MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU LỜI CAM ĐOAN PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài. 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. 1 3. Mục đích của đề tài : 2 4. Đối tượng nghiên cứu 2 5. Phạm vi nghiên cứu 2 6. Phương pháp nghiên cứu 2 7. Bố cục của đề tài. 2 CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NAI, TỐ CÁO VÀ TỔNG QUAN SƠ LƯỢC VỀ UBND QUẬN TÂY HỒ, HÀ NỘI 4 1.1. Một số khái niệm 4 1.1.1. Khái niệm Khiếu nại. 4 1.1.2. Khái niệm Tố cáo 5 1.1.3. Khái niệm về thanh tra 5 1.2. Giới thiệu chung về UBND Quận Tây hồ. 7 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI CỦA BAN THANH TRA NHÀ NƯỚC 9 2.1. Thực trạng chung về vấn đề giải quyết Khiếu nại, Tố cáo. 9 2.2. Khiếu nại và giải quyết Khiếu nại về đất đai. 10 2.2.1 Khiếu nại về đất đai 10 2.2.2. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại 10 2.2.3 Thủ tục giải quyết khiếu nại 12 2.3. Tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai 14 2.3.1 Tố cáo về đất đai 14 2.3.2 Thẩm quyền giải quyết tố cáo 14 2.3.3 Thủ tục giải quyết tố cáo 15 2.4 Vai trò của các cơ quan thanh tra trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo: 16 2.5. Tình hình giải quyết khiếu nại, Tố cáo trong thời gian qua 19 2.5.1. Công tác tiếp dân 19 2.5.2 Công tác giải quyết khiếu nại. 19 2.5.3 Công tác giải quyết tố cáo. 19 2.6. Kết quả giải quyết từ năm 2012 đến Quý III Năm 2014 20 2.7. Nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo về đất đai 25 CHƯƠNG 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂY HỒ. 33 3.1. Một số đánh giá về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 33 3.1.1. Những mặt được 33 3.1.2. Những tồn tại trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 33 3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai. 34 KẾT LUẬN 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Để có thể hoàn thành được Đề tài “ Thực trạng giải quyết Khiếu nại, Tốcáo về đất đai của ban Thanh tra nhà nước thuộc UBND Quận Tây Hồ, Hà Nội”môn Phương pháp nghiên cứu khoa học tôi đã nhận được sự quan tâm và giúp
đỡ của rất nhiều người Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến
Trường Đại học Nội vụ, Khoa hành chính học đã tổ chức khóa học đểchúng tôi có thể nâng cao, bồi dưỡng và hoàn thiện tri thức của mình
Xin bày tỏ sâu sắc và kính trọng đến TS Bùi Thị Ánh Vân đã hướng dẫncách thực hiện một đề tài cho chúng tôi xin cảm ơn và tỏ lòng tri ân về sự tậntâm, nhiệt tình hướng dẫn của cô để tôi có thể thực hiện đề tài trong suốt quátrình giảng dạy
Ngoài ra tôi còn phải cảm ơn đến Anh Nguyễn Thanh Huấn Chánh thanhtra đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu, số liệu và hiểu hơn về Thựctrạng giải quyết Khiếu nại, Tố cáo tại UBND Quận Tây hồ
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong quá trình thực hiện đề tài nhưng vớinhững kiến thức và hiểu biết về thực tế còn nhiều hạn chế nên chắc chắn sẽ cónhiều thiếu sót, rất mong nhận được lời góp ý của quý thầy cô, quý cơ quan để bàitiểu luận của tôi được hoàn thiện và có thêm những kinh nghiệm quý báu nhất
Xin kính chúc ban lãnh đạo, tập thể cán bộ, công chức UBND Quận Tây
hồ, quý thầy cô giáo trường Đại học Nội vụ Hà Nội lời chúc sức khỏe, thànhcông và thịnh vượng trong cuộc sống cũng như trong công tác
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “ Thực trạng giải quyết Khiếu nại, Tố cáo về đấtđai của ban Thanh tra nhà nước thuộc UBND Quận Tây hồ, Hà nội” là đề tài dotôi thực hiện và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác làmsản phẩm của riêng mình Mọi thông tin, kết quả nghiên cứu nêu trong đề tài làhoàn toàn trung thực, có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng, Tôi xin chiụ tráchnhiệm hoàn toàn về tính chính xác và có sự khiếu nại, tố cáo về quyền tác giả
Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2016
Trang 3MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU
LỜI CAM ĐOAN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3 Mục đích của đề tài : 2
4 Đối tượng nghiên cứu 2
5 Phạm vi nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 2
7 Bố cục của đề tài 2
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NAI, TỐ CÁO VÀ TỔNG QUAN SƠ LƯỢC VỀ UBND QUẬN TÂY HỒ, HÀ NỘI 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.1.1 Khái niệm Khiếu nại 4
1.1.2 Khái niệm Tố cáo 5
1.1.3 Khái niệm về thanh tra 5
1.2 Giới thiệu chung về UBND Quận Tây hồ 7
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI CỦA BAN THANH TRA NHÀ NƯỚC 9
2.1 Thực trạng chung về vấn đề giải quyết Khiếu nại, Tố cáo 9
2.2 Khiếu nại và giải quyết Khiếu nại về đất đai 10
2.2.1 Khiếu nại về đất đai 10
2.2.2 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại 10
2.2.3 Thủ tục giải quyết khiếu nại 12
2.3 Tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai 14
2.3.1 Tố cáo về đất đai 14
2.3.2 Thẩm quyền giải quyết tố cáo 14
Trang 42.3.3 Thủ tục giải quyết tố cáo 15
2.4 Vai trò của các cơ quan thanh tra trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo: 16
2.5 Tình hình giải quyết khiếu nại, Tố cáo trong thời gian qua 19
2.5.1 Công tác tiếp dân 19
2.5.2 Công tác giải quyết khiếu nại 19
2.5.3 Công tác giải quyết tố cáo 19
2.6 Kết quả giải quyết từ năm 2012 đến Quý III Năm 2014 20
2.7 Nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo về đất đai 25
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂY HỒ 33 3.1 Một số đánh giá về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 33
3.1.1 Những mặt được 33
3.1.2 Những tồn tại trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 33
3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 34
KẾT LUẬN 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở nước ta, từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, nhà nước Việt NamDân chủ Cộng hoà ra đời cho đến nay, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đếncông tác giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân và coi đây là nhiệm vụ thườngxuyên của các cấp, các ngành trong hoạt động quản lý Nhà nước Tuy nhiên, từkhi Nhà nước ta bước vào thực hiện công cuộc đổi mới, nhiều cơ chế, chínhsách pháp luật và điều kiện kinh tế - xã hội được đổi mới, tình hình khiếu nại, tốcáo cũng đang có chiều hướng gia tăng cả về số lượng, quy mô và mức độ đặt ranhững vấn đề hết sức bức xúc, phức tạp Thậm chí, đôi lúc còn xuất hiện nhiều
“điểm nóng” gây ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự và ổn định xã hội ởmột số địa phương trong cả nước Đây là những vấn đề nhạy cảm đòi hỏi phảigiải quyết một cách thận trọng, chặt chẽ và toàn diện Mặc dù đã có luật khiếunại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành song cho đến nay, luật khiếu nại,
tố cáo mới thực hiện được một thời gian chưa dài đã bộc lộ những bất cập giữa
lý luận và thực tiễn Luật chưa phản ánh được sự đa dạng của khiếu nại, tố cáo,chế tài trách nhiệm chưa rõ ràng, chưa cụ thể và chưa có tính khả thi; công tácquản lý và giải qyết khiếu nại, tố cáo còn nhiều lúng túng, thủ tục rườm rà, gâyphiền hà cho dân
Sống trong môi trường luật pháp, tiếp cận với những vụ việc thực tiễn tôithấy bản thân mình nên tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, vì vậy tôi chọn đề tàinày cho bài tiểu luận của mình, dù biết là khó khăn và phức tạp nhưng được sựhướng dẫn nhiệt tình của mọi người tôi đã cố gắng hoàn thành tốt nhất có thể
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Khiếu nại, Tố cáo là một vấn đề nhạy cảm trong công tác quản lý nhànước, đã có nhiều bộ luật được đưa ra để giải quyết vấn đề nhưng vẫn còn nhiềubất cập vì vậy tôi quyết định tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này để hiểu rõ về côngtác quản lý nhà nước trong lĩnh vực Khiếu nại, Tố cáo
Trang 64 Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu về công tác giải quyết Khiếu nại, Tố cáo về đất đaicủa ban Thanh tra nhà nước thuộc UBND Quận Tây hồ, Hà nội
Làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở pháp luật xác định vai trò của các cơ quanthanh tra nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của cơ quan thanh tra trong giảiquyết khiếu nại, tố cáo đất đai
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nêu lên vai trò của cơ quan thanh tra Nhà nước quận Tây hồ,thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai giải pháp và kiến nghị
6 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, duy vậtlịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê Nin đồng thời trên quan điểm của Đảng và Nhànước ta về nhà nước và pháp luật và yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân
Vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học,tổng kết thực tiễn, phương pháp lịch sử cụ thể
7 Bố cục của đề tài.
Ngoài phần Lời cảm ơn, lời cam đoan, lời nói đầu và phần kết luận, tàiliệu tham khảo và phần phục lục thì bài tiểu luận gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về công tác giải quyết Khiếu nại, Tố cáo
và tổng quan sơ lược về UBND Quận Tây hồ
Trang 7Chương 2: Thực trạng công tác giải quyết Khiếu nại, Tố cáo về đất đaicủa ban Thanh tra nhà nước Quận Tây hồ.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết Khiếunại, Tố cáo trên địa bàn quận Tây hồ
Trang 8CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NAI, TỐ CÁO VÀ TỔNG QUAN SƠ LƯỢC VỀ UBND QUẬN
TÂY HỒ, HÀ NỘI 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm Khiếu nại.
Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản đã được ghi nhận tại điều 74của Hiến pháp năm 1992 Đó là hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội như
là phản ứng của một con người trước một quyết định, một hành vi nào đó màngười khiếu nại cho rằng quyết định hay hành vi đó là không phù hợp với cácquy tắc, chuẩn mực trong đời sống cộng đồng xâm phạm đến quyền và lợi íchhợp pháp của mình Dưới góc độ pháp lý, khiếu nại được hiểu là: “việc côngdân, cơ quan, tổ chức, hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật khiếu nại,quy định đề nghị với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyếtđịnh hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chứckhi có căn cứ cho rằng quyết định hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền
và lợi ích hợp pháp của mình” (khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại)
Từ khái niệm có thể thấy: khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổchức chịu tác động trực tiếp của quyết định hành chính hay hành vi hành chínhhoặc là đề nghị của cán bộ, công chức chịu tác động trực tiếp của quyết định kỷluật đối với cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Như vậy, Khiếu nại là quyền, là hành vi của các chủ thể như cơ quan nhànước, tổ chức và cá nhân, còn hoạt động giải quyết khiếu nại là hoạt động mangtính quyền lực nhà nước, chỉ được thực hiện bởi người có thẩm quyền trong cơquan hành chính nhà nước theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Quyềnkhiếu nại của công dân xuất hiện trong mối liên hệ với quá trình thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước Quá tình công dân thực hiện quyền khiếu nại chính làquá trình cung cấp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền các tài liệu, chứng cứ
về sự vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân từ phía cơ quan và người
có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước
Trang 91.1.2 Khái niệm Tố cáo
Cùng với quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân đã được ghi nhậntrong Hiến pháp, Luật Tố cáo và nhiều văn bản pháp luật khác Khái niệm tố cáo
có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ pháp lý, tố cáođược hiểu: “là việc công dân theo thủ tục do Luật Tố cáo quy định báo cho cơquan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất
cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợiích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”(khoản 2, Điều 2 Luật Tố cáo) Như vậy, công dân dù bị ảnh hưởng trực tiếp haykhông bị ảnh hưởng bởi hành vi vi phạm pháp luật là đối tượng của việc tố cáo,đều có quyền thực hiện việc tố cáo khi biết được có hành vi vi phạm pháp luậtxảy ra trong đời sống xã hội Công dân có thể cung cấp các thông tin về hành vi
vi phạm pháp luật xảy ra trong đời sống xã hội Công dân có thể cung cấp cácthông tin về hành vi vi phạm của các cơ quan nhà nước nhưng khác với Khiếunại ở chỗ là tố cáo luôn được gửi tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bất cứ cơquan nào mà người tố cáo muốn gửi đến để bày tỏ quan điểm của mình về hành
vi vi phạm của chủ thể, cơ quan, cá nhâ nào đó, và người tố cáo luôn là chủ thểxác định, có những quyền, nghĩa vụ dược quy định trong Luật Tố cáo Khi côngdân thực hiện quyền tố cáo thì giữa họ với cơ quan nhà nước sẽ phát sinh nhữngquan hệ pháp luật nhất định và họ phải chịu trách nhiệm trước những thông tin
mà mình cung cấp Nội dung tố cáo của công dân rất đa dạng và phức tạp; có tốcáo về những việc làm trái pháp luật của cán bộ, công chức trong bộ máy nhànước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ; có những tố cáo về những sai phạm trongcông tác quản lý của các cơ quan, trong đó có cơ quan quản lý hành chính nhànước Ngoài ra, công dân có thể tố cáo các hành vi vi phạm về đạo đức, lối sốngcủa cán bộ, công chức…
1.1.3 Khái niệm về thanh tra
Khái niệm về vai trò của các cơ quan nhà nước nói chung và vai trò củathanh tra nhà nước quận Tây Hồ nói riêng trong thực hiện quyền lực nhà nước
Trang 10và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai.
Vai trò của các cơ quan nhà nước là một khái niệm rộng xong cần đượclàm rõ để làm cơ sở trong việc nghiên cứu về sự phân công trong việc thực hiệnquyền lực của các cơ quan nhà nước Vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nướctrong giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai phải được nghiên cứu trong tổng thểtrong các vai trò chung của các cơ quan nhà nước Để làm rõ vai trò của cơ quanthanh tra nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trước hếtchúng ta cần tìm hiểu khái niệm, vai trò
Ở nước ta nhà nước không tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lậpsong có sự phân công và phối hợp nhiệm vụ thực hiện giữa các cơ quan lậppháp, hành pháp và tư pháp Các cơ quan nhà nước hoạt động theo nguyên tắctất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân tập trung dân chủ; quyền lực nhànước là thống nhất, nhưng có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan thực hiệnchức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp có sự phân cấp rành mạch giữa trungương và các cấp chính quyền địa phương; có kế hoạch pháp chế xã hội chủnghĩa; công khai dân chủ, bình đẳng giữa các dân tộc; bảo đảm sự tăng cườnglãnh đạo của Đảng đối với nhà nước
Như vậy, mỗi loại cơ quan đóng vai trò nhất định trong việc thực hiệnquyền lực nhà nước, đó là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Tính độc lậptương đối về chức năng của các cơ quan đó do sự phân công quyền lực quyếtđịnh Nhưng có sự phối hợp nhịp nhàng tạo nên sự thống nhất, đồng bộ tronghoạt động các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức chỉ được làm những gì màpháp luật quy định Tất cả những việc có lợi cho nhân dân thì nên làm, cần phảilàm, việc gì có hại cho dân thì không được làm, thậm chí cả khi pháp luật khôngquy định
Thực tế ở nước ta đã cho thấy, hoạt động của các cơ quan hành chính nhànước, cán bộ, công chức cơ bản là đúng pháp luật, phù hợp với nguyện vọng vàyêu cầu của nhân dân, đó là sự biểu hiện bản chất của Nhà nước kiểu mới, Nhànước của dân, do dân, vì dân Nhà nước ta đang tiến đến quản lý xã hội bằng
Trang 11pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Song khôngphải lúc nào, khi nào và ở đâu cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức cũng chấphành nghiêm chỉnh pháp luật và tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Vì quan liêu, mất dân chủ, tham nhũng tiêu cực, cục bộ, bản vị, bè phái đã dẫnđến việc ban hành những quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chínhxâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đó là nguyên nhân nảy sinhcác khiếu nại, tố cáo của công dân Vấn đề đặt ra cần phải được tiếp tục xem xét
ở đây là cơ quan nhà nước nào có khả năng giải quyết một cách khách quan,đúng đắn với khiếu nại và tại sao giải quyết khiếu nại, tố cáo lại giao cho cơquan thanh tra nhà nước thực hiện
Việc phân công nhiệm vụ cho thanh tra, giúp cho cơ quan nhà nước cóđiều kiện tập trung, chuyên sâu vào hoạt động quản lý đối với các hoạt động củađời sống xã hội Hơn thế nữa với vị trí của mình các cơ quan thanh tra nhà nước
sẽ độc lập để giải quyết một cách khách quan, đúng đắn và hiệu quả hơn cáckhiếu nại, tố cáo cảu công dân
Từ những phân tích nêu trên có thể thấy rằng, vai trò của các cơ quanthanh tra nhà nước trong giải quyết khiếu nại là việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của một loại cơ quan hành chính “đặc biệt” trong việc tham mưu cho cơ quanhành chính, quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và trựctiếp giải quyết khiếu nại, tố cáo khi được cơ quan nhà nước cùng cấp uỷ quyền
Quyền khiếu nại và quyền tố cáo là những quyền chính trị cơ bản của côngdân, là phương tiện đảm bảo cho việc thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợppháp khác của công dân, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội Đồng thời đócũng là nguồn thông tin quan trọng về tình trạng pháp chế trong quản lý hànhchính nhà nước, nó góp phần củng cố mối liên hệ giữa nhà nước và công dân
1.2 Giới thiệu chung về UBND Quận Tây hồ.
Quận Tây Hồ được xác định là trung tâm dịch vụ - du lịch, trung tâm vănhoá, là vùng bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của Thủ đô Hà Nội Quận nằm ở phíaTây Bắc của Hà Nội Diện tích 24,0km2, gồm 8 phường: Bưởi, Yên Phụ, Thuỵ
Trang 12Khuê, Tứ Liên, Quảng An, Nhật Tân, Xuân La, Phú Thượng Phía đông giápquận Long Biên; Phía tây giáp huyện Từ Liêm và quận Cầu Giấy; Phía nam giápquận Ba Đình; Phía bắc giáp huyện Đông Anh.
Theo định hướng phát triển của Thủ đô Hà Nội đến năm 2020, quận Tây
Hồ thuộc khu vực phát triển của Thành phố trung tâm Như vậy, trong tương lai,Tây Hồ sẽ là khu vực trung tâm của Thủ đô Hà Nội Với vị trí đó, Tây Hồ cóđiều kiện đặc biệt thuận lợi thu hút các nguồn lực (bao gồm cả nguồn vốn tàichính, nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ) để thúc đẩy nhanh sự phát triểnkinh tế - xã hội của Quận nói riêng và của Thủ đô Hà Nội nói chung
Trang 13CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI CỦA BAN THANH TRA NHÀ NƯỚC
2.1 Thực trạng chung về vấn đề giải quyết Khiếu nại, Tố cáo.
Từ lâu tình hình khiếu nại, tố cáo luôn là vấn đề bức bách được UBNDquận Tây Hồ và tất cả người dân trên địa bàn hết sức quan tâm Ngoài việc thựchiện các văn bản pháp luật liên quan đến khiếu nại, tố cáo về đất đai của Trung
ương và Thành phố Hà Nội, UBND Quận Tây Hồ đã ra quyết định số 06/2008/ QĐ-UBND ngày 28/10/2008 của UBND quận Tây Hồ, ban hành quy định về
tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc quận Tây Hồ Các văn bản đó
đã và đang được triển khai thực hiện, có tác động tích cực đến tình hình khiếunại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo Nhờ vậy, nhiều “điểm nóng”, nhiều
vụ việc phức tạp đã được giải quyết, góp phần ổn định tình hình an ninh chínhtrị, trật tự an toàn xã hội của thành phố Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, tìnhhình khiếu nại, tố cáo của công dân diễn ra không bình thường, số lượng giatăng, tính chất ngày càng phức tạp Trong đó khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đấtđai chiếm số lượng lớn, khoảng 70 – 75% so với các tổng số vụ khiếu nại, tố cáochung
Trong thời gian từ năm 2012 – Quý III 2014 có rất nhiều vụ việc khiếunại liên quan đến đất đai Nhiều trường hợp khiếu nại có liên quan đến việc Nhànước thu hồi đất để thực hiện các dự án, khu công nghiệp,các công trình hạ tầngnhư đòi được bồi thường đất ở, nâng giá bồi thường, tăng tiền hỗ trợ, bố trí táiđịnh cư, giải quyết việc làm; đòi lại đất cho mượn, cho thuê Ngoài ra, có một
số khiếu nại liên quan đến việc thực hiện chính sách xã hội, kỷ luật của cán bộ,công chức Về nội dung tố cáo, chủ yếu là tố cáo cán bộ, công chức làm saichính sách, tiêu cực, tham nhũng trong quản lý đất đai, đầu tư, xây dựng cơ bản;thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, bao che người bị tố cáo, không
xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật
Trang 142.2 Khiếu nại và giải quyết Khiếu nại về đất đai.
2.2.1 Khiếu nại về đất đai
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại, thì công dân, cơ quan,
tổ chức có quyền khiếu nại đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xemxét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai khi có căn cứ chorằng các quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm trực tiếp đếnquyền và lợi ích hợp pháp của mình
Các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại (Điều 162Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ vềthi hành Luật Đất đai):
- Quyết định hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại bao gồm:
+ Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phépchuyển mục đích sử dụng đất;
+ Quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư;
+ Quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất;
- Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán
bộ, công chức nhà nước khi giải quyết công việc thuộc phạm vi quy định nhưnói ở trên
2.2.2 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Theo Điều 17, Mục 1, Chương 3 của Luật Khiếu nại năm sửa đổi bổ sung
2011 quy định thì thẩm quyền giải quyết khiếu nại được quy định như sau:
Chủ tịch UBND cấp xã, thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cấp huyện, Chủtịch UBND cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương, Giámđốc Sở và cấp tương đương của UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, thủtrưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chínhphủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chínhphủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính hành vihành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp
Ngoài ra, Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch
Trang 15UBND cấp xã, thủ trưởng cơ quan chuyên môn cấp huyện đã giải quyết nhưngcòn khiếu nại, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại mà Chủtịch UBND cấp huyện đã giải quyết nhưng còn khiếu nại; giải quyết khiếu nại
mà Giám đốc Sở hoặc cấp tương đương thuộc UBND cấp tỉnh đã giải quyếtnhưng còn khiếu nại mà nội dung thuộc phạm vi quản lý nhà nước của UBNDcấp tỉnh
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộcChính phủ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ,thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ đã giải quyết lần đầunhưng còn khiếu nại, giải quyết khiếu nại có nội dung thuộc quyền quản lý nhànước của Bộ, ngành mình mà Chủ tịch UBND cấp tỉnh, giám đốc Sở hoặc cấptương đương thuộc UBND cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại
Tổng thanh tra có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà Thủ trưởng cơquan thuộc Chính phủ đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại; giúp Thủtướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quanthuộc Chính phủ, UBND các cấp trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại,thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật
Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền lãnh đạo công tác giải quyết khiếunại của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp; xử
lý các kiến nghị của Tổng thanh tra theo quy định
Tuy nhiên Luật Đất đai quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủtịch UBND cấp huyện và UBND cấp tỉnh Cụ thể tại khoản 2 Điều 138 quy địnhnhư sau:
- Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính vềquản lý đất đai do Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giảiquyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì cóquyền khởi kiện tại Toà án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBNDcấp tỉnh Trong trường hợp khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh thì quyếtđịnh của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là quyết định giải quyết cuối cùng;
Trang 16- Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính vềquản lý đất đai do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giảiquyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định đó thì có quyềnkhởi kiện tại Toà án nhân dân.
Bên cạnh đó, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định bổsung việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất thực hiện quyền
sử dụng đất, trình tự, thủ tục, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thuhồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai cũng chỉ đề cập đến thẩm quyền giảiquyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp huyện và cấp tỉnh Ngoài hai trườnghợp nêu trên, việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vihành chính trong lĩnh vực đất đai được dẫn chiếu áp dụng theo quy định củapháp luật về khiếu nại, tố cáo
Như vậy, Luật Đất đai và Luật Tố tụng hành chính đều quy định việc giảiquyết khiếu nại về đất đai theo hướng: người khiếu nại chỉ có quyền khởi kiện ratoà án trong trường hợp đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà khôngđồng ý với quyết định đó và không tiếp tục khiếu nại lên cơ quan hành chính cấptrên
2.2.3 Thủ tục giải quyết khiếu nại
Theo quy định của Điều 27, 28, 29 Luật Khiếu nại, hiện hành thì ngườikhiếu nại lần đầu phải khiếu nại với người ra quyết định hành chính hoặc cơquan có cán bộ, công chức có hành vi hành chính mà người khiếu nại có căn cứcho rằng quyết định hành chính đó, hành vi hành chính đó là trái pháp luật, xâmphạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngàyhết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 28 Luật Khiếu nại, mà khiếu nại khôngđược giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lầnđầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩmquyền giải quyết tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quyđịnh của pháp luật; đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn nóitrên có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày Trường hợp người khiếu nại
Trang 17không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Bộ trưởng, Thủtrưởng cơ quan ngang Bộ thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà ánnhân dân cấp tỉnh, trừ trường hợp luật có quy định khác Trong thời hạn 30ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 33 LuậtKhiếu nại, mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyếtđịnh giải quyết khiếu nại mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khởikiện vụ án hành chính tại Toà án; đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thìthời hạn nói trên có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày.
Tuy nhiên, điểm a khoản 2 Điều 138 Luật Đất đai năm 2003 lại quy định:Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai là quyết định giải quyết khiếu nại cuốicùng và người khiếu nại có quyền khởi kiện ra toà Đồng thời điểm b khoản 2Luật Đất đai, khoản 3 Điều 6 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP cũng quy định:trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đấtđai do Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết lần đầu mà người khiếu nại khôngđồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiệns tại Toà ánnhân dân
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 2 và khoản 17 Điều 11 Pháp lệnh giải quyết
các vụ án hành chính cũng quy định: cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi
kiện để toà án giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính
về quản lý đất đai trong trường hợp:
- Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;
- Bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Gia hạn thời hạn sử dụng đất trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND cấp huyện và không tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Trang 182.3 Tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai
2.3.1 Tố cáo về đất đai
Theo quy định tại khoản 1, điều 2 Luật Tố cáo thì tố cáo là việc công dântheo thủ tục do pháp luật quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩmquyền biết về hành vi vi phạm pháp luật đất đai của bất cứ cơ quan, tổ chức, cánhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền, lợiích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
2.3.2 Thẩm quyền giải quyết tố cáo
Theo Luật Tố cáo 2011 thì Thẩm quyền giải quyết Tố cáo được quy địnhnhư sau:
Trong việc thực hiện thẩm quyền do nhiều “kết luận" gây nên Điều 13,
14, 15, 16 ,17 Luật Tố cáo năm 2011 Thủ trưởng các cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người do mình quản
lý trực tiếp Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức thì việc quản lý trực tiếp có nhiềunội dung (cơ quan quản lý hồ sơ, quản lý ngạch công chức, cơ quan quản lý cán
bộ, cơ quan sử dụng cán bộ ) Với cấp huyện, Chủ tịch huyện là người ra quyếtđịnh bổ nhiệm, điều động từ trưởng phòng, ban trở xuống (cả cán bộ khôngchuyên trách và các chức danh công chức ở cấp xã) và theo quy định trên thìngười trực tiếp quản lý cán bộ công chức lại là thủ trưởng cơ quan chuyên môncấp huyện và Chủ tịch UBND cấp xã nhưng thủ trưởng cơ quan chuyên môn lạikhông có thẩm quyền giải quyết tố cáo Chính vì vậy mà trong thực tế mỗi địaphương sẽ có hướng vận dụng theo cách hiểu của mình
Điều 23, 24 Luật Tố cáo 2011 thì trách nhiệm của cơ quan Thanh tra làxác minh nội dung tố cáo, ra kết luận, xem xét nội dung kết luận… đều sử dụngcụm từ “kết luận" - Người được giao xác minh cũng phải có kết luận bằng vănbản, người giải quyết tố cáo cũng phải có kết luận rõ ràng và gửi văn bản kếtluận vụ việc tố cáo cho các cơ quan có thẩm quyền (cơ quan Thanh tra, cơ quannhà nước cấp trên) Tuy nhiên, trên thực tế quy định như vậy, vô tình làm khócho các cơ quan chức năng trong quá trình giải quyết một vụ việc Bởi các công
Trang 19đoạn, quy trình xem xét giải quyết đều phải có "kết luận" song không có quyđịnh nào nêu rõ kết luận nào là cuối cùng, văn bản kết luận nào là văn bản gửicác đối tượng có liên quan - văn bản của cơ quan được giao xác minh, hay người
có thẩm quyền giải quyết Do đó, các quy định trên sẽ thiếu tính khả thi trênthực tế, dễ dẫn đến sự chồng chéo
2.3.3 Thủ tục giải quyết tố cáo
Theo quy định tại Điều 18, Luật Tố cáo thì công dân có quyền tố cáo Cóthể thấy, Luật Tố cáo đã cá thể hoá trách nhiệm của người tố cáo để họ tự chịutrách nhiệm trước pháp luật về hành vi (tố cáo) và nếu tố cáo sai thì cũng dễdàng, thuận tiện cho việc xác định hành vi, khẳng định chủ thể của tố cáo chỉ cóthể là công dân - khác với chủ thể khiếu nại là công dân (hoặc cán bộ, côngchức), cơ quan, tổ chức
Song, trong thực tế nhiều trường hợp tố cáo, cùng lúc (cùng trong 1 đơn)
có nhiều người cùng ký và tố cáo cũng chỉ một nội dung hoặc một vấn đề; nếuthực hiện theo đúng quy định của pháp luật trước khi xem xét giải quyết cơ quan
có thẩm quyền phải yêu cầu mỗi cá nhân viết đơn tố cáo riêng (mặc dù cùng mộtnội dung) Song quy định như trên thiếu tính khả thi trong thực tế bởi trong quátrình xử lý hình sự nếu có tố cáo sai (có hành vi vu khống đến mức phải xử lýhình sự), các cơ quan tố tụng có thể xem xét cả khía cạnh hành vi có tổ chức,đồng phạm , còn nếu tố cáo đúng thì chứng tỏ hành vi vi phạm pháp luật bị tốcáo đã được nhiều người biết và mong muốn báo tin để các cơ quan có thẩmquyền xem xét giải quyết, vấn đề còn lại là: đơn phải được gửi đến đúng cơ quan(người) có thẩm quyền giải quyết
Vì vậy, trong trường hợp này việc cá thể hoá trách nhiệm (quy định chủthể của tố cáo) chỉ là công dân sẽ thiếu tính thuyết phục và ở mức độ nào đó còn
có sự rườm rà về thủ tục hành chính không cần thiết
Một trong các nội dung liên quan đến quá trình giải quyết tố cáo của các
cơ quan có thẩm quyền là việc thực hiện quy định về "giữ bí mật" Tại Điều 36 Luật Tố cáo quy định người tố cáo có quyền yêu cầu giữ bí mật họ tên, địa chỉ
Trang 20-bút tích của mình Luật quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo, giảiquyết tố cáo phải giữ bí mật cho người tố cáo, không được tiết lộ họ, tên, địachỉ, bút tích của người tố cáo và các thông tin khác có hại cho người tố cáo Nếuchỉ đọc nội dung để bổ sung kiến thức thì không thấy có gì khúc mắc hiện hữu,nhưng vấn đề cần phải bàn ở đây là tại sao và trong trường hợp nào phải giữ bímật
Để bảo đảm cho các quy định của pháp luật về khiếu nại tố cáo có tínhkhả thi, dễ hiểu và dễ vận dụng trong quá trình tổ chức thực hiện, sau mỗi giaiđoạn triển khai thực hiện Luật Khiếu nại, tố cáo, trong khi chưa thể sửa đổi bổsung Luật, Nghị định, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu, ban hành Thông
tư để hướng dẫn thực hiện những vấn đề còn vướng mắc, hoặc những quy địnhmới mà nội dung cần phải có hướng dẫn chi tiết Bên cạnh đó, cần sớm cóhướng dẫn cụ thể, chi tiết đối với các vấn đề đã được nêu trên
Tóm lại: “việc phân biệt hai khái niệm khiếu nại và tố cáo sẽ góp phầnquan trọng trong việc xây dựng cơ chế, thiết chế thực hiện quyền công dân vàcũng là cơ sở để cá thể hóa trách nhiệm, từ đó xác định thẩm quyền và xây dựngtrình tự giải quyết khiếu nại và tố cáo ngày càng đơn giản, gọn nhẹ, nhanhchóng, tiết kiệm và hợp lí hơn” (Giáo trình Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tốcáo – Trường Đại học Luật Hà Nội Nhà xuất bản Công an nhân dân Hà Nội2006)
2.4 Vai trò của các cơ quan thanh tra trong việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo:
Theo quy định của pháp lệnh thanh tra năm 1990, các cơ quan Thanh tranhà nước bao gồm: Thanh tra nhà nước, Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, cơquan thuộc chính phủ (gọi chung là thanh tra bộ); Thanh tra tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương (gọi chung là thanh tra tỉnh); Thanh tra sở, Thanh tra huyện,quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là thanh tra huyện) Các cơ quanthanh tra nằm trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước Các cơ quan thanhtra nhà nước chịêu sự chỉ đạo trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời
Trang 21chịêu sự chỉ đạo công tác, tổ chức nghiệp vụ của cơ quan thanh tra nhà nước cấptrên.
Theo quy định của Luật khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2011 thì các cơ quanthanh tra nhà nước có vai trò quan trọng trong giải quyết khiếu nại, tố cáo nóichung và giải quyết khiếu nai, tố cáo về đất đai nói riêng, cụ thể là:
- Tham mưu giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp tronggiải quyết khiếu nại, tố cáo;
- Giải quyết khiếu nại theo uỷ quyền của thủ trưởng cơ quan quản lý nhànước cùng cấp; Riêng Tổng Thanh tra nhà nước với tư cách là thành viên Chínhphủ, là người đứng đầu cơ quan thanh tra nhà nước, có các chức năng quản lýnhà nước về công tác giải quyết khiếu nại có thẩm quyền giải quyết một sốkhiếu nại, tố cáo;
- Tiếp công dân, nhận các khiếu nại, tố cáo;
- Quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
Như vậy, trong việc gải quyết khiếu nại, tố cáo thì các cơ quan thanh tranhà nước chỉ có thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết những khiếu nại, tố cáotheo sự uỷ quyền của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước Việc tham mưu chothủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp trong giải quyết khiếu nại, tố cáo
là hoạt động quan trọng có tính chất hỗ trợ, giúp việc cho cơ quan quản lý Tuykhông trực tiếp ra quyết định giải quyết nhưng thông qua việc thẩm tra, xácminh, kết luận nội dung vụ việc, yêu cầu của người khiếu nại, tố cáo, đề xuấthướng giải quyết khiếu nại, tố cáo có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giảiquyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo của công dân Tiếp công dân, nhận các khiếunại, tố cáo là hoạt động có tính chất hỗ trợ trực tiếp, gắn bó chặt chẽ với việcgiải quyết khiếu nại, tố cáo, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.Chính cì vậy,khi nghiên cứu về vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nước trong việc giảiquyết khiếu nại, tố cáo về đất đai chúng ta phải đề cập đến nhiệm vụ, quyền hạnnhư đã nêu trên Nếu chỉ tập trung phân tích, đánh giá về thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn trong việc trực tiếp giải quyết khiếu nại hoặc rong việc tham mưa