MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2 3. Mục tiêu nghiên cứu 7 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 8 6. Phương pháp nghiên cứu 8 Chương 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỌC CHẾ TÍN CHỈ 9 1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của học chế tín chỉ 9 1.2. Các khái niệm cơ bản 12 1.2.1. Khái niệm học chế tín chỉ 12 1.2.2. Các khái niệm cơ bản khác 17 1.3. Đặc điểm của hệ thống tín chỉ 21 1.4. Ưu thế và khó khăn của việc giảng dạy và học tập theo học chế tín chỉ so với niên chế 25 1.4.1. Ưu thế của việc giảng dạy và học tập theo học chế tín chỉ so với niên chế 25 1.4.1. Khó khăn của việc giảng dạy và học tập theo học chế tín chỉ so với niên chế 27 Chương 2:THỰC TRẠNG TỔ CHỨC GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP CỦA 29 KHOA VĂN THƯLƯU TRỮ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 29 2.1. Chủ trương về chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 29 2.1.1. Chủ trương của Nhà trường và Khoa Văn thư – Lưu trữ 29 2.1.2. Chủ trương của Khoa Văn thư – Lưu trữ 32 2.2. Tổ chức giảng dạy và học tập theo học chế tín chỉ 32 2.2.1. Tổ chức giảng dạy 32 2.2.2. Tổ chức học tập 42 Chương 3:GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TỈN CHỈ CỦA SINH VIÊN KHAO VĂN THƯ – LƯU TRỮ 52 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 52 3.1. Nhận xét 52 3.1.1. Ưu điểm 52 3.1.2. Hạn chế 55 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả học tập theo học chế tín chỉ của Khoa Văn thư – Lưu trữ, trường Đại học Nội vụ Hà Nội 57 3.2.1. Đối với sinh viên 57 3.2.2. Đối với giảng viên 62 3.2.3. Đối với Khoa và Nhà trường 66 KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC 75
Trang 1BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA VĂN THƯ – LƯU TRỮ
*********
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP THEO
HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN KHOA VĂN THƯ - LƯU TRỮ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Giảng viên hướng dẫn : ThS Đỗ Thu Hiền
Nhóm sinh viên thực hiện : ĐH.LTH 13C
Hà Nội - 2016
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
Chương 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỌC CHẾ TÍN CHỈ 9
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của học chế tín chỉ 9
1.2 Các khái niệm cơ bản 12
1.2.1 Khái niệm học chế tín chỉ 12
1.2.2 Các khái niệm cơ bản khác 17
1.3 Đặc điểm của hệ thống tín chỉ 21
1.4 Ưu thế và khó khăn của việc giảng dạy và học tập theo học chế tín chỉ so với niên chế 25
1.4.1 Ưu thế của việc giảng dạy và học tập theo học chế tín chỉ so với niên chế 25
1.4.1 Khó khăn của việc giảng dạy và học tập theo học chế tín chỉ so với niên chế 27
Chương 2:THỰC TRẠNG TỔ CHỨC GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP CỦA 29
KHOA VĂN THƯ-LƯU TRỮ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 29
2.1 Chủ trương về chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 29
2.1.1 Chủ trương của Nhà trường và Khoa Văn thư – Lưu trữ 29
2.1.2 Chủ trương của Khoa Văn thư – Lưu trữ 32
2.2 Tổ chức giảng dạy và học tập theo học chế tín chỉ 32
2.2.1 Tổ chức giảng dạy 32
2.2.2 Tổ chức học tập 42
Trang 3Chương 3:GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ
TỈN CHỈ CỦA SINH VIÊN KHAO VĂN THƯ – LƯU TRỮ 52
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 52
3.1 Nhận xét 52
3.1.1 Ưu điểm 52
3.1.2 Hạn chế 55
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả học tập theo học chế tín chỉ của Khoa Văn thư – Lưu trữ, trường Đại học Nội vụ Hà Nội 57
3.2.1 Đối với sinh viên 57
3.2.2 Đối với giảng viên 62
3.2.3 Đối với Khoa và Nhà trường 66
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 75
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Học chế tín chỉ là một hình thức đào tạo được hầu hết các nước tiên tiến trênthế giới áp dụng vì nó phân chia kiến thức đào tạo thành những đơn vị học tập màsinh viên có thể tự sắp xếp để tích lũy được Tùy điều kiện và năng lực của mỗingười, sinh viên có thể học nhanh hoặc muộn hơn so với tiến độ bình thường, cóthể thay đổi chuyên ngành học ngay giữa tiến trình học tập mà không phải học lại
từ đầu Học chế tín chỉ còn tạo ra một "ngôn ngữ chung" giữa các trường đại học
và cao đẳng; tạo điều kiện cho việc chuyển đổi sinh viên giữa các trường trongnước và trên thế giới, rất thuận lợi đối với các chương trình đào tạo liên kết
Từ năm 1993, một số trường đại học ở nước ta đã bước đầu thực hiệnchuyển đổi việc đào tạo từ hình thức niên chế sang hình thức hệ thống tín chỉ và cóđược những kết quả nhất định Nghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 củaChính phủ về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn2006-2020 đã chỉ ra nhiệm vụ đổi mới nội dung, phương pháp và quá trình đào
tạo đại học, trong đó đổi mới đào tạo phải đạt được ba mục tiêu: “Trang bị cách học; phát huy tính chủ động của người học; sử dụng công nghệ thông tin và truyền
thông trong hoạt động dạy và học, Đồng thời xây dựng và thực hiện lộ
trìnhchuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ngoài nước".
Thực hiện Nghị quyết trên, giai đoạn đầu Trường Đạic học Nội vụ Hà Nộithực hiện việc chuyển đổi đào tạo từ niên chế sang tín chỉ, bắt đầu áp dụng từ nămhọc 2014 – 2015 Việc áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ còn rất mới mẻ đối vớigiảng viên và sinh viên của trường, nhiều vấn đề mới cần phải được xác định đểnâng cao chất lượng đào tạo Sau 1 kỳ học áp dụng mô hình này, kết quả ban đầucho thấy chất lượng học tập của sinh viên học theo tín chỉ chưa đạt được như mongđợi mặc dù đây là hình thức đào tạo có nhiều ưu điểm vượt trội so với hình thức
Trang 5đào tạo niên chế Do đó, một câu hỏi lớn đặt ra là: “Làm thế nào để dạy – học theotín chỉ cho hiệu quả ?”.
Phần lớn sinh viên tỏ ra háo hức với mô hình dạy học mới này trong khi đó sốkhác lại tỏ ra tiếc nuối mô hình cũ - dạy và học theo niên chế Không phải vì môhình cũ tạo hứng thú và hiệu quả hơn với họ mà chỉ vì một lý do hết sức đơn giản:
họ ngại thay đổi và muốn duy trì thói quen học - thi - trả bài từ bao lâu nay Bên
cạnh đó, nhiều giảng viên cũng chưa thích ứng được với cường độ và tính chất củahình thức giảng dạy mới này Vì vậy, trước tiên đào tạo theo học chế tín chỉ đòi hỏi
cả giảng viên và sinh viên phải thực sự bứt phá, có ý thức thay đổi để thoát khỏinhững thói quen cũ và chuyển nhịp kịp thời với bước tiến mới của giáo dục Nhậnthức được những khó khăn, hạn chế trong phương pháp học tập và giảng dạy cũng
như trong phương pháp quản lý đào tạo, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên khoa Văn thư – Lưu trữ, trường Đại học Nội Vụ Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu khoa học của
người học năm 2015
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
* Tình hình nghiên cứu trong nước:
Phương thức đào tạo tín chỉ được xem là bước tiến mới trong đổi mới hệthống giáo dục thế giới Sau khi hệ thống đào tạo tín chỉ được ra đời ở trường đạihọc Harvard, Hoa Kỳ năm 1872, và lan rộng sang các nước khác, đầu tiên là cácnước Tây Âu và sau đó là toàn thế giới thì các đề tài nghiên cứu khoa học về cáchthức đào tạo theo hệ thống tín chỉ cùng những giải pháp để phương thức đào tạonày đạt hiệu quả dần dần xuất hiện Và Việt Nam cũng không ngoại lệ, đề bắt kịpnền giáo dục tiến tiến của thế giới, từ năm 2001, Bộ giáo dục và Đào tạo đã yêucầu các trường đại học, cao đẳng trong cả nước phải hoàn thiện chương trình đàotạo mới này để thay thế cho hình thức đào tạo theo niên chế hiện nay Trong hơn
10 năm tiến hành đổi mới hệ thống giáo dục, Bộ cũng như các trường đại học đãtiến hành nhiều cuộc hội thảo thảo luận về vấn đề đổi mới phương thức đào tạo tínchỉ cũng như nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận văn thạc sĩ, tiến sĩ mang
Trang 6lại các giải pháp nâng cao chất lượng học tập của sinh viên theo học chế tín chỉnhư:
học chế tín chỉ trên thế giới và ở Việt Nam” đã chỉ ra những đặc điểm, ưu, nhượcđiểm và cách khắc phục của phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ, đồng thờichỉ ra thực trạng đào tạo tín chỉ ở Việt Nam
Nguyễn Công Danh (2008) “Những khó khăn của việc đào tạo theo hệ thốngtín chỉ” đã đưa ra được những khó khăn còn tồn tại trong đào tạo theo hệ thống tínchỉ nước ta từ vấn đề quản lý đào tạo đến giảng dạy của giảng viên và sinh viên
Lê Quang Sơn với “Những vấn đề của quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ ở ViệtNam” cũng đã chỉ rõ những vấn đề còn vướng mắc trong quản lý đào tạo theo họcchế tín chỉ ở nước ta
chỉ là bước phát triển tất yếu của giáo dục Việt Nam” hay PGS.TS Trần KhánhĐức, Viện Sư phạm kỹ thuật – Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội (2013) “Phát triểnchương trình và tổ chức quá trình đào tạo” Đổi mới theo phương pháp dạy họctheo hệ thống tín chỉ là bước phát triển mạnh mẽ trong nền giáo dục toàn thế giới
do đó đây cũng là bước phát triển tất yếu của giáo dục Việt Nam Để hiểu rõ hơn
về phương thức đào tạo này GS Lâm Quang Thiệp (2010) cũng có bài viết “Vềphương pháp dạy, học và đánh giá kết quả học tập trong hệ thống tín chỉ” giúp íchrất nhiều cho các cán bộ giảng viên cũng như sinh viên trong cả nước
PGS-TS Trần Thanh Ái, Đại học Cần thơ (2010) “Đào tạo theo hệ thống tínchỉ: các nguyên lý, thực trạng và giải pháp”, tham luận tại Hội nghị toàn quốc tổchức tại Đại học Sài Gòn; TS Nguyễn Kim Dung, Viện Nghiên cứu Giáo dục –Trường Đại học Sư phạm TPHCM “Đào tạo hệ thống tín chỉ: Kinh nghiệm thế giới
và thực tế ở Việt Nam”; PGS.TS Hoàng Văn Vân “Phương thức đào tạo theo tínchỉ: lịch sử, bản chất, và những hàm ý cho phương pháp giảng dạy – học ở bậc đạihọc” đều là các nghiên cứu về lịch sử, bản chất của học chế tín chỉ của thế giới nóichung và của Việt Nam nói riêng đồng thời đưa ra những giải pháp và kiến nghị
Trang 7giúp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả khi thực hiện phương thức đào tạo tín chỉ tạiViệt Nam.
Vũ Đình Bảy (2010), “Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới phương phápdạy học phù hợp với phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở các trường đạihọc hiện nay” hay “Bàn luận về công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học củagiáo viên” của Thạc sỹ Nguyễn Anh Tuấn, Phó Trưởng khoa Sư phạm Tự nhiênđều là các công trình nghiên cứu khoa học có đóng góp quan trọng trong vấn đềnâng cao hiệu quả của việc chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo hệ thống tínchỉ
Diệp Ngọc Dũng (2010) “Một số tồn tại trong quá trình chuyển đổi sang đàotạo theo hệ thống tín chỉ”
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Mai Hương (2011) “Quản lý quá trình dạy vàhọc theo học chế tín chỉ trong các trường dại học ở Việt Nam trong giai đoạn hiệnnay” Luận văn đã nghiên cứu các đặc trưng của học chế tín chỉ và một số yếu tố
có ảnh hưởng đến quá trình dạy và học theo phương thức đài tạo này; phân tíchđánh giá thực trạng về quản lý các thành tố của quá trình dạy và học theo học chếtín chỉ, đồng thời xác định một số rào cản thường gặp khi chuyển đổi sang phươngthức đào tạo này; kết hợp với đề xuất các biện pháp quản lý quá trình dạy và họctheo học chế tín chỉ trong các trường đại học của Việt Nam giai đoạn hiện nay Kếtquả nghiên cứu cho thấy sự đồng bộ và triệt để các biện pháp quản lý quá trình dạyhọc thích ứng với các đặc điểm của học chế tín chỉ bậc đại học sẽ tháo gỡ được cácrào cản và tăng them động lực trong quá trình chuyển đổi sang học chế tín chỉ, gópphần triển khai thành công phương thức đào tạo theo tín chỉ trong các trường đạihọc của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Ngoài ra, tác giả Nguyễn Mai Hương còn có một số công trình nghiên cứukhoa học khác được công bố trước đó liên quan đến đổi mới và biện pháp nângcao đào tạo tín chỉ một cách có hiệu quả trong phương thức đào tạo tín chỉ củaViệt Nam bao gồm: Nguyễn Mai Hương (2005), “Cải tiến phương pháp học tậpcủa sinh viên - yếu tố quan trọng để triển khai đổi mới phương pháp giảng dạy ở
Trang 8đại học”, Tạp chí Phát triển Giáo dục, Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục,
số 3 (75), tháng 3/ 2005.Tôn Quang Cường, Nguyễn Mai Hương (2008), “Vậndụng có hiệu quả các hình thức tổ chức dạy học phù hợp với dạy học theo tín chỉ”,
Tạp chí Khoa học Giáo dục, Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục, số 29,
tháng 2/2008.Nguyễn Mai Hương, (2009), “Các điều kiện cần và đủ để triển khai
đào theo học chế tín chỉ ở bậc đại học”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, Viện Chiến
lược và Chương trình Giáo dục, số 43 +44, tháng 4 + 5 /2009.Nguyễn Mai Hương,(2009), “Hoạt động tự học của sinh viên trong phương thức đào tạo theo tín chỉ”,
Tạp chí Giáo dục, số 219, kỳ 1, tháng 8/2009.Nguyễn Mai Hương(2010), “Một số vấn đề kỹ thuật trong việc triển khai học chế tín chỉ ở nước ta”, Tạp chí Giáo dục,
số 245, kỳ 1, tháng 9/2010
Bên cạnh đó là các hội thảo khoa học như:
Hội thảo “Xây dựng chương trình đào tạo theo phương thức tín chỉ ngànhVăn hóa học” tổ chức vào ngày 16/04/2012 của Khoa Văn hóa học
Hội thảo khoa học “Tổ chức giảng dạy theo học chế tín chỉ” do Khoa Tàichính – Ngân hàng tổ chức ngày 16/11/2012 đã chỉ ra đổi mới phương pháp giảngdạy là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo theophương thức học chế tín chỉ
Hội thảo khoa học “Triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ ngành kinhdoanh xuất bản phẩm” ngày 25 tháng 6 năm 2013 do khoa Xuất bản – Phát hành tổchức
Hội thảo “Đào tạo theo học chế tín chỉ - Thuận lợi, khó khan và giải pháp”
do Đại học Dân lập Hải Phòng tổ chức ngày 22/07/2014
Hội thảo “Vai trò cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại cáctrường đại học, cao đẳng Việt Nam”do Viện Nghiên cứu Giáo dục – Trường Đạihọc Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 26/12/2014 Những đóng góp,thảo luận xoay quanh các nội dung chính: thực trạng công tác cố vấn học tập tạicác trường đại học, cao đẳng; phân tích vai trò của cố vấn học tập; đề xuất những
Trang 9giải pháp nhằm góp phần củng cố và phát huy vai trò của cố vấn học tập đồng thờinâng cao hiệu quả quản lý và đào tạo theo học chế tín chỉ.
Ngoài ra, còn có nhiều hội thảo, các công trình nghiên cứu khoa học khácđược tổ chức tại các trường đại học trong cả nước, và các cuộc họp, hội nghị bàn
về giáo dục tại Việt Nam
*Tình hình nghiên cứu nước ngoài:
Nhận thức được hình thức đào tạo theo tín chỉ là một bước ngoặt trong giáodục, các nước phát triển trên thế giới cũng đã tổ chức nhiều các hội thảo, bài thuyếtgiảng xoay quanh vấn đề đổi mới hệ thống giáo dục đặc biệt là chuyển sang đàotạo theo hệ thống tín chỉ
AIPU, 2007 ‘Vers un changement de culture en enseignement supérieur.Regards sur l'innovation, la collaboration et la valorisation” (Hướng tới một sựthay đổi trong văn hóa giáo dục đại học Đổi mới trong nháy mắt, hợp tác và phụchồi), Kỷ yếu hội nghị lần thứ 24 của Hiệp hội Quốc tế về Sư phạm đại học (AIPU),Đại học Montréal, Canada về các vấn đề công thức, phương pháp giảng dạy vàđánh giá học tập ; công nghệ cho việc giảng dạy và học tập ; hỗn hợp và khoảngcách học tập ; hồ sơ và chương trình đào tạo chuẩn ; thực hiện, đánh giá và giámsát sự thay đổi
Trexler C.J (2008) “Hệ thống tín chỉ tại các trường đại học Hoa Kỳ: Lịch sửphát triển, Định nghĩa và cơ chế hoạt động” đã chỉ rõ sự ra đời và cách thức đàotạo theo hệ thống tín chỉ của Hoa Kỳ - nơi được coi là cái nôi của phương thức đàotạo này
Zjhra M (2008) “Chuyển sang học chế tín chỉ: Cần thay đổi chương trình đàotạo và vai trò của giáo viên”
Trên đây là một số các bài viết, hội thảo khoa học xoay quanh các vấn đề thựchiện phương thức đào tạo theo tín chỉ trong các trường đại học, cao đẳng đã chỉ rađược những ưu, nhược điểm của phương thức đào tạo này cũng như những khókhăn thường gặp trong công tác quản lý, việc giảng dạy Đồng thời đưa ra nhữngkiến nghị, phương hướng, giải pháp để hoàn thiện và nâng cao chất lượng học tập
Trang 10khi đào tạo theo phương thức tín chỉ Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu khoa học nhằmnâng cao hiệu quả học tập cho sinh viên của một trường đại học (cụ thể là trườngĐại học Nội vụ Hà Nội) chưa từng được thực hiện Do đó, đề tài của nhóm nghiêncứu đảm bảo tính mới trong nghiên cứu khoa học nói chung
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, nhóm nghiên cứu chúng tôi hướng tới những mục tiêusau:
Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp và những điều kiện để thực hiện giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên khoa Văn thư – Lưu trữ,trường Đại học Nội Vụ theo hình thức đào tạo tín chỉ của Nhà trường
Góp phần nâng cao chất lượng học tập của sinh viên khoa Văn thư – Lưutrữ đang theo học chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ mới được áp dụng tạitrường Đại học Nội vụ Hà Nội
Góp phần hoàn thiện phương pháp quản lý đào tạo của Nhà trường nhằmmục tiêu lớn nhất là nâng cao chất lượng học tập của sinh viên, đặc biệt là sinhviên đang theo học chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi tập trung hướng tới đối tượng nghiên cứu là
phương pháp học tập của sinh viên và giảng dạy của giảng viên khoa Văn thư –
Lưu trữ hiện đang theo học chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ Mặc dù để
đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả học tập tín chỉ cần nghiên cứu nhiều khía cạnhkhác như quản lý đào tạo, chủ trương, chính sách, kinh phí, cơ sở vật chất… nhưngtrong khả năng nghiên cứu của chúng tôi và trong khuôn khổ của một báo cáo khoahọc sinh viên, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu 2 khía cạnh chính như trên
Trang 115 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý luận về hệ thống tín chỉ
Khảo sát tình hình học tập của sinh viên và tình hình giảng dạy của giảngviên khoa Văn thư – Lưu trữ, trường Đại học Nội Vụ Hà Nội khi làm quen vớiphương pháp đào tạo mới của Nhà trường theo hệ thống tín chỉ
Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp và những điều kiện để thực hiện giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên khoa Văn thư – Lưu trữ,trường Đại học Nội Vụ theo hình thức đào tạo tín chỉ của Nhà trường (chủ yếu tậptrung vào các giải pháp về dạy và học)
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, ngoài các phương pháp chung được áp dụng trongnghiên cứu khoa học như: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích chức năng,phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp toàn diện và tổng hợp, phương phápduy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài còn sử dụng các phương pháp cụ thểnhư:
- Phương pháp điều tra, khảo sát: được áp dụng để tìm hiểu thực trạngcủa việc học tập của sinh viên khoa Văn thư – Lưu trữ đang theo học chương trìnhđào tạo theo học chế tín chỉ
- Phương pháp phỏng vấn đối tượng: được áp dụng để phỏng vấn sinhviên, giảng viên và một số cán bộ phòng Quản lý đào tạo phục vụ việc phân tíchcác yếu tố tác động tới quá trình học tập của sinh viên
- Phương pháp nghiên cứu và phân tích tư liệu có liên quan: được ápdụng để nghiên cứu và phân tích các tài liệu trong và ngoài nước để có thể đưa ranhững lập luận mang tính khoa học cao, từ đó nghiên cứu xây dựng các giải phápnâng cao chất lượng học tập của sinh viên một cách phù hợp, khách quan và hiệuquả nhất
- Phương pháp so sánh: được áp dụng để tìm ra những điểm tương đồng
và khác biệt giữa giữa cách thức triển khai áp dụng chương trình đào tạo tín chỉgiữa trường Đại học Nội vụ Hà Nội và các trường đại học đã có kinh nghiệm trongđào tạo tín chỉ
Trang 12Xuất phát từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi sinh viên cóthể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại học phảinhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn cuộc sống,vào năm 1872 Viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế hệ thống chương trìnhđào tạo theo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình mềm dẻo cấu thànhbởi các mô-đun mà mỗi sinh viên có thể lựa chọn một cách rộng rãi Có thể xem sựkiện đó là điểm mốc khai sinh “học chế tín chỉ”.[2][6][7]
Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi hầu như trong mọitrường đại học Hoa Kỳ Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng hệ thống tín chỉtrong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình: các nước Bắc Mỹ,Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, ẤnĐộ, Tại Trung Quốc từ cuối thập niên 80 đến nay hệ thống tín chỉ cũng lần lượtđược áp dụng ở nhiều trường đại học (1) Vào năm 1999, 29 bộ trưởng đặc tráchgiáo dục đại học ở các nước trong Liên minh Châu Âu đã ký Tuyên ngônBoglona nhằm hình thành Không gian Giáo dục đại học Châu Âu (EuropeanHigher Education Area) thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung quantrọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng học chế tín chỉ (European CreditTransfer System -ECTS) [4] trong toàn hệ thống giáo dục đại học để tạo thuận lợicho việc cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của sinh viên trong khu vựcChâu Âu và trên thế giới
Phương thức đào tạo theo tín chỉ là sản phẩm trí tuệ của người Mỹ Nó đượchình thành và phát triển để phục vụ cho các mục đích cụ thể của nền giáo dục nước
Trang 13này Vào cuối thế kỉ 19, ở Mỹ số lượng học sinh trung học phổ thông ghi danh vàohọc đại học ngày càng tăng, gây áp lực không nhỏ cho quá trình xét tuyển của cáctrường đại học Từ nguồn gốc đó, hệ thống tín chỉ dần dần thâm nhập vào cáctrường đại học, lúc đầu chỉ để ghi lại điểm số của các môn học lựa chọn, sau đó, do
áp lực của các nhà tài trợ, các tổ chức từ thiện yêu cầu phải làm rõ hay cải thiệnnăng lực chuyên môn và kĩ năng nghề nghiệp của sinh viên và hiệu quả đào tạo củatrường đại học, hệ thống tín chỉ được mở rộng ra tất cả các môn học thuộc các khốikiến thức khác trong chương trình đại học và trở thành một phương thức đào tạochính thức, thay thế cho phương thức đào tạo truyền thống mà những thế hệ chaông của người Mỹ mang đến từ Châu Âu.[9]
Vượt ra ngoài biên giới nước Mỹ, đào tạo theo tín chỉ bắt đầu được áp dụngmạnh mẽ trước hết ở các nước Tây Âu từ những năm 1960 Trước đó, chương trìnhtruyền thống trong các trường đại học ở Châu Âu, đặc biệt là ở Tây Âu hầu như dogiáo viên quyết định Nó có xu hướng áp đặt, có rất ít khả năng cho người học lựachọn các môn học Hơn 40 quốc gia Châu Âu có các các cơ sở đào tạo đại học, vìvậy việc áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ cũng khác nhau
Các nước khác ở Tây Âu như Đức và Bồ Đào Nha mới chỉ tổ chức chươngtrình đào tạo của họ và những yêu cầu để lấy bằng theo các môn học với những giátrị tính theo tín chỉ
Các nước còn lại như Italia, Tây Ban Nha và các nước thuộc khối xã hội chủnghĩa cũ ở Đông Âu cũng bắt đầu chủ trương chuyển phương thức đào tạo truyềnthống sang phương thức đào tạo theo tín chỉ
Năm 1992, Hệ thống chuyển đổi tín chỉ Châu Âu (European Credit TransferSystem – ECTS) được phát động Đây là một chương trình thí điểm kéo dài trong 6năm, thu hút sự tham gia của 145 trường đại học, tập trung vào 5 khu vực họcthuật: quản trị kinh doanh, hóa học, lịch sử, cơ khí, và y học Sau 6 năm, ECTSphát triển mạnh và đã được mở rộng vượt ra khỏi chương trình thí điểm, thu hút sựtham gia của nhiều trường đại học, nhiều ngành khoa học Đến nay số lượng thànhviên tham gia vào Hệ thống ECTS đã lên đến con số hàng nghìn
Trang 14 Tại Việt Nam
Trước năm 1975, một số trường đại học chịu ảnh hưởng của Mỹ tại MiềnNam Việt Nam đã áp dụng học chếtín chỉ như: Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đạihọc Thủ Đức[9].Sau năm 1975, nhiều giảng viên của Trường Đại học Cần Thơ đãđược đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở nhiều trường Đại học Âu-Mỹ
Trong quá trình Đổi mới ở nước ta từ cuối năm 1986 (chuyển nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa),giáo dục đại học ở nước ta cũng có nhiều thay đổi Hội nghị Hiệu trưởng đại họctại Nha Trang hè 1987 đã đưa ra nhiều chủ trương đổi mới Giáo dục đại học, trong
đó có chủ trương triển khai trong các trường đại học quy trình đào tạo 2 giai đoạn
và mô-đunhoá kiến thức Theo chủ trương đó, học chế học phần đã ra đời và đượctriển khai trong toàn bộ hệ thống các trường đại học và cao đẳng nước ta từ năm
1988 đến nay Học chế học phần được xây dựng trên tinh thần tích lũy dần kiếnthức theo các mô-đun trong quá trình học tập, tức là cùng theo ý tưởng của học chếtín chỉ xuất phát từ Mỹ Tuy nhiên, về một số phương diện, học chế học phần chưathật sự mềm dẻo như học chế tín chỉ của Mỹ, do đó nó được gọi là sự kết hợp niênchế với tín chỉ, tuy nhiên những khó khăn về đời sống trong xã hội nói chung vàtrong các trường đại học nói riêng lúc đó chưa cho phép đặt vấn đề thực hiện họcchế mô-đun hóa triệt để
Vào năm 1993, khi những khó khăn chung của đất nước và của các trường đạihọc dịu bớt, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương tiến thêm một bước, thực hiện họcchế học phần triệt để hơn, theo mô hình học chếtín chỉ của Mỹ Trường Đại họcBách khoa Thành phố Hồ Chí Minh là nơi đầu tiên áp dụng học chế tín chỉ từ năm
1993, rồi các trường Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Thủy sản NhaTrang v v và một số trường đại học khác áp dụng từ năm 1994 và các năm sau
đó
Năm 2004, có gần 10 trường đại học trong cả nước áp dụng học chế tín chỉvới các sắc thái và mức độ khác nhau.(6)
Trang 15Năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy chế Đào tạo đại học vàcao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”[3] Tuy nhiên, khi nhận định về thựctrạng chuyển đổi sang hệ thống tín chỉ hiện nay của các trường đại học ở ViệtNam, một học giả của chương trình Fulbright cho rằng: “Các trường đại học ViệtNam đang thực hiện việc chuyển đổi này sang học chế tín chỉ, nhưng có rất íttrường tạo ra được những thay đổi có tính chất cơ bản vốn rất cần cho việc đổi mới
hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam Nhiều trường chỉ đang thực hiệnnhững thay đổi hình thức theo hệ thống mới…vì không có nhiều nhà khoa học ViệtNam hiểu rõ lịch sử và cơ chế hoạt động của hệ thống đào tạo theo tín chỉ HoaKỳ.” [11]
Năm 2011 là hạn cuối cùng để các trường đại học liên quan phải chuyển đổisang hệ thống đào tạo mới này Thế nhưng, đến tận năm 2014 vẫn có một sốtrường đại học mới bắt đầu thực hiện việc chuyển đổi sang hệ thống giáo dục mớinày, như: Đại học Văn Hiến, Đại học Nội vụ Hà Nội, Đại học Văn hóa
1.2.Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm học chế tín chỉ
Phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ (hay gọi tắt là hệ thống tín chỉ) làmột phương thức đào tạo tiên tiến trong nền giáo dục của nhiều quốc gia trên thếgiới Nó còn được gọi là học chế tín chỉ để phân biệt với các phương pháp đào tạo
ra đời trước nó như học chế niên chế, học chế học phần.Trên thế giới phương phápnày được áp dụng ở cả giáo dục phổ thông và giáo dục đại học
Hệ thống đào tạo tín chỉ hay học chế tín chỉ xét về mặt thuật ngữ trên thếgiới được sử dụng: trong Tiếng Anh có tên là “Credit System”, Tiếng Pháp là
“Système de Crédit” Với thuật ngữ này hệ thống tín chỉ còn gọi là hệ thống tíndụng (credit, crédit) Tín dụng là một thuật ngữ được dùng trong kinh tế, nó biểuhiện “mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụngnhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời
sống, theo nguyên tắc hoàn trả”[11] ( Nghĩa là, sau khi kết thúc một vòng tuần hoàn
Trang 16của tín dụng, hoàn thành một chu kỳ sản xuất trở về trạng thái tiền tệ, vốn tín dụngđược người đi vay hoàn trả cho người cho vay kèm theo một phần lãi như đã thoảthuận, không những thế người đi vay còn hoàn trả được đầy đủ gốc và lãi đúngthời hạn).
Như vậy, tín dụng được áp dụng trong đào tạo, giáo dục tương ứng với việcsinh viên học tập, làm việc với mỗi học phần được quy đổi thành các tín học, họcphí mỗi tín nộp theo quy định, kết quả học tập tương ứng sẽ nhận được chứng chỉ,
văn bằng phù hợp theo nguyên tắc hoàn trả Ở đó, sinh viên sẽ đóng vai trò là
người đi vay còn Nhà trường sẽ là người cho vay
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tín chỉ, cókhoảng hơn 60 định nghĩa, có định nghĩa thiên về định tính, có định nghĩa lại coitrọng khía cạnh định lượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của sinhviên, cũng có định nghĩa lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của một chương trìnhhọc
Theo Tổng cục Giáo dục và Văn hóa (Directorate – General for Educationand Culture) trực thuộc Ủy ban Châu Âu (European Commissione) hệ thống tín
chỉ được định nghĩa là “…cách diễn tả một chương trình giáo dục bằng cách gắn các tín chỉ vào các phần cấu thành chương trình ấy Việc xác định tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học có thể dựa trên những tham số khác nhau, chẳng hạn như khối lượng công việc của sinh viên, kết quả học tập, và số giờ tiếp xúc giữa giảng viên và sinh viên” [4]
Định nghĩa của Tổng cục Giáo dục và Văn hóa trực thuộc Ủy ban Châu Âuthiên về định tính, không nêu rõ khối lượng công việc cũng như các nhiệm vụ màsinh viên cần thực hiện khi học tập theo học chế tín chỉ Đồng thời cũng chưa thấyđược sự chủ động, sáng tạo mà sinh viên cần có khi theo học tín chỉ
Tín chỉ được gắn vào các phần cấu thành chương trình giáo dục và việc xácđịnh tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học có thể dựa trên những tham số khácnhau nhưng lại không nêu đó là những tham gia số gì Với định nghĩa này thì mỗi
Trang 17trường đại học có thể tự đề ra những tham số xác định tín chỉ tùy theo điều kiện vàngành đào tạo của trường, sẽ không tạo nên sự thống nhất và đồng bộ giữa cáctrường đại học Tuy nhiên, điều này sẽ tạo tính linh động trong việc đào tạo bởimỗi ngành học khác nhau thì có đặc điểm khác nhau, có ngành thiên về lý luậnnhưng lại có ngành thiên về thực hành, thực tiễn thông qua các thí nghiệm, trảinghiệm thực tế, tính toán… giúp giảng viên có thể thiết kế bài học hợp lý, sinh viênhọc tập cũng dễ dàng hơn.
Định nghĩa trên cũng đã nhắc đến kết quả học tập cũng như số giờ tiếp xúcgiữa giảng viên và sinh viên.Trong học chế tín chỉ, sinh viên không chỉ tiếp xúcvới giảng viên trên lớp học mà sinh viên còn có cố vấn học tập, giúp đỡ, tư vấn chosinh viên ngoài giờ lên lớp Khoảng thời gian này cũng sẽ được tính vào số giờ tiếpxúc giữa giảng viên và sinh viên, nó sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến kết quả học tập củasinh viên Đây cũng là định nghĩa được Trường Đại học Pavol Jozef Šafárik tạiKošice sử dụng khi giải thích về Chuyển đổi tín chỉ Châu Âu và hệ thống tích lũy(ECTS)
Định nghĩa trên được sử dụng phổ biến ở các trường đại học trên thế giớihọc tập, đào tạo theo hệ thống tín chỉ đặc biệt là các trường đào tạo theo hệ thốngChuyển đổi tín chỉ Châu Âu và hệ thống tích lũy (ECTS)
Theo Alexandru Pop “Hệ thống tín chỉ học tập đánh giá tiến bộ của sinh
viên trong các nghiên cứu của họ.Sinh viên được yêu cầu để kiếm được một sốlượng nhất định của các khoản tín dụng để được hưởng tình trạng sinh viên toànthời gian Mỗi khóa học có giá trị một số tín dụng nhất định được xác định theo cáctiêu chí khác nhau bao gồm cả khối lượng công việc của sinh viên, học tập kết quả
và liên lạc giờ Các công việc nhiều hơn và nỗ lực một sinh viên được yêu cầu đặtvào một khóa học, các khoản tín dụng hơn tất nhiên là giá trị
Tín chỉ có thể đạt được bằng cách hoàn thành một mô – đun học tập hoặckhóa học nghiên cứu riêng, tùy vào chính sách đại học Học vị, bằng cấp đượccung cấp chỉ sau khi nhận được một số cố định của các khoản tín dụng Ở một số
Trang 18nước, không có sự đồng thuận cho chuyển đổi tín chỉ, tích lũy và các hệ thống cóthể khác nhau rất nhiều giữa các tổ chức”.[3]
Định nghĩa này được sử dụng cho các trường đại học đào tạo Hệ thống tínchỉ của Hoa Kỳ (the United States Credit System - USCS) Ở định nghĩa nàykhông chỉ nhấn mạnh vào công việc mà sinh viên cần thực hiện, nỗ lực mà sinhviên bỏ ra là giá trị mà giá trị này còn được khẳng định bằng học vị, bằng bằng cấpsinh viên có thể nhận được sau khi hoàn thành khóa học Đây là điểm mà trongđịnh nghĩa của Tổng cục Giáo dục và Văn hóa (Directorate – General forEducation and Culture) trực thuộc Ủy ban Châu Âu (European Commissione)không được đề cập đến Mặc dù có nhiều sự khác biệt trong cách hiểu, cách diễnđạt thì học chế tín chỉ cơ bản vẫn được biết đến là việc gắn các tín chỉ hay tín dụngvào các môn học trong chương trình đào tạo nhằm tạo ra sự thay đổi, phát triển nềngiáo dục toàn cầu
Còn ở Việt Nam cũng đã có những trường đại học, các nghiên cứu của giảngviên, giáo sư, tiến sĩ… đưa ra định nghĩa về học chế tín chỉ phù hợp với hoạt độnggiảng dạy theo tín chỉ ở Việt Nam, như:
Định nghĩa của Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh được nêu trong
Quy định về công tác học vụ của trường: “Học chế tín chỉ là phương thức đào tạo sinh viên chủ động lựa chọn học từng học phần (tuân theo một số ràng buộc được quy định trước) nhằm tích lũy từng phần và tiến tới hoàn tất toàn bộ chương trình đào tạo, được cấp văn bằng tốt nghiệp ” (9)
Định nghĩa trên đã nêu rất rõ trách nhiệm của sinh viên đối với việc học tậptheo hệ thống đào tạo tín chỉ, sinh viên có thể tự đăng ký, lựa chọn học phần từ đótạo nên tính chủ động cho sinh viên đối với quá trình học tập của bản thân, đồngthời cũng chỉ rõ mục đích, chức năng những lợi ích của hệ thống tín chỉ đối vớisinh viên Tuy nhiên, định nghĩa này chưa đề cập đến khối lượng công việc cũngnhư nhiệm vụ mà sinh viên cần thực hiện đối với từng môn học
Trang 19Học đại học chính là tự học đặc biệt trong học chế tín chỉ, tự học đóng vai tròquan trọng, là yếu tố chủ chốt để việc học tập đạt kết quả cao tuy nhiên trong địnhnghĩa này không hề nhắc đến vấn đề tự học, tự nghiên cứu của sinh viên Và nhấtnhiều các định nghĩa của các trường đại học ở Việt Nam cũng như trên thế giớikhông đưa vào vấn đề này.
Còn theo TS Nguyễn Kim Dung (Viện Nghiên cứu Giáo dục – Trường Đại
học Sư phạm TP Hồ Chí Minh):“Hệ thống tín chỉ là một hệ thống được sử dụng cho tất cả các thành phần (hay môn học) của một chương trình học Tất cả số lượng tín chỉ gộp lại sẽ giúp sinh viên có được bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ hay một bằng cấp chuyên môn nào đó Tín chỉ được dùng đo lường khối lượng công việc của một sinh viên theo các hoạt động học tập đã được lên kế hoạch như lên lớp nghe giảng, tham dự seminar hoặc tự học v.v… Các tiêu chí này quyết định các đặc trưng cụ thể của các hệ thống tín chỉ khác nhau trong những khóa học gần giống nhau trên thế giới” 7
Định nghĩa của TS.Nguyễn Kim Dung lại nhấn mạnh vào các văn bằng,chứng chỉ mà sinh viên nhận được sau quá trình học Nếu hiểu theo nguyên tắchoàn trả nghĩa là tất cả số tín chỉ sinh viên tích lũy trong quá trình học sẽ được đổilại bằng các văn bằng, chứng chỉ tương đương Ngoài ra, trong định nghĩa này cònnhắc đến các kế hoạch học tập ngoài thời gian lên lớp của sinh viên như tham dựcác seminar, hội thảo, tự học…
Triết lý cơ bản của đào tạo theo học chế tín chỉ là khi đã có nhiều trường đạihọc trong một quốc gia, một khu vực và trên thế giới áp dụng học chế tín chỉ thì cóthể thực hiện được việc chuyển đổi tín chỉ (credit transfer system) giữa các trườngđại học Hệ quả của nó là hình thành các hệ thống chuyển đổi tín chỉ trong khu vực
và trên thế giới Dù hiểu theo định nghĩa nào thì hệ thống tín chỉ hay học chế tínchỉ vẫn là một phương pháp đào tạo tiên tiến nhất trên thế giới
Trên cơ sở các định nghĩa trên, chúng tôi đã xây dựng định nghĩa về hệ thống
tín chỉ như sau: “Hệ thống tín chỉ là một hệ thống giáo dục tiên tiến bằng cách gắn
Trang 20các tín chỉ tương ứng với từng đơn vị học phần, giúp sinh viên chủ động, tích cực hơn trong việc học tập Là phương pháp kết hợp giữa giảng dạy lý thuyết và thực hành nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đồng thời thông qua kết quả học tập của sinh viên, số giờ lên lớp, số giờ tiếp xúc với giảng viên, số giờ thực nghiệm và số giờ tự học sinh viên sẽ nhận được văn bằng, chứng chỉ phù hợp.”
1.2.2 Các khái niệm cơ bản khác
Khóa học – ngành đào tạo – "Khóa – ngành"
Khóa – ngành là thuật ngữ dùng để chỉ nhóm tất cả các sinh viên cùng khóatuyển sinh, cùng nhập học và cùng học theo một chương trình đào tạo của mộtngành Mỗi khóa – ngành có một mã số xác định theo khoa, ngành và khóa nhậphọc Trong học chế tín chỉ, chương trình đào tạo được duyệt công bố đưa vào vậnhành và được điều chỉnh riêng cho từng khóa – ngành (áp dụng trong trường hợptuyển sinh đầu vào theo ngành) Trường hợp tuyển theo một điểm chuẩn chung,ngành (chuyên ngành) được hiểu khi sinh viên bắt đầu được xét vào chuyên ngành
đã đăng ký và công bố sau 3 học kỳ
Học kỳ là một khoảng thời gian nhất định gồm một số tuần dành cho cáchoạt động giảng dạy học tập các học phần và một số tuần dành cho việc đánh giákiến thức (kiểm tra, thi, )
Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuần thựchọc và 3 tuần thi.Ngoài hai học kỳ chính, Hiệu trưởng xem xét quyết định tổ chứcthêm một kỳ học phụ để sinh viên có điều kiện được học lại; học bù hoặc họcvượt.Mỗi học kỳ phụ có ít nhất 5 tuần thực học và 1 tuần thi
Tín chỉ là đơn vị quy chuẩn dùng để lượng hoá khối lượng kiến thức và khốilượng học tập giảng dạy trong quy trình đào tạo Tín chỉ cũng là đơn vị để đolường tiến độ học tập của sinh viên – đánh giá dựa trên số lượng tín chỉ sinh viên
đã tích lũy được
Trang 21Học phí được xác định căn cứ theo số học phần mà sinh viên được xếp thờikhóa biểu trong học kỳ và bằng tổng số tín chỉ quy định cho các học phần nhân vớimức thu học phí/ 1 tín chỉ Mức học phí do Hiệu trưởng nhà trường quy định chotừng bậc học và từng hệ đào tạo của học kỳ tương ứng.
Học phần là đơn vị cấu thành chương trình đào tạo, gồm tập hợp những trithức về một lĩnh vực chuyên môn và được tổ chức giảng dạy trọn vẹn trong mộthọc kỳ Hoạt động học tập giảng dạy của một học phần bao gồm một hay kết hợpmột số trong các hình thức sau:
+ Giảng dạy lý thuyết – tổ chức thành các lớp học phần;
+ Giảng dạy, hướng dẫn thực hành, bài tập – tổ chức theo lớp hay theo từngnhóm;
+ Hướng dẫn thực tập, thực tập tốt nghiệp tại các cơ sở bên ngoài;
+ Hướng dẫn tiểu luận và luận văn tốt nghiệp
Học phần có mã số riêng và số tín chỉ xác định
Học phần bắt buộc
Đây là các học phần trong chương trình đào tạo chứa đựng những nội dungchính yếu của ngành và chuyên ngành đào tạo mà sinh viên bắt buộc phải hoàn tấtđạt để được xét tốt nghiệp
Đây là các học phần trong chương trình đào tạo chứa đựng những nội dungcần thiết cho định hướng nghề nghiệp mà sinh viên có thể lựa chọn đăng ký học.Học phần tự chọn được xếp theo từng nhóm Để đủ điều kiện tốt nghiệp, sinh viênphải hoàn tất đạt một số học phần nhất định trong từng nhóm nhằm tích lũy đủ sốtín chỉ tối thiểu quy định cho nhóm học phần tự chọn tương ứng
Học phần tương đương, học phần thay thế
Học phần tương đương là một hay một nhóm học phần thuộc chương trìnhđào tạo một khóa – ngành khác đang tổ chức đào tạo tại trường được phép tích lũy
Trang 22để thay cho một học phần hay một nhóm học phần trong chương trình đào tạo củangành đào tạo.
Học phần thay thế được sử dụng khi một học phần có trong chương trìnhđào tạo nhưng nay không còn tổ chức giảng dạy nữa và được thay thế bằng mộthọc phần khác đang còn tổ chức giảng dạy
Học phần tiên quyết
Học phần A là học phần tiên quyết của học phần B, khi điều kiện bắt buộc
để đăng ký học học phần B là sinh viên đã đăng ký học và hoàn tất đạt học phần A
Học phần A là học phần trước của học phần B, khi điều kiện bắt buộc đểđăng ký học học phần B là sinh viên đã đăng ký và được xác nhận học xong họcphần A (có thể chưa đạt) Sinh viên được phép đăng ký học học phần B vào học kỳtiếp sau học kỳ đã học học phần A
Học phần A là học phần song hành của một học phần B, khi điều kiện bắtbuộc để đăng ký học học phần B là sinh viên đã đăng ký học học phần A Sinhviên được phép đăng ký học học phần B vào cùng học kỳ đã đăng ký học học phần
A hoặc vào các học kỳ tiếp sau
Lớp học phần và điều kiện mở lớp
Lớp học phần là lớp của các sinh viên cùng đăng ký một học phần, có cùngthời khoá biểu của học phần trong cùng một học kỳ.Mỗi lớp học phần được gánmột mã số riêng Số lượng sinh viên của một lớp học phần được giới hạn bởi sứcchứa của phòng học/ phòng thực hành hoặc được sắp xếp theo các yêu cầu riêngđặc thù của học phần
Lớp sinh viên và cố vấn học tập
Lớp sinh viên (lớp niên khóa) được tổ chức theo Quy định Công tác sinhviên Mỗi lớp sinh viên có một tên riêng gắn với khoa, khóa đào tạo và do một cốvấn học tập phụ trách
Trang 23Cố vấn học tập có vai trò cố vấn cho sinh viên trong lớp về các vấn đề học
vụ, giúp đỡ sinh viên lập kế hoạch học tập trong từng học kỳ và kế hoạch cho toàn
bộ khóa đào tạo
Ngoài những khái niệm đã nêu trên vẫn còn một khái niệm nữa được rấtnhiều sinh viên quan tâm khi học tập theo học chế tín chỉ, đó là khái niệm
“Seminar” Seminar (disambiquation) có nghĩa là hội thảo (định hướng) Seminar
có nguồn gốc từ từ Latinh “seminarium”, có nghĩa là “âm mưu hạt giống”.[13]
Theo nghĩa rộng, “một cuộc hội thảo, nói chung, là một hình thức học tập hướng dẫn, hoặc tại một tổ chức học thuậthoặc được cung cấp bởi một tổ chức
thương mại hoặc chuyên nghiệp Nó có chức năng quy tụ các nhóm nhỏ cho cáccuộc họp định kỳ, tập trung mỗi lần trên một số vấn đề cụ thể, trong đó tất cả mọingười được yêu cầu để tham gia tích cực Điều này thường được thực hiện thông
qua một cuộc đối thoại Socratic(một hình thức điều tra và thảo luận giữa các cá
nhân) liên tục với một nhà lãnh đạo hội thảo hoặc người hướng dẫn, hoặc thôngqua một bài thuyết trình chính thức của nghiên cứu Nó thực chất là một nơi màcác bài đọc được giao sẽ được thảo luận, câu hỏi có thể được nêu ra và tranh luận
có thể được tiến hành.Nó tương đối chính thức, ít nhất so với các bài giảng hệthống của hướng dẫn học tập”
Trang 24Nghĩa hẹp hơn “hội thảo (seminar) là danh từ chỉ một nhóm nhỏ các sinhviên, như trong một trường đại học, tham gia vào nghiên cứu tiên tiến và nghiêncứu ban đầu theo một thành viên của các giảng viên và họp thường xuyên để traođổi thông tin và thảo luận”.[13]
Trên đây là một số khái niệm về học chế tín chỉ được sử dụng phổ biếnkhông chỉ ở các trường đại học trên thế giới mà còn ở các trường đại học ở ViệtNam.Qua đó, chúng ta bước đầu đã có thể hiểu một cách cơ bản nhất về học chếtín chỉ và số thuật ngữ được sử dụng nhiều, gắn liền với hình thức đào tạo này Tạođiều kiện thuận lợi giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận cũng như làm quen với hìnhthức đào tạo mới ở đại học, giúp nâng cao kết quả học tập của sinh viên và kết quảgiảng dạy của giảng viên
1.3.Đặc điểm của hệ thống tín chỉ
Xuất phát từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi sinh viên cóthể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại học phảinhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn cuộcsống.Đào tạo theo tín chỉ tuy được coi là phương thức đào tạo mới nhưng đã cólịch sử cách đây hàng trăm năm và đã khẳng định ưu thế của nó tại nhiều trườngđại học danh tiếng trên thế giới Ở Việt Nam, nhìn chung phương thức đào tạo theotín chỉ còn khá mới mẻ Mặc dù còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng trong việc ứng dụngnhưng nhiều trường đại học đã tích cực áp dụng phương thức đào tạo này và đạtđược những thành công nhất định Những đặc điểm của hệ thống tín chỉ là :
Thứ nhất, hệ thống tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải tích luỹ kiến thức theo từng
học phần (đơn vị: tín chỉ) và kiến thức cấu trúc thành các mô đun (học phần) Kiếnthức trong mỗi học phần được thiết kế kiểu mô đun theo từng môn học hoặc đượckết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học thành một môn học mới Mỗi học phầnđược ký hiệu bằng một mã riêng do Trường quy định Cùng với đó quy định khốilượng kiến thức phải tích luỹ cho từng văn bằng Xếp năm học của người học theokhối lượng tín chỉ tích luỹ Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lí thuyết;30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45-90 giờ thực tập tại cở sở; 45-60
Trang 25giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp Đối với những họcphần lí thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ, sinh viênphải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.
Thứ hai, ngoài các học phần bắt buộc còn có các học phần tự chọn điều đó
cho phép sinh viên dễ dàng điều chỉnh ngành nghề đào tạo Thường thì một họcphần có khối lượng từ 2 đến 4 tín chỉ Với mục tiêu lấy sinh viên là trung tâm, khi
tổ chức giảng dạy theo tín chỉ, đầu mỗi học kỳ, sinh viên được lựa chọn và đăng kícác học phần thích hợp với năng lực và hoàn cảnh của họ nhằm đạt được kiến thứctheo một chương trình đào tạo nào đó Sự lựa chọn các môn học rất rộng rãi,sinhviên có thể ghi tên học các môn liên ngành nếu họ thích.Sinh viên không chỉ giớihạn học các môn chuyên môn của mình mà còn cần học các môn học khác lĩnhvực Chương trình đào tạo có tính tích hợp, liên thông, liên ngành, liên môn đápứng nhu cầu đến từng người học và thị trường lao động Nhà trường căn cứ vàonhu cầu của sinh viên để bố trí giảng viên và sắp xếp thời khoá biểu cho các lớphọc phần và có hệ thống cố vấn học tập Đơn vị học vụ là học kỳ Mỗi năm có thểchia thành 2 học kỳ (15 tuần), 3 học kỳ (15 tuần) hoặc 4 học kỳ (10 tuần)
Thứ ba, việc đánh giá kết quả học tập, hệ thống tín chỉ dùng cách đánh giá
thường xuyên theo quá trình và dựa vào sự đánh giá đó đối với các môn học tíchluỹ được để cấp bằng cử nhân Thang điểm để đánh giá kết quả học tập của sinhviên sử dụng thang điểm chữ A, B, C, D (hay thang điểm bốn) Đối với cácchương trình đào tạo sau đại học (cao học và đào tạo tiến sỹ) ngoài các kết quảđánh giá thường xuyên còn có các kỳ thi tổng hợp và các luận văn.không tổ chứcthi tốt nghiệp và bảo vệ khóa luận tốt nghiệp đối với các chương trình đại học vàcao đẳng;
So sánh các học chế tín chỉ được áp dụng phổ biến ở Việt Nam và học chế tín chỉ ở Mỹ:
Để hiểu rõ học chế học phần hiện nay ở Việt Nam và học chế tín chỉ ở ngaytại Mỹ, chiếc nôi của học chế tín chỉ, ta phải nhận thấy được những điểm giốngnhau và khác nhau về bản chất và về việc thực hiện các học chế đó
Trang 26Giống nhau:
Bản chất của cả hai học chế là sự tích lũy dần các mô-đun kiến thức để đạtđược văn bằng;
Sinh viên được lựa chọn một số môđun cho chương trình học của mình;
Việc đánh giá kết quả học tập được thực hiện nhờ điểm trung bình chung với trọng số là số lượng tín chỉ của các mô-đun
Khác nhau:
Các mô-đun kiến thức trong học chế tín chỉ của các trường đại học Mỹ đượcthiết kế theo trình độ năm học của sinh viên, tạo thuận lợi cho lựa chọn và lắpghép, và nói chung mỗi môđun bao gồm 3 hoặc 4 tín chỉ ; các học phần trong cácchương trình học ở các trường đại học nước ta đôi khi được thiết kế theo kiểu chiacắt cơ giới, có một số học phần quá dài (hơn 4 đơn vị học trình ) hoặc quá ngắn (1đến 2 đơn vị học trình)
Đối với các chương trình đào tạo của Mỹ có nhiều mô-đun khác nhau đượcđưa ra để sinh viên lựa chọn nên mức độ tự do lựa chọn cao hơn; trong các chươngtrình đào tạo của các trường đại học nước ta thường có rất ít môđun để lựa chọn Lớp học theo học chế tín chỉ ở Mỹ thường được sắp xếp theo môđun, còn lớphọc trong học chế học phần ở Việt Nam vẫn sắp xếp theo khóa học;
Ở các trường đại học Mỹ có một hệ thống cố vấn học tập đầy đủ để tư vấncho sinh viên lựa chọn môđun và thiết kế quy trình học tập, mỗi sinh viên vàotrường được gắn với một cố vấn học tập; đối với học chế học phần ở nước ta chưa
có hệ thống cố vấn học tập này;
Tín chỉ ở Mỹ được quy định theo số giờ học mỗi tuần kéo dài trong một học
kỳ, tùy theo học kỳ ngắn hay dài mà tín chỉ lớn hay nhỏ (ví dụ semester credit bằng
cỡ 1,5 quarter credit vì semester kéo dài khoảng 15 tuần, quarter kéo dài khoảng 10tuần); đơn vị học trình của ta được quy định bằng tổng số 15 tiết học lý thuyết ởlớp mà không nói rõ số giờ học trong tuần
Trong học chế tín chỉ ở Mỹ có quy định số giờ lao động học tập tối thiểu cầnthiết của sinh viên cho một giờ lên lớp (thường là 2/1) Để quy định này thực sự
Trang 27được thực hiện, ở các trường đại học Mỹ áp dụng rộng rải phương pháp dạy và họcđảm bảo tính chủ động tích cực của sinh viên, do trình độ giáo chức và điều kiệnvật chất để áp dụng phương pháp dạy và học đó cũng được đảm bảo đầy đủ (tàiliệu học tập, thư viện, phòng thí nghiệm cần cho sinh viên làm việc ) Việc quyđịnh khối lượng tài liệu học tập và tham khảo mà sinh viên phải đọc đối với mộtmô-đun và cách ra đề thi cho mô-dun đó dựa vào yêu cầu của môn học và khốilượng tài liệu quy định (chứ không phải dựa vào những điều mà giảng viên đã trìnhbày ở lớp) cũng cho phép kiểm tra việc chuẩn bị ngoài giờ học Ở Việt Nam chưa
có quy định nói trên đối với học chế học phần và cũng chưa đủ các điều kiện đểthực hiện quy định như vậy Vì khối lượng lên lớp mỗi tuần khá lớn (thường hơn
30 tiết/tuần) nên ở Việt Nam thực chất thời gian chuẩn bị của sinh viên cho mỗitiết học ở lớp thường không quá 1/1 Như vậy, tính theo khối lượng lao động họctập của sinh viên 1 tín chỉ của Mỹ bằng cỡ 1,5 đơn vị học trình của ta
Ở các trường đại học Mỹ việc cung cấp thông tin về chương trình và lịch trình
giảng dạy, thi, kiểm tra cho sinh viên rất đầy đủ, đặc biệt thể hiện ở niên lịch giảng dạy được công bố chính thức trước mỗi năm học Thời gian biểu học và thi đã
công bố được thực hiện nghiêm chỉnh.ở Việt Nam khi thực hiện học chế học phầnđiều này nói chung chưa được nhiều trường thực hiện
Việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên đối với mỗi mô-đun ở các trườngđại học Mỹ được thực hiện liên tục trong cả quá trình giảng dạy mô-đun đó, do đóthời gian dành để thi học kỳ cho các môn học thường chỉ có một tuần; ở các trườngđại học nước ta việc học cẩn thận và đánh giá từng phần môn học ít diễn ra thườngxuyên trong quá trình giảng dạy mà chủ yếu được thực hiện sau khi kết thúc việcdạy mô-đun, do đó cuối mỗi học kỳ thời gian dành cho việc thi các học phầnthường diễn ra khoảng 4 tuần
Như vậy, qua các so sánh nêu trên, có thể thấy rõ học chế học phần ở Việt
Nam cũng có cùng bản chất như học chế tín chỉ của Mỹ, đó là tích lũy dần kiến thức được mô-đun hóa, nói cách khác, học chế học phần ở nước ta đã chứa một số
yếu tố của học chế tín chỉ của Mỹ Tuy nhiên tính mềm dẻo của học chế học phần
Trang 28ở nước ta chưa cao như học chế tín chỉ của Mỹ, nói cách khác chúng ta chưa tậndụng triệt để các ý tưởng làm mềm dẻo quy trình đào tạo của học chế tín chỉ ở Mỹ.
1.4 Ưu thế và khó khăn của việc giảng dạy và học tập theo học chế tín chỉ so với niên chế
1.4.1 Ưu thế của việc giảng dạy và học tập theo học chế tín chỉ so với niên chế
Nhằm đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã yêucầu chuyển đổi từ việc thực hiện chương trình đào tạo theo hệ thống niên chế sangđào tạo theo hệ thống tín chỉ kiểu Hoa Kỳ, bắt đầu từ năm học 2008-2009 và đòihỏi phải hoàn tất việc chuyển đổi này trước năm 2012 Cho đến nay, rất nhiềutrường đại học trong cả nước đã áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ
Đào tạo theo tín chỉ không tổ chức theo năm học mà theo học kỳ Một nămhọc có thể tổ chức đào tạo từ 2 đến 3 học kỳ, mỗi chương trình đào tạo của mộtngành học nhất định không tính theo năm mà tính theo sự tích lũy kiến thức củasinh viên, sinh viên tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho một ngành học thì được cấpbằng tốt nghiệp đại học, được ra trường
Trong đào tạo theo tín chỉ, sinh viên phải tự đăng ký lịch học, sinh viên khôngđăng ký sẽ không có lịch học Để làm được việc đó sinh viên phải nghiên cứu kỹ,nắm chắc các tài liệu của nhà trường như quyển niên giám, sổ tay sinh viên, nắmvững chương trình đào tạo, các học phần phải học trước, các học phần học songhành, phần kiến thức giáo dục đại cương, phần kiến thức giáo dục chuyênnghiệp… để có thể có được đăng ký lịch học cho từng học kỳ cho phù hợp (phùhợp ở đây là phù hợp với quy định của nhà trường và phù hợp với sức học của sinhviên) Sinh viên đã phải tự học các quy chế, quy tắc một cách thật sự.Ưu điểm củacách tổ chức này là sinh viên có quyền lựa chọn, sinh viên không những được lựachọn các môn chính khóa của ngành được đào tạo mà còn có thể được đăng ký họcthêm 1 số học phần tự chọn yêu thích hỗ trợ cho hướng phát triển ngành nghề saunày.Trong thời gian học chính khóa có thể học thêm ngoại ngữ, tin học (học vănbằng 2)
Trang 29Hình thức đào tạo tín chỉ so với hình thức đào tạo niên chế có những ưu điểmhơn đối với học tập và giảng dạy là:
Đào tạo theo học chế tín chỉ là phương pháp đào tạo có nhiều ưu thế hơn sovới phương thức đào tạo truyền thống Cách đào tạo này đã cải thiện chất lượngcủa cả người học lẫn người dạy, điều này thể hiện như sau:
ra các kiến thức mới – một vấn đề rất quan trọng trong thời đại ngày nay
Ngoài ra, với quy định phải đánh giá kết quả học tập theo cả quá trình nên đểgiảm đáng kể tình trạng sinh viên đợi đến lúc thi kết thúc học phần mới ôn tập, làmbài tập Với quy chế đánh giá điểm như hiện nay sinh viên phải hết sức nỗ lựctrong suốt thời gian cả môn học để có thể hoàn thành các bài tập nhóm, thu hoạch
cá nhân, thảo luận, kiểm tra thường kỳ, thi giữa kỳ…
Về phía người dạy:
Trong phương thức đào tạo truyền thống, người dạy có vai trò nổi bật, dướigóc nhìn của người học thì người thầy là người biết tất cả các tri thức liên quan đếnmôn học và là người quyết định tất cả các hoạt động dạy – học trong lớp học
Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, các vai trò đã nêu trên của người dạychỉ duy trì ở mức độ tương đối Bên cạnh đó, người dạy phải đảm nhiệm thêm cácvai trò như cố vấn cho quá trình học tập, tham gia vào quá trình học tập
Vai trò cố vấn trong quá trình học tập có thể được xem là vai trò quan trọngnhất trong đào tạo tín chỉ.Với vai trò này, người dạy phải biết lựa chọn nội dung
Trang 30giảng dạy để giúp người học có thể tự khám phá, phát triển các kiến thức mới Đểlàm được điều này thì người dạy phải biết lựa chọn những vấn đề cơ bản, cốt lõi,quan trọng để giảng, đây phải là những vẫn đề mà nếu không có người dạy thìngười học khó có thể lĩnh hội được, còn những vấn đề đơn giản, những vấn đề tưduy, sáng tạo độc lập thì phải để cho người học tự nghiên cứu.
Ngoài ra, với vai trò là người tham gia quá trình dạy – học, người dạy hoạtđộng như một thành viên tham gia quá trình học tập ở trên lớp của người học.Điềunày giúp xóa dần khoảng cách người học và người dạy, giúp người học tự tin hơntrong việc nêu lên các thắc mắc và trình bày ý tưởng mới Và hơn nữa khi tham giavào quá trình dạy – học như một người học thì người dạy phải tự học, tự nghiêncứu rất nhiều để nâng cao kiến thức của mình, để có thể giải đáp thắc mắc của sinhviên trong quá trình dạy – học
Sự thay đổi về chất lượng của người dạy và người học theo phương thức đàotạo tín chỉ so với phương thức đào tạo niên chế có thể hiện khá rõ nét qua tỷ lệ sinhviên đến lớp, ý thức học tập của sinh viên, kết quả học tập của sinh viên, tỷ lệgiảng viên đổi mới phương pháp dạy, áp dụng các phương tiện hiện đại trong côngtác giảng dạy và thường xuyên cập nhật kiến thức mới cho bài giảng của mình
1.4.1 Khó khăn của việc giảng dạy và học tập theo học chế tín chỉ so với niên chế
Bên cạnh những thành công trên trong công tác đào tạo tín chỉ với người học
và người dạy là rất đáng kể Tuy nhiên trong quá trình dạy – học theo học chế tínchỉ tại trường vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau:
Hiện nay sinh viên vẫn chưa chủ động đăng ký môn học, giảng viên nên sinhviên chưa được lựa chọn thời gian học, lớp học và thời khóa biểu riêng phù hợpvới năng lực và nhu cầu của mình.Mặc khác, những sinh viên có điều kiện, có khảnăng cũng chưa có thể học vượt để có thể hoàn thành chương trình đào tạo với thờigian ngắn hơn
Về phía người học: Việc đăng ký, lựa chọn các tín chỉ phù hợp đối với sinh
viên không phải là dễ dàng Sinh viên phải có khả năng tự chủ cao trong việc nắmthông tin về chương trình học tập cũng như việc sắp xếp lộ trình học tập của mìnhcho hợp lý theo đúng quy trình đào tạo
Trang 31Về phía người dạy: Một số giảng viên gắn bó lâu năm với sự nghiệp trồng
người mà phương pháp giảng dạy theo niên chế đã “ăn sâu, bám rễ” trong họ thìviệc giảng dạy theo phương pháp mới - theo tín chỉ - dường như vẫn chưa hoàntoàn thuyết phục được họ, việc đổi mới chỉ mới dừng ở hình thức mà thôi
Về phía Nhà trường: Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu nhiều hơn ở
sinh viên đòi hỏi phải Nhà trường cần phải đáp ứng nguồn giáo trình và tài liệu họctập, tham khảo một cách đầy đủ, phong phú và đa dạng cho người học Bên cạnh
đó là những khó khăn về cơ sở vật chất, điều kiện phòng học (nhiều phòng học cònchật chội so với số lượng sinh viên theo học…), chưa trang bị đầy đủ trang thiết bịphục vụ giảng dạy theo phương pháp mới như máy chiếu, projector, mic ở cácgiảng đường
Ngoài ra, một khó khăn nữa chưa thể khắc phục được đó là tổ chức đoàn thể,
tổ chức lớp học có thể bị phá vỡ khi sinh viên được tổ chức học thành các “nhóm”
và hoàn toàn chủ động trong cách học cũng như thời gian học
Theo Giáo sư Lâm Quang Thiệp, Đại học Quốc gia Hà Nội, có những nhượcđiểm quan trọng của học chế tín chỉ là:
1 Cắt vụn kiến thức: Phần lớn các môđun trong học chế tín chỉ được quy định
tương đối nhỏ, cỡ 3 hoặc 4 tín chỉ, do đó không đủ thời gian để trình bày kiến thứcmột cách đầy đủ, bài bản theo một trình tự diễn biến liên tục, từ đó kiến thức bị cắtvụn Đây thật sự là một nhược điểm, và người ta thường khắc phục nhược điểmnày bằng cách không thiết kế các môđun quá nhỏ dưới 3 tín chỉ, và trong nhữngnăm cuối người ta thường thiết kế các môn học hoặc tổ chức các kỳ thi có tính tổnghợp để sinh viên có cơ hội liên kết, tổng hợp các kiến thức đã học
2 Khó tạo nên sự gắn kết trong sinh viên: Vì sinh viên có thể tự do lựa chọn
môn học nên các lớp học theo môđun không ổn định (lớp học phần), khó xây dựngcác tập thể gắn kết chặt chẽ như các lớp theo khóa học nên việc tổ chức sinh hoạtđoàn thể của sinh viên gặp khó khăn Chính vì nhược điểm này mà có người nóihọc chế tín chỉ khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, không coi trọng tính cộng đồng.Tuy nhiên người ta thường khắc phục bằng cách xây dựng các tập thể tương đối ổnđịnh qua các "lớp khóa học" và đảm bảo sắp xếp một số buổi xác định không bố tríthời khoa biểu để sinh viên có thể cùng tham gia các sinh hoạt đoàn thể chung
Trang 32Chương 2:
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP CỦA
KHOA VĂN THƯ-LƯU TRỮ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 2.1 Chủ trương về chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
2.1.1 Chủ trương của Nhà trường và Khoa Văn thư – Lưu trữ
a Những định hướng của Nhà trường trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ
Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, con đường hội nhập quốc tếngày càng mở rộng, Nhà nước đã nhận thấy rõ những ưu điểm mà hệ thống đào tạotheo tín chỉ đem lại, do đó để nâng cao chất lượng giáo dục, để tăng tính liên thôngcủa hệ thống giáo dục đại học Việt Nam và hội nhập với giáo dục đại học thế giới,trong những năm gần đây Nhà nước đã đưa ra những chủ trương nhằm mở rộnghình thức đào tạo này đối với các trường đại học trong cả nước Trong "Quy hoạchmạng lưới trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2001-2010" được Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt theo Quyết định 47/2001/QĐ-TTg có nêu: các trường cần "thực hiệnquy trình đào tạo linh hoạt, từng bước chuyển việc tổ chức quy trình đào tạo theoniên chế sang học chế tín chỉ”.Việc xúc tiến quá trình đổi mới giáo dục, chuyển đổisang hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ cũng được nhấn mạnh một lần nữa tạiNghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản
và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 Mục tiêu chungcủa Bộ Giáo dục và Đào tạo là đến năm 2015 tất cả các trường đại học đều hoàntoàn đào tạo theo học chế tín chỉ Từ đó cho thấy, việc chuyển đổi sang đào tạotheo tín chỉ là giải pháp quan trọng để đổi mới, nâng cao hiệu quả giáo dục đại học
ở Việt Nam Đây cũng là nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo dục đại học trongnhững năm gần đây
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã nhận thức rõ tầm quantrọng của việc chuyển đổi hình thức đào tạo sang tín chỉ cũng như nhiệm vụ củamình không chỉ để nâng cao chất lượng dạy học của Nhà trường mà còn để góp
Trang 33phần đổi mới hệ thống giáo dục của nước nhà, do đó, Từ năm 2008, khi vẫn làtrường cao đẳng, Ban Giám hiệu nhà trường đã có chủ trương chuyển đổi hìnhthức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ.
So với các trường đại học khác như trường Đại học Ngoại thương, trường Đạihọc Kinh tế Quốc dân, Đại học Quốc gia Hà Nội… thì Trường Đại học Nội vụ HàNội tiến hành chuyển đổi muộn hơn rất nhiều, cũng gặp rất nhiều khó khăn, phảichuẩn bị rất nhiều trong quá trình chuyển đổi, vì vậy, ban đầu Ban Giám hiệu đãchỉ đạo bắt đầu thực hiện đào tạo tín chỉ đối với các khóa nhập học năm 2014 Tuynhiên, sau đó Hiệu trưởng đã chỉ đạo và tiến hành chuyển đổi các lớp đại học khóa
2013 – 2017 sang học chế tín chỉ
Để chủ trương có thể thực hiện thì việc ban hành các văn bản chỉ đạo là điềukhông thể thiếu.Từ năm 2008, Ban Giám hiệu nhà trường đã chỉ đạo việc mời cácchuyên gia có kinh nghiệm trong chuyển đổi đào tạo tín chỉ tập huấn cho đội ngũgiảng viên.Trường thường xuyên cử lãnh đạo và chuyên viên tham gia các khóatập huấn về học chế tín chỉ do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức
Ngày 14/5/2013, Hiệu trưởng Trưởng đã ban hành Quyết định kèm theo lộtrình chuyển đổi sang học chế tín chỉ và Quyết định thành lập Ban chỉ đạo và cácBan giúp việc triển khai thực hiện chuyển đổi sang học chế tín chỉ của Trường Đạihọc Nội vụ Hà Nội Để tiến hành chuyển đổi, với sự tư vấn của Trường Đại họcKhoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, chúng ta đã tiến hành xây dựng đề cương, ràsoát chương trình môn học, tìm hiểu và cập nhật phần mềm quản lý đào tạo theotín chỉ, bố trí lại nhân sự để phù hợp với hình thức đào tạo này
Các phiên họp được tiến hành thường xuyên, “riêng trong năm học
2014-2015 đã có 12 phiên họp của Ban chỉ đạo chuyển đổi đào tạo tín chỉ, 18 phiên họp của các tiểu ban để cập nhật các chi tiết của lộ trình chuyển đổi, 28 phiên họp nghiệm thu và rà soát chương trình đào tạo bậc đại học, cao đẳng và đại học liên thông, 19 phiên họp thảo luận xây dựng các văn bản hướng dẫn về quy chế đào tạo, quy định về xây dựng đề cương học phần, quy chế thi, kiểm tra, đánh giá, quy
Trang 34chế cố vấn học tập, 83 phiên họp nghiệm thu đề cương chi tiết học phần và rất nhiều cuộc họp hướng dẫn chuyển đổi các nội dung chi tiết khác”.[1]
Đây quả thực là một khối lượng công việc rất lớn, tạo ra nhiều áp lực chocác cấn bộ nhân viên, giảng viên của các phòng, khoa, trung tâm Tuy nhiên, lộtrình chuyển đổi vẫn được xúc tiến và tiến hành thuận lợi
Không chỉ các phiên họp mà các văn bản chỉ đạo cũng ngày càng nhiều,
“cũng trong năm học 2014-2015, Nhà trường đã ban hành tổng cộng 42 văn bản đểhướng dẫn đầy đủ, cập nhật thường xuyên về công tác tổ chức, quản lý đào tạotheo học chế tín chỉ”
Xây dựng cơ sở vật chất cũng là một trong những yêu cầu để tiến hànhchuyển đổi sang đào tạo tín chỉ Với số lượng sinh viên ngày càng tăng theo từngkhóa tuyển sinh, Nhà trường đã tiến hành xây dựng thêm các khu nhà, phòng học.Mỗi phòng học mới đều được lắp các thiết bị hỗ trợ giảng dạy như máy chiếu, loa,mic ; tiến hành rà roát hệ thống máy tính để hỗ trợ sinh viên học tập; phát triểntrung tâm thư viện để phục vụ nhu cầu khai thác, sử dụng tài liệu của sinh viên Ngày 12/5/2014 Trường Đại học Nội vụ Hà Nội ban hành Quy chế đào tạođại học, cao đẳng theo hệ thống tín chỉ (ban hành kèm theo Quyết định số 583/QĐ-ĐHNV ngày 12 tháng 5 năm 2014 của Hiệu trưởng Trường Đại học Nội vụ HàNội)
Vào đầu mỗi khóa học, Nhà trường tổ chức các lớp tuần công dân đầu khóa
để phổ biến cho sinh viên về việc chuyển đổi sang đào tạo tín chỉ; hướng dẫn sinhviên thích nghi với phương thức đào tạo mới này; cung cấp sổ tay sinh viên; giảiđáp các thắc mắc của sinh viên
Tuy đã là năm thứ ba đào tạo theo tín chỉ, nhưng trường vẫn đang trong lộtrình chuyển đổi, các bước chuẩn bị cơ bản đã hoàn thành bây giờ quá trình hoànthiện và phát triển, do đó không thể thiếu các hội thảo nhằm rút kinh nghiệm, lấy ýkiến đóng góp xây dựng để lộ trình nhanh chóng hoàn thành với hiệu quả cao nhất
Lộ trình chuyển đổi vẫn đang tiếp tục được tiến hành và để lộ trình được hoàn
Trang 35đóng góp rất lớn của các cán bộ, nhân viên, giảng viên trong trường và đặc biệtkhông thể thiếu đó là nỗ lực học tập của sinh viên
2.1.2 Chủ trương của Khoa Văn thư – Lưu trữ
Cũng theo chủ trương của Nhà trường, Khoa Văn thư – Lưu trữ cũng xác định
sẽ nỗ lực cùng Nhà trường trong lộ trình chuyển đổi sang đào tạo tín chỉ Điều này
+ Biên soạn sách chuyên ngành phù hợp với lượng kiến thức sinh viên cầntích lũy khi học theo học chế tín chỉ;
+ Đổi mới phương pháp giảng dạy, với việc đặt các câu hỏi, đề ra các bài tậpthảo luận nhóm để tăng tính chủ động trong quá trình học tập của sinh viên;+ Tham gia các hội thảo về chuyển đổi sang tín chỉ, các hội thảo rút kinhnghiệm do Nhà trường tổ chức; đồng thời tham gia viết các bài tham luận trong hộithảo để đóng góp ý kiến giúp lộ trình chuyển đổi nhanh chóng hoàn thiện và thànhcông;
+ Phối hợp với các phòng, ban, khoa trong trường trong lộ trình chuyển đổi.Với sự cố gắng của các giảng viên trong Khoa, việc giảng dạy và học tập theohọc chế tín chỉ của Khoa Văn thư – Lưu trữ đã dần đi vào hệ thống, tuy có gặpnhững khó khăn nhưng việc tiến hành chuyển đổi vẫn được diễn ra một cách nhịpnhàng và đạt được những thành công nhất định
2.2.Tổ chức giảng dạy và học tập theo học chế tín chỉ
2.2.1 Tổ chức giảng dạy
Trang 36Với mô hình đào tạo theo niên chế lâu nay của Nhà trường, giảng viên vẫngiảng dạy theo phương pháp thuyết giảng Từ khi chuyển đổi sang mô hình tín chỉ,
đa phần giảng viên không khỏi lúng túng để tìm ra phương pháp giảng dạy mới,giảng viên phải nhanh chóng làm quen với phương pháp giảng dạy hiện đại, tăngcường vai trò của người hướng dẫn, cố vấn học tập, và phải tổ chức các loại hìnhhọc tập mới nhằm nâng cao khả năng chủ động trong học tập của sinh viên Thôngqua kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy một số thực trạng về tổ chức giảng dạycủa Khoa Văn thư – Lưu trữ trong Nhà trường theo học chế tín chỉ như sau:
Thứ nhất, về số lượng cán bộ giảng viên của Khoa có 13 người, trong đó chỉ
có 11 cán bộ là giảng viên giảng dạy và 02 cán bộ làm công tác giáo vụ Khoa Đây
là một con số không nhiều đối với một khoa chủ chốt, có bề dày lịch sử trong Nhàtrường và chưa tương xứng với một khoa có lượng sinh viên theo học lớn như hiệnnay Trong khi đó, các giảng viên trong Khoa trước đây khi đóng vai trò là ngườihọc, chưa từng được đào tạo theo mô hình tín chỉ, mà chỉ được tập huấn về đổi mớihoạt động dạy học theo học chế tín chỉ Vấn đề này đặt ra ở đây là các giảng viên
sẽ tốn một lượng thời gian nhất định trong việc làm quen và chuyển đổi từ hệthống đào tạo giảng dạy niên chế sang hệ thống đào tạo giảng dạy theo mô hình tínchỉ Nên đây là một hạn chế nhất định đối với công việc giảng dạy của giảng viêntrong Khoa
Số lượng giảng viên ít, mỗi môn học sẽ chỉ có 01 hoặc 02 giảng viên giảngdạy môn học đó Tuy nhiên, theo mô hình tín chỉ thì sinh viên được quyền lựachọn giảng viên phù hợp, đặt ra yêu cầu về số lượng giảng viên cho mỗi môn họcphải đa dạng mới đáp ứng được nhu cầu lựa chọn giảng viên của sinh viên Mặc dùhiện nay Nhà trường chưa triển khai cho sinh viên đăng ký môn học và đăng kýgiảng viên nhưng trong tương lai chắc chắn khía cạnh này của đào tạo theo học chếtín chỉ sẽ được đưa vào áp dụng Và số lượng giảng viên của Khoa như vậy, nếukhông được tăng thêm, sẽ gây cản trở sinh viên trong việc đăng ký, lựa chọn giảngviên
Trang 37Thậm chí, số lượng giảng viên ít còn dẫn đến tình trạng 01 giảng viên “gánhvác” nhiều hơn 01 học phần, kết quả là chất lượng giảng dạy chưa phát huy đượctối đa hiệu quả Hơn nữa, tình trạng chồng chéo thời khóa biểu của giảng viên thithoảng vẫn xảy ra: 01 giảng viên có cùng lịch giảng dạy cho 02 lớp học với 02 họcphần khác nhau.
Một tình trạng khác xảy ra do số lượng giảng viên ít là giảng viên phải giảngdạy tới 02 ca học liền nhau trong 01 buổi, trong 01 ngày có thể là 03 ca Điều nàytạo nên sự căng thẳng vì phải làm việc liên tục trong một thời gian dài mà thời giannghỉ ngơi trong mỗi ca học (15 phút) và giữa các ca học (10 phút) là rất ngắn.Thậm chí, có những giảng viên phải giảng dạy 02 ca buổi sáng từ 07 giờ đến 12giờ 40 phút, sau đó chỉ được nghỉ ngơi 20 phút và lại tiếp tục ca 03 vào buổi chiềulúc 13 giờ đến 15 giờ 40 phút Như vậy, chất lượng giảng dạy sẽ bị giảm đi đáng
kể, gây áp lực cho giảng viên, cũng vì thế mà giảng viên sẽ tạo áp lực lên sinhviên, gây khó khăn cho cả người học
Thứ hai, về việc xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo cũng có vai trò
rất quan trọng, giúp sinh viên có bước đi chuẩn và chính xác hơn trong quá trìnhhọc tập Trong quá trình nhà trường chuyển đổi sang đào tạo theo học chế tín chỉ,Phòng Quản lý Đào tạo đã tổ chức xây dựng chương trình kế hoạch đào tạo saocho phù hợp với hệ thống đào tạo mới
Chương trình đào tạo và Kế hoạch đào tạo được phổ biến cho sinh viên khóamới nhập học trong tuần công dân đầu khóa và cung cấp cho sinh viên nhữngthông tin cần thiết về chuyên ngành học của mình, về những môn học sinh viên sẽphải hoàn thành trong mỗi kì học, về số tín chỉ mà sinh viên phải tích lũy trongsuốt quá trình học tại trường Ngoài ra, kế hoạch đào tạo còn được cung cấp chosinh viên đầu mỗi kỳ học để sinh viên biết kỳ học này phải tích lũy bao nhiêu tínchỉ, được đăng ký những môn học nào hay học phần nào, được biết thời gian chophép đăng ký tín chỉ, thời gian học môn học đó trong bao lâu và thời gian thi kếtthúc học phần đó là khi nào
Theo kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy kết quả như sau:
Trang 38Kết quả khảo sát trên cho thấy, cho dù Nhà trường mới chuyển đổi sang hìnhthức tín chỉ, mọi thứ đều phải thực hiện gấp gáp, nhưng vì hiểu được tầm quantrọng của Bản kế hoạch đào tạo, Khoa Văn thư Lưu trữ đã cố gắng hoàn thiện vàđược nhà Trường nghiệm thu, ban hành một cách tốt nhất để chuyển đến sinh viênngay từ đầu khóa học Tuy nhiên, mới chỉ dừng lại ở Bản kế hoạch đào tạo cho cảkhóa học, vẫn chưa có Bản kế hoạch đào tạo cho từng kỳ học, và hơn hết là Bản kếhoạch đào tạo đầu khóa phát cho sinh viên không tương đồng với những gì sinhviên được tiếp nhận trong mỗi kỳ học Điều này dễ làm cho sinh viên hoang mang,không biết trước kỳ này mình học những môn gì, bao nhiêu tín, không tạo được sựchủ động tìm hiểu trước của sinh viên, gây nên thói quen ỷ lại cho sinh viên, họcđến môn nào thì biết môn đó.
Nhiều bất cập trong việc thực hiện kế hoạch đào tạo là chuyên ngành Lưu trữbao gồm nhiều nghiệp vụ được xây dựng theo đúng trình tự đáp ứng yêu cầu thựctiễn công việc.Việc đào tạo theo niên chế giúp cho sinh viên dễ dàng bao quátđược cả công tác Văn thư cũng như là Lưu trữ khi mà các nghiệp vụ tiếp nối nhautheo đúng trình tự Còn đào tạo theo học chế tín chỉ lại tương đối dàn trải đối vớicác học phần tương ứng với mỗi nghiệp vụ trong cả kỳ Các học phần được sắp
Trang 39xếp song song nhau trong các ca học, khiến cho sinh viên chưa tích lũy đủ kiếnthức của nghiệp vụ này thì đã phải học sang nghiệp vụ khác Hơn nữa, thời khóabiểu sắp xếp chưa có sự cố định, thống nhất khiến sinh viên chưa chủ động trongquá trình học tập Khi xây dựng thời khóa biểu cần phải bám sát theo kế hoạchđào tạo đã được xây dựng từ trước, nhất là đối với đặc thù ngành Văn thư – Lưutrữ bao gồm các nghiệp vụ nối tiếp nhau cần phải được đảm bảo các học phầnđược đào tạo theo đúng trình tự nghiệp vụ, tránh sự chồng chéo kiến thức.
Cùng với đó, thời gian giảng dạy trên lớp đã được giảm xuống tương đối, naycác giảng viên còn phải dành thời gian giải thích ở trên lớp đối với lượng kiến thức
mà sinh viên chưa kịp tích lũy ở các nghiệp vụ mà đáng lẽ ra thời khóa biểu cầnđược sắp xếp học trước Bất cập này phần nào đang vô hình chung làm giảm hiệuquả học tập của sinh viên và cũng là bất lợi đối với giảng viên khoa Văn thư – Lưutrữ
Thứ ba, vấn đề xây dựng đề cương chi tiết học phần cho mỗi môn họccũng cần được quan tâm Đối với mô hình đào tạo tín chỉ, đề cương chi tiết học phần là
vô cùng quan trọng Dựa vào đó sinh viên có thể biết được những thông tin cơ bản
về học phần mình đang theo học (tên học phần, mã học phần, số tín chỉ,…) Ngoài
ra, sinh viên còn biết được mục tiêu của học phần, biết được nội dung chi tiết củahọc phần Nhờ vào đó để theo dõi các buổi học, biết được yêu cầu của từng buổihọc đối với sinh viên, tạo cho sinh viên thói quen chủ động chuẩn bị bài trước khi
đến lớp Hơn nữa, đề cương chi tiết học phần cung cấp cho sinh viên những tài liệu
cần tham khảo để sinh viên tự chủ trong quá trình tự nghiên cứu
Tuy nhiên, không phải giảng viên nào lên lớp cũng cung cấp cho sinh viên đề cương chi tiết học phần vào buổi đầu của môn học, thậm chí là đến cuối quá trình
học tập môn học đó sinh viên mới được nhận đề cương chi tiết của học phần Điềunày dẫn đến việc sinh viên khó theo sát chương trình học, khó trong việc chủ độngtìm hiểu trước bài học và kiểm soát được giảng viên có thực hiện đúng tiến trìnhtheo đề cương hay không
Trang 40Kết quả khảo sát một số sinh viên Đại học Lưu trữ học - hệ chính quy trongnăm học 2015 – 2016 cho thấy:
Thông qua kết quả tổng hợp sinh viên một số lớp liên thông hệ vừa học vừalàm Đại học Lưu trữ học 1408A , cho thấy: