Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN – NĂM 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Hằng Phương
THÁI NGUYÊN – NĂM 2016
Trang 3chân thành và sâu sắc nhất của mình tới PGS.TS Nguyễn Hằng Phương, người
đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô trong Ban giám hiệu; Ban chủ nhiệm; Quý thầy, cô trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học
Tác giả xin chân thành cảm ơn Bảo tàng tỉnh Thái Nguyên, Thư viện tỉnh Thái Nguyên, Sở văn hóa - thông tin tỉnh Thái Nguyên, Ủy ban nhân dân xã Nam Hòa, Trường THPT Trần Quốc Tuấn Cảm ơn các nghệ nhân, các ông bà,
cô chú, anh chị và bạn bè ở huyện Đồng Hỷ, huyện Phú Lương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên - những người đã giúp đỡ tôi trong quá trình sưu tầm tư liệu để hoàn thành luận văn Cuối cùng, xin được bày tỏ lòng yêu thương và biết ơn sâu sắc đến gia đình, đồng nghiệp - những người đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Trần Thị Thanh Tân
Trang 4trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thị Thanh Tân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN……… i
LỜI CẢM ƠN………ii
MỤC LỤC……… iii
MỞ ĐẦU……… 1
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu……… 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… 6
5 Phương pháp nghiên cứu……… 7
6 Cấu trúc luận văn……… 8
7 Đóng góp của luận văn……… 8
NỘI DUNG 10
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC SÁN DÌU Ở THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI……… 10
1.1 Khái quát về dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên……… 11
1.1.1 Vài nét về dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam……….11
1.1.2 Sơ lược về dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên……… 12
1.2 Văn học dân gian và văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam…… 22
1.2.1 Khái niệm văn học dân gian……… 22
1.2.2 Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam……….28
* Tiểu kết ……… 29
Chương 2: PHÁC HỌA DIỆN MẠO VĂN HỌC DÂN GIAN DÂN TỘC SÁN DÌU Ở THÁI NGUYÊN……….………31
Trang 62.1 Khái quát về văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên………… 31
2.1.1 Hiện trạng văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên……… ….31
2.1.2 Các thể loại văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên…………33
2.2 Những nhận xét sơ bộ về văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên……… 55
2.2.1 Đa dạng, phong phú, độc đáo về thể loại……… 55
2.2.2 Văn học dân gian Sán Dìu ở Thái Nguyên đang dần mai một………….56
* Tiểu kết ……… 59
Chương 3: MỘT SỐ THỂ LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN TIÊU BIỂU CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở THÁI NGUYÊN………61
3.1 Truyện cổ tích……… 61
3.1.1 Các tiểu loại truyện cổ tích………61
3.1.2 Một số nội dung cơ bản……….66
3.1.3 Một số đặc điểm nghệ thuật tiêu biểu………73
3.2 Hát Soọng Cô………77
3.2.1 Các dạng thức hát Soọng Cô……… 77
3.2.2 Một số nội dung cơ bản……….89
3.2.3 Một số đặc điểm nghệ thuật tiêu biểu……… 101
* Tiểu kết ……….112
KẾT LUẬN……… 115 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1 Một số bài hát Soọng Cô dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên (chưa xuất bản)
Trang 72 Một số câu tục ngữ, câu đố dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên
3 Một số truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên (chưa xuất bản)
4 Phỏng vấn các nghệ nhân dân tộc Sán Dìu
5 Một số hình ảnh về văn hóa dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
1.1 Dân tộc Việt Nam là một cộng đồng bao gồm 54 dân tộc, bên cạnh dân tộc Việt là dân tộc chủ thể còn có các dân tộc thiểu số khác sống rải rác trên mọi miền đất nước Thành phần các dân tộc có khác nhau nhưng đều chung nguồn gốc Bách Việt Từ buổi đầu dựng nước đến nay, các dân tộc thiểu số đã tham gia tích cực trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng truyền thống lịch sử, văn hóa của đại gia đình dân tộc Việt Nam Văn học dân gian các dân tộc thiểu số có những thành tựu độc đáo với những sắc thái riêng biệt Giá trị của văn học dân gian dân tộc thiểu số trong đời sống cộng đồng là vấn đề khoa học đáng để nghiên cứu Từ đó, diện mạo của nền văn học dân gian Việt Nam được nhìn nhận đầy đủ, chính xác hơn trên mối quan hệ tổng thể văn học dân gian các dân tộc Ðó là một nền văn học dân gian thống nhất, đa dạng Việc tìm hiểu văn học dân gian dân tộc thiểu số còn thể hiện đường lối dân tộc, đường lối văn hóa văn nghệ của Ðảng ta, đó là bình đẳng dân tộc, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc anh em trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, nhằm góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa văn nghệ Việt Nam thống nhất và mang tính chất dân tộc phong phú
1.2 Từ trước đến nay, đã có một số công trình hoặc bài viết nghiên cứu ở phạm vi rộng, hẹp khác nhau về người Sán Dìu ở Thái Nguyên, cho ta biết đôi nét
về nguồn gốc, cư trú, phong tục và văn hoá truyền thống của người Sán Dìu Các công trình, bài viết cung cấp khá đầy đủ về một số khía cạnh dân tộc học, văn hoá học nhưng chưa có công trình nào tìm hiểu về văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên Thêm vào đó, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã đến điền
dã và sưu tầm văn học dân gian của người Sán Dìu lưu truyền trong dân gian với số lượng đáng kể ở một số loại hình văn học dân gian Với đề tài này, người nghiên cứu hi vọng được nâng cao tầm hiểu biết về lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu văn học dân gian, đặc biệt nghiên cứu văn học dân gian của dân tộc ít người ở Việt Nam Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho công việc giảng dạy của bản thân người nghiên cứu trong tương lai trên chính quê hương mình Từ đó, có thể nhìn nhận đầy
Trang 9đủ và chính xác hơn diện mạo của nền văn học dân gian Việt Nam trong mối quan
hệ tổng thể văn học dân gian các dân tộc
1.3 Tự hào là người con dân tộc Sán Dìu, đồng thời sống tại địa phương có nhiều người dân tộc Sán Dìu sinh sống, song tôi cảm thấy xót xa khi những tác phẩm văn học dân gian, di sản vô giá của dân tộc mình đang dần mất đi Thực hiện
đề tài là nguyện vọng chính đáng của chúng tôi bởi bản thân người nghiên cứu đang công tác và giảng dạy môn Ngữ văn tại miền núi - nơi có nhiều người Sán Dìu sinh sống Vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên sẽ giúp tôi hiểu rõ hơn về văn hoá tinh thần của người Sán Dìu Từ đó, có ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy Văn học dân gian của các dân tộc thiểu số Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ tiến hành sưu tầm tại địa phương mình đang sinh sống và điền dã các tác phẩm văn học dân gian dân tộc Sán Dìu lưu truyền trong dân gian để làm cơ sở nghiên cứu Vì vậy, việc nghiên cứu về văn học dân gian của dân tộc Sán Dìu giúp tôi hiểu rõ hơn về văn hóa tinh thần của dân tộc mình Nghiên cứu những nét cơ bản về giá trị nội dung, nghệ thuật văn học dân gian trong đời sống văn hóa của người dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên sẽ góp phần khẳng định, bảo tồn và phát huy nét đẹp truyền thống vốn có của các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và dân tộc Sán Dìu nói riêng
Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu cùng lý do nghiệp vụ trên, chúng tôi chọn
đề tài nghiên cứu cho luận văn là: “Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái
Nguyên” Mong rằng qua công trình này, tôi sẽ góp một phần công sức nhỏ bé vào
việc giới thiệu, giữ gìn, bảo tồn và phát huy văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên; đồng thời, tạo thêm một cơ sở, một nguồn tư liệu về văn học dân gian
để giúp giáo viên Ngữ văn ở tỉnh Thái Nguyên có thể thực hiện tiết dạy Ngữ văn địa phương một cách thuận lợi hơn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa đặc thù riêng Những giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc đó đã tạo thành nền văn hóa thống nhất và đa dạng của đại
Trang 10gia đình 54 dân tộc Việt Nam Nghiên cứu văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời ứng dụng vào những công việc có ý nghĩa thiết thực ở địa phương Từ trước đến nay, tuy chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu
về văn học song nền văn hóa dân tộc Sán Dìu nói chung và văn học dân tộc Sán Dìu
ở Thái Nguyên đã được một số tác giả đề cập đến, cụ thể như sau:
Trước hết có thể nhắc tới cuốn Người Sán Dìu ở Việt Nam của tác giả Ma Khánh Bằng do Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội ấn hành năm 1983 Trong cuốn sách
này, tác giả đã giới thiệu khái quát về văn hóa vật chất, tinh thần của người Sán Dìu ở Việt Nam Đây là cơ sở quan trọng cho việc tìm hiểu nguồn gốc và đặc điểm
cơ bản của dân tộc Sán Dìu
Cuốn Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam của tác giả Nguyễn
Đăng Duy được Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành năm 2001 đã trình bày khá đầy đủ về tín ngưỡng, tôn giáo, nguồn gốc, nội dung của các hình thái dân gian đặc trưng ở một số vùng miền, một số dân tộc ít người, trình bày nguồn gốc
và những giáo lí cơ bản của các loại hình tôn giáo trong đời sống hiện nay
Cuốn sách Lễ hội các dân tộc Hoa, Sán Dìu ở Việt Nam của tác giả Diệp
Trung Bình do Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội ấn hành 2002 đã đề cập khá toàn diện về lễ hội của người Sán Dìu như lễ: Lễ Tháo Khoán, Lễ Kỳ Yên, Lễ Đại Phan, Lễ Cấp Sắc…
Đặc biệt, trong những năm gần đây, trước xu thế hội nhập văn hóa giữa các dân tộc, các nhà nghiên cứu trẻ đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa dân tộc Sán Dìu nói chung và nền văn học dân tộc Sán Dìu nói riêng Mặc dù, địa bàn
cư trú của người dân tộc Sán Dìu khá rộng song Thái Nguyên là địa phương có nhiều người dân tộc Sán Dìu sinh sống nhất cả nước Việc tìm hiểu về văn hóa dân gian dân tộc Sán Dìu và văn học dân gian dân tộc Sán Dìu (cụ thể là hát Soọng Cô)
ở Thái Nguyên là điều dễ hiểu
Trang 11Năm 2005, nhà nghiên cứu Vũ Diệu Trung trong bài viết Lễ cấp sắc của
người Sán Dìu ở Thái Nguyên (Thông báo khoa học) do Nxb Khoa học xã hội ấn
hành đã bước đầu tìm hiểu về lễ cấp sắc của người Sán Dìu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên dưới góc nhìn văn hóa
Không quá cầu kỳ trong cách ăn uống, nhưng cộng đồng người Sán Dìu cũng có những nét riêng, độc đáo trong ẩm thực, góp phần làm phong phú nền văn hóa Thái Nguyên Năm 2008, tác giả Nguyễn Thị Quế Loan trong luận án Tiến sĩ
Tập quán ăn uống của người Sán Dìu ở Thái Nguyên đã đề cập tới đặc trưng trong
văn hóa ẩm thực của dân tộc này
Nhìn chung, các công trình trên do mục đích nghiên cứu khác nhau đã tìm hiểu về văn hóa của người Sán Dìu ở nhiều góc độ: lễ hội, ẩm thực, tôn giáo… Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa tinh thần nói chung và văn học dân gian của dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên nói riêng chưa được các tác giả quan tâm tìm hiểu
Năm 2012, tác giả Diệp Thanh Bình trong cuốn Dân ca các dân tộc Pu Péo,
Sán Dìu, Dao, Cao Lan, Lô Lô được Nxb Văn hóa dân tộc ấn hành đã đề cập đến
sinh hoạt dân ca (Soọng Cô) của dân tộc Sán Dìu song chỉ mang tính chất giới thiệu những bài dân ca Sán Dìu mà không đi sâu tìm hiểu đặc trưng về nội dung và nghệ thuật
Có những luận văn, đề tài đã nghiên cứu về văn học dân gian các dân tộc thiểu số nói chung, song đề tài nghiên cứu về văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên gần như không có
Gần đây, Sở Văn hóa - Thông tin và Thể thao tỉnh Tuyên Quang, Thái
Nguyên cũng có đề tài Bảo tồn hát Soọng Cô của dân tộc Sán Dìu với mục đích:
sưu tầm lời kể của nghệ nhân, chọn người để luyện tập các điệu hát Soọng Cô nhằm phát huy những giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Sán Dìu ở Thái
Nguyên; Năm 2011, có luận văn Khảo sát loại hình hát Soọng Cô của dân tộc Sán
Dìu ở Thái Nguyên và Tuyên Quang của tác giả Nguyễn Thị Mai Phương (Đại học
Trang 12sư phạm) Song, do phạm vi tư liệu sưu tầm nên đề tài chưa khám phá hết giá trị của loại hình dân ca này ở địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Như vậy, công tác sưu tầm, nghiên cứu về văn học dân gian dân tộc Sán Dìu
ở Thái Nguyên còn rất khiêm tốn và mới được đề cập ở mức độ nhất định Các đề tài nghiên cứu chưa khám phá hết giá trị của loại hình dân ca cũng như những thể loại văn học dân gian khác của dân tộc Sán Dìu ở vùng văn hóa này Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên là những gợi mở, là tiền đề khoa học có giá trị cho việc nghiên cứu đề tài luận văn của chúng tôi
Qua quá trình khảo sát, phân tích một số tác phẩm văn học dân gian tiêu biểu của dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên, chúng tôi sẽ nghiên cứu hi vọng góp thêm một tiếng nói khẳng định ảnh hưởng của văn học dân gian đến đời sống văn hóa, tinh thần của con người
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên
- Tìm hiểu thêm văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở địa phương khác đề so sánh khi cần thiết
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi tư liệu nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành khảo sát văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên trong một số công trình:
1 Diệp Trung Bình (1987), Dân ca Sán Dìu, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội
2 Lê Trung Vũ, Diệp Thanh Bình, Đỗ Quang Tụ, Nguyễn Liễn, Lâm Quý,
Lò Giàng Páo (2012), Dân ca các dân tộc Pu Péo, Sán Dìu, Dao, Cao Lan, Lô Lô,
Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội
Trang 133 Diệp Minh Tài (2001), Soọng Cô dân ca dân tộc Sán Dìu, Sưu tầm, dịch
thuật và biên soạn, Tài liệu chưa xuất bản
4 Một số tác phẩm văn học dân gian dân tộc Sán Dìu và những tư liệu liên quan đến đề tài mà chúng tôi thu thập được trong quá trình điền dã
3.2.2 Phạm vi vấn đề nghiên cứu
Trong giới hạn của một đề tài luận văn thạc sĩ, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu những nội dung cơ bản và một số yếu tố về thi pháp tiêu biểu trong phần lời của tác phẩm văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên (Những yếu tố khác dùng để phân tích tham khảo khi cần thiết)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Luận văn nhằm mục đích nghiên cứu, tìm hiểu giá trị cơ bản về nội dung
và nghệ thuật của các tác phẩm văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên Trong điều kiện cho phép, chúng tôi có liên hệ so sánh giữa văn học dân gian dân tộc Sán Dìu với văn học dân gian các dân tộc anh em, từ đó thấy được nét độc đáo, riêng biệt của đối tượng nghiên cứu
- Thông qua việc điền dã, sưu tầm, nghiên cứu về văn học dân gian dân tộc Sán Dìu, luận văn đưa ra một số định hướng, biện pháp nhằm bảo tồn, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa nói chung và văn học dân gian dân tộc Sán Dìu nói riêng ở Thái Nguyên
- Một trong những mục tiêu quan trọng mà luận văn muốn hướng tới là dùng kết quả sưu tầm, nghiên cứu để ứng dụng vào việc giảng dạy nội dung Ngữ văn địa phương ở các đơn vị trường trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên; Tìm hiểu về địa bàn cư trú, văn hóa, đời sống vật chất, tinh thần của người dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên và đóng góp của văn học dân gian vào đời sống văn hóa tinh thần của
Trang 14người dân tộc Sán Dìu; đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, lưu giữ các tác phẩm văn học dân gian…
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu về văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên, tác giả sưu tầm, tham khảo các sách, báo, tạp chí, bài viết có liên quan hoặc đề cập đến vấn đề nghiên cứu
Để tìm hiểu, nghiên cứu về văn học dân gian dân tộc Sán Dìu, luận văn sử dụng một số phương pháp:
- Phương pháp điền dã: Đây là phương pháp chúng tôi sử dụng để thu thập
tư liệu về văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên Thường vào những ngày nghỉ cuối tuần và nghỉ hè, chúng tôi tìm đến các làng bản ở Thái Nguyên có người dân tộc Sán Dìu sinh sống để sưu tầm Các tác phẩm đều được sưu tầm từ các nghệ nhân dân gian, những người già trong làng, những người am hiểu về văn hóa, văn học dân gian dân tộc Sán Dìu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Phương pháp thống kê, phân loại: Sau khi sưu tầm tác phẩm văn học dân gian, chúng tôi đọc kĩ nhằm tìm hiểu sơ bộ tác phẩm đó Sau đó đối chiếu với kiến thức văn học dân gian mà bản thân có để phân loại tác phẩm vào những thể loại cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích, tổng hợp
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ kết quả phân loại các tác phẩm văn học dân gian dân tộc Sán Dìu theo thể loại, chúng tôi tiến hành phân tích và đưa ra những nhận xét, đánh giá đối với những giá trị cơ bản về nội dung, nghệ thuật của các thể loại đó
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong quá trình phân tích, tổng hợp, chúng tôi cố gắng so sánh, đối chiếu các tác phẩm văn học dân gian của các dân tộc anh em khác nhằm tìm ra những nét tương đồng và dị biệt trong những trường hợp cần thiết
Trang 15- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Trên cơ sở tìm hiểu những văn bản văn học dân gian dân tộc Sán Dìu, chúng tôi có phối hợp với một số phương pháp
sử học, văn hóa học, dân tộc học…
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung chính của luận văn được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên và một số vấn đề lý luận chung liên quan đến đề tài
Chương 2: Phác họa diện mạo văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên
Chương 3: Một số thể loại văn học dân gian tiêu biểu của dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên
7 Đóng góp của luận văn
Từ việc sưu tầm, phân tích, phân loại, tổng hợp, đối chiếu, so sánh các văn bản văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên, luận văn là công trình nghiên cứu tương đối hệ thống và đầy đủ về văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên Từ đó, luận văn góp phần tạo dựng diện mạo chung của nền văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên
Tác giả luận văn trong quá trình nghiên cứu đã đi điền dã sưu tầm được một
số lượng nhất định tác phẩm văn học dân gian thuộc các thể loại như thần thoại, tục ngữ, câu đố, hát Soọng Cô, truyện cổ tích của dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên
Từ những tư liệu chúng tôi sưu tầm được, giá trị của văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên hi vọng sẽ được bảo lưu, trường tồn cùng thời gian
Cùng với nhịp sống hiện đại, văn học dân gian dân tộc Sán Dìu đang dần phôi phai thì việc sưu tầm, nghiên cứu về văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên, luận văn góp phần khơi dậy tình yêu và ý thức giữ gìn của người dân tộc
Trang 16Sán Dìu với vốn văn hóa, văn học dân gian của họ, góp phần bảo tồn, phát huy vốn văn hóa, văn học dân gian dân tộc Sán Dìu
Đồng thời, các kết quả nghiên cứu sẽ được tham khảo và ứng dụng vào việc giảng dạy những tiết Ngữ văn địa phương trong các trường Trung học cơ sở thuộc tỉnh Thái Nguyên
Trang 17
NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC SÁN DÌU Ở THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
“Thái Nguyên xanh mát nương chè Chè xanh xứ Thái đậm đà ngát hương
Bà con một nắng, hai sương
Nụ cười chíu nắng bên nương dưới đồi” [9]
Thái Nguyên xanh mát nương chè, phảng phất gió heo may, với sông Cầu thoáng màu xanh trung du, với sắc hoa rừng nhè nhẹ ngát hương, với Thủ đô Gió ngàn nặng ân tình, An toàn Chiến khu xưa Thái Nguyên là một tỉnh miền núi trung du, nằm trong vùng văn hóa Việt Bắc, phía bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn; phía tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang; phía đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội Tỉnh Thái Nguyên có diện tích tự nhiên 3.562,82 km2, dân số hiện nay là 1.139.444 người; trong đó, đông nhất là dân tộc Kinh có 786.903 người, chiếm 75,5%; dân tộc Tày
có 106.238 người, chiếm 10,7%; dân tộc Nùng có 54.628 người, chiếm 5,1%; dân tộc Sán Dìu có 37.365 người, chiếm 2,4%; dân tộc Sán Chay có 29.229 người, chiếm 2,79%, dân tộc Dao có 21.818, chiếm 2,1%; dân tộc Mông có 4.831 người, chiếm và các dân tộc thiểu số khác chiếm khoảng 1,8%.
Và đến với Thái Nguyên là đến với một nền văn hoá dân gian khá độc đáo, mang đậm dấu ấn miền núi Sự tiếp xúc giữa văn hoá Sán Dìu với văn hoá dân gian của dân tộc Cao Lan, H’mông, Dao, Nùng, Tày,… trong vùng không thể không ảnh hưởng lẫn nhau ở chừng mực nào đó trong nghệ thuật và trong sinh hoạt Nhưng tâm lý, thị hiếu thẩm mĩ và điều kiện sinh sống không bao giờ đồng nhất giữa các dân tộc Cho nên văn hoá nghệ thuật của bất cứ cộng đồng nào cũng
Trang 18vẫn mang những nét dáng tinh tuý riêng, thể hiện thành bản sắc dân tộc Văn hoá của dân tộc Sán Dìu cũng không nằm ngoài quy luật đó
1.1 Khái quát về dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên
1.1.1 Vài nét về dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam
1.1.1.1 Dân số của người Sán Dìu
Theo thống kê trên toàn quốc, người Sán Dìu có số dân theo các năm như sau: Năm 1989 có 94.630 người; Năm 1999 có 126.237 người Theo số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam đến ngày 01/04/2009, người Sán Dìu có
số dân 146.821 người, cư trú 56/63 tỉnh, thành phố của cả nước, dân số đứng thứ 17/54 dân tộc của Việt Nam Phân bố dân cư của người Sán Dìu không đồng đều còn chênh lệch ở mức cao giữa nông thôn (90,86%) và thành thị (9,14%)
Địa bàn cư trú của người dân tộc Sán Dìu chủ yếu ở trung du và miền núi phía Bắc (85.011 người) và đồng bằng sông Hồng (57.832 người) Các tỉnh có dân
số từ 1000 người trở lên như Thái Nguyên; Vĩnh Phúc; Bắc Giang; Tuyên Quang; Quảng Ninh; Hải Dương Ở các tỉnh phía Nam người Sán Dìu tập trung đông ở vùng Tây Nguyên (1.757 người) và Đông Nam Bộ (1.968 người), các tỉnh có dân
số từ 100 người trở lên như: Đồng Nai, Lâm Đồng, Đắc Nông, Bình Phước, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, Đắc Lắc, Gia Lai, Bà Rịa Vũng Tàu, Kon Tum
1.1.1.2 Tên gọi tộc người
Dân tộc Sán Dìu tên tự nhận San Déo Nhín, theo âm Hán Việt có thể hình dung: San = Sơn; Déo = Dao; Nhín = Nhân San Déo Nhín tức là Sơn Dao Nhân Đồng bào cũng có những tên gọi tương tự như: San Déo Láo, cách gọi này được người Sán Dìu sử dụng trong cộng đồng Ngoài tên tự nhận, dân tộc Sán Dìu còn
có các tên gọi khác do những dân tộc cận cư gọi, chủ yếu dựa vào đặc điểm khác nhau (mang tính địa phương) như:
Trang 19Dựa vào trang phục truyền thống gọi là Mán Váy Xẻ, Mán Quần Cộc để phân biệt với Mán Quần Chẹt, Mán Quần Trắng – một tên gọi khác của nhóm Dao Quần Trắng và nhóm Dao Quần Chẹt [62]
Dựa vào đặc điểm nhà ở, người Sán Dìu có tên là Trại, Trại Đất Nhà của người Sán Dìu tường được trình bằng đất hay bưng ván Từ đó, để phân biệt với Trại Cao là tên gọi chỉ những người dân tộc Cao Lan sống trong các ngôi nhà sàn bằng gỗ
Dựa vào sự kết hợp giữa nhà ở với đặc điểm canh tác gọi là Trại Ruộng, tức người Sán Dìu ở nhà đất, làm ruộng
Dựa vào nhà ở và trang phục truyền thống gọi là Trại Cộc, tức người Sán Dìu mặc quần cộc và ở nhà đất tường trình
Các tên gọi dân tộc Sán Dìu thuộc các nhóm địa phương như Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang không phải tên gọi thống nhất của dân tộc Sán Dìu Mục đích các tên gọi này để phân biệt với các dân tộc cận cư như: Sán Chay, Dao, Tày
Những năm 50 của thế kỷ XX, bản danh mục tương đối đầy đủ và khá chi
tiết về thành phần các dân tộc Việt Nam mới được công bố trong cuốn Các dân tộc
thiểu số Việt Nam của tác giả Lã Văn Lô và cộng sự đã thống nhất tên gọi Sán Dìu
dưới góc độ chuyên môn để phân định các dân tộc thiểu số Việt Nam Tổng cục thống kê Trung ương chính thức khẳng định tên Sán Dìu trong các văn bản Nhà nước là tên gọi chính thống của dân tộc này
1.1.2 Sơ lược về dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên
1.1.2.1 Nguồn gốc lịch sử
Về nguồn gốc tộc người Sán Dìu, từ trước tới nay vẫn là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm Bởi lẽ, chúng ta chưa tìm ra cứ liệu khoa học chính xác nào bàn về vấn đề này mà chỉ dựa trên những ghi chép chưa thật chi tiết của các sử gia hay lời kể của những vị cao niên am tường về văn hóa dân tộc Sán Dìu
Trang 20Nhà nghiên cứu Ma Khánh Bằng khẳng định“tất cả các nhóm Dao ở nước
ta đều là Man hay Mán Như vậy, có thể nghĩ rằng Man = Dao, và Sơn Man tức là Sơn Dao hay cũng chính là Sán Dìu” [2, tr.9] Những lí giải trên của ông, vô hình
chung đã đồng nhất các dân tộc vào làm một Bởi lẽ, không phải dân tộc nào là Man hay Mán cũng là Dao, trong chế độ phong kiến không riêng gì người Dao được gọi là Man, mà nhiều dân tộc khác cũng gọi như vậy, cụ thể như người Hmông, Pàthẻn, Cao Lan…
Các sử gia phong kiến đã gộp nhiều tộc người vào làm một và chỉ dựa vào đặc trưng văn hóa như ăn, ở, mặc… mà chưa đi sâu tìm hiểu văn hóa tín ngưỡng, tri thức bản địa, tổ chức cộng đồng, văn học dân gian…những thành tố quan trọng tạo nên bản sắc riêng của các tộc người, nên khó có thể hiểu rõ về những “giống người” trên thuộc về dân tộc nào Các triều đại phong kiến đều gọi các dân tộc thiểu số là Man hay Mán, trong từ “Man di”
Cũng trong cuốn Người Sán Dìu ở Việt Nam, có viết: “Quần Cộc từ Quảng
Đông di cư sang đất nước ta mới được độ ba bốn trăm năm nay, còn có tên là Sơn Dao,”.[2, tr.9]
Căn cứ vào tên tự nhận của đồng bào Sán Dìu, khi di cư vào Việt Nam do loạn lạc, người Sán Dìu chạy lên các vùng đồi núi thấp, bán sơn địa sinh sống Những ngày đầu tiên trên đất nước Việt Nam, người Sán Dìu sống du canh du cư,
họ dựng những túp lều hay những nhà trại Do vậy, từ “San Léo – Sán Lều” dùng chỉ những người làm ăn sinh sống và ở những lều trại trong rừng, đọc chệch là San Déo – người Sán Dìu
Theo tác giả Ma Khánh Bằng thì “Tên Sán Dìu từ Sơn Dao, thì người Sán
Dìu vốn có nguồn gốc từ người Dao Từ đó ta có thể suy ra rằng: từ rất xa xưa, khối Dao bị bọn phong kiến phương Bắc thống trị đã “bóp vụn” thành nhiều nhóm nhỏ, khiến cho mỗi nhóm phiêu bạt một nơi Người Sán Dìu là một trong những nhóm đó, nhưng đã sống lâu ngày bên cạnh người Hán nên dần dần mất tiếng mẹ
đẻ, tiếp thu một thổ ngữ ở Quảng Đông…”.[2, tr.9]
Trang 21Tuy chưa xác định rõ nguồn gốc tộc người Sán Dìu nhưng tộc người này vẫn ý thức mình là một dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, có ngôn ngữ riêng… với tên tự gọi là San Déo Nhín
Người Sán Dìu di cư vào Việt Nam đã vượt qua dãy Hoàng Trúc Cao Sơn (Voóng Mố Lẻng) từ xã Quảng Sơn huyện Hải Hà tới xã Quảng Lâm huyện Đầm
Hà, tiếp tục tiến sâu vào nước ta Họ đi qua Tiên Yên rồi tỏa đi các nơi sinh cơ và lập nghiệp ở nhiều địa phương khác nhau Tuy nhiên, địa bàn cư trú của người Sán Dìu chủ yếu từ tả ngạn sông Hồng đến các tỉnh trung du miền núi phía Bắc Họ có mặt ở các vùng đồi núi thấp, các triền núi, chân đồi thậm chí cả vùng biển đảo như: huyện Vân Đồn, huyện Đầm Hà, huyện Tiên Yên… Một nhóm rẽ sang thị xã Chí Linh (Hải Dương), nhánh chính theo dãy núi Yên Tử tiến vào các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc Theo gia phả của gia đình ông Lê Hữu Nhất, xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, tổ tiên họ xa kia
có nguồn gốc tại thôn Phong Lưu, xã Bách La, huyện Phương Thành, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) Vào đời Càn Long, Nhà Thanh, tổ tiên họ di cư sang Việt Nam, đến nay đã 13 đời (trên dưới 300 năm) Quảng Ninh là điểm định cư đầu tiên của họ tại Việt Nam Sau đó, họ di cư tới Thanh Trà, Phú Lương, Thái Nguyên Đến đời cụ Lê Hữu Nhất, lại chuyển đến Đồng Hỷ, Thái Nguyên [76]
1.1.2.2 Dân số và địa bàn cư trú
Hiện nay, Thái Nguyên là tỉnh có đông người Sán Dìu nhất ở nước ta (29,59%) Năm 1999 với 37.365 người (3,57%), họ đứng ở vị trí thứ 4 trong các dân tộc của tỉnh và có mặt ở tất cả các huyện, thị xã thành phố của Thái Nguyên Người Sán Dìu phân bố chủ yếu ở vùng bán sơn địa, đông nhất là huyện Đồng Hỷ (40,8%), tiếp đến là thị xã Phổ Yên (21,8%), huyện Phú Lương (12,2%), thành phố Thái Nguyên (9,2%) và ít nhất là huyện Định Hoá (0,09%) Năm 1960 người Sán Dìu có mặt ở 63/162 xã, phường của tỉnh, trong đó huyện Đại Từ có 22 xã, huyện Đồng Hỷ có 21 xã, còn hai huyện: Định Hoá và Võ Nhai không có xã nào có người Sán Dìu cư trú; số xã có người Sán Dìu cư trú phần lớn chiếm tỉ lệ thấp (59/63 xã chỉ đến 40%), chỉ có 3 xã người Sán Dìu chiếm trên 40% dân số là: Phúc
Trang 22Thuận (44,9%) của thị xã Phổ Yên; Phúc Thọ (48,5%) của huyện Đại Từ và Nam Hòa (69%) của huyện Đồng Hỷ
Năm 1999, người Sán Dìu đã có mặt ở 154/180 xã phường của Thái Nguyên, dân số Sán Dìu trong mỗi xã cũng vẫn chiếm tỉ lệ thấp, có 151/154 xã chiếm tỉ lệ từ 0,01 đến 40%, còn lại 3 xã có tỉ lệ trên 40% là xã Nam Hoà (61,6%),
xã Tân Lợi (42,5%) của huyện Đồng Hỷ và xã Bàn Đạt (41,3%) của huyện Phú Bình
Làng bản của người Sán Dìu ở Thái Nguyên thường được lập dưới chân các đồi núi, gần các con sông và cánh rừng Trải qua những thăng trầm của lịch sử, người Sán Dìu ở Thái Nguyên đã sát cánh bên nhau, cùng chống chọi lại thiên nhiên khắc nghiệt, biến những mảnh đất khô cằn thành cánh đồng màu mỡ và từ trong cuộc sống vất vả lam lũ đó, văn học dân gian đã trở thành món ăn tinh thần, gắn bó máu thịt với họ.[19]
1.1.2.3 Hoạt động kinh tế
Về kinh tế tự nhiên
Người Sán Dìu cư trú trên vùng bán sơn địa rộng lớn có rừng, núi đồi, có đồng bằng Ngoài những hoạt động sản xuất thường niên, người Sán Dìu còn khai thác lâm thổ sản để cung cấp cho nhu cầu thiết yếu cho đời sống của đồng bào Việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên được phân công lao động theo giới, phù hợp với các thành viên trong gia đình: đàn ông khỏe mạnh đi xẻ gỗ, săn bắn…, phụ nữ, trẻ em đi lấy măng, lấy củi, hái nấm,… Hình thái kinh tế tự nhiên góp phần huy động tất cả sức lao động của các thành viên trong gia đình, song các hoạt động này hầu hết được thực hiện vào lúc nông nhàn, còn hoạt động chính và chủ đạo trong kinh tế của người Sán Dìu là trồng trọt và chăn nuôi
Trang 23ở Thỏi Nguyờn, cộng đồng Sỏn Dỡu đó xõy dựng một đời sống kinh tế, mang dấu ấn của vựng miền nỳi trung du nhưng cũng rất phong phỳ những nột truyền thống tộc người Thỏi Nguyờn thuộc vựng miền nỳi trung du, địa hỡnh ở đõy bao gồm những đặc điểm của vựng đồi nỳi, đất bằng ven đồi, vựng trũng chõn nỳi Đất đai ở vựng này tương đối đa dạng về loại hỡnh Ruộng đất của người Sỏn Dỡu thường được phõn chia theo phần ruộng đất cha ụng để lại Trong quan niệm của người Sỏn Dỡu, những người con trai trong gia đỡnh mới được chia ruộng đất, xuất phỏt từ tư tưởng “trọng nam khinh nữ” và họ cho rằng người con trai mới là người phụng dưỡng cha mẹ, thờ cỳng tổ tiờn Người Sỏn Dỡu canh tỏc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cổ truyền Mỗi loại đất đai, mỗi loại nhúm cõy trồng, họ cú kĩ năng canh tỏc riờng phần nhiều do kinh nghiệm tớch lũy được qua nhiều năm Trong đú, lỳa là cõy lương thực quan trọng hàng đầu nờn được người Sỏn Dỡu canh tỏc ở tất
cả cỏc loại đất đai Ngoại trừ số ớt cỏc gia đỡnh sống ở thị xó, thành phố, đại bộ phận người Sỏn Dỡu vẫn sống trong hoàn cảnh một nền kinh tế tự cấp tự tỳc Bởi thế, nụng nghiệp, trồng trọt vẫn giữ vai trũ hạt nhõn trong hệ thống cỏc hoạt động mưu sinh của họ Mọi hoạt động đều xoay quanh nụng nghiệp, điều đú thể hiện trong nụng lịch hàng năm của người Sỏn Dỡu Đồng thời phản ỏnh rừ nột thụng qua văn học dõn gian dõn tộc Sỏn Dỡu như tục ngữ về kinh nghiệm sản xuất, hỏt Soọng
Cụ về những mựa vụ trong năm…
Gia đình Sán Dìu có truyền thống làm giấy giú do người Sỏn Dỡu dựng giấy giú để ghi chộp gia phả, truyện cổ tớch, thơ ca, sớ… Nhưng ngày nay, giấy giú thường chỉ được dựng trong việc ghi sớ của những thầy cỳng Cú lẽ, do nhu cầu sử dụng nờn nghề làm giấy giú mai một theo thời gian
Từ xưa đến nay, người Sỏn Dỡu cú nhiều nghề thủ cụng nhưng hiện nay cũn phổ biến đú là nghề đan lỏt Trong mọi gia đỡnh người Sỏn Dỡu hầu hết ai cũng biết đan lỏt, từ đàn ụng đến phụ nữ và trẻ nhỏ Song cụng việc đan lỏt chủ yếu do người đàn ụng trong gia đỡnh đảm trỏch, họ đan lỏt vào buổi tối hoặc khi nụng nhàn Những sản phẩm của đan lỏt phục vụ cho chớnh nhu cầu của gia đỡnh như: lồng gà,
bu gà, sọt, rổ rỏ, giần, sàng… Những năm gần đõy do nhu cầu sử dụng nờn một số
Trang 24gia đình người Sán Dìu có mang những sản phẩm từ đan lát ra chợ bán, song số lượng không nhiều mà chủ yếu phục vụ cho cộng đồng và một số ít những dân tộc anh em lân cận Đây cũng là điều kiện tiếp xúc, giao thoa văn hóa với các dân tộc khác trong vùng
1.1.2.4 Văn hóa truyền thống
Mỗi dân tộc đều mang trong mình nét đặc trưng riêng về văn hóa vật chất
và văn hóa tinh thần, tộc người Sán Dìu cũng nằm trong mối tương quan đó Văn hóa vật chất bao gồm nhà ở, đồ ăn thức uống, trang phục… của người Sán Dìu
có những nét riêng và khu biệt với dân tộc khác
Nhà ở
Nếu người Dao, người Hmông chọn nhưng nơi núi cao để làm nhà, người Kinh chọn nơi đồng bằng thì làng bản của người Sán Dìu chủ yếu trên các sườn đồi hay chân đồi Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà nhưng cũng có làng nhiều lên đến cả trăm nhà Trong cùng một làng cũng được người Sán Dìu đặt tên theo các khu như: Óng Ánh Vùi, Thai Lẹng,…
Người Sán Dìu chọn nơi ở lí tưởng đó là phía trước là đồng ruộng, phía sau nhà là đồi thấp thuận tiện cho trồng trọt Trong cuộc sống của người Sán Dìu họ rất coi trọng việc dựng nhà Trước khi dựng nhà bao giờ họ cũng tới nhà thầy cúng để xem tuổi (chủ yếu là tuổi của người đàn ông) Nếu không “được” tuổi,
họ sẽ nhờ một người đàn ông khác trong cộng đồng làm thủ tục “mượn” tuổi và phải được báo cáo trước bàn thờ tổ tiên Sau đó, khi làm nhà xong, chủ nhà nếu muốn có thể “mua” lại thì làm lễ dâng xin lại nhà trước bàn thờ thổ công nhà mình
Nếu người Kinh chọn nhà hướng Nam, thì theo quan của người Sán Dìu, hướng nhà phải hợp với tuổi chủ nhà Họ rất kị cửa chính nhà đối diện với ngọn núi cao hay con đường, nóc nhà chiếu thẳng vào Họ cho rằng nếu phạm phải những điều ấy thì gia chủ lụi bại, hay gặp tai họa Sau khi làm nhà xong, hay vào
Trang 25mỗi dịp đầu năm người Sán Dìu thường làm Lễ Kỳ yên, trấn trạch với mong muốn đất ở bình an, gia đình hưởng phúc
Nhà của người Sán Dìu thường gồm ba gian hoặc năm gian Trước đây, họ thường ở nhà trình tường bằng đất Tường đất dày khoảng 40-50cm, được làm nhờ những bàn tay khỏe mạnh trành đất theo các khuôn xếp chồng lên nhau Nhà
ở đẹp là những khuôn tường đất mịn, mái nhà được lợp bằng rơm rạ hay cỏ tranh Gian chính của ngôi nhà để đặt bàn thờ tổ tiên và cũng là nơi tiếp khách Hai gian bên cạnh dùng để ở, thường là họ kê giường ngay cạnh và bên dưới bàn thờ
Lễ ăn mừng nhà mới của người Sán Dìu không thể thiếu các thầy cúng kỳ yên trấn trạch, rồi đón tổ tiên của gia chủ về nhà Đây cũng là lúc chủ nhà mời anh em họ hàng và những người đã giúp đỡ chủ nhà làm nhà ăn bữa cơm cảm ơn
Để rồi trai gái trong làng đến hát Soọng Cô mừng chủ nhà, lời ca vang lên:
Soọng théo sếnh cô hô chúy ca Chúy ca ộc sọng khọi lống ngá
Ịt nén hý ộc sen nén suy Chấy son hỵ chọn tách lói là
(Hát một bài ca mừng chủ nhà Gia đình đoàn kết làm nhà to Một năm làm nhà ngàn năm ở Hằng năm con cháu đi lại thăm).[44]
Hiện nay, nhà ở của người Sán Dìu đã có sự đổi khác do cuộc sống hiện đại, họ làm nhà xây thay vì nhà trình tường, nhưng những thủ tục như xem tuổi, chọn hướng, mừng nhà mới vẫn được duy trì
Ẩm thực
Trang 26Lương thực chủ yếu của người Sán Dìu là gạo tẻ, phương thức chế biến lương thực và tổ chức bữa ăn gần gũi với người Kinh Gạo tẻ được nấu thành cơm hoặc cháo loãng (cháo ỉm) Gạo nếp thường được dùng trong những ngày lễ tết để nấu xôi (xôi cẩm, xôi sau sau…), hay làm bánh (bánh trôi, bánh lép cóc phồ, bánh bẻng,…) Trong bữa ăn của người Sán Dìu thì cơm và rau là thành phần chính, thức ăn có thịt
cá nhưng không thường xuyên Câu mời cửa miệng của người Sán Dìu Thái Nguyên trong suốt bữa là “gắp rau ăn đi” Bởi trong quan niệm của họ, rau là bao gồm tất cả thưc ăn trong bữa ăn ấy Phải chăng một phần cũng vì rau là một trong hai thành phần chính trong bữa ăn
Văn hóa ẩm thực của người Sán Dìu để lại dấu ấn chủ yếu trong các dịp lễ tết của đồng bào Những món ăn đậm đà bản sắc dân tộc như: khau nhục, thịt thính, thịt muối, cà bát nén, bánh chưng gù, bánh nghé, bánh trôi con, xôi nhuộm màu… và không thể thiếu cơm tẻ, cháo ỉm
Thức uống của người Sán Dìu cũng khá là đa dạng Trước đây và hiện nay, trong các gia đình Sán Dìu vẫn dùng các loại nước uống như: nước vối (sủi loóng sá), nước nấu từ sa nhân (thôôc thala cháy), nước nấu từ cây tu hú (tu hụ thanh), nước nấu
từ các loại thảo dược khác của núi rừng, nước chè tươi, chè xanh (búp sao) Rượu được nấu từ nhiều loại nguyên liệu khác nhau như gạo tẻ, gạo nếp, ngô, sắn… Bên cạnh đó, đồng bào cũng biết tận dụng một số thảo dược ngâm rượu uống như rượu trẩm huyết,…
Bên cạnh đó, cháo ỉm cũng là một loại thức uống bổ dưỡng Sáng sáng trong gia đình người Sán Dìu bao giờ cũng có nồi cháo để ngang buổi làm họ sẽ về uống nước cháo để giải khát Đây là thức uống vô cùng bổ dưỡng
Trong mâm cơm của người Sán Dìu thì thức ăn bao giờ cũng đặt ở vị trí trung tâm, rau đặt xung quanh Trong gia đình có cả con trai con gái thì người con gái sẽ ngồi đầu nồi để đơm cơm, nếu chỉ có con trai thì người con trai ngồi vị trí đầu nồi Khách đến nhà chơi ăn cơm dù mâm cơm có ít hay nhiều thức ăn nhưng bao giờ chủ
Trang 27nhà cũng mời khách “ăn thêm bát nữa”, lời mời ấm áp tình người, chứng tỏ sự mến khách của chủ nhà
Trang phục
Trang phục của nam giới, họ thường mặc hai chiếc áo Áo trong ngắn hơn màu trắng, áo ngoài có thể màu nâu hoặc đen Áo năm thân, cổ cao, cài khuy bên phải Quần màu nâu hoặc đen, ống rộng, thắt lưng màu chàm Trang phục của nữ giới phức tạp hơn, gồm có: khăn đội đầu, yếm, áo trong, áo ngoài, dây lưng, váy, xà cạp Áo trong ngắn hơn áo ngoài, màu trắng, áo ngoài màu chàm Áo của người phụ
nữ Sán Dìu là kiếu áo tứ thân, cổ cao nhưng không có khuy Cách mặc cũng phân biệt tuổi tác, người trẻ mặc áo vạt bên phải vắt phủ lên vạt bên trái, tạo thành đường chéo nhau từ cổ xuống ngực Người già thì mặc áo thì vạt bên trái vắt phủ lên vạt bên phải, thắt lưng hoa lý, tím hoặc đỏ thắt lại Xà cạp bằng vải màu đen hoặc màu chàm Chân đi guốc gỗ hoặc đi dép quai hậu Đồ trang sức của người Sán Dìu chủ yếu làm bằng bạc như vòng kiềng, khuyên tai, nhẫn Bên cạnh đó, túi trầu và con dao cũng được coi là vật trang sức của người Sán Dìu Nếu như người Kinh trao khăn, gửi áo:
“Gửi khăn, gửi áo gửi lời Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa”
Thì túi trầu hình múi bưởi được may công phu bằng sáu đến tám sợi chỉ màu
là vật trao duyên của người con gái Sán Dìu:
Dịu chác loi thoi láo moi cây Ném nẻm dịu hềnh thèm lốc chấy Loi thoi nẹm, nẹm xím miếng loi Ban híp cói cỏi sệch lim nhín
(Chiếc túi trầu của em tôi
In hình múi bưởi xinh tươi bên mình
Trang 28Túi trầu nặng nghĩa, nặng tình Gói trong bao nét nhân duyên thật thà).[50]
Ngôn ngữ
Dân tộc Sán Dìu thuộc ngữ hệ Hán - Tạng, theo GS.TS Ngô Đức Thịnh:
“Nhóm Hán gồm có các tộc Hoa, Ngái và Sán Dìu, là những người đại diện trực
tiếp cho sự hiện diện của một nền văn minh lớn của Trung Quốc ở Việt Nam” [64,
tr.277] Người Sán Dìu đã sáng tạo ra ngôn ngữ Nôm - Sán Dìu đặc trưng cho tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, cũng tương tự các dân tộc khác như dân tộc Dao có Nôm – Dao, dân tộc Tày có chữ Nôm - Tày Người Sán Dìu có chữ viết riêng, là loại chữ tượng hình, có nhiều đường nét của chữ Hán cổ Hiện nay, tiếng nói, chữ viết của người Sán Dìu đang ở vào thời kỳ bị mai một Lớp trẻ hiện nay phần nhiều không còn sử dụng ngôn ngữ, chữ viết của dân tộc mình Tuy vậy, chữ viết của người Sán Dìu vẫn được lưu truyền, sử dụng ở một số gia đình có người
làm thầy cúng, thầy địa lí
Văn nghệ dân gian
Trang 29Người Sán Dìu có vốn văn nghệ dân gian khá phong phú, nội dung và hình thức đều có màu sắc riêng đậm đà bản sắc dân tộc Hát Soọng Cô giao duyên, hội
hè, cưới xin, hát ru (gọi chung là Soọng Cô), Bên cạnh đó có ca dao, tục ngữ, câu đố được đúc kết từ kinh nghiệm sống Đồng bào cũng có kho tàng truyện cổ, truyện thơ khá phong phú
Nhạc cụ có tù và, thanh la, não bạt, sáo Dân vũ có một số điệu nhảy: nhảy Tắc Sình trong lễ hội và một số điệu nhảy chỉ dùng cho tang ma, cúng bái
Tóm lại
Về văn hóa vật thể, người Sán Dìu sinh sống bằng nông nghiê ̣p ở vùng trung
du và có phương pháp canh tác riêng, rất đặc biệt, ho ̣ sống rải rác thành làng xóm nhỏ dưới các chân nú i, nhà thường làm 3 gian, 2 chái Về trang phục truyền thống của người Sán Dìu, đàn bà mă ̣c quần màu nâu, cắt theo kiểu chân què, bên trong
mặc yếm bằng vải mềm, chân quấn xà ca ̣p, đeo túi ăn trầu may bằng vải chàm; ngoài ra còn có các đồ trang sứ c như: mấm tai, vòng cổ, nhẫn, vòng tay, xà tích, xen thu Trang phục của nam giới truyền thống là quần chân què, áo cổ đứng có
ba tú i (hai túi to ở trước bụng, mô ̣t túi nhỏ ở trước ngực) không có ve
Về văn hóa phi vật thể, người Sán Dìu thờ cúng tổ tiên, thờ Thổ Công, thờ
mụ Quan niệm về vũ trụ, người Sán Dìu chi ̣u ảnh hưởng của Phâ ̣t giáo, Đa ̣o giáo
và Nho giáo Người Sán Dìu sử du ̣ng tiếng nói riêng của dân tô ̣c mình, còn về văn
tự họ sử du ̣ng chữ Hán nhưng vẫn phát âm theo tiếng của mình Các loa ̣i hình văn nghệ dân gian của người Sán Dìu khá đa da ̣ng, nổi tiếng với sinh hoạt dân ca Soọng Cô, các trò chơi dân gian, tranh thờ và đă ̣c biê ̣t có rất nhiều các truyê ̣n cổ dân gian
1.2 Văn học dân gian và văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam
1.2.1 Khái niệm văn học dân gian
Để có được thuật ngữ quen thuộc “Văn học dân gian” như hiện nay, tên gọi này đã phải trải qua một quá trình lịch sử phát triển kéo dài từ cách gọi tự phát trong dân gian - những người góp phần sáng tạo ra văn học dân gian - cho đến
Trang 30cách gọi định danh mang tính khoa học hơn của những nhà nghiên cứu Từ thế kỷ
XX trở về trước, trong các tài liệu sưu tầm về bộ phận văn học này còn lại, chỉ lưu hành những thuật ngữ gọi riêng lẻ từng thể loại văn học dân gian như truyện đời xưa, truyện cười, truyện cổ tích mà thật sự chưa có một sự giới thuyết khoa học nào về những tên gọi này Người sử dụng chỉ mặc nhiên coi tên gọi về một thể loại
đó có tính bao quát về một bộ phận văn học truyền miệng trong dân gian từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác mà thôi
Đầu thế kỷ XX, bắt đầu xuất hiện những khái niệm liên quan đến văn học dân gian như: Văn chương bình dân, văn học bình dân, văn chương đại chúng, văn học đại chúng, văn chương truyền khẩu, văn chương truyền miệng, văn học truyền
mi ệng, sáng tác truyền miệng dân gian sáng tác dân gian, văn nghệ dân gian… Tuy nhiên, trong ngành nghiên cứu văn học dân gian sau này, các thuật ngữ vừa nêu không có tính phổ biến vì nhiều nguyên nhân Đặc biệt là những thuật ngữ ấy không có tính bao quát những đặc trưng quan trọng của văn học dân gian Và điều đáng nói là những thuật ngữ ấy đã gây ra hiện tượng sử dụng khái niệm không thống nhất, gây nhiều khó khăn phức tạp trong việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu
Đầu những năm 50 của thế kỷ XX, trong giới nghiên cứu có những thuật ngữ được sử dụng dịch từ “Folklore” như văn hóa dân gian, văn nghệ dân gian, văn học dân gian Folklore là một thuật ngữ tiếng Anh (Folk: nhân dân - lore: hiểu biết trí tuệ) được William J Thoms - nhà nhân chủng học người Anh sử dụng lần đầu năm 1846 và sau đó thuật ngữ này được phổ biến rộng rãi năm 1889 Theo ông, Folklore dùng để chỉ những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là những di tích của nền văn hóa tinh thần của nhân dân có liên quan với nền văn hóa vật chất như phong tục, đạo đức, việc cúng tế, dị đoan, ca dao, cách ngôn của các thời trước [63, tr39] Thuật ngữ này, sau đó được chuyển dịch sang tiếng Việt thành Văn hóa dân gian (tương ứng với thuật ngữ Folklore theo nghĩa rộng của từ này) bao gồm toàn bộ các lĩnh vực văn hóa vật thể và phi vật thể của nhân dân (chủ yếu là văn hóa dân gian truyền thống) Bên cạnh đó, Folklore còn được hiểu
là văn nghệ dân gian (hay Folklore văn nghệ) bao gồm cả nghệ thuật tạo hình (như
Trang 31hội họa, điêu khắc, nặn tượng) và nghệ thuật biểu diễn hay diễn xướng (như văn học, âm nhạc, vũ đạo, sân khấu dân gian) Ở đây, xin được sử dụng thuật ngữ Folklore theo cách dịch Folklore văn học - đó là văn học dân gian Đây là thành phần cốt lõi, phát triển mạnh mẽ và lâu bền nhất của nghệ thuật diễn xướng dân gian, bao gồm các loại sáng tác dân gian có thành phần nghệ thuật ngôn từ (như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, tục ngữ, ca dao, dân ca, câu đố)
Từ lâu, vấn đề thuật ngữ đã được đặt ra một cách nghiêm túc để hướng tới một cách gọi thống nhất và giới thuyết nội hàm của thuật ngữ được sử dụng Trên thực tế tồn tại nhiều cách gọi khác nhau, nhiều cách hiểu cũng không giống nhau, người học tập và nghiên cứu văn học dân gian cần phải hiểu từng thuật ngữ và phân biệt rõ ràng - tức là nên có một sự giới thuyết khái niệm khi sử dụng Trong các giáo trình giảng dạy và học tập văn học dân gian, có thể thấy đa số các ý kiến của các chuyên gia đầu ngành xem văn học dân gian như một đối tượng nghiên cứu (trước đây gọi là văn chương dân gian) Có nghĩa là những sáng tác diễn xướng dân gian (như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ca dao, câu đố, vè) Nhưng đồng thời, nói đến văn học dân gian cũng tức là nói đến tên gọi của một ngành khoa học chuyên nghiên cứu những sáng tác văn chương của dân gian (chẳng hạn những công trình sưu tầm và nghiên cứu như : Tục ngữ ca dao dân ca của Vũ Ngọc Phan; Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học của Chu Xuân Diên; văn học dân gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh chủ biên) Vì thế, cũng như các giáo trình khác, tài liệu này sẽ thống nhất cách gọi văn học dân gian bởi thuật ngữ này có tính bao quát hơn, đặt ra vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống hơn
Trong Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, nhóm tác giả Đinh Gia
Khánh, Chu Xuân Diên và Võ Quang Nhơn xem tác phẩm văn học dân gian trước hết là những tác phẩm nghệ thuật và những hình tượng nghệ thuật mang tính thẩm
mĩ Tuy nhiên, cách định nghĩa này ít nhiều chưa phân biệt được những đặc trưng
cơ bản của văn học dân gian Trước hết, chúng ta có thể định nghĩa theo kiểu chiết
tự khái niệm Theo đó, Văn học chỉ bộ phận sáng tác nghệ thuật bằng chất liệu ngôn từ, còn Dân gian nêu ra mối quan hệ giữa nghệ thuật ngôn từ với các loại
Trang 32hình nghệ thuật khác (Âm nhạc, vũ đạo, tạo hình, môi trường diễn xướng…) Và văn học dân gian dùng chỉ những thể loại sáng tác dân gian trong đó có thành phần nghệ thuật ngôn từ (tức phần “văn học” chiếm vị trí quan trọng hơn nhưng bao giờ
nó cũng có mối quan hệ hữu cơ với các thành phần nghệ thuật và phi nghệ thuật khác) Văn học dân gian là một loại sáng tác nghệ thuật ngôn từ của nhân dân Nhưng bên cạnh đó, văn học dân gian còn có những yếu tố nghệ thuật khác ngoài ngôn từ Những yếu tố ấy thuộc loại hình nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật thời gian, không gian và được tiếp nhận bằng cả thính giác lẫn thị giác Vậy, văn học dân gian ra đời và tồn tại gắn liền với lịch sử loài người và được nhân dân sáng tác, lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền miệng Ở đây, ta có thể mượn sự
đúc kết của nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu trong Giáo trình văn học dân gian
(CĐSP) để có một cái nhìn bao quát về lịch sử khái niệm văn học dân gian Ông đã khái quát tất cả những định nghĩa về văn học dân gian thành ba luồng ý kiến chính Một (1), văn học dân gian là thành phần ngôn từ ở trong những sáng tác dân gian mang tính nguyên hợp Ngôn từ vừa là bộ phận của nghệ thuật diễn xướng dân gian vừa có tính độc lập tương đối Hai (2), văn học dân gian chỉ là những sáng tác ngôn từ có giá trị nghệ thuật và giá trị văn học Ba (3), văn học dân gian chỉ là một trong những thành tố của nghệ thuật diễn xướng (hay nghệ thuật biểu diễn), một loại nghệ thuật tổng hợp bao gồm nhiều thành tố Theo ông Hoàng Tiến Tựu, ý kiến (2) và (3) không xác đáng (vì hai luồng ý kiến ấy hoặc đánh đồng việc nghiên cứu văn học dân gian với khoa nghiên cứu văn học hoặc phủ nhận vai trò của ngôn
từ như một chỉnh thể độc lập) mà chỉ có ý kiến (1) là hợp lý hơn cả Nói một cách ngắn gọn, văn học dân gian là một bộ phận của sáng tác dân gian, là nghệ thuật ngôn từ sinh thành và phát triển trong đời sống của nhân dân theo phương thức truyền miệng và tập thể (1)
Bản thân thuật ngữ văn học dân gian đã nói lên rằng văn học dân gian do
quần chúng nhân dân làm ra Bác Hồ đã từng khẳng định: “Quần chúng là người
sáng tạo, công nông là người sáng tạo Nhưng quần chúng không chỉ sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội Quần chúng còn là người sáng tác nữa Những câu tục
Trang 33ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng Các sáng tác ấy rất hay mà lại ngắn” [45]
Lê-nin lại coi sáng tác truyền miệng dân gian là sáng tác chân chính của nhân dân lao động Văn học dân gian thể hiện bản sắc riêng, độc đáo về nội dung, đặc sắc về nghệ thuật, đề cập đến những vấn đề thiết thân đối với quần chúng nhân dân và lý giải theo cách nhìn, cách cảm của họ Vì thế, văn học dân gian phản ánh thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh của nhân dân lao động, mang nội dung dân chủ và tính nhân văn sâu sắc
Văn học dân gian là những tác phẩm ngôn từ truyền miệng được tập thể
sáng tạo nhằm phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau của đời sống cộng đồng
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn học dân gian, tuy nhiên trong
khuôn khổ của luận văn chúng tôi nghiên cứu thì văn học dân gian là “những sáng
tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng theo phương thức tập thể nhiều đời chọn lọc
và gọt giũa của nhân dân, là một thành tổ hợp thành chỉnh thể văn hoá dân gian
có tính nguyên hợp”[68] Tác phẩm văn học dân gian là kết quả của một quá trình
sáng tạo tập thể, trong đó một người tham gia vào quá trình là một cá nhân sáng tạo
Văn học dân gian là một trong nhiều yếu tố văn hoá phi vật thể Nó có những điểm gần gũi với triết học, dã sử, tín ngưỡng dân gian, dân tục, luật tục của cộng đồng cư dân truyền thống Các loại hình văn hoá phi vật thể này gắn bó và có quan hệ qua lại với nhau, chi phối và đan lồng vào nhau một cách tự nhiên nhiều khi đến khó tách bạch
Văn học dân gian không chỉ là một bộ phận của văn hóa dân gian mà còn là một bộ phận của văn học Nó chính là kho tàng tri thức vô giá, là những nét truyền thống tốt đẹp của dân tộc Có thể nói, văn hóa dân gian Việt Nam nói chung và văn học dân gian dân tộc Sán Dìu nói riêng chính là nơi đã giữ gìn, bảo tồn những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, bồi dưỡng cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, niềm
tự hào dân tộc, tự hào về những giá trị tinh thần cao quý mà cha ông đã để lại Do
Trang 34đó, văn học dân gian có tác dụng tác dụng rất lớn ở cả hai mặt giáo dục và giáo dưỡng Chính vì lẽ đó, khi nói đến văn học dân gian, ta nhận ra đó là một nguồn tri thức dân gian vô cùng phong phú, đầy đủ về thể loại, đa dạng về màu sắc Đây là
sự tổng hợp những hiểu biết của con người về cuộc sống và thiên nhiên, là những kinh nghiệm sản xuất, những phong tục tập quán, tín ngưỡng, những quan niệm về
vũ trụ, nhân sinh, quan hệ họ hàng, làng nước, tình yêu lứa đôi,
Văn học dân gian là những sáng tác văn học do nhân dân tạo nên và lưu truyền Văn học dân gian cũng là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ như văn học viết, nhưng lại có những đặc điểm riêng về lịch sử ra đời và phát triển, về người sáng tác, về cách thức sáng tác và lưu truyền, về nội dung tư tưởng và thể loại nghệ thuật Ở vị trí nghiên cứu văn học, chúng ta coi tác phẩm văn học dân gian trước hết là những tác phẩm nghệ thuật Tính nghệ thuật là một thuộc tính khách quan của văn học dân gian, cho dù thuộc tính đó có được nhân dân nhận thức rõ hay không trong khi sáng tác, diễn xướng và tiếp thu các tác phẩm văn học dân gian Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam có những thành tựu với những sắc thái riêng biệt Văn học dân gian các dân tộc thiểu số có những nét đặc sắc như: Yếu tố thần thoại bảo tồn, kho thần thoại giải thích tự nhiên rất dồi dào, khối lượng thơ ca dân gian lớn, có sắc thái trữ tình đậm Thể loại tự sự dân gian về thời kỳ lịch sử khi loài người bước vào xã hội văn minh, kể về những kỳ tích, sự nghiệp anh hùng có tầm vóc lớn Truyện thơ là những truyện kể bằng thơ, biểu hiện cảm nghĩ bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, cảm xúc, chứa đựng vấn đề xã hội
Có sự kết hợp yếu tố tự sự và trữ tình, dung lượng lớn, mang tính chất cố sự của truyện kể dân gian, biểu hiện dưới hình thức thơ ca với màu sắc trữ tình đậm
Văn học dân gian, từ lâu được ví như một kho báu khổng lồ bởi nó chứa đựng những tri thức dân gian vô cùng phong phú Những tri thức này, về cơ bản được đúc kết dựa trên những trải nghiệm, kinh nghiệm thực tế và được truyền lại qua nhiều thế hệ Vì lẽ đó, bức tranh văn học dân gian Việt Nam, thực chất là sự kết hợp của rất nhiều tri thức dân gian đã được nghệ thuật hóa với những gam màu riêng biệt Tuy nhiên, cần thấy rằng trong quá trình vận động và phát triển, kho
Trang 35tàng văn học dân gian Việt Nam có sự cộng gộp của hai mảng lớn là văn học dân gian người Việt và văn học dân gian các dân tộc thiểu số Do vậy, khi nhắc đến những thành tựu của văn học dân gian của người Việt, cũng cần chú ý đến những đóng góp của văn học dân gian các dân tộc thiểu số Trong đó, cùng với văn học dân gian của các dân tộc Tày, Thái, Mường…, văn học dân gian dân tộc Sán Dìu
là sự thể hiện sâu sắc những tri nhận về thiên nhiên, xã hội, con người
1.2.2 Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam
Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu tuy không được nhắc đến nhiều như văn học dân gian các dân tộc khác: Tày, H’mông, Dao, Thái,… song kho tàng văn học dân gian của họ theo lời kể của các cụ già và các nghệ nhân là vô cùng phong phú
và quý giá Để giữ gìn những truyền thống quý báu của dân tộc, để bảo tồn những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất của các thế hệ người Việt Nam một hình thức văn học dân gian truyền miệng đã ra đời và được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác tại Việt Nam Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu thường ca ngợi tài năng và lòng dũng cảm của con người trước thiên nhiên khắc nghiệt, trước kẻ thù độc ác, ca ngợi lòng nhân hậu, độ lượng giúp đỡ nhau, ca ngợi tình yêu trai gái, tình chung thuỷ vợ chồng, yêu con người, yêu thiên nhiên, yêu làng xóm, quê hương Không những thế văn học dân gian dân tộc Sán Dìu còn là vũ khí đấu tranh chống lại những thói hư tật xấu của con người, chống lại những bất công thối nát trong xã hội Bằng ngôn ngữ dân gian giàu hình ảnh, bằng nghệ thuật nhạc điệu sinh động, văn học dân gian Việt Nam đã thấm sâu vào lòng người một cách tự nhiên và rất dễ dàng truyền lại cho đời sau Trong khi các tập quán, nghi lễ liên quan đến nhà ở, cũng như các hình thức tín ngưỡng truyền thống còn được lưu giữ một cách khá đậm nét thì các yếu tố văn nghệ dân gian của dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam hiện nay đã có sự ảnh hưởng sâu sắc từ các tộc người láng giềng, trong đó chủ yếu là người Hoa Hiện nay, văn học dân gian của dân tộc Sán Dìu không được phổ biến dưới dạng văn bản mà chủ yếu là truyền miệng, chỉ sử dụng tiếng Hán cổ làm phương tiện giao tiếp và truyền đạt các yếu tố văn hoá cổ truyền của mình, trong đó có một số loại hình văn nghệ dân gian đang được thịnh hành ở
Trang 36vùng dân tộc Sán Dìu như các bài dân ca, truyện cổ tích, truyền thuyết và thần thoại, Tuy nhiên, các giá trị văn học dân gian đã sưu tầm, khai thác được lại chưa nhiều và nằm phân tán trong các công trình nghiên cứu văn hoá nói chung Những
gì khai thác được vẫn chưa thấm tháp vào đâu Còn một mảng rất lớn ca dao, dân
ca, tục ngữ trong cộng đồng các dân tộc thiểu số đang bị bỏ ngỏ Điều đáng nói là những “tài sản” độc đáo này không phải nơi nào cũng có được Và hơn nữa, trong quá trình giao thoa, tiếp biến văn hoá, những giá trị ấy đang có nguy cơ mai một, biến dạng
Nội dung cơ bản của văn học dân gian dân tộc Sán Dìu phản ánh lý giải những hiện tượng của tự nhiên mà người Sán Dìu không lý giải được Đồng thời, cũng thể hiện những ước mơ chân chính của cộng đồng trong đấu tranh xã hội, đấu tranh với thiên nhiên, ước mơ cái thiện luôn chiến thắng cái ác, thật thà thắng gian
tà, con người chiến thắng mọi yêu ma quỷ quái, người chăm chỉ được đền đáp, người lười biếng, xảo quyệt phải bị trừng trị ( ) Có thể nói, văn học dân gian gắn liền với đời sống của người Sán Dìu Nó ra đời và phát triển trong các sinh hoạt hàng ngày, hằng năm của quần chúng nhân dân Gắn với những cuộc trò chuyện, vui chơi, trao đổi tình cảm, lao động, cưới xin, ma chay, lễ hội Mặc dù vậy, kho tàng văn học dân gian của đồng bào vẫn có nhiều nét đặc trưng riêng Đó là sự phản ánh các đặc điểm về lịch sử, đời sống kinh tế, văn hoá của người Sán Dìu ở Việt Nam nói chung, từng địa phương trong cả nước nói riêng
Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu khá phát triển trong nhân dân lao động, với loại hình văn học dân gian chủ yếu là hát Soọng Cô Bên cạnh đó, còn có ca dao, tục ngữ, câu đố cũng rất phong phú được đồng bào đúc rút từ kinh nghiệm
trong đời sống Đồng bào cũng có nhiều truyện thơ đặc sắc phải kể đến như: Dựng
đất mở trời (Hoi then dịp thi), Vua cóc ở Man Cay Coóc, Món Lóng
* Tiểu kết
Qua những vấn đề được trình bày trên đây, chúng ta thấy rằng dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên cũng như dân tộc Sán Dìu sinh sống ở những nơi khác trong
Trang 37cả nước đều có truyền thống lịch sử nền văn hóa lâu đời phong phú đa dạng, có những nét đặc trưng riêng về phong tục tập quán của cư dân từng địa phương
Như vậy, qua việc tìm hiểu về những đặc điểm lịch sử xã hội, truyền thống văn hoá, chữ viết, tôn giáo và vốn văn nghệ dân gian của người Sán Dìu ở Việt Nam nói chung và ở Thái Nguyên nói riêng có thể thấy: Tộc người Sán Dìu ở Thái Nguyên nằm trong tổng hòa của nền văn hóa Sán Dìu nói chung Với quá trình thiên di từ lâu đời, mảnh đất Thái Nguyên là nơi tập trung cộng đồng Sán Dìu đông nên mọi nét đặc trưng đều quần tụ nơi đây
Trong tổng thể văn hóa dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên, văn học dân gian đáp ứng được nhu cầu tình cảm của người lao động miền núi Đó cũng
là phương tiện nhạy bén và sâu sắc phản ánh đầy đủ tâm tư, tình cảm và ước vọng của người lao động trong dân tộc thiểu số vùng miền núi Bằng loại hình sinh hoạt văn hóa truyền thống này, những người dân lao động đã tìm thấy một cuộc sống ấm no hạnh phúc mà trong đó tình cảm yêu thương giữa mọi người trong cộng đồng dân tộc được đề cao hơn cả
Trong giá trị tinh thần của người Sán Dìu không thể thiếu văn học dân gian, những tác phẩm văn học dân gian được lưu truyền bằng sách hoặc truyền khẩu Có thể nói, văn học dân gian gắn liền với đời sống của người Sán Dìu
Những vấn đề đã được khái quát ở trên chỉ mang tính giới thiệu, làm nền cho việc nghiên cứu về tư tưởng, quan niệm, phong tục tập quán, tâm hồn và tính cách người Sán Dìu qua một số thể loại văn học nền tảng cho việc nghiên cứu những phương diện: nội dung và hình thức nghệ thuật của một số thể loại văn học dân gian của dân tộc Sán Dìu trong truyền thống văn hóa tinh thần của họ
Trang 38Chương 2 PHÁC HỌA DIỆN MẠO VĂN HỌC DÂN GIAN DÂN TỘC SÁN DÌU
Ở THÁI NGUYÊN
Trong chương 1, chúng tôi đã phác thảo một cái nhìn khái quát về diện mạo vùng đất, con người và văn hóa dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên Đó là cơ sở quan trọng cho việc định tính cơ bản văn học dân gian dân tộc Sán Dìu trên vùng đất này Ở chương 2, chúng tôi sẽ tiến hành tập hợp, khảo sát các tư liệu sưu tầm, nghiên cứu về văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên cũng như các tư liệu thuộc lĩnh vực khác nhưng có liên quan đến văn học dân gian dân tộc Sán Dìu
ở Thái Nguyên Tìm hiểu hiện trạng tư liệu sẽ là một trong những thao tác cần thiết để chúng tôi định hướng được một cái nhìn khái quát về văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên, đồng thời cũng nhằm bước đầu xác định được đối tượng nghiên cứu cụ thể
2.1 Khái quát về văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên
2.1.1 Hiện trạng văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên
Trong nền văn hoá văn nghệ dân gian vốn phong phú đa dạng của dân tộc
ta, không thể không tìm hiểu và nói đến sự góp mặt văn nghệ dân gian của dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên Trải qua quá trình đấu tranh lâu dài chống lại thiên nhiên khắc nghiệt, xã hội phong kiến bất công để tồn tại và phát triển, người Sán Dìu đã sáng tạo nên những giá trị văn hoá truyền thống giàu bản sắc, đặc biệt là văn học dân gian Tư liệu văn học dân gian sưu tầm được chưa nhiều gồm có một
số loại hình văn nghệ dân gian đang được thịnh hành của dân tộc Sán Dìu: truyền thuyết, truyện cổ tích, hát Sọong Cô, câu đố ( ), với nội dung phản ánh cuộc sống lao động sáng tạo, khả năng nhận thức về tự nhiên và xã hội của đồng bào dân tộc Sán Dìu
Sự biến động về quy luật phát triển và thực trạng biểu hiện của kinh tế, văn hóa, xã hội ở nông thôn vẫn đang diễn ra một cách nhanh chóng và chắc chắn sẽ
có những thay đổi trong tất cả những yếu tố đã nêu Nhưng dù có biến đổi thế
Trang 39nào, thì với những gì được thể hiện, sinh hoạt văn hóa mang đậm nét dấu ấn, phong vị văn hóa văn minh nông nghiệp trồng lúa nước với cơ cấu tổ chức xã hội thôn làng tương đối khép kín, nay có sự tiếp biến trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở; là sự bền vững phong phú, đa dạng của các hoạt động văn hóa dân gian, cụ thể là văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên
Kho tàng văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên phong phú, cho đến nay mặc dù được Đảng và Nhà nước quan tâm, các học giả, các nghệ nhân trong nước dày công sưu tầm nhưng văn học dân gian dân tộc Sán Dìu vẫn là một
di sản quý báu mà chúng ta chưa nắm bắt hết được về số lượng và nội dung, hình thức Bởi lẽ, văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên hầu như chỉ còn được lưu giữ trong lớp người cao tuổi Những thế hệ sau hiểu rất ít về văn học dân gian dân tộc Sán Dìu Nếu không khẩn trương nghiên cứu và đề ra các biện pháp bảo tồn, truyền thụ thì khi lớp người cao tuổi ở Sán Dìu mất, nhiều di sản văn học dân gian dân tộc Sán Dìu sẽ mất theo
Số lượng tác phẩm mà chúng tôi đã sưu tầm, điền dã chắc chắn chưa phải
là toàn bộ vốn liếng văn học dân gian vùng đất này Ta sẽ còn bắt gặp đâu đó những mảnh vụn, những câu chuyện kể trong nhân dân, trong thư tịch cổ các dòng họ, những bài ca ý vị trên đồng ruộng hay trong những lễ hội truyền thống của con người nơi đây Tuy nhiên, ở một chừng mực nhất định những tư liệu đó
đã phản ánh một cách trung thực hiện trạng văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên và chúng tôi yên tâm khi khảo sát văn bản ở những thể loại tiêu biểu như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, tục ngữ, câu đố, hát Soọng Cô
từ số tư liệu đã sưu tầm
Các hình thức diễn xướng khá phong phú của văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên cho thấy sức sống mạnh mẽ của bộ phận văn học này Đó là môi trường nuôi dưỡng và điều kiện để các thế hệ đồng bào dân tộc Sán Dìu nơi đây không ngừng sáng tạo làm phong phú hơn kho tàng văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên
Trang 402.1.2 Các thể loại văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên
2.1.2.1 Thần thoại
Về mặt nội dung, thần thoại của người Sán Dìu đề câ ̣p đến ba vấn đề lớn là giải thích các hiện tượng tự nhiên, giải thích nguồn gốc loài người và phản ánh quá trình chinh phục thiên nhiên
Trước hết đó là các thần thoại giải thích hiện tượng tự nhiên Khác với các vị thần ở trên trời trong thần thoa ̣i người Viê ̣t là ông Trời và nữ thần Mặt Trời, Mặt Trăng, thần thoa ̣i dân tô ̣c Sán Dìu giải thích các hiê ̣n tượng tự nhiên như vì sao
trên mặt trăng lại có một người ngồi bên gốc cây trong truyện Mặt trăng Họ giải
thích rằng đó là do từ xa xưa trên mặt trăng có một cây quế rất to, trên mặt trăng còn có cả loài người sinh sống Loài người rất thích ăn vỏ quế, nhưng hễ người nào bóc vỏ quế đến đâu thì nó lại mọc ra ngay đến đó Một hôm, có ông lão tò mò, vừa mới bóc vỏ cây quế ra ông ta bèn ngồi ngay vào đó muốn thử xem cây quế có liền lại được không, không ngờ vỏ cây lại mọc lên ngay, gắn chặt ông ta vào cây quế, khiến ông không thể nào gỡ ra được Vì thế, đến tận ngày nay trên mặt trăng luôn có cây quế và hình một ông già ngồi dính liền vào nhau
Hay giải thích vì sao mặt trời lại chiếu những tia nắng chói chang xuống mặt
đất khiến loài người không thể nhìn thấy được trong truyện Mặt trời, họ giải thích
vì mặt trời là một nữ thần xinh đẹp, nàng thường không mặc quần áo, rất ngại để cho người khác nhìn ngắm mình Vì thế mặt trời đã tỏa hào quang, chiếu tia sáng khủng khiếp xuống trần gian, khiến cho loài người và muôn loài nhìn lên là chói mắt, không thể thấy gì
Người Sán Dìu cũng giải thích vì sao ngôi sao lại cao tít trên bầu trời trong
truyện Ngôi sao Họ kể rằng, xưa kia ngôi sao ở rất gần mặt đất chỉ cách một con
sào, sao ở ngay trên đầu của loài người, người Sán Dìu giã gạo vẫn còn chạm cả vào sao Sao thích gần gũi với trần gian Nhưng các ngôi sao vốn đều rất sạch sẽ, không thể nào chịu được bẩn thỉu Sau này, người Sán Dìu ngày càng đông, loài người ỉa bẩn, gây mùi hôi thối, sao sợ quá phải chạy lên cao tít Người càng ỉa bẩn,