.43 3
98.10 0
101.4 0
117,0 4
126,1 7
Nguồn : The state of food anh agricuture FAO 1996.
Nguồn cung thuỷ sản trên phạm vi toàn thế giới chủ yếu do sản lợng
đánh bắt, sản lợng nuôi trồng, tuy có tăng nhng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ(khoảng 26,3% trong tổng sản lợng năm 2000) Đối với một số loại thuỷ sảnquý hiếm, nhu cầu tăng cao nên khả năng cung cấp không theo kịp làm cho
giá luôn trên xu thế tăng “Theo báo cáo của FAO đa số các loài thủy sản trên thế giới hiện nay đang cạn dần do bị khai thác quá mức hoặc khai thác
Trang 15không đúng kỹ thuật Dự đoán về lâu dài khả năng tăng sản lợng khai thác nhiều loài thủy sản sẽ bị hạn chế ” 1
Một đặc điểm của thuỷ sản thế giới trong giai đoạn này là có sự thay đổi
về ngôi thứ giữa các quốc gia có tổng sản lợng thuỷ sản lớn nhất trên thếgiới
Bảng số 1.3 : Sản lợng thuỷ sản của các quốc gia lớn trên thế giới
Nh vậy, Nhật Bản liên tiếp trong hai thập kỷ giữ vị trí số một thế giới
đến nay đã bị đâỷ xuống hàng thứ ba và khó lòng trở lại ngôi đầu bảng vì đãcách quá xa sản lợng của Trung Quốc Liên bang Nga cũng trong hai thập kỷluôn giữ vị trí số hai ( có một lần giữ vị trí số một năm 1980) nay đang trên đàtrợt xuống vị trí thứ sáu (1996) rồi thứ 7 trong năm 2000
2 Tình hình nhu cầu thuỷ sản trên thị tr ờng thế giới.
* Xu hớng tiêu dùng thay đổi.
Chúng ta đều biết thuỷ sản là một trong các nguồn quan trọng cungcấp prôtêin cho con ngời Theo nghiên cứu khoa học cho thấy đạm từ thuỷ sảnkhông những đảm bảo lợng calo cao mà còn có lợi cho sức khoẻ, tránh đợcbệnh thờng thấy do dùng quá nhiều đạm và mỡ từ những động vật cạn nh thịt,trứng, sữa… đặc biệt thuỷ sản Thêm vào đó, công nghệ bảo quản chế biến đã làm cho hơng vịthực phẩm thuỷ sản ngày càng hấp dẫn Những lý do đó dẫn đến nhu cầu thuỷsản tăng mạnh Nó không chỉ tăng ở các nớc có tập quán sử dụng truyềnthống mà cả ở những nớc chuyên dùng thực phẩm từ gia súc, gia cầm
1 Bài “Thị trờng thủy sản thế giới” của tác giả Anh Xuân đăng trên tạp chí TM số 9 năm 2001
Trang 16“Xu hớng tiêu thụ hiện nay là ngời tiêu dùng thờng đòi hỏi những loại thực phẩm lành mạnh mà khi sử dụng không tốn nhiều thời gian chế biến Do
đó, ngành chế biến thuỷ sản đang có cơ hội phát triển thị trờng thủy sản đã chế biến đang tăng mạnh, ở đó có nhiều loại đợc chế biến dới dạng ăn liền rất tiện lợi cho ngời sử dụng”1 Nh vậy là các sản phẩm sơ chế hiện nay không
đợc ngời tiêu dùng a chuộng Việc xuất hàng dới dạng sơ chế sẽ bất lợi ởnhiều mặt nh: không sử dụng đợc nhân công trong nớc, không tận dụng đợchết giá trị sử dụng của mặt hàng, bị ép giá do đó lợi nhuận không cao Ngờitiêu dùng hiện đại yêu cầu phải đợc sử dụng một cách hết sức thuận tiện, tức
là phải đợc làm sẵn, không cần nấu nớng, có thể ăn liền, vừa bổ vừa dễ bảoquản và vận chuyển Yêu cầu này xuất phát từ đặc điểm hạn chế của thuỷ sản
là dễ bị h hỏng Một lý do khác là ngời tiêu dùng có quá ít thời gian dùng choviệc bếp núc, sản phẩm đợc chế biến sẵn nh cá hộp, ruốc cá, các sản phẩmkhô nh mực, tôm, cá… đặc biệt thuỷ sản có thể giữ đợc đầy đủ hơng vị sẵn có của thuỷ sản đợcngời mua sẵn sàng chấp nhận
*Nhu cầu thuỷ sản ngày càng cao, chênh lệch cung cầu ngày càng lớn.
Theo đánh giá của giới chuyên môn, trong những năm tới, nhu cầu vềcá nói riêng và thuỷ sản nói chung của thế giới sẽ tăng chủ yếu do 3 yếu tố:tăng dân số, tăng thu nhập bình quân đầu ngời và tăng tốc độ đô thị hoá Trênphạm vi toàn cầu Với mức sống ngày càng đợc nâng cao, khi nhu cầu ăn nomặc ấm, thậm chí ăn ngon mặc đẹp đã đợc thoả mãn thì nhu cầu hởng thụ sẽ
đợc nảy sinh ở rất nhiều địa điểm tiêu dùng cao cấp và những ngời tiêu dùngsành sỏi, do đó sản phẩm thuỷ sản tơi sống chế biến theo những món khácnhau mới đợc họ a thích và xu hớng này là không thể bỏ qua Nó đã, đang và
sẽ tăng mạnh trong thời gian tới “Về vấn đề này, trong báo cáo của FAO về
Sự đóng góp của nghề cá trongviệc bảo đảm an toàn thực phẩm cho rằng:
Nhu cầu cá tơi của thế giới vào năm 2005 sẽ vào khoảng 110 – 120 triệu tấn so với mức 75- 80 triệu tnấn năm 1996 và nhu cầu thủy sản nói chung sẽ vào khoảng 140 –150 triệu tấn” 2
Với dân số thế giới 6 tỷ ngời năm 2000 thì lợng tiêu thụ cá trung bìnhtheo đầu ngời trong một năm khoảng 14 đến 17 kg 8,5 tỷ ngời trên toàn cầuvào năm 2025 là con số dự báo dân số thế giới của tổ chức Liên hợp quốc
Do vậy, nếu sản l“ ợng đánh cá duy trì ở mức 100 triệu tấn (không kể rong biển và động vật có vú ở biển) và nhu cầu tiêu thụ không tăng quá mức cao
1 Tạp chí TM số 9 năm 2001
2 Bài “Thị trờng thuỷ sản thế giới“ tạp chí TM số 9năm2001
Trang 17nhất đã đạt đợc năm 1990 là 19,1kg/ngời thì khoảng cách cung – cầu sẽ ngày càng lớn.” 1 Vì vậy mức thiếu hụt này sẽ đợc bù đắp thông qua các hoạt
động nuôi trồng thuỷ sản Ngời ta đã tính toán đợc số lợng nuôi trồng thuỷsản cần thiết để lập lại sự cân bằng đó là:
Dự báo trong thời gian tới sản phẩm thuỷ sản tơi sống và đông lạnh sẽ
có nhu cầu cao nhất Nhu cầu này phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khác nhdân số, giá cả thế giới và trình độ phát triển của từng quốc gia, từng khu vực
Do đó cơ cấu tiêu dùng thuỷ sản còn cha đồng đều nếu nh không nói là vẫncòn khoảng chênh lệch đáng kể giữa các nớc, các châu lục với nhau Nếu lợngtiêu thụ thuỷ sản trung bình ở Nhật là 70 kg/năm một ngời, thì ở Trung Quốcchỉ là 9,1 kg/ngời/năm, và ở ấn Độ chỉ là 3,2 kg/ngời/năm
Xét về các châu lục thì châu á là nơi có mức tiêu thụ thuỷ sản lớnnhất thế giới, đặc biệt là hải sản với ví dụ điển hình là Nhật Bản và Trung
Quốc dẫn đầu thế giới về nhập khẩu thuỷ sản “Nhật Bản là nớc tiêu thụ kg/năm thủy sản tính theo đầu ngời thuộc loại cao nhất thế giới với khoảng
70 Vì thế Nhật Bản cũng là nớc chi phối lớn nhất trong nhập khẩu thủy sản thế giới ”2 Còn Trung Quốc trong những năm gần đây nhập khẩu trung bình
mỗi năm 1 tỷ đôla Tiếp theo đó, “Mỹ là thị trờng tiêu thụ thủy sản lớn thứ hai thế giới sau Nhật Bản với khối lợng nhập khẩu bình quân khoảng 1,5 – 1,7 triệu tấn/năm”
3 Buôn bán thuỷ sản thế giới.
Khác với thị trờng nhiều loại hàng thực phẩm trì trệ hay chậm pháttriển thời gian qua, thị trờng thuỷ sản thế giới khá năng động Điều này, mộtphần liên quan đến đặc điểm về tính chất quốc tế của hàng thuỷ sản, phầnkhác là do tơng quan cung cầu về thuỷ sản trên thế giới cha cân đối gây ra
Dù sao, thị trờng thuỷ sản thế giới vô cùng đa dạng và phong phú với hàngtrăm dạng sản phẩm đợc trao đổi mua bán trên nhiều thị trờng nớc và khuvựckhác nhau Tuy nhiên có thể phân ra 7 nhóm sản phẩm buôn bán chínhtrên thị trờng thế giới là cá tơi, ớp đông, đông lạnh, giáp xác và nhuyễn thể tơi
1 Bài “Khả năng lập lại cần bằng trong tiêu thụ thủy sản của thế giới” của DH ,tạp chí TS số 3 năm 2000
2 Bài “Khả năng lập lại cần bằng trong tiêu thụ thủy sản của thế giới” của DH ,tạp chí TS số 3 năm 2000
Trang 18ớp đông lạnh; cá hộp; giáp xác và nhuyễn thể hộp; cá khô, ớp muối, hun hói;cá và dầu cá và 3khu vực lớn nhập khẩu lớn là Mỹ, Nhật, Tây Âu Các nớc vàcác khu vực tiêu thụ lớn khác phải kể đến là Trung Quốc, Hồng Kông, HànQuốc, Xingapo, Đài Loan, Ma-lai-xi-a… đặc biệt thuỷ sản Riêng Trung Quốc nhập khẩu trungbình mỗi năm hơn 1 tỷ USD trong những năm gần đây.
Nguồn cung thuỷ sản trên phạm vi toàn thế giới chủ yếu do sản lợng
đánh bắt, sản lợng nuôi trồng tuy có tăng nhng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ Đốivới một số loại thuỷ sản quý hiếm, nhu cầu tăng cao nên khả năng cung cấpkhông theo kịp làm cho giá luôn trên xu thế tăng Theo báo cáo của FAO, đa
số các loài thuỷ sản trên thế giới hiện nay đang cạn dần do bị khai thác quámức hoặc khai thác không đúng kỹ thuật Dự đoán về lâu dài khả năng tăngsản lợng khai thác nhiều loại thuỷ sản sẽ bị hạn chế
Châu á vẫn là khu vực khai thác và cung cấp thuỷ sản lớn nhất thếgiới, trong đó phải kể đến các nớc Thái Lan, Trung Quốc, ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, Việt Nam… đặc biệt thuỷ sản
Năm 2001, nguồn cung thuỷ sản của thế giới khá dồi dào Sản lợngtôm của các nớc châu á cao, đặc biệt ở ấn Độ đã bù đắp cho sản lợng giảmxút ở Trung và Nam Mỹ do dịch bệnh
Nhật Bản là nớc tiêu thụ thuỷ sản tính theo đầu ngời thuộc loại cao
nhất thế giới với khoảng gần 70 kg/năm Vì thế, Nhật Bản cũng là nớc chiphối lớn nhất trong nhập khẩu thuỷ sản của thế giới Các nớc châu á, trong
đó có Việt Nam, là những nớc cung cấp chủ yếu cho thị trờng Nhật Bản Tôm
và cá ngừ (gồm cá ngừ tơi, cá ngừ đông lạnh, cá ngừ đóng hộp) chiếm tỷtrọng lớn nhất với tỷ lệ tơng ứng là 21% và 11% trong tổng kim ngạch nhậpkhẩu thuỷ sản vào Nhật Bản trong những năm gần đây Ngoài ra, phải kể đếnnhững mặt hàng thuỷ sản khác nhập khẩu vào Nhật Bản với kim ngạch đáng
kể nh: cá tơi, mực ống, mực nan, bạch tuộc… đặc biệt thuỷ sản
In-đo-nê-xi-a là nớc cung cấp tôm lớn nhất cho thị trờng Nhật Bản vớikim ngạch bình quân khoảng 1,3 tỷ USD một năm Thái Lan cũng xuất khẩutôm vào Nhật Bản với kim ngạch trên 1,2 tỷ USD/năm, các nớc ấn Độ, Băng-la-đét cũng đang tăng kim ngạch xuất khẩu tôm sang Nhật Bản với mức tăng21% và 17% năm 2000 Việt Nam hiện đang đứng thứ 5 tại thị trờng tômNhật Bản
Cá đông lạnh là loại thuỷ sản nhập khẩu lớn thứ 3 vào thị trờng NhậtBản Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Việt Nam thờng dẫn đầu trong số các
Trang 19nớc xuất khẩu cá đông lạnh vào thị trờng Nhật Bản Gần đây, xu hớng xuấtkhẩu tôm từ các nớc lớn sang Nhật Bản có xu hớng dịch chuyển từ Nhật Bảnsang các thị trờng khác nh Mỹ, Tây Âu… đặc biệt thuỷ sản là nơi nhu cầu tiêu thụ khả quanhơn Nhng Nhật Bản vẫn là thị trờng tiêu thụ truyền thống nhng có phần bịgiảm xút trong thời kỳ 1999-2000 do suy thoái kinh tế.
Nh vậy, trong khi lợng tôm nhập khẩu vào thị trờng Mỹ có xu hớng
tăng lên thì “năm 2000, nhập khẩu tôm vào thị trờng Nhật Bản giảm 7,5 % (khoảng 21.500 tấn) so với năm 1999” 1 Nguyên nhân chính là do kinh tếNhật Bản còn đang phục hồi ở mức thấp đã làm cho nhu cầu tôm ở thị trờngNhật Bản giảm đi Đồng thời năm 2000 có sự chuyển biến lớn về vị trí các n-
ớc cung cấp tôm vào thị trờng Nhật Bản Lần đầu tiên, ấn Độ giành vị trí đầubảng của In-đô-nê-xi–a về cung cấp tôm vào Nhật Bản Năm 2000, xuấtkhẩu tôm của ấn Độ sang Nhật Bản tăng 6,6% so với năm 1999, lên tới59.100 tấn Trong năm 2000 và nửa đầu năm 2001 Việt Nam, Ma-lai-xi-a,
Ôx-trây-li-a là những nớc có mức tăng xuất khẩu sang thị trờng Nhật Bảntrong khi một số nớc khác lại đang giảm xuất khẩu sang thị trờng này
Mỹ là thị trờng tiêu thụ thuỷ sản lớn thứ 2 trên thế giới sau Nhật Bản
với khối lợng nhập khẩu bình quân khoảng 1,5-1,7 triệu tấn/năm, trong đótôm là mặt hàng lớn nhất chiếm khoảng 38% tổng khối lợng Châu á là khuvực cung cấp lớn nhất vào thị trờng Mỹ, chiếm khoảng 53,8% tổng khối lợng,tiếp đến là Mỹ La Tinh chiếm 23,7%
Mỹ lại nổi lên nh
“ một thị trờng nhập khẩu cá rô phi trong vài năm gần đây, tăng từ 3400 tấn năm 1993 lên đến 37.575 tấn năm 2000, đạt giá trị
82 triệu USD ” 2.Tuy nhiên để có đợc sản lợng lớn trên thị trờng buôn bán nh
vậy phải tính đến việc khai thác và nuôI cá rô phi Nh vậy , tính cả sản“ lợng nuôI và khai thác,năm 1999 toàn thế giới đã sản xuất 1,5 triệu tấn cá rô phi Chỉ riêng giá trị sản lợng cá rô phi nuôi năm 1999 cũng đạt 1,2 tỷ USD”.
Tại các nớc EU, phần lớn nhu cầu thuỷ sản dựa vào nhập khẩu, trong
đó nguồn cung cấp lớn nhất là từ châu á với những sản phẩm truyền thống làtôm, các loại nhuyễn thể, cá ngừ đóng hộp, cá rút xơng, mực ống, cá hộp… đặc biệt thuỷ sảnCác thị trờng nhập khẩu lớn là Anh, Đức, Bỉ, Đan Mạch, Italia Riêng ở Đức
tiêu thụ hơn 80.000 tấn cá hồi mỗi năm Đặc biệt I-ta-li-a, hàng năm nhập“
khẩu 130.000 tấn mực và bạch tuộc, trong khi sản xuất trong nớc chỉ đạt 30.000 tấn/năm” (bài vừa dẫn) Chính vì vậy mà nhập khẩu thuỷ sản ở I-ta-li-
1 Bài “Thị trơng tôm thế giới” trên báo TM số 16/2001
2 Bài Sản xuất và buôn bán cá rô phi trên thế giới“ ” báo TM.
Trang 20a tăng lên cũng vì khai thác tại chỗ không đủ đáp ứng nhu cầu trong nớc vàxuất khẩu.
EU cũng là thị trờng tiêu thụ tôm lớn trên thế giới nhập khẩu các loạitôm vào EU vẫn trên xu hớng tăng trong năm 2000 và tiếp tục tăng trong nửa
đầu năm 2001, trong đó nhập khẩu từ vùng nhiệt đới tăng mạnh nhất
4 Những vấn đề có liên quan đến thuỷ sản Việt Nam.
Các thị trờng nhập khẩu thuỷ sản lớn trên thế giới cho thấy rõ tiềmnăng rất lớn đối với ngànhthuỷ sản Việt Nam Đặc biệt là khi Việt Nam hiện
đang là thành viên chính thức của ASEAN, môi trờng kinh doanh xuất khẩu
sẽ bao gồm những đối thủ cạnh tranh không chỉ dàydạn kinh nghiệm mà còn
có rất nhiều lợi thế hơn ta
Các cơ hội và triển vọng trên thị trờng nớc ngoài sẽ phụ thuộc vào khảnăng cạnh tranh của ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản tại Việt Nam vớicác đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là với các nớc láng giềng trong khu vực nhThái Lan, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a
Ngoài những tiềm năng đáng kể của thị trờng xuất khẩu nhất là tronglĩnh vực xuất khẩu tồm, thì Nhật Bản là một trong những thị trờng chủ yếu hiệnnay Tuy nhiên, thị trờng này liên tục biến động bởi nền kinh tế cha hoàn toànphục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực Điều này đã làmcho nhu cầu tôm ở thị trờng Nhật Bản giảm đi
Còn trên thị trờng Mỹ, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị ờng này chiếm vị trí đáng kể trong xuất khẩu của cả nớc nói chung và có xu
tr-hớng tăng dần, đặc biệt từ khi Mỹ bỏ cấm vận đối với Việt Nam “Xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ chiếm tới 15% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nớc Hiện nay có khoảng 70 doanh nghiệp Việt Nam đang xuất khẩu thủy sản vào Mỹ với nhiều chủng loại sản phẩm nh tôm, cá đông lạnh, bạch tuộc…” 1
Năm 2000, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang hai thị trờng truyềnthống là Nhật Bản và EU giảm sút so với năm 1999 xuất khẩu vào Nhật Bảngiảm do nền kinh tế nớc này cha phục hồi mạnh, còn đối với EU là do việc đavào áp dụng “Quy chế về kiểm tra chất lợng vệ sinh và an toàn thực phẩm”
Nh vậy, để duy trì và mở rộng thị tr“ ờng, sản phẩm thủy sản của Việt Nam phải có chất lợng cao nhng phải giảm đợc chi phí sản xuất để tăng sức cạnh tranh” (bài vừa dẫn).
1 Bài “Thị trờng thủy sản thế giới” đăng trên tạp chí TM số 16 năm 2001 thì trong năm 2000:
Trang 21Đến năm 2000, thị trờng tiêu thụ thuỷ sản của Việt Nam có tới trên 30nớc, trong đó có những thị trờng chính dới đây:
Kim ngạch xuất
khẩu (ngàn đôla)
Nguồn: Bộ Thuỷ sản – trang web thông tin.
Việt nam là một quốc gia có tiềm năng đảm bảo cung ứng một cách
có hiệu quả và đợc tin cậy trên các thị trờng lớn đối với tôm, cá và các loạinhuyễn thể Tiềm năng này không phải xuất phát từ ngành đánh bắt thuỷ sản
mà là từ tiềm năng lớn của đất nớc trong lĩnh vực sản xuất nuôi trồng thuỷ sản Những môi trờng sinh sống nớc ngọt, nớc lợ, nớc mặn, đều có tiềm năng hỗtrợ cho việc tăng sản lợng đáng kể đối với các sản phẩm có chất lợng cao màcác đối thủ cạnh tranh không dễ gì theo kịp Nếu nh tiềm năng này phát huy
đợc thì điều đó sẽ tạo cho ngành công nghiệp chế biến một lợi thế so sánh đốivới các sản phẩm có chất lợng cao trong ngành công nghiệp của các nớc lánggiềng với mình
Việt Nam với t cách là nớc mới thâm nhập vào thị trờng thuỷ sản thếgiới vì thế Việt Nam sẽ phải đối mặt với một cuộc vật lộn vất cả xuất phát từviệc đầu t vào những năng lực sản xuất mới rất tốn kém mà lại cha thể ổn địnhcho nguồn cung cấp thuỷ sản hiện có từ các vùng biển ở Việt Nam
Các cơ hội và các tiềm năng của Việt Nam trong ngành công nghiệpchế biến thuỷ sản sẽ tùy thuộc căn bản vào việc phục vụ thị trờng trong nớc
đang lớn mạnh của mình và năng lực trở thành một nhà sản xuất có chất lợng
đối với các thị trờng nhập khẩu bằng cách cung cấp các sản phẩm từ nuôitrồng thuỷ sản Độ tin cậy về số lợng, chất lợng và giá cả hợp lý về nguyênliệu là chìa khoá của thành công đối với ngành công nghiệp chế biến Nhữngmôi trờng sống của thuỷ sản đa dạng, sự khác biệt về khí hậu và nguồn nhânlực lành nghề, cần cù của đất nớc đang tạo ra một cơ hội có một không haicho Việt Nam thiết lập một ngành công nghiệp chế biến vững mạnh dựa trênmột ngành đánh bắt thuỷ sản đợc quản lý tốt với những năng lực, tiềm năngrộng lớn của ngành nuôi trồng thuỷ sản
II./ Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
1 Mạng l ới xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam.
Trang 22Trong mạng lới các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam,Tổng công ty thuỷ sản Việt Nam là doanh nghiệp hàng đầu với tổng doanh số
là 5.053,7 tỷ đồng, xuất khẩu thực hiện 174 triệu USD, chiếm 12,44% giá trịkim ngạch xuất khẩu toàn ngành Trong số 14 đơn vị thành viên của Tổng công
ty tham gia xuất khẩu, có 4 đơn vị đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu cao, đó là:Công ty XNK thuỷ sản miền Trung 52 triệu USD, Công ty XNK thuỷ đặc sản37,2 triệu USD, Công ty kinh doanh và XNK thuỷ sản Minh Hải 30 triệu USD
và Công ty XNK thuỷ sản Hà Nội 15,8 triệu USD Đạt đợc kết quả khả quan
nh vậy các đơn vị thành viên có nỗ lực rất lớn trong đầu t đổi mới công nghệ,tận dụng thời cơ về thị trờng, mùa vụ Mặt hàng chế biến của Tổng công ty đã
có ở hơn 30 quốc gia trên thế giới, đặc biệt với thị trờng Mỹ đạt tăng trởng cao
so với các năm trớc, năm 2001 chiếm tỷ trọng 30,65% Tổng sản lợng thuỷ sảnxuất khẩu của Tổng công ty năm 2001 đạt 34.000 tấn, tăng 30% so cùng kỳ,với hàng chục mặt hàng mẫu mã đa dạng và phong phú
Ngoài ra, có 28 doanh nghiệp có giá trị xuất khẩu thuỷ sản năm 2001
từ 10 triệu USD trở lên, trong đó 10 doanh nghiệp dẫn đầu là :
ST
T
xuất khẩu chính
Thị trờng xuất khẩu
Giá trị (triệu USD)
Nhật, Mỹ, EU 72,8
các loại hải sảnthân mềm… đặc biệt thuỷ sản
Nhật, Mỹ, TrungQuốc, EU… đặc biệt thuỷ sản
52,1
4 Xí nghiệp cung ứng và chế biến
hàng XK Minh Phú
51,1
5 Công ty TNHH Kim Anh Tôm, ghẹ, cá… đặc biệt thuỷ sản Nhật, Bắc Mỹ,
Australia, EU… đặc biệt thuỷ sản
44,7
6 Công ty chế biến thuỷ sản và
XNK Cà Mau X.N 2
Tôm sú, cá, mực,ghẹ… đặc biệt thuỷ sản
Nhật Bản, EU,Bắc Mỹ, một sốnớc châu á
Trang 23sản đông lạnh,khô tơi, đồ hộp… đặc biệt thuỷ sản
dù còn nhiều vấn đề phải giải quyết nhng các công ty đã cố gắng để thích ứngdần với môi trờng quốc tế và đạt vị trí nhất định trên thị trờng thuỷ sản thếgiới Các công ty đã đạt đợc điều đó bằng việc cung cấp dạng sản phẩm xuấtkhẩu phong phú (hầu nh mọi dạng sản phẩm thuỷ sản ) ra khắp thị trờng thuỷsản lớn của thế giới nh Nhật Bản, Mỹ, EU… đặc biệt thuỷ sản Tuy nhiên, xuất sang Nhật Bảnvẫn là lớn nhất
Những năm gần đây, đặc biệt là trong năm 2001, sản xuất và xuấtkhẩu thuỷ sản có sự tăng trởng vợt bậc Kết thúc năm cuối thế kỷ, chúng ta đã
đạt hơn 1.4 tỷ đôla giá trị xuất khẩu Về cơ cấu thị trờng đã có sự chuyển biếnmạnh mẽ theo hớng vững chắc hơn với sự gia tăng nhanh chóng vào thị trờng
Mỹ và Trung Quốc Trong 3 năm, từ năm 1998 đến năm 2001, trong cơ cấu“
thị trờng xuất khẩu thủy sản, Nhật giảm từ 50% xuống 33%, trong khi Mỹ tăng từ 5% lên đến 21,2%, Trung Quốc, Hồng Kông tăng từ 2% lên đến 19,3% , EU dao động từ 10% đến 7%, các nớc châu á khác từ 19% - 20%” 1
Với sự chuyển biến về cơ cấu thị trờng xuất khẩu, năm 2000 ViệtNam đợc công nhận vào Danh sách 1 các nớc xuất khẩu sang EU với 18doanh nghiệp Năm 2001 số lợng này tăng lên đến 49 doanh nghiệp, đồngthời Việt Nam cũng đợc EU công nhận vào Danh sách 1 các nớc xuất khẩunhuyễn thể 2 mảnh vỏ Còn đối với thị trờng Mỹ, hiện nay ta có 70 doanhnghiệp đủ điều kiện xuất khẩu thuỷ sản vào thị trờng này
1 Bài Hoạt động chế biến xuất khẩu thủy sản và những bài học kinh nghiệm “ ” Nguyễn Thị Hồng Minh, tạp chí TS số Tết Tân Tỵ
Trang 24Qua đó, có thể thấy rằng thị trờng tiêu thụ quan trọng của chúng ta làthị trờng nớc ngoài, bất cứ biến động nào của thế giới cũng có thể ảnh hởng
đến sản xuất trong nớc nếu ta không chủ động hội nhập
2 Thị tr ờng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam.
Năm 2001, hàng thuỷ sản Việt Nam đã có mặt tại 62 nớc trên thế giới,tơng đơng với số lợng thị trờng xuất khẩu của năm 2000, song kim ngạch xuấtkhẩu sang các thị trờng chính đều tăng trởng vợt bậc
a Thị tr ờng Nhật Bản.
Nhật Bản là một trong những nớc bạn hàng lớn về thuỷ sản của ViệtNam, chủ yếu là các mặt hàng cá ngừ, cá thu đao, cá song, cá hồng, mựcống… đặc biệt thuỷ sản Tuy nhiên gần đây, thị trờng khó tính này có chiều hớng chậm tăng tr-ởng Tại Nhật, nhiều mặt hàng thuỷ sản chất lợng cao mang nhãn hiện ViệtNam bán chạy ở các siêu thị Các công ty Việt Nam xuất khẩu nhiều mặthàng thuỷ sản chất lợng cao sang Nhật là Cafatex, Fimex ( Công ty xuất nhậpkhẩu tổng hợp Sóc Trăng), Xí nghiệp mặt hàng mới thuộc Seaprodex ViệtNam, Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Anh, Viễn Thắng, Xí nghiệp chếbiến hàng xuất khẩu Cầu Tre, Công ty xuất khẩu thủy sản Quảng Ninh 2… đặc biệt thuỷ sản
Chỉ tính đến 9 tháng đầu năm 2000, thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Nhật“
Bản đạt kim ngạch 263 triệu USD” 1 , nổi bật trong hơn 200 doanh nghiệp“
xuất khẩu thủy sản sang Nhật, Công ty xuất nhập khẩu tổng hợp Sóc Trăng (Fimex) dẫn đầu cả nớc về doanh số xuất khẩu sang thị trờng này, đạt 37 triệu USD, 100% là tôm, trong đó 75% là sản phẩm tôm giá trị gia tăng” 2
Khối lợng sản phẩm xuất khẩu sang Nhật năm 2001 là 68,7 nghìn tấngiá trị 469 triệu USD, chiếm 31,7% giá trị xuất khẩu chung So với năm 2000thì tỷ trọng có giảm đi nhng về giá trị tuyệt đối lại tăng lên rất đáng kể
Các mặt hàng chủ yếu xuất sang Nhật là (triệu USD/tỷ trọng %) : Tôm
đông 291/62; mực và bạch tuộc đông - 54/11,5; cá đông - 26/5,6 … đặc biệt thuỷ sản Nh vậycác sản phẩm xuất sang Nhật chủ yếu là tôm đông và nhuyễn thể chân đầu
đông, chiếm tới 73,5% giá trị xuất khẩu sang thị trờng Nhật
Đặc điểm của thị trờng thuỷ sản Nhật trong năm 2001 là mức nhậpkhẩu tăng lên so với năm 2000 nhng không nhiều và còn lâu mới bằng mứccủa thời kỳ 1995 - 1996; giá nhập khẩu tăng lên, đặc biệt là giá tôm đông đã
có cải thiện rõ rệt so với năm 2000 (10,8 USD/kg so với 10,1 USD/kg); vẫn
Trang 25ngừ, cá hồi, bạch tuộc … đặc biệt thuỷ sản) và tăng mức nhập các mặt hàng có giá trị trungbình và thấp (cá biển đông lạnh các loại).
Dù đang trên đờng hồi phục, nhng Nhật vẫn là thị trờng nhập khẩu thuỷsản lớn nhất thế giới Thị trờng này nhập khẩu đủ các loại sản phẩm Rất tiếc
là trong 10 mặt hàng nhập khẩu có giá trị lớn của Nhật, hàng thuỷ sản củaViệt Nam chỉ đóng góp có 2 - 3 mặt hàng Các nớc Trung Quốc, Mỹ, ĐàiLoan, Hàn Quốc, Nga xuất khẩu lớn các hàng thuỷ sản sang Nhật và họ dựachủ yếu vào các mặt hàng cá biển Đây là vấn đề mà các doanh nghiệp xuấtkhẩu của chúng ta cần quan tâm
Các dự báo cho thấy nền kinh tế Nhật tiếp tục hồi phục, đồng yên sẽ
ổn định hơn, song ngời tiêu dùng Nhật Bản vẫn dè dặt trong chi tiêu, ngànhthuỷ sản Nhật vẫn rất khó khăn do sản lợng cả khai thác và nuôi trồng đềudậm chân tại chỗ và ở mức rất thấp so với trớc đây Nhật Bản sẽ phải nhậpkhẩu rất lớn các sản phẩm thuỷ sản để vẫn bảo đảm cho mỗi ngời Nhật cókhoảng 70 - 71 kg thuỷ sản/ngời/năm (trớc đây là 72 - 73 kg) Ngoài tôm, cángừ, mực … đặc biệt thuỷ sản, Nhật Bản sẽ nhập khẩu rất lớn cá biển tơi và đông các loại kể cảcác loại giá trị thấp nh cá cơm, cá trích, cá nục … đặc biệt thuỷ sản Do vậy việc đa dạng hoácác mặt hàng thuỷ sản để xuất khẩu vào Nhật là rất cần thiết
b Thị tr ờng Mỹ.
Khối lợng thuỷ sản xuất khẩu sang Mỹ là 38 nghìn tấn giá trị 301triệu USD, chiếm 20,4% giá trị xuất khẩu chung, 93 doanh nghiệp xuất khẩuthuỷ sản vào Mỹ, tăng gấp 2 so với năm 2000 Mỹ nhanh chóng trở thành thịtrờng xuất khẩu lớn thứ hai và đầy triển vọng của Việt Nam
Mỹ là thị trờng nhập khẩu thuỷ sản lớn thứ nhì thế giới Năm 2001
Mỹ nhập khẩu khoảng 1,8 triệu tấn thuỷ sản các loại giá trị khoảng 10 tỷ USD(số liệu dự đoán) với rất nhiều các mặt hàng từ cao cấp nh tôm hùm, tôm
đông, cua biển, cá hồi, cá ngừ đến các sản phẩm bình dân nh cá biển đônglạnh, cá khô, nớc mắm … đặc biệt thuỷ sản
Tôm đông chiếm tỷ trọng áp đảo trong các mặt hàng xuất khẩu của tavới 14,4 nghìn tấn, giá trị 215 triệu USD chiếm 71,5% giá trị xuất khẩu sang
Mỹ Rất ít quốc gia xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ lại có tỷ lệ mặt hàng tôm
đông lớn nh của Việt Nam Tôm đông Việt Nam chiếm 4,7% khối lợng nhậpkhẩu tôm vào Mỹ và đứng hàng thứ 8 trong số các quốc gia xuất khẩu mặthàng này Khác hẳn với thị trờng Nhật Bản, tại Mỹ tôm đông Việt Nam có giárất cao, trung bình tới 15 USD/kg Việt Nam cùng với Thái Lan, ấn Độ,Inđônêxia và Trung Quốc đã tăng nhanh mức xuất khẩu tôm đông sang Mỹ
Trang 26để lấp khoản thiếu hụt do tôm nuôi của Ecuađo, Mêxicô, Panama, EnXanvanđo bị giảm sản lợng nghiêm trọng vì dịch bệnh.
Cá biển đông lạnh là mặt hàng có giá trị lớn thứ nhì với 13,7 nghìntấn, 50 triệu USD Tuy đây là mặt hàng còn nhiều tiềm năng của Việt Nam vàthị trờng Mỹ cũng nhập khẩu rất lớn sản phẩm này, nhng rõ ràng sự quan tâmcủa các doanh nghiệp Việt Nam còn có vấn đề Trong 10 tháng đầu năm 2001
Mỹ đã nhập khẩu 336 nghìn tấn cá biển nguyên con và block (không kể cáphilê)
Cá ngừ vây vàng tơi có khối lợng xuất khẩu 2.159 tấn, 10,2 triệu USD,
là mặt hàng thứ 3 Đây là thành tích rất đáng khích lệ vì nó mở ra một thị tr ờng mới đầy triển vọng cho nghề câu cá ngừ đại dơng đang phát triển củaViệt Nam Mỹ vừa là cờng quốc khai thác cá ngừ vừa là nớc nhập khẩu lớn.Năm 2000, họ đã nhập 156 nghìn tấn cá ngừ (chỉ sau Nhật) Trong 10 tháng
-đầu năm 2001 mức nhập khẩu có ít hơn cùng kỳ năm ngoái - 102 nghìn tấn sovới 136 nghìn tấn Gần đây ngời Mỹ có xu hớng sử dụng cá ngừ tơi theo cáchgiống nh ngời Nhật
Dẫn đầu trong 120 doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ làCafatex Việt Nam, đạt 75,4 triệu đôla, thị trờng Mỹ 52,6 triệu đôla với cácsản phẩm tôm, cá, điệp, sò, mực… đặc biệt thuỷ sản 70% sản phẩm xuất khẩu sang Mỹ củaCafatex là hàng giá trị cao
Để tăng mức xuất khẩu sang Mỹ, chúng ta cần quan tâm tới các mặthàng khác ngoài tôm đông là cá philê các loại, cá basa và cá tra philê và đặcbiệt là cá rô phi Các nớc ở khu vực rất thành công trong khâu nuôi cá rô phicông nghiệp để xuất khẩu Chúng ta có truyền thống về nuôi rô phi từ rất sớm,chẳng lẽ lại chịu tụt hậu so với các nớc ở khu vực
Nhìn chung, trong năm 2001, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang
Mỹ đã đạt đợc mức tăng trởng rất cao, rất đáng phấn khởi Tuy vậy, chắc chắn
đây vẫn còn xa mới tới giới hạn tăng trởng Việt Nam cùng với Thái Lan,Trung Quốc, ấn Độ, Inđônêxia là các quốc gia Châu á xuất khẩu thuỷ sản lớnthị trờng Mỹ
c Thị tr ờng Trung Quốc.
Là thị trờng xuất khẩu lớn thứ ba với khối lợng 39 nghìn tấn, giá trị213,6 triệu USD, chiếm 14,4% giá trị xuất khẩu chung
Việt Nam còn có biên giới chung với Trung Quốc nên rất thuận tiệncho việc giao thông đi lại và giao lu buôn bán Theo số liệu thống kê cha đầy
Trang 27đủ 11 tháng đầu năm ta đã xuất khẩu sang thị tr“ ờng này 252,1 triệu USD giá trị hàng thủy sản, tăng 2,3 lần so với năm ngoái Những dự báo từ năm trớc
đã trở thành hiện thực: Trung Quốc và Hồng Kông đã trở thành thị trờng xuất khẩu lớn thứ 3 của ngành thủy sản Việt Nam, chiếm tỷ trọng 19,3% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nớc” 1 Với tốc độ tăng trởng nhanh
nh vậy, thị trờng Trung Quốc đã bám sát nút với thị trờng Mỹ và khẳng định
vị trí quan trọng của mình
Xuất khẩu sang thị trờng này đã gần bằng với thị trờng Nhật Bản –
vốn là thị trờng truyền thống lớn nhất của ta Ngoài cá, mực và bạch tuộc đạt“
12 triệu USD, vợt cả 13 nớc EU cộng lại Nhng điều bất ngờ hơn cả là hàng khô các loại, đạt 150,797 triệu USD chiếm tỷ trọng 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào thị trờng này” 2
Đây là thị trờng có nhiều tiếm năng để phát triển nhng cũng luôn biến
động và khó có thể dự báo chính xác Tuy nhiên, Trung Quốc đang thi hànhchính sách hạn chế khai thác và tăng cờng nuôi trồng Trong các thời kỳTrung Quốc cấm khai thác hải sản tất yếu nhu cầu nhập khẩu sẽ tăng lên Tuynhiên, họ chỉ nhập khẩu nguyên liệu thô là chính
d Thị tr ờng EU.
EU là một trong những miền đất “quả vàng” đối với các nhà xuất khẩu
và nhiều ngành sản xuất của Việt Nam Riêng xuất khẩu thuỷ sản sau khi xếp
18 doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản vào nhóm 1 trong tháng 3 năm 2001 EUcũng đã cho phép xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ của Việt Nam vào nhóm
1 Đến tháng 4 năm 2001, số doanh nghiệp đợc công nhận đủ tiêu chuẩn xuấtkhẩu thuỷ sản sang EU đã tăng lên con số 49, gần gấp đôi số doanh nghiệp đ-
ợc công nhận cuối năm 2000, nhng dờng nh còn cha đủ thời gian để sự thay
đổi về lợng này tạo nên sự tăng trởng đáng kể cho xuất khẩu thuỷ sản sang thịtrờng này
Tuy nhiên, với 90,9 triệu USD, xuất khẩu thủy sản vào EU vẫn đạt“
mức tăng trởng 10,1 trong 11 tháng đầu năm so với cùng kỳ 2000, chiếm tỷ trọng 7% xuất khẩu thủy sản cả nớc, khẳng định vị thế của mình” 3
e Các thị tr ờng khác.
1 Bài Nhìn lại xuất khẩu thủy sản năm 2001 “ ” của Phạm Thị Hồng Lan, tạp chí TM số 2+3/2002
2 Bài Nhìn lại xuất khẩu thủy sản năm 2001 “ ” của Phạm Thị Hồng Lan, tạp chí TM số 2+3/2002
3 Bài Nhìn lại xuất khẩu thủy sản năm 2001 “ ” của Phạm Thị Hồng Lan, tạp chí TM số 2+3/2002
Trang 28Các thị trờng xuất khẩu có giá trị khá khác là Hồng Kông (76 triệuUSD), Hàn Quốc (65 triệu USD), Đài Loan (46 triệu USD), Thái Lan (31 triệuUSD) … đặc biệt thuỷ sản
3 Mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam.
Đất nớc ta nông nghiệp chiếm đa phần nên việc phát huy tiềm năng vềlĩnh vực chế biến nông - thủy sản là điều kiện hiển nhiên của một nớc đangphát triển với chủ trơng CNH, HĐH đất nớc
Đóng góp của thủy sản đối với nông sản
Bản, Mỹ Qua bài Nhìn lại xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2001“ ” củatác giả Phạm thị Hồng Lan đăng trên tạp chí TM số 2+3/2002 ta có thể thấy
đợc sự tăng trởng của các nhóm hàng thuỷ sản xuất khẩu ở Việt Nam
Trang 29- Tôm đông : Có khối lợng xuất khẩu 66,7 nghìn tấn, giá trị 654 triệu
USD, tăng so với năm 2000 tơng đơng là 9,3% và 35,7% Rõ ràng tôm đôngxuất khẩu năm 2001 của Việt Nam đã có chất lợng cao hơn nhiều so với năm
2000 Giá tôm xuất trung bình của chúng ta năm 2001 lên tới 9,5 USD/kg,cao hơn 24% so với giá năm 2000 (7,9 USD/kg) Sự tăng giá này, một phần
do thuận lợi của thị trờng tôm thế giới, nhng mặt quan trọng hơn là do cơ cấumặt hàng tôm của ta đã chuyển mạnh sang các dạng sản phẩm chế biến giá trịgia tăng, là những mặt hàng có mức giá tăng mạnh nhất trên thị trờng
Tôm đông xuất khẩu năm 2001 với sự tham gia của 160 doanh nghiệpchế biến tôm trong cả nớc, chiếm tỷ trọng 43,6% tổng giá trị xuất khẩu thuỷsản so với 49,6% năm 2000 Nh vậy cơ cấu mặt hàng xuất khẩu đã có thay
đổi với cán cân nghiêng về các mặt hàng khác ngoài tôm đông
Nhật Bản vẫn là thị trờng nhập khẩu tôm đông lớn nhất của Việt Nam vớikhối lợng 30,7 nghìn tấn, giá trị 291 triệu USD Về khối lợng, mức nhập từViệt Nam không tăng lên là bao (năm 2000 là 30,3 nghìn tấn), nhng giá trịtăng lên nhiều do giá tôm năm 2001 ở Nhật tăng lên và chất lợng tôm củaViệt Nam cũng đợc cải thiện hơn
Thị trờng tôm Nhật Bản chiếm 47,4% giá trị xuất khẩu tôm của ViệtNam (năm 2000 là 49%) Việt Nam vẫn đứng ở hàng thứ ba trong số các nớcbán tôm cho Nhật, chỉ chiếm 11,4% thị phần tại đây và khoảng cách với cácnớc dẫn đầu nh Inđônêxia và ấn Độ còn khá xa Giá tôm trung bình của ViệtNam tại thị trờng Nhật cũng còn rất thấp so với giá tôm của Thái Lan,Inđônêxia, thậm chí còn thấp hơn cả giá tôm trung bình của toàn thị trờngNhật Bản
Mỹ vẫn là thị trờng lớn thứ hai với tôm xuất khẩu Việt Nam Năm 2001
Mỹ nhập từ Việt Nam 14,4 nghìn tấn tôm đông, giá trị 215 triệu USD Đây làbớc tiến vợt bậc so với năm 2000 Thị trờng Mỹ đã chiếm 35% giá trị xuấtkhẩu tôm của Việt Nam Điều rất đáng chú ý là giá tôm trung bình của ViệtNam tại Mỹ rất cao, tới 14,9 USD/kg là mức cao nhất ở thị trờng này, do phầnlớn là tôm chế biến với chất lợng cao Tuy nhiên, thị phần của tôm Việt Namtại thị trờng tôm số 1 thế giới này còn rất nhỏ, bằng 4,5% và chỉ đứng hàngthứ 8 trong số các nớc xuất khẩu tôm vào Mỹ
Nh vậy thị trờng Nhật và Mỹ đã chiếm tới 82,4% giá trị xuất khẩu tôm đôngcủa Việt Nam trong năm 2001
EU là thị trờng nhập khẩu tôm lớn thứ ba thế giới Riêng Tây Ban Nhahằng năm nhập khẩu gần 100 nghìn tấn, Pháp 70 nghìn tấn tôm Điều đáng
Trang 30tiếc là tôm đông Việt Nam xuất sang EU năm 2001 chỉ vẻn vẹn có 7.247 tấngiá trị 38,6 triệu USD, chiếm tỷ trọng quá nhỏ bé.
- Mực khô : Xuất khẩu năm 2001 đạt con số kỷ lục với 26,4 nghìn tấn,
giá trị 211 triệu USD, chiếm 14,3% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản và giữ vịtrí là mặt hàng có giá trị xuất lớn thứ nhì Việt Nam là nớc xuất khẩu mực khôlớn nhất thế giới vào thời điểm hiện nay Với khối lợng mực khô xuất khẩulớn nh trên thì Việt Nam đã bỏ xa nớc xuất khẩu lớn mặt hàng này là TháiLan
- Cá đông lạnh : Đứng thứ ba về giá trị xuất khẩu là 165 triệu USD,
chiếm 11,2% giá trị xuất khẩu chung Đây là mặt hàng còn nhiều tiềm năngcần đợc khai thác cả cá biển lẫn cá nớc ngọt Thị trờng Mỹ và Nhật hằng nămnhập khẩu rất lớn sản phẩm này, ở đó thị phần của hàng cá đông của ViệtNam còn rất nhỏ bé
- Mực và bạch tuộc : Sản phẩm đông lạnh có khối lợng xuất là 34,6
nghìn tấn, giá trị 109 triệu USD Nh vậy Việt Nam đứng thứ nhì ASEAN vềxuất khẩu mặt hàng này (sau Thái Lan) Đây cũng là mặt hàng còn nhiều tiềmnăng và có thị trờng rộng Nhật Bản là thị trờng nhập khẩu lớn nhất, nhng tại
đây thị phần của mực và bạch tuộc của Việt Nam còn nhỏ so với Đài Loan,Hàn Quốc, Ackhentina, Marốc, Thái Lan … đặc biệt thuỷ sản
- Cá ngừ tơi và đông lạnh : Tuy có giá trị xuất khẩu còn nhỏ (23 triệu
USD), nhng điều quan trọng là sản phẩm này đã có mặt ngày càng nhiềukhông chỉ ở Nhật mà còn ở thị trờng Mỹ Chỉ tính 10 tháng đầu năm 2001Việt Nam đã xuất sang Mỹ 1.593 tấn cá ngừ các loại với giá trị trên 9 triệuUSD Hiện nay Mỹ là nớc nhập khẩu lớn cá ngừ tơi (chỉ sau Nhật Bản)
- Cá basa và cá tra philê : Là mặt hàng cá nớc ngọt xuất khẩu quan
trọng của Việt Nam Sản phẩm của chúng ta đang chiếm lĩnh thị trờng nhậpkhẩu của Mỹ, chỉ trong 10 tháng đầu năm 2001 chúng ta đã xuất 2.405 tấn cábasa philê, giá trị 8,3 triệu USD
- Các sản phẩm khác: Ngoài những sản phẩm chủ lực trên, những sảnphẩm thuỷ sản khác cũng đóng một vai trò tích cực vào bức tranh sáng sủacủa xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam năm 2001, đặc biệt là những mặt hàng thực
phẩm chế biến, cua ghẹ, đặc sản biển Trong 11 tháng của năm 2001, các“
nhóm sản phẩm này đạt kim ngạch trên 211,7 triệu đôla, tăng trên 58,4% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm tỷ trọng 16,2 trong kim ngạch xuất khẩu thủy sản ”
Trang 31Tuy nhiên, điều đáng mừng cho nhóm hàng này là Uỷ ban châu Âu“
(EC) cho phép xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ sang thị trờng EU” 1 Tính
đến nay, Uỷ ban châu Âu mới công nhận 15 nớc đủ tiêu chuẩn xuất khẩunhuyễn thể hai mảnh vỏ và Việt Nam là một trong 15 nớc đó
Những kết quả trên đợc coi là thắng lợi của việc đa dạng hoá sản phẩm,
đa dạng hoá mặt hàng Đây là xu hớng tích cực cần đợc tiếp tục duy trì vàphát triển trong những năm tiếp theo
1 Bài Đ “ ợc phép xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ sang EU” của Đức Vơng, TBKTVN số 58 ngày
5/5/2001
Trang 324 Đánh giá kết quả kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản.
a Số l ợng và kim ngạch xuất khẩu.
Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam thời kỳ 1991-2001.
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001Kim ngạch (tr
64,7 79,6 94,8 110,
9
127,7
150,5
292Nguồn: VASEP (Thời báo kinh tế Sài Gòn số 11.1.2002)Năm 1991 kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam đạt 205 triệu USD
đến năm 1997 xuất khẩu đạt 670 trỉệu đôla và xuấtkhẩu 2001 đạt 1479 triệu
đôla, một con số kỷ lục, nh vậy trong vòng 10 năm 1991-2001 xuất khẩuthuỷ sản của Việt Nam đã tăng 6 lần, mức tăng xuất khẩu trung bình hàngnăm đạt 19,5% còn nếu so với mức xuất khẩu 1997 là 670 triệu đôla thì xuấtkhẩu 2001 tăng 2,2 lần và mức tăng trung bình hàng năm thời kỳ 1997-2001
là 20%, đây quả là một tốc độ tăng trởng ngoạn mục Nh vậy, tổng khối lợngthuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam năm 2001 với 292 nghìn tấn, giá trị 1.479triệu USD, tăng 52% so với năm 2000 là mức tăng trởng nhanh nhất trong sốcác quốc gia xuất khẩu thuỷ sản chính của thế giới năm 2001
Xét theo số lợng hàng xuất khẩu thì mức xuất khẩu 1991 là 49,3 ngàntấn đã tăng lên 292 ngàn tấn năm 2001, mức tăng tơng đối là 6 lần và tốc độtăng trởng trung bình hàng năm trong thời kỳ 10 năm đó là 20% Điều này cónghĩa là việc tăng kim ngạch xuất khẩu thời gian qua đợc quyết định chủ yếubởi việc tăng số lợng hàng xuất khẩu trong khi giá cả xuất khẩu hầu nh ổn
là đóng góp vào việc hiện đại hoá ngành thuỷ sản Việt Nam
b Về vai trò và tốc độ phát triển.
Trang 33Xuất khẩu thuỷ sản có bớc tiến nhảy vọt, cả năm đạt trên 1.479 triệuUSD Không khí khởi sắc diễn ra trên địa bàn cả nớc, trong đó một số địa ph-
ơng đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản cao nh tỉnh Cà Mau - 240 triệuUSD, tăng 71,43% so với thực hiện 2000; thành phố Hồ Chí Minh - 136 triệuUSD, tăng 52,17%; tỉnh Cần Thơ - 124 triệu USD, tăng 45%, … đặc biệt thuỷ sản Cùng với các
địa phơng xuất khẩu lớn ở phía Nam, các tỉnh phía Bắc và miền Trung cũng
có bớc trởng thành đầy ấn tợng mà điển hình phải kể đến là Đà Nẵng - 32,5triệu USD, tăng 44,4%; Quảng Ninh - 22 triệu USD, tăng 18,3%; Tổng Công
ty thuỷ sản Việt Nam - 130 triệu USD, tăng 30%,
Trang 34Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam.
Đơn vị: triệu USDMặt hàng Thực hiện 2001 Ước TH 2002 Kế hoạch 2003
xu hớng ngày càng tăng, từ 10,2% năm 2001 đến 10,9% năm 2002 và dự tính
là 11,2% năm 2003, chứng tỏ tốc độ tăng trởng xuất khẩu thuỷ sản cao hơncác ngành khác và xuất khẩu thuỷ sản càng ngày càng chứng tỏ vị trí vữngvàng của mình
c Hiệu quả xuất khẩu.
Xuất khẩu tôm của Thái Lan và Việt Nam
Lợng XK(1000 tấn)
Kim ngạch(triệu USD)
Giá BQ(USD/kg)
Lợng(1000tấn)
Kim ngạch(triệu USD)
Giá BQ(USD/kg)
Nguồn: FAO year book
Để phân tích hiệu quả xuất khẩu, ta lấy mặt hàng tôm làm ví dụ
Qua bảng trên, ta thấy năm 1996, hiệu quả trong xuất khẩu tôm của ViệtNam là rất thấp Xét về lợng xuất khẩu, khối lợng tôm xuất khẩu của TháiLan cao gấp 4 lần Việt Nam vì Thái Lan thực hiện 100% là nuôi tôm côngnghiệp (sản lợng tôm sú nuôi của Thái Lan là 200.000 tấn/năm), còn ở ViệtNam ngựơc lại có đến 82% sản lợng tôm nuôi đợc thu hoạch qua nuôi quảngcanh và bán thâm canh Cũng nhờ vào phơng pháp nuôi tôm hiện đại cho thuhoạch tôm nguyên liệu hay tôm sống theo ý muốn và chủ động đợc cỡ loạitôm mà giá xuất khẩu tôm của Thái Lan thờng cao gấp 1,5 lần giá xuất khẩutôm của Việt Nam, nếu so với một nớc trung bình tiên tiến khác nhInđônêxia, năng suất nuôi thuỷ sản của Việt Nam cũng thấp hơn khoảng 60%
Đây cũng chính là một yếu điểm của nuôi tôm Việt Nam Và giá xuấtkhẩu