1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu giá trị di tích lịch sử đền Trần Lộc Vượng Nam Định

42 342 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI TÍCH VÀ KHÁI QUÁT VỀ PHỦ THIÊN TRƯỜNG NAM ĐỊNH 4 1.1. Lý luận chung về di tích 4 1.1.1. Một số khái niệm 4 1.1.2. Đường lối, chính sách của nhà nước về di sản văn hóa. 4 1.2. Tổng quan về Phủ Thiên Trường Nam Định 6 1.2.1. Đặc điểm địa lý – kinh tế 6 1.2.2. Đặc điểm văn hóa – xã hội 6 Tiểu kết 7 Chương 2. CÁC GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH ĐỀN TRẦN 8 2.1. Khái quát về khu di tích Đền Trần 8 2.1.1. Tổng quan về Phường Lộc Vượng 8 2.1.2. Vị trí địa lý khu di tích 8 2.1.3. Lịch sử hình thành và phát triển khu di tích Đền Trần 9 2.1.4. Kiến trúc của khu di tích Đền Trần 11 2.2. Các giá trị của di tích Đền Trần. 13 2.2.1. Giá trị lịch sử 13 2.2.2. Giá trị kiến trúc, nghệ thuật của di tích Đền Trần. 19 2.2.3. Giá trị tâm linh. 25 2.2.4. Giá trị giáo dục. 25 Tiểu kết 26 Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY KHU DI TÍCH ĐỀN TRẦN 27 3.1. Đánh giá vai trò di tích đền Trần, phường Lộc Vượng, Nam Định 27 3.2. Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích đền Trần 28 3.2.1. Giải pháp về lãnh đạo, chỉ đạo. 28 3.2.2. Giải pháp về tuyên truyền, nâng cao nhận thức giá trị các di tích. 28 3.2.3. Giải pháp về phối hợp các ngành, các cấp, các tổ chức chính trị xã hội 29 3.2.4. Giải pháp về công tác chăm sóc, bảo vệ. 29 3.2.5. Giải pháp về kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước. 29 3.2.6. Gải pháp về tôn tạo, tu bổ, sửa chữa. 30 3.2.7. Giải pháp về xã hội hoá. 30 3.2.8. Giải pháp hội nhập, giao lưu, giới thiệu văn hoá, con người Lộc Vượng. 31 Tiểu kết 31 KẾT LUẬN 32 TÀI LIỆU THAM KHẢO 34 PHỤ LỤC 35

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu giá trị di tích lịch sử đền Trần - Lộc Vượng - Nam Định” là đúng sự thật và do chính tôi thực hiện Nếu

có gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về các nội dung trong đề tài đãnghiên cứu

Hà Nội, ngày 25 tháng 05 năm 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Tiến sĩ LÊ THỊ HIỀN - giảng

viên bộ môn “Phương pháp nghiên cứu khoa học” của khoa Văn hóa - Thông tin

và xã hội đã trang bị cho tôi những kiến thức, kĩ năng cơ bản để tôi có thể hoànthành đề tài nghiên cứu này

Tôi cũng xin cảm ơn Ban Quản lý đền Trần đã tạo điều kiện cho tôi cóthêm hiểu biết về lịch sử, kiến trúc cũng như các giá trị tâm linh của di tích lịch

sử đền Trần

Tôi hi vọng tài liệu này sẽ là cẩm nang hữu ích cung cấp cho bạn đọcnhững kiến thức lịch sử - văn hoá cơ bản và cụ thể về di tích lịch sử đền Trần

Mặc dù trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã cố gắng tổng hợp đầy đủ

bề dầy và bề sâu lịch sử - văn hoá và các giá trị của di tích lịch sử đền Trầnnhưng tôi khó tránh khỏi những sai sót khi tìm hiểu, đánh giá cũng như trình bày

về đề tài nghiên cứu này Tôi rất mong bạn đọc thông cảm và mong giành được

sự quan tâm đóng góp ý kiến của cô giáo và các bạn cho bài nghiên cứu để tôitiếp tục bổ sung, hoàn thiện đề tài hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

BẢNG DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Nội dung viết tắt

1 CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam có một hệ thống các di tích – văn hóa khá đồ sộ và phong phú,

có mặt ở khắp mọi miền của đất nước Nó bao trùm lên toàn bộ đời sống vậtchất và tinh thần của toàn xã hội theo suốt chiều dài lịch sử

Nằm ở vùng Đông Bắc Bộ - nơi có mật độ các di tích lịch sử - văn hóavào loại cao nhất trong cả nước Nam Định – một tỉnh có quá trình phát triển rấtlâu đời và là quê hương của các Vua Trần với rất nhiều các khu di tích lịch sửđược xếp hạng quốc gia như : Đền Trần, Đền Cây Quế, Phủ Dầy, Đền Bảo Lôc,

…Là người con sinh ra và lớn lên ngay tại mảnh đất này thì di tích Đền Trần làmột trong những khu di tích gây ấn tượng nhất đối với tôi Đây không chỉ là nơi

để cho mọi người về đây hành hương lễ thánh, nơi các đệ tử tìm về chốn linhthiêng mà còn là nơi để du khách tham quan vãng cảnh đền, tìm hiểu di tích, lịch

sử, chiêm ngưỡng kiến trúc độc đáo của các vị Vua nhà Trần hay để thưởng thức

vẻ đẹp sơn thuỷ hữu tình của thiên nhiên hoà quyện nơi đây Di tích Đền Trầnmang trong mình rất nhiều giá trị về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật cũng nhưtâm linh đại diện cho những nét đẹp văn hóa đặc trưng riêng của vùng đất ThànhNam

Vì vậy, nghiên cứu về di tích Đền Trần nhằm góp phần giữ gìn bản sắcvăn hoá truyền thống tốt đẹp của vùng này đang bị biến đổi mạnh mẽ trong đờisống xã hội hiện đại Đồng thời qua đó khai thác triệt để và phát huy các giá trịcủa khu di tích lịch sử này nhằm phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân trongvùng và hoạt động du lịch của địa phương trong sự nghiệp phát triển kinh tế hiện

nay Chính vì lý do đó, tôi đã chọn đề tài: “Tìm hiểu giá trị di tích Đền Trần – Phường Lộc Vượng – Nam Định” làm đề tài để thi kết thúc học phần môn

phương pháp nghiên cứu khoa học

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

2.1 Đối tượng nghiên cứu.

Trong phạm vi bài nghiên cứu, tôi tập trung nghiên cứu về các di tích nằmtrong Đền Trần và những giá trị kiến trúc, lịch sử, nghệ thuật, tâm linh, văn hóa

Trang 5

3 Mục đích và ý nghĩa của đề tài.

Đề tài cung cấp những giá trị của Đền Trần đem lại

Đề tài nhằm cung cấp một cái nhìn tương đối đầy đủ, hệ thống và chi tiết

về các công trình kiến trúc, danh lam thắng cảnh tại Đền Trần

Do được xây dựng trên cơ sở vận dụng từ lý thuyết đến thực tế do vậy kếtquả của đề tài có thể được ứng dụng trong công tác quản lý, là cơ sở để xâydựng các tour du lịch, là nguồn tư liệu cho những ai có nhu cầu tìm hiểu về cácgiá trị của di tích Đền Trần

4 Lịch sử nghiên cứu.

Trong đề tài nghiên cứu này, bài nghiên cứu chỉ xin nêu một số tác phẩm,bài báo của một số tác giả viết về di tích Đền Trần Vì là ngôi đền cổ nên có rấtnhiều cá nhân tìm hiểu và khai thác giá trị đặc sắc của di tích này

- Cuốn sách " Trần Miếu – di sản và tín ngưỡng dân gian" của tác giả HồĐức Thọ, Nxb Văn hóa thông tin năm 2006 Cuốn sách giới thiệu về quần thể ditích lịch sử Đền Trần giúp người đọc hiểu rõ về kiến trúc, quần thể của khu ditích Đền Trần

- Cuốn sách " Di tích lịch sử văn hóa tỉnh Nam Định" của tác giả Nguyễn

Vũ Hạnh Liên, Nxb Văn hóa Dân tộc Hà Nội năm 2008 Cuốn sách là kết quảsưu tầm, biên soạn của nhiều tác giả với 74 di tích đã xếp hạng cấp Quốc gia từnăm 1962 đến năm 2001 Trong cuốn sách, bài viết " Khu di tích Đền Trần vàchùa Phổ Minh" của tác giả Trần Đăng Ngọc, bài viết giới thiệu về tổng thể khu

di tích Đền Trần bao gồm: kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật,

Trang 6

5 Phương pháp nghiên cứu.

Bài nghiên cứu quán triệt những nguyên tắc phương pháp của chủ nghĩaduy vật biện chứng, duy vật lịch sử trong nghiên cứu, đồng thời sử dụng nhữngphương pháp khác như: điều tra khảo sát, , phương pháp logic, lịch sử, điền giã,quan sát, giải thích hình tượng hiện vật để đạt mục đích và thực hiện nhữngnhiệm vụ mà bài nghiên cứu đã đặt ra

6 Cấu trúc của đề tài.

Ngoài phần mở đầu, kết luật, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đềđược chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về di tích và khái quát về Phủ Thiên Trường Nam Định.

Chương 2: Các giá trị của di tích Đền Trần, phường Lộc Vượng, Nam Định

Chương 3: Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa Đền Trần – Nam Định.

Trang 7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI TÍCH VÀ KHÁI QUÁT VỀ PHỦ THIÊN

TRƯỜNG NAM ĐỊNH 1.1 Lý luận chung về di tích

1.1.1 Một số khái niệm

"Di" là để lại, " tích" là tàn tích, dấu vết "Di tích" là những tàn tích, dấu vết còn lại của quá khứ Theo Luật Di sản của nước CHXHCN Việt Nam được quốc hội khóa X thông qua trong kỳ họp thứ 9 ngày 29-09-2001: "Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử văn hóa khoa học".

Trong cuốn "Quản lý di sản văn hóa" có nêu khái niệm: "Di tích lịch sử văn hóa là một công trình hay một địa điểm gắn với sự kiện, nhân vật lịch sử hoặc tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hay nhiều thời kì lịch sử của đất nước" [1; Tr 36]

Theo Luật Di sản của nước CHXHCN Việt Nam, một công trình được coi

là di tích lịch sử, văn hoá phải có một trong các tiêu chí sau đây:

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiến lịch sử tiêu biểu trongquá trình dựng nước và giữ nước

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anhhùng dân tộc, danh nhân của đất nước

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của cácthời kỳ cách mạng, kháng chiến

- Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ

- Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giátrị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử

1.1.2 Đường lối, chính sách của nhà nước về di sản văn hóa

Theo Luật Di sản quy định:

- Luật Di sản quy định về các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản

văn hoá; xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hoá

ở nước CHXHCN Việt Nam

Trang 8

- Nhà nước thống nhất quản lý di sản văn hoá thuộc sở hữu toàn dân; côngnhân và bảo vệ các hình thức sở hữu tập thể, sở hữu chung của cộng đồng, sởhữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác về di sản văn hoá theo quy định củapháp luật

- Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằmnâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đónggóp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa

- Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản vănhóa Chủ sở hữu di sản văn hóa có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sảnvăn hóa

- Nhà nước đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nghiêncứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong việc bảo vệ và phát huy giá trị disản văn hóa

- Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức

xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân(sau đây gọi là tổ chức) và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị disản văn hóa

- Các cơ quan văn hóa, thông tin đại chúng có trách nhiệm tuyên truyền,phổ biến rộng rãi ở trong nước và nước ngoài các giá trị di sản văn hóa của cộngđồng các dân tộc Việt Nam, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ và phát huy giá trị

di sản văn hóa trong nhân dân

Di sản văn hóa Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích:

- Phát huy giá trị di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội;

- Phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam;

- Góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sảnvăn hóa Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế

Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

- Chiếm đoạt, làm sai lệch di sản văn hóa;

- Hủy hoại hoặc gây nguy cơ hủy hoại di sản văn hóa;

Trang 9

- Đào bới trái phép địa điểm khảo cổ; xây dựng trái phép; lấn chiếm đấtđai thuộc di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh;

- Mua bán, trao đổi và vận chuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốcgia thuộc di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đưa trái phép di vật, cổvật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài

- Lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để thực hiệnnhững hành vi trái pháp luật

1.2 Tổng quan về Phủ Thiên Trường Nam Định

1.2.1 Đặc điểm địa lý – kinh tế

Phủ Thiên Trường xưa (nay thuộc tỉnh Nam Định) là nơi phát tích củaVương triều nhà Trần và được coi là kinh đô thứ hai của nước Đại Việt sau kinhthành Thăng Long Nam Định là một tỉnh nằm phía Nam Đồng bằng Bắc Bộ,Việt Nam Nam Định nắm ở 19°54′ đến 20°40′độ vĩ bắc, 105°55′ đến 106°45′ độkinh đông Nam Định tiếp giáp với tỉnh Thái Bình ở phía Bắc, tỉnh Ninh Bình ởphía Nam, tỉnh Hà Nam ở phía Tây Bắc, giáp biển ( vịnh Bắc Bộ ) ở phía Đông.Nam Định có diện tích 1.699 km2 Nam Định nằm ven đồng bằng sông Hồng trùphú, nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ nhữngbuổi đầu của lịch sử Việt Nam Đây là vùng có nhiều khả năng thâm canh pháttriển nông nghiệp, công nghiệp dệt, công nghiệp chế biến, công nghiệp cơ khí vàcác ngành nghề truyền thống

Kinh tế tỉnh Nam Định phát triển khá ổn định với tốc độ cao trong nhữngnăm qua và bằng với mức chung của cả nước Đầu tư ngân sách và các ngànhkinh tế tiếp tục tăng, đồng thời tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

đã tạo nhiều cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho dân cư Nam Định trong nhữngnăm vừa qua và những năm tới

1.2.2 Đặc điểm văn hóa – xã hội

Nam Định là mảnh đất "địa linh, nhân kiệt", nơi phát tích của triều Trần(thế kỷ XIII-XIV) và sinh dưỡng nhiều danh nhân, danh sĩ, võ tướng mà tên tuổi

và sự nghiệp của họ đã được sử sách ghi công, nhân dân tôn thờ mà nổi bật nhất

là Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn

Trang 10

Ngày nay, Nam Định là một tỉnh có bề dày văn hóa và truyền thống hiếuhọc của cả nước Sở Giáo dục cũng như Đội tuyển thi học sinh giỏi Quốc gianhiều năm xếp thứ nhất toàn quốc Trường Trung học phổ thông chuyên LêHồng Phong (tức Trường Thành Chung Nam Định xưa) là một trong những ngôitrường Chuyên nổi tiếng hàng đầu của cả nước với bề dày thành tích đáng nểhơn 90 năm xây dựng và phát triển.

Nam Định có nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc Nam Định hiệnđang bảo tồn, lưu giữ gần 4.000 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 77 di tíchcấp quốc gia, 216 di tích cấp tỉnh; có nhiều di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc tiêubiểu như: Phủ Dầy, chùa Cổ Lễ, chùa Keo Hành Thiện, cầu Ngói, chùa Lương,cột cờ Nam Định Ngoài ra, còn có các di tích lịch sử văn hóa gắn với các danhnhân như: Trạng Nguyên Nguyễn Hiền, Trạng Lường Lương Thế Vinh, nhà thơ

Tú Xương, Nguyễn Bính, khu lưu niệm cố TBT Trường Chinh…

Cùng với các di tích lịch sử văn hóa, Nam Định còn bảo tồn và phát triểntrên 80 làng nghề với các ngành nghề và sản phẩm truyền thống như: nghề chạmkhảm gỗ La Xuyên, sơn mài Cát Đằng, đúc đồng Tống Xá (huyện Ý Yên), mâytre đan Vĩnh Hào (huyện Vụ Bản), nghề trồng hoa cây cảnh Vị Khê (huyện NamTrực)…

Tiểu kết

Ở chương 1, tôi đã trình bày khái quát về cơ sở lý luận về di tích và kháiquát về khu vực Phủ Thiên Trường Nam Định, những đặc điểm về kinh tế, vănhoá, xã hội của Phủ Thiên Trường Nam Định, các khái niệm về di tích lịch sử,văn hóa và những đường lối, chính sách của nhà nước về di tích Đây chính là cơ

sở để tôi nghiên cứu các giá trị của di tích ở chương 2

Trang 11

Chương 2 CÁC GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH ĐỀN TRẦN 2.1 Khái quát về khu di tích Đền Trần

2.1.1 Tổng quan về Phường Lộc Vượng

Lộc Vượng là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử văn hóa, truyền thống đấutranh cách mạng Theo sử liệu cũ, Lộc Vượng là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơiphát tích của vương Triều Trần Thế kỷ XIII, Lộc Vượng thuộc lộ Hoàng Giang củanước Đại Việt Trong đó Tức Mặc là quê hương nhà Trần Thời Pháp thuộc, LộcVượng thuộc huyện Mỹ Lộc, tổng Đông Mặc, tỉnh Nam Định Xã Lộc Vượngtrước đây được hợp nhất trên cơ sở làng Tức Mặc, làng Kênh, làng Thượng Lỗi vàlàng Vĩnh Trường Sau nhiều lần chia tách, sáp nhập, đến tháng 01/2004, xã LộcVượng được chuyển thành Phường gồm 26 tổ dân phố Diện tích tự nhiên là4,8km2 Dân số trên 13.000 người Trải qua các giai đoạn lịch sử, nhân dân PhườngLộc Vượng luôn nêu cao tinh thần yêu nước, thời kỳ nào cũng góp phần tích cựcvào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, quê hương

2.1.2 Vị trí địa lý khu di tích

Đền Trần thuộc thôn Tức Mặc xã Lộc Vượng ngoại thành Nam Định,cách trung tâm thành phố 3km Đây là quê hương của nhà Trần, nơi sinh ra TrầnHưng Đạo - vị anh hùng dân tộc Khu di tích rộng tới hàng chục hecta với đềnThiên Trường, Cố Trạch, Trùng Hoa thờ các vua Trần và Trần Hưng Đạo Trongchùa có hàng cây lưu niên, hàng tường bao, cửa vào, sân gạch, hồ sen với 6 conrồng đá trườn xuống nước như sắp vẫy vùng

Là một khu đền nằm ở ngoại thành Nam Định cách quốc lộ 10chỉ khoảng 300m tạo điều kiện thuận lợi cho khu di tích về giao thông dễ dàngthu hút du khách khắp nơi hành hương về đây lễ phật bằng các phương tiện giaothông khác nhau Tại đây ngoài là một điểm thu hút du khách về đây thắphương, cầu khấn Đền Trần còn là một di tích có phong cảnh hữu tình, đến đâychúng ta còn có thể vãn cảnh chùa để quên đi những sầu muộn của cuộc sống.Với điều kiện như vậy, hàng năm đền Trần đã thu hút rất nhiều du khách đến

Trang 12

thăm quan mang lại nguồn thu không nhỏ cho địa phương và cho ngành du lịchcủa tỉnh.

2.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển khu di tích Đền Trần

Trần Miếu, tên cổ của đền Trần - Tức Mặc Nam Định Nói đến Trần Miếutất có người ngỡ ngàng, song dân gian trên địa bàn hiểu ngay đây là đền Trần.Nơi thờ Tổ tiên dòng tộc Đông - A, các vua Trần, vương phi công chúa triềuTrần cùng Trần triều Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn và thân quyến củaĐại vương Phải chăng từ xa xưa cổ nhân muốn khu thờ tự này có sự khác biệtvới các đền miếu khác nên đặt tên Trần Miếu (Trần tức họ Trần, nhà Trần, Miếu

có nghĩa đền thờ Thánh, Thần lại còn hàm ý chỉ cung điện của các bậc đếvương) Cụ thể hơn là miếu nhà Trần, nơi thờ tự có liên quan đến cung điện Tháithượng hoàng, phủ đệ của các vương hầu

Dân gian cũng phân biệt miếu nhà Trần khác hẳn Văn Miếu thờ Khổng

Tử, hoặc văn từ, văn chỉ thờ Tiên hiền ở các địa phương Lại càng khác xa cácmiếu nhỏ thờ Thổ Thần thuộc các làng xã Nói vậy để khẳng định tầm cỡ TrầnMiếu, một công trình thờ tự đặc biệt trên quê vua mà xa xưa có cung điện, tẩmmiếu của Thượng hoàng cùng tự quân vương triều Trần Vậy miếu nhà Trần có

từ bao giờ?

Trần miếu là danh từ riêng chỉ công trình thờ tự của họ Trần đại tông, liênquan đến vùng đất quê vua, có cung điện từ đầu thế kỉ XIII một thời vang bóng.Trần Miếu gồm tổng thể cả hai công trình Thượng miếu và Hạ miếu Thượngmiếu còn gọi đền Thiên Trường, Hạ Miếu thường gọi đền Cố Trạch

Theo “Nam Mặc miếu trạch bi ký” niên hiệu Duy Tân cửu niênthì khoảng năm Thiên Ứng Chính Bình (1232 -1250) Phùng Vương về tạo dựngTrần Miếu trên nền cũ của nhà thờ họ Trần Nhưng theo sử liệu thì miếuthờ nhà Trần đã có trước năm Tân Mão (1231) và chính Trần Thái Tông đã vềlàm lễ vào tháng 8 năm ấy, lại ban yến tiệc cho các bô lão trong hương Vậymiếu nhà Trần đã có từ rất sớm, Phùng Vương về tôn tạo có thể vào năm 1239,cũng làm trên nền nhà thờ cũ Điều này chứng tỏ các bậc Tiên tổ nhà Trần rấtquan tâm đến cội nguồn Và nếu dựa vào “Phả hệ bảo tích” thì cụ Thuỷ tổ Trần

Trang 13

Kinh về khu Tức Mặc đã mau chóng dựng nhà ở, cũng như thiết lập từ đườngtạo phúc cho dòng họ và con cháu mai sau Nếu đúng thế thì nhà thờ phải cótrước thời kì Thái Tông về thăm quê hàng nhiều thập kỉ.

Những công trình thờ tự của Đông - A dù có từ rất sớm, hoặc vào đầu thế

kỉ XIII cũng đã lui vào dĩ vãng Ngay nhà từ tái lập năm Chính Hoà thập ngũniên mà văn tự “ Trần thị đại tông từ đường” thôn Tức Mặc ghi, hoặc như câuđối tại Thượng miếu cũng chỉ tồn tại rất ít cấu kiện, trong đó có ngạch, ngưỡng

và bộ cánh cửa chạm lưỡng long chầu nguyệt, hiện còn lưu tại đền Thượng màthôi Lại công trình mở rộng vào niên hiệu Long Đức thứ hai (1733) cũng đâucòn nhiều dấu tích [5; Tr.334]

Trong cuốn: " Di tích lịch sử văn hóa đền Trần chùa Tháp" của Trịnh Thị Nga có ghi: "Sang thời Nguyễn, Trần Miếu được trùng tu dưới thời Tự Đức ngũ niên (1852), rồi Tự Đức Mậu Thìn (1868) được cải tạo mở mang thêm cũng không còn nguyên vẹn" Nhưng kiểu dáng kiến trúc, phong cách vẫn giữ dấu ấn

văn hoá thời Nguyễn Người xưa đánh giá việc hưng công đền thờ vua là quantrọng nên thời gian trùng tu được ghi trên tấm biển lớn hai chữ “Trần Miếu” vàhàng chữ nhỏ ghi: Hoàng triều Tự Đức vạn vạn niên chi lục, tuế tại Quý Sửu lụcnguyệt thượng cán, phụng chỉ xuất khố tiền trùng tu Mười sáu năm sau TrầnMiếu lại tiếp tục sửa chữa nên trên câu đầu gian giữa toà tiền đường ThượngMiếu ghi: Tự Đức Canh Ngọ hạ - Mùa hè năm Canh Ngọ niên hiệu vua Tự Đức-1868

Có lẽ tổng thể quy trình kiến trúc thời kì này chưa hoàn chỉnh, bình diệnchưa đáp ứng yêu cầu tín ngưỡng đối với khách hành hương, cũng như cộngđồng làng xã, con cháu họ Trần nên dưới triều vua Thành Thái và đầu niên hiệuDuy Tân ( cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20) Thượng miếu được tôn tạo, đồng thờiphục dựng Hạ miếu, làm thêm cổng ngõ, hồ nước mặt tiền, ngũ môn… Khiếntổng thể khu vực hài hoà đẹp mắt, tạo một bình diện toà ngang dãy dọc ẩn hiệndưới bóng cây xanh, cây đại thụ trên khoảng đất cao ráo rộng tới tám hecta Đâylại là đắc địa bởi có thế ngoạ long, theo thuyết phong thuỷ là rất quý hiếm

Thượng miếu thờ vua, đế hậu, đế phi cùng các bậc Thuỷ tổ tộc Đông - A

Trang 14

Hạ miếu thờ Hưng Đạo đại vương cùng thân quyến, tả hữu tướng lĩnh, nhưngtrong tín ngưỡng thì có sự khăng khít Dân gian về khu Trần miếu trong dịpXuân - Thu nhị kì, ngay cả những ngày kỉ niệm các vua ở Thượng miếu đềuxuống lễ ở Hạ miếu và ngược lại.

2.1.4 Kiến trúc của khu di tích Đền Trần

Đền Trần là một đền thờ tại đường Trần Thừa phường Lộc Vượng, thànhphố Nam Định, là nơi thờ các vua nhà Trần cùng các quan lại có công phù tá nhàTrần Đền Trần được xây dựng trên nền Thái miếu cũ của nhà Trần đã bị quânMinh phá hủy vào thế kỷ XV

Đền Trần bao gồm 3 công trình kiến trúc chính là đền Thiên Trường (hayđền Thượng), đền Cố Trạch (hay đền Hạ) và đền Trùng Hoa Trước khi vào đền,phải qua hệ thống cổng ngũ môn [Phụ lục ảnh 1; Tr 35] Trên cổng ghi các chữ

Hán Chính nam môn (cổng chính phía nam) và Trần Miếu (Miếu thờ nhà Trần).

Qua cổng là một hồ nước hình chữ nhật có tên là giếng ngọc [Phụ lục ảnh 2;Tr.35] Chính giữa phía sau hồ nước là khu đền Thiền Trường Phía Tây đền ThiênTrường là đền Trùng Hoa, phía Đông là đền Cố Trạch

Cả 3 đền đều có kiến trúc chung, và quy mô ngang nhau Mỗi đền gồmtòa tiền đường 5 gian, tòa trung đường 5 gian và tòa chính tẩm 3 gian Nối tiềnđường và trung đường là kinh đàn (thiêu hương) và 2 gian tả hữu vu

Đền Thiên Trường [Phụ lục ảnh 3; Tr 36] được xây trên nền Thái miếu và

cung Trùng Quang của nhà Trần mà trước nữa là nhà thờ họ của họ Trần CungTrùng Quang là nơi các thái thượng hoàng nhà Trần sống và làm việc Đền Trầnhiện nay được dân địa phương xây bằng gỗ từ năm Chính Hòa thứ 15 (tức năm1695) Các năm 1773, 1854, 1895, 1907-1908, đền được mở rộng và xây thêm

Đền Thiên Trường hiện tại gồm có tiền đường, trung đường, chính tẩm,siêu hương, 2 dãy tả hữu vu, 2 dãy tả hữu ống muống, 2 dãy giải vũ Đông Tây.Tổng cộng có 9 toa, 31 gian Khung đền bằng gỗ lim, mái lợp ngói, nền lát gạch

Tiền đường của đền Thiên Trường gồm 5 gian, dài 13 mét Mặt ngoài tiền

Trang 15

đường có hình 2 con rồng ở lối vào được khắc bằng đá [Phụ lục ảnh 4; Tr 36].

Có 12 cột cái cùng 12 cột quân, tất cả đều được đặt trên chân tảng bằng đá hìnhcánh sen có từ thời Trần là chân cột cung Trùng Quang cũ Tại đây có đặt banthờ và bài vị của các quan có công lớn phù tá nhà Trần

Sau tiền đường là trung đường là nơi thờ 14 vị hoàng đế nhà Trần [Phụlục ảnh 5; Tr 37] Tuy nhiên, không có tượng thờ mà chỉ có bài vị Trước cửatrung đường có ba cỗ ngai là nơi thờ bái vọng các vị hoàng đế

Sau trung đường là chính tẩm gồm 3 gian Đây là nơi thờ 4 vị thủy tổ của

họ Trần và các phu nhân chính của họ ở gian giữa Các hoàng phi của nhà Trầncũng được đặt bài vị thờ ở 2 gian trái, phải

Tòa thiêu hương (hay kinh đàn) là nơi đặt ban thờ và bài vị của các côngthần nhà Trần Có ban thờ riêng cho các quan văn, và ban thờ riêng cho các quanvõ

Đền Cố Trạch [Phụ lục ảnh 6; Tr 37] nằm phía Đông của đền Thiên

Trường Nhìn từ sân, là bên phải đền Thiên Trường Đền Cố Trạch được xây vàonăm 1894 Theo bia Trùng kiến Hưng Đạo thân vương cố trạch bi kí, thì lúc tusửa đền Thiên Trường năm 21 đời Tự Đức (năm 1868), người ta đào thấy ở phíaĐông đền Thiên Trường một mảnh bia vỡ có ghi chữ Hưng Đạo thân vương cốtrạch (nhà cũ của Hưng Đạo thân vương) Do đó khi xây đền này vào năm 1894khánh thành vào năm 1895, đền được đặt tên là Cố Trạch Từ (đền nhà cũ) Đền

Hạ là tên thường gọi

Đền Cố Trạch đặt bài vị của Trần Hưng Đạo, gia đình và gia tướng Tiềnđường của Đền Cố Trạch là nơi đặt bài vị của 3 gia tướng thân tín của TrầnHưng Đạo, đó là Phạm Ngộ, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Chế Nghĩa [Phụ lục ảnh 7;

Tr 38]

Thiêu hương (kinh đàn) là nơi đặt long đình trong có tượng Trần HưngĐạo cùng 9 pho tượng Phật Bên trái đặt bài vị các quan văn Bên phải đặt bài vị

Trang 16

Tòa chính tẩm là nơi đặt bài vị của cha và mẹ Trần Hưng Đạo, của TrầnHưng Đạo và vợ (công chúa Thiên Thành), của 4 người con trai và 4 người condâu của Trần Hưng Đạo, của con gái và con rể (Phạm Ngũ Lão).

Đền Trùng Hoa [Phụ lục ảnh 9; Tr 39] mới được chính quyền tỉnh Nam

Định với sự hỗ trợ về kinh phí của chính phủ xây dựng từ năm 2000 Đền đượcxây trên nền cung Trùng Hoa xưa - nơi các đương kim hoàng đế nhà Trần vềtham vấn các vị thái thượng hoàng Trong đền Trùng Hoa có 14 pho tượng bằngđồng của 14 hoàng đế nhà Trần đặt tại tòa trung đường và tòa chính tẩm [ Phụlục ảnh 10; Tr 39] Tòa thiêu hương là nơi đặt ngai và bài vị thờ hội đồng cácquan Gian tả vu thờ các quan văn Gian hữu vu thờ các quan võ

2.2 Các giá trị của di tích Đền Trần.

2.2.1 Giá trị lịch sử

* Công trình thờ tự tại Thượng miếu.

Thượng miếu còn gọi là đền Thiên Trường, đền Thượng là nơi thờ mườihai vị vua thời chính thống và hai vua thời hậu Trần, tổng cộng mười bốn đờivua

Trên các ban đều có ngai rồng cùng bài vị chạm khắc tứ linh, sơn sonthiếp vàng lộng lẫy, cũng là điều thể hiện sự kính trọng theo cách truyềnthống.Tại toà đệ nhị, gian chính giữa có ban thờ trên bài trí long ngai, long bài

Trang 17

ghi hàng chữ: “ Trần triều liệt miếu tiên hoàng đế thần vị” (Thần vị vua các vua

vương triều Trần tại miếu thờ) Phía sau ban thờ liệt miếu mang tính chất chung

có ba ban và trên các ban đều có long ngai, long bài ghi thần hiệu hoàng đế.Trong số mười bốn hoàng đế, tuy xếp hàng theo hàng ngang, nhưng các vị TrầnThái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông là những bậcquan vương tiêu biểu, lại là các vị mở nghiệp đế cũng như giữ gìn phát huy chế

độ quân chủ, cha truyền con nối, không chỉ làm cho tông miếu xã tắc hiển vinh,

mà còn làm cho quốc gia, dân tộc rạng danh nên được bài trí trang trọng ở gianchính giữa Hai ban ở phía Đông và phía Tây, mỗi bên bài trí thờ năm vị vuatheo cổ lệ của miếu Tức Mặc, đến ngày nay vẫn được trân trọng

Trong các vị vua thờ tự hai bên thì mỗi vị vua đều có những truyền thuyết

về lịch sử như: Vua Trần Minh Tông hoàng đế cũng là vị vua hiền nhưngcuối đời mắc phải lỗi giết oan nhạc phụ nên ít nhiều ảnh hưởng đến triều chính.Đời Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, Trần Nghệ Tông rồi Trần Duệ Tông tuy đều

là con thượng hoàng Minh Tông nhưng anh em được thay nhau làm vua bởithiếu đội ngũ thái tử kế cận, làm mất đi chế độ cha truyền con nối mà hàng ngànnăm đã có trên bản địa Các triều vua này lại hạn chế việc phát huy đức sáng của

tổ tiên, cũng như thiếu vững vàng chèo lái con thuyền Đại Việt khiến nội trị suykém, việc chế ngự ngoại bang không thành sự Vua Trần Duệ Tông tử trận, contrai 16 tuổi được nối ngôi tức Trần Phế Đế Nhưng vì nhu nhược nên 12 năm sau

bị phế truất (1388) Ông vua thứ 11 lên thay lại là con út thượng hoàng NghệTông, anh họ Trần Phế Đế, lên ngôi năm 11 tuổi, 9 năm sau bị truất ngôi rồi xuấtgia và bị giết Ông vua thứ 12 là Trần Thiếu Đế, 3 tuổi lên ngôi và chỉ vài nămsau bị phế truất (1398-1400) [3; Tr 230]

Như vậy Thượng miếu ở toà chính điện, dân gian còn gọi chính tẩm,thờ 14 vị hoàng đế Điều đặc biệt là mỗi hoàng đế đều được ghi duệ hiệu đặttrên long ngai riêng và được sắp xếp theo hàng ngang ở các gian

Việc tôn thờ ở Trần Miếu có từ lâu đời và được các triều đại nối tiếp quantâmđến việc xây dựng, mở mang nơi thờ tự, cũng như ban cấp sắc phong.Nhưng do hoàn cảnh chiến tranh, hiện tại chỉ còn 9 đạo sắc thời Lê Vĩnh Thịnh

Trang 18

thứ 6 (1710) và một đaọ niên hiệu Tự Đức thứ 33(1880).

Hậu cung Thượng miếu tuy chỉ có ba gian ở phiá sau toà đệ nhị, nhưngtiền nhân bố trí thờ tự khá phong phú Gian giữa đắp nổi bức đại tự với bốnchữ “ Triệu vượng cơ tích” ( Dấu vết ban đầu lập nghiệp) Phía dưới có khámthờ Trong khám có bày hai hàng bài vị:

Hàng phía trong bao gồm ba bài vị 1, 2, 3 ghi: “Trần triều truy tôn hoàng

đế thần vị”(Ngôi thần của các vị Thuỷ tổ vương triều Trần)

Hàng bên ngoài cũng có ba bài vị, bài vị số 4 ghi: “Trần triều truy tôn Mục Tổ hoàng đế, Ninh tổ hoàng đế, Nguyên Tổ hoàng đế, Thái tổ hoàng đế”

(Ngôi thần được triều Trần truy tôn: Mục Tổ (Trần Kinh), Ninh Tổ (Trần Hấp),Nguyên Tổ (Trần Lý), Thái Tổ (Trần Thừa ) là bậc hoàng đế Đây là bốn cụ tổ

họ Trần về định cư lập nghiệp ở Tức Mặc rồi sang Thái Đường, từ đây mà sinh

ra các con cháu đem vinh quang cho dòng họ cũng như dân tộc

Bài vị số 5 ghi việc truy tôn phu nhân của các cụ tổ vừa nêu là bậc Hoàngthái hậu: “Trần triều truy tôn Mục Từ hoàng thái hậu, Nguyên Từ hoàng tháihậu, Quốc Thánh hoàng thái hậu” (Truy tôn phu nhân của các cụ tổ là Mục Từ,Ninh Từ, Nguyên Từ hoàng thái hậu, Quốc Thánh là Hoàng thái hậu của triềuTrần)

Riêng đối với Thái Tổ Trần Thừa là người sinh ra vua, được ghi thêm bài

vị, có sự truy tôn đặc sắc hơn (bài vị số 6): “Trần triều Hiếu Tổ truy tôn Tháithượng hoàng, hiệu thuỵ khai vận lập cực thuỳ dụ chí hiếu hoàng đế thầnvị”(Triều Trần truy tôn ngôi thần cho Hiển Tổ là Thái Thượng Hoàng, tên thuỵ

có công mở vận hội lập vương triều, đáng bậc hoàng đế rất mực có hiếu)

Hậu cung còn có hai gian tả hữu Gian bên phải được đắp nổi haichữ “Khôn thừa” (Quẻ khôn, ví với đất, nói về đức hạnh phụ nữ) Ban thờ có bài

vị đặt trên long ngai ghi: “Trần triều đế hậu liệt vị” (Ngôi thần các vị hoàng hậucủa nhà Trần) Như vậy đây là bài vị thờ chung tất cả các vị được tôn là hoànghậu, người đứng đầu cai quản trong nội cung, có vai trò rất quan trọng Các vị đếhậu triều Trần, phần đa xứng đáng bậc quốc mẫu như Thuận Thiên hoàng hậu,Thiên Cảm hoàng hậu, Khâm Từ hoàng hậu… Các vị này đã góp phần nội trị,

Trang 19

giúp vương triều thuận chiều mát mái, cố kết nhân tâm để hoàng tộc, vua tôichăm lo việc nước, góp phần đưa việc trị quốc an dân đạt thành quả đáng kể mà

sử sách đã có những chương mục ca ngợi

Gian bên trái có đại tự “ Tốn thuận” Ban thờ ở đây có bài vị “ Trầntriềuđế phi liệt vị” (Ngôi thần các bà hoàng phi của các hoàng đế) Các hoàngphi thường là các những người trẻ trung hơn, xinh đẹp hơn, phần lớn các hoàngphi triều Trần là những người xác định phận sự tuân thủ quy tắc hậu cung Nhiềungười còn tỏ rõ đức độ như Lệ Trinh nguyên phi thời Trần Thái Tông, là ngườirất thương dân, khuyến khích việc nông trang, mở chợ cho dân trao đổi hànghoá, giúp đỡ người nghèo Bà còn lập chùa thờ Phật để đôi khi hoàng đế tớithăm có nơi phụng đạo

Việc thờ tự tại Thượng miếu nhìn chung từ công trình đến bài trí, đồthờ tự còn đơn giản, chưa được ngang tầm với vị thế, cũng như công lao của cácbậc Tiên quân hoàng đế, cũng như hoàng hậu, vương phi triều Trần

* Công trình thờ tự tại Hạ miếu.

Tại Hạ miếu ngoài cùng là tiền đường, tiền đường thường to rộng hơn cáctòa khác, nơi thường diễn ra hành lễ, do vậy ít bài trí ban thờ Tại gian giữa tiềnđường có ban thờ chung, trên có long ngai bài vị ghi:

“-Trần triều nhập nội thị Thái úy Phò mã Đô úy Nguyễn An Nghĩa tônthần” (Vị tôn thần Nguyễn An Nghĩa là con rể vua, chức Thái uý triều Trần)

“-Trần triều Phạm Điện súy Thượng tướng quân Quan nội hầu tôn thần”(Vị tôn thần Phạm Ngũ Lão Điện súy Thượng tướng quân tước Quan nội hầutriều Trần”

“-Trần triều Tham tán quân vụ Phạm tôn thần” (Vị tôn thần Phạm Ngộ,tham mưu việc quân dưới vương triều Trần)

Ba vị trên là danh tướng, trợ tá đắc lực giúp Hưng Đạo đại vương trong

sự nghiệp chống đế quốc Mông Nguyên thế kỷ XIII Và tại đây, các vị hiện diện

ở cung ngoài, như sẵn sàng chờ lệnh giúp đại vương trợ thuận cho muôn dântheo sở cầu của trăm họ

Phía trong tiền đường là tòa thiêu hương làm kiểu phương đình bốn mái

Trang 20

cong cong Trong thiêu hương có đặt long đình, đặc biệt trong long đình chạmbức phù điêu tượng Phật tam thân, theo kiểu dáng ba tòa ở các chùa( Phật thờiquá khứ, Phật thời hiện tại, Phật thời tương lai) Dưới hàng tượng tam thân( còngọi tam thế) có bức phù điêu “Trúc Lâm tam tổ” ( phái Trúc Lâm do đệ Nhất tổTrần Nhân Tông, đệ nhị tổ Pháp Loa, đệ tam tổ Huyền Quang) Hai bên siêuhương có hai dãy nhà nhỏ tạo sự khép kín nơi tôn nghiêm Nhà bên Đông thờ

“Võ ban huân thần liệt vị”(các võ tướng, nhất là lục bộ tướng tâm huyết phù táĐại vương đánh giặc) Lại có cả bài vị “Trần gia chính phái liệt vị”(Các vị thuộcchính phái họ Trần) Tòa bên Tây thờ “Văn ban huân thần liệt vị” (các văn thần

có công lao) Và có bài vị thờ : “ Hiệp biện Đại học sỹ, Nhập nội Hành khiểnTrương tôn thần” Đây là vị văn thần đạo cao đức trọng Trương Hán Siêu, đượcHưng Đạo đại vương tin cẩn.Ở đây còn có bài vị thờ : Hiệp biện Đại học sỹ lĩnhĐịnh - An Tổng đốc Phạm Thiện Nhân Đây là bài vị thờ tổng đốc Phạm VănToán, người có nhiều công lao xây dựng miếu nhà Trần (kể cả đền Thượng cũngnhư đền Hạ) [3; Tr 250]

Tòa đệ nhị có đại tự: “Hưng Đạo thân vương cố trạch” khắc năm ĐinhDậu (1897) dưới triều vua Thành Thái Qua nội dung đại tự khách hành hươnghiểu đây là nơi nhà cũ của Đại Vương Phần bài trí thờ tự tại tòa đệ nhị như sau:Gian giữa ở vị trí trung tâm có ngai, bài vị:” Trần triều Thái sư Thượng quốccông Hưng Đạo đại vương Phía trước bài vị thờ là thần tượng Hưng Đạo đạivương rất uy nghi, cũng vị trí trung tâm, hai bên có ngai cùng bài vị:

- “Trần triều Thánh tử tứ vị Đại vương tôn thần chi vị”(bài vị bốn Đạivương tôn thần, con của đức Thánh trần)

- “Trần triều Điện súy Thượng tướng quân, quan nội hầu Phạm Ngũ lãođại vương tôn thần” (Tôn thần Điện súy Thượng tướng quân, tước quan nội hầuPhạm Ngũ Lão đại vương)

Gian bên phải có ban thờ, ngai, bài vị đề: “Trần triều hữu bộ tướng tòng tiền liệt vị” (bộ tướng giúp triều Trần, được thờ phụ); “Trần triều tả bộ tướng tòng tự liệt vị” (tả bộ tướng được phối thờ cùng đại vương) Các vị tả, hữu bộ

tướng là những người hiền giúp triều đình trong sự nghiệp bình nguyên và trị

Trang 21

quốc an dân, phải kể đến tứ vị vương tử là con của Đại vương, cùng với YếtKiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm

Chính tẩm (còn gọi tòa đệ nhất), công trình này gồm ba gian thiết kế lốitrùng thiềm, các cấu kiện như cột, xà, câu đầu làm theo lối cũ Gian giữa bài tríban thờ lớn, phía trong đặt khám thờ có bài thị Vương phụ, Vương mẫu

1 Hiển Thánh khảo An Sinh Vương, truy phong Khâm Minh đại vươngthần vị (Thân phụ của Đại vương là An Sinh Vương, truy phong Khâm Minh đạivương thần vị)

2 Hiển Thánh tỷ An Sinh Vương phu nhân, truy phong ThiệnĐạo quốcmẫu thần vị (Thân mẫu của Đại Vương là An Sinh Vương phu nhân, truy phongThiện Đạo quốc mẫu thần vị)

3 Thân vương Khâm sai Tiết chế thiên hạ chư quân, Thái sư Thượngphụ Thượng quốc công Nhân vũHưng Đạo đại vương thượng đẳng thần, thầnvị(Thần vị Thân vương Khâm sai Tiết chế thiên hạchư quân, Thái sư Thượngphụ Thượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo đại vương thượng đẳng thần)

4 Hưng Đạo đại vương phu nhân, hiệu Thiên Thành công chúa, truyphong Nguyên Từ quốc mẫu, sắc phong Thiên Uy thái trưởng công chúa (Thần

vị phu nhân của Hưng Đạo đại vương hiệu là Thiên Thành công chúa, truyphong là Nguyên Từ quốc mẫu, sắc phong là Thiên Uy thái trưởng công chúa)

5 Giữa hai long bài 3 và 4 nêu trên còn có cỗ khám nhỏ trong có bài

vị ghi như trên, lại có ván che ngoài (hãm trung) xin coi đây là cỗ khámthờ chung Đại vương và phu nhân

Hai bên gian giữa đều có ban thờ ở phía Đông và phía Tây

Phía Đông thờ các vị phu nhân của Vương tử vàcác vị Công chúa

Phía Tây thờ bốn vị con của Đại vương và con rể Điện Súy, thượng tướngPhạm Ngũ Lão

Các bài vị ở gian phía Đông gồm:

• Hưng vũ Đại vương nhất phẩm phu nhân

• Hưng Nhượng đại vương nhất phẩm phu nhân

• Hưng Hiến đại vương nhất phẩm phu nhân

Ngày đăng: 22/01/2018, 14:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w