1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học Chương số II – Số nguyên môn Toán theo mô hình trường học mới Việt nam (VNEN) ở lớp 6 các trường Trung học cơ sở thành phố Lào Cai

25 402 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 274,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Dự án Mô hình trường học mới tại Việt Nam (Dự án GPEVNEN, Global Partnership for Education – Viet Nam Escuela Nueva) là một Dự án về sư phạm nhằm xây dựng và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam. Mô hình trường học mới khởi nguồn từ Côlômbia từ những năm 19952000 để dạy học trong những lớp ghép ở vùng miền núi khó khăn, theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm. Mô hình này vừa kế thừa những mặt tích cực của mô hình trường học truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy – học, cách đánh giá, cách tổ chức quản lí lớp học, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy – học. Điểm nổi bật của mô hình này là đổi mới về các hoạt động sư phạm, một trong những hoạt động đó là đổi mới về cách thức tổ chức lớp học. Theo mô hình của trường học mới, quản lí lớp học là “Hội đồng tự quản học sinh”, các “ban” trong lớp, do học sinh tự nguyện xung phong và được các bạn tín nhiệm. Sự thành lập cũng như hiệu quả hoạt động của “Hội đồng tự quản học sinh”, các “ban” rất cần sự tư vấn, khích lệ, giám sát của giáo viên, phụ huynh, sự tích cực, trách nhiệm của học sinh. “Hội đồng tự quản học sinh” là một biện pháp giúp học sinh được phát huy quyền làm chủ quá trình học tập, giáo dục. Học sinh có điều kiện hiểu rõ quyền và trách nhiệm trong môi trường giáo dục, được rèn các kĩ năng lãnh đạo, kĩ năng tham gia, hợp tác trong các hoạt động… Mô hình này vừa kế thừa những mặt tích cực của mô hình trường học truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy – học, cách đánh giá, cách tổ chức quản lí lớp học, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy – học. Bắt đầu từ năm học 2011 2012 Bộ Giáo dục Đào tạo chính thức triển khai thí điểm mô hình trường học mới VNEN ở cấp tiểu học cho một số tỉnh thành trên cả nước nhằm góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo. Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai cũng đã triển khai thử nghiệm mô hình này tới 81 trường tiểu học trong đó có 8 trường tại thành phố Lào Cai. Từ năm học 2014 – 2015, thành phố Lào Cai bắt đầu thí điểm triển khai dạy học môn Toán theo mô hình VNEN ở các lớp 6 tại hai trường trung học cơ sở: Ngô Văn Sở và Pom Hán, năm 2015 – 2016 triển khai dạy học môn Toán theo mô hình VNEN ở các lớp 6 ở tất cả các trường THCS trên địa bàn thành phố Lao Cai, năm học 2016 – 2017 tiếp tục triển khai cho học sinh lớp 7, năm học 2017 – 2018 tiếp tục triển khai cho học sinh lớp 8 nên việc nghiên cứu thực trạng và tìm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Toán theo mô hình này là rất cần thiết. Quá trình thử nghiệm mô hình trường học mới VNEN vào dạy học môn Toán ở các trường trung học cơ sở thuộc địa bàn thành phố Lào Cai đã đạt được khá nhiều thành công. Song bên cạnh đó, vẫn còn những hạn chế, bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu của chương trình đổi mới. Vì vậy, tìm hiểu rõ thực trạng để từ đó tìm ra các giải pháp khắc phục những hạn chế nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn là rất cần thiết. Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của việc nghiên cứu, trên cơ sở lí luận, nguồn tư liệu thực tế khai thác được, tác giả mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học Chương số II – Số nguyên môn Toán theo mô hình trường học mới Việt nam (VNEN) ở lớp 6 các trường Trung học cơ sở thành phố Lào Cai. 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu: Nhiều CBQL, giáo viên tiểu học viết sáng kiến kinh nghiệm dạy học các bộ môn theo VNEN: Sáng kiến kinh nghiệm (SKKN): “Một số kỹ năng tổ chức dạy học theo nhóm mô hình trường học mới VNEN”, tác giả Nguyễn Thị Đào, trường tiểu học Nguyễn Trãi thành phố Buôn Ma Thuột. Sáng kiến của GV Đoàn Văn Thu, trường Tiểu học số 2 Quài Nưa, Quảng Bình có: “Nâng cao năng lực điều hành lớp cho Hội đồng tự quản theo mô hình trường tiểu học mới VNEN” Sáng kiến: “Một số giải pháp thực hiện dạy học theo mô hình trường học mới VNEN đạt hiệu quả” của cô giáo Nguyễn Thị Thủy, trường tiểu học Thanh Thủy, Tuyên Hóa, Quảng Bình. Tác giả Phạm Thanh Điền, trường tiểu học U Minh Thượng, Kiên Giang có bài “ Nâng cao chất lượng dạy học theo mô hình trường học mới VNEN” Ở Lào Cai cũng có một số bài viết: Bài “ Cảm nhận về môn Tiếng Việt dạy theo mô hình VNEN” của cô giáo Phạm Thị Kim Thoa, bài “ Nhân rộng mô hình trường tiểu học mới VNEN tại trường Nguyễn Bá Ngọc của cô giáo Trần Thị Liên”. Bài viết “Hiệu quả giáo dục sau một năm nhân rộng mô hình VNEN tại trường tiểu học Bảo Nhai A” của cô giáo Đàm Thị Ngọc Dung… Tuy nhiên, các bài viết đều chỉ là những sáng kiến, kinh nghiệm cá nhân được áp dụng ở một lớp hay một trường cụ thể. Đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đánh giá thực trạng DH môn tiếng Việt theo mô hình VNEN ở các trường Tiểu học của thành phố Lào Cai cũng như tỉnh Lào Cai. Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN, đề tài này đi sâu nghiên cứu đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN ở lớp 2, 3 các trường tiểu học của thành phố Lào Cai. 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: 3.1. Mục tiêu: Trên cơ sở đánh giá thực trạng dạy học Chương số II – Số nguyên môn Toán theo mô hình trường học mới Việt nam (VNEN) ở lớp 6 các trường Trung học cơ sở thành phố Lào Cai, đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Chương số II – Số nguyên môn Toán theo mô hình VNEN ở lớp 6 các trường THCS thành phố Lào Cai. 3.2. Nhiệm vụ Xác định cơ sở lí luận cho đề tài. Thiết kế bộ công cụ khảo sát: 01 mẫu phiếu (phiếu dành cho CBQL và giáo viên), 2 đề kiểm tra Chương số II – Số nguyên môn Toán lớp 6. Tổ chức điều tra, khảo sát, dự giờ, xử lí kết quả khảo sát. Đánh giá thực trạng DH Chương số II – Số nguyên môn Toán theo mô hình VNEN ở lớp 6 một số trường tiểu học của thành phố Lào Cai. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy – học Chương số II – Số nguyên môn Toán theo mô hình VNEN ở lớp 6 các trường trung học cơ sở thuộc địa bàn thành phố Lào Cai. Thử nghiệm một vài giải pháp vào quá trình tổ chức dạy học của giáo viên ở các trường. 4. Đóng góp của đề tài 4.1. Tính mới của đề tài Đây là công trình khoa học đầu tiên khảo sát thực trạng quản lí và tổ chức DH Chương số II – Số nguyên môn Toán lớp 6 theo mô hình VNEN ở 1 số trường trung học cơ sở thành phố Lào Cai và đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn theo mô hình VNEN ở lớp 6 các trường trung học cơ sở trên địa bàn. 4.2. Ý nghĩa khoa học của đề tài Đề tài nghiên cứu, đánh giá cụ thể về thực trạng, đề xuất, thử nghiệm một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chương II – Số nguyên môn Toán theo mô hình VNEN ở lớp 6 tại một số trường trung học cơ sở thuộc địa bàn thành phố Lào Cai. Đây là vấn đề từ trước đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách hệ thống. 4.3. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Làm rõ cơ sở khoa học của việc dạy học Chương số II – Số nguyên môn Toán theo mô hình trường học mới Việt nam (VNEN) ở lớp 6 các trường Trung học cơ sở. Đề tài đưa vào triển khai ứng dụng được để dạy học Chương số II – Số nguyên môn toán lớp 6 theo mô hình trường học mới (VNEN) ở một số trường trung học cơ sở. Dùng làm tài liệu tham khảo cho giảng viên giảng dạy môn PPDH Toán, sinh viên lớp CĐSP 16 Toán tin trường CĐSP Lào Cai; tài liệu tham khảo cho giáo viên Toán các trường trung học cơ sở thuộc địa bàn thành phố Lào Cai. 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học Chương số II – Số nguyên môn Toán theo mô hình trường học mới Việt nam (VNEN) ở lớp 6 các trường Trung học cơ sở thành phố Lào Cai. 5.2. Phạm vi nghiên cứu Khảo sát thực tế (thông qua phiếu khảo sát giáo viên và bài kiểm tra học sinh) nhằm thu thập được thông tin về việc dạy học Chương số II – Số nguyên môn Toán theo mô hình trường học mới Việt nam (VNEN) của giáo viên và kết quả học tập của học sinh lớp 6; phân tích và chỉ ra nguyên nhân; đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy – học môn này. Việc khảo sát được tiến hành trong phạm vi 4 trường THCS học của thành phố Lào Cai: Tả Phời, Kim Tân, Đồng Tuyển, Lê Hồng Phong. Tổ chức cho giáo viên dạy thực nghiệm các biện pháp thiết kế cho giờ dạy Toán Chương số II – Số nguyên – lớp 6 và kiểm tra kết quả học tập của học sinh. Việc tổ chức thực nghiệm được tiến hành trong 6 tiết ở lớp 6 các trường tiểu học: Đồng Tuyển, Kim Tân. 6. Phương pháp nghiên cứu 6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết Nghiên cứu, khái quát những tài liệu lý luận có liên quan đến đề tài, phân tích, tổng hợp nhằm xây dựng những khái niệm công cụ và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận có liên quan. 6.2. Phương pháp khảo sát điều tra 6.2.1. Phương pháp điều tra viết Thiết kế các mẫu phiếu điều tra các đối tượng cụ thể là cán bộ quản lý trường tiểu học (CBQLTH), giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh khối lớp 6 để có được những thông tin khách quan, làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá đúng thực trạng, đề ra những giải pháp phù hợp, có hiệu quả đối với việc nâng cao kết quả dạy và học Chương II – Số nguyên môn Toán lớp 6 theo mô hình VNEN. 6.2.2. Phương pháp phỏng vấn Phỏng vấn CBQLTHCS và GVTHCS đang trực tiếp làm công tác quản lí và giảng dạy tại các trường trung học cơ sở được khảo sát và thực nghiệm để có được thông tin về thực trạng, nguyên nhân dẫn đến thực trạng chất lượng dạy học Chương II – số nguyên môn Toán lớp 6 theo mô hình VNEN thuộc phạm vi đề tài nghiên cứu. 6.3. Phương pháp thống kê toán học Xử lí số liệu từ các phiếu khảo sát điều tra, đánh giá chất lượng thông qua kết quả khảo sát dạy học Chương II – số nguyên môn Toán lớp 6 của giáo viên và kết quả học tập của học sinh tiểu học tại một số trường thuộc thành phố Lào Cai. ` 6.4. Phương pháp thực nghiệm Phối hợp với GV ở 2 trường mà tác giả lựa chọn để tiến hành thực nghiệm một số giải pháp, khảo sát để đánh giá đúng về chất lượng dạy – học Chương II – số nguyên môn Toán lớp 6 ở trường thực nghiệm sau khi đã áp dụng các biện pháp nhằm khắc phục những hạn chế. Từ đó, đề xuất hướng điều chỉnh nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chương II – số nguyên môn Toán lớp 6 như trên đã trình bày. 7. Tư liệu nghiên cứu

Trang 1

CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 2

1 Lý do chọn đề tài

Dự án Mô hình trường học mới tại Việt Nam (Dự án GPE-VNEN, GlobalPartnership for Education – Viet Nam Escuela Nueva) là một Dự án về sư phạmnhằm xây dựng và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phùhợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam Mô hình trườnghọc mới khởi nguồn từ Côlômbia từ những năm 1995-2000 để dạy học trong nhữnglớp ghép ở vùng miền núi khó khăn, theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm

Mô hình này vừa kế thừa những mặt tích cực của mô hình trường học truyền thống,vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, tài liệu họctập, phương pháp dạy – học, cách đánh giá, cách tổ chức quản lí lớp học, cơ sở vậtchất phục vụ cho dạy – học

Điểm nổi bật của mô hình này là đổi mới về các hoạt động sư phạm, mộttrong những hoạt động đó là đổi mới về cách thức tổ chức lớp học Theo mô hìnhcủa trường học mới, quản lí lớp học là “Hội đồng tự quản học sinh”, các “ban”trong lớp, do học sinh tự nguyện xung phong và được các bạn tín nhiệm Sự thànhlập cũng như hiệu quả hoạt động của “Hội đồng tự quản học sinh”, các “ban” rấtcần sự tư vấn, khích lệ, giám sát của giáo viên, phụ huynh, sự tích cực, trách nhiệmcủa học sinh “Hội đồng tự quản học sinh” là một biện pháp giúp học sinh đượcphát huy quyền làm chủ quá trình học tập, giáo dục Học sinh có điều kiện hiểu rõquyền và trách nhiệm trong môi trường giáo dục, được rèn các kĩ năng lãnh đạo, kĩnăng tham gia, hợp tác trong các hoạt động…

Mô hình này vừa kế thừa những mặt tích cực của mô hình trường học truyềnthống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, tàiliệu học tập, phương pháp dạy – học, cách đánh giá, cách tổ chức quản lí lớp học,

cơ sở vật chất phục vụ cho dạy – học

Trang 3

Bắt đầu từ năm học 2011 - 2012 Bộ Giáo dục & Đào tạo chính thức triểnkhai thí điểm mô hình trường học mới VNEN ở cấp tiểu học cho một số tỉnh thànhtrên cả nước nhằm góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo Sở Giáo dục

và Đào tạo Lào Cai cũng đã triển khai thử nghiệm mô hình này tới 81 trường tiểuhọc trong đó có 8 trường tại thành phố Lào Cai

Từ năm học 2014 – 2015, thành phố Lào Cai bắt đầu thí điểm triển khai dạyhọc môn Toán theo mô hình VNEN ở các lớp 6 tại hai trường trung học cơ sở: NgôVăn Sở và Pom Hán, năm 2015 – 2016 triển khai dạy học môn Toán theo mô hìnhVNEN ở các lớp 6 ở tất cả các trường THCS trên địa bàn thành phố Lao Cai, nămhọc 2016 – 2017 tiếp tục triển khai cho học sinh lớp 7, năm học 2017 – 2018 tiếptục triển khai cho học sinh lớp 8 nên việc nghiên cứu thực trạng và tìm giải phápnhằm nâng cao hiệu quả dạy học Toán theo mô hình này là rất cần thiết

Quá trình thử nghiệm mô hình trường học mới VNEN vào dạy học môn Toán ởcác trường trung học cơ sở thuộc địa bàn thành phố Lào Cai đã đạt được khá nhiềuthành công Song bên cạnh đó, vẫn còn những hạn chế, bất cập chưa đáp ứng đượcyêu cầu của chương trình đổi mới Vì vậy, tìm hiểu rõ thực trạng để từ đó tìm racác giải pháp khắc phục những hạn chế nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

là rất cần thiết

Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của việc nghiên cứu, trên cơ

sở lí luận, nguồn tư liệu thực tế khai thác được, tác giả mạnh dạn chọn đề tài nghiên

cứu “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học Chương số II – Số

nguyên - môn Toán theo mô hình trường học mới Việt nam (VNEN) ở lớp 6 các trường Trung học cơ sở thành phố Lào Cai.

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu:

Nhiều CBQL, giáo viên tiểu học viết sáng kiến kinh nghiệm dạy học các bộmôn theo VNEN:

Trang 4

- Sáng kiến kinh nghiệm (SKKN): “Một số kỹ năng tổ chức dạy học theo nhóm

mô hình trường học mới VNEN”, tác giả Nguyễn Thị Đào, trường tiểu học Nguyễn Trãi thành phố Buôn Ma Thuột

- Sáng kiến của GV Đoàn Văn Thu, trường Tiểu học số 2 Quài Nưa, Quảng

Bình có: “Nâng cao năng lực điều hành lớp cho Hội đồng tự quản theo mô hình trường tiểu học mới VNEN”

- Sáng kiến: “Một số giải pháp thực hiện dạy học theo mô hình trường học mới VNEN đạt hiệu quả” của cô giáo Nguyễn Thị Thủy, trường tiểu học Thanh

Thủy, Tuyên Hóa, Quảng Bình

- Tác giả Phạm Thanh Điền, trường tiểu học U Minh Thượng, Kiên Giang có

bài “ Nâng cao chất lượng dạy học theo mô hình trường học mới VNEN”

Ở Lào Cai cũng có một số bài viết:

- Bài “ Cảm nhận về môn Tiếng Việt dạy theo mô hình VNEN” của cô giáo Phạm Thị Kim Thoa, bài “ Nhân rộng mô hình trường tiểu học mới VNEN tại trường Nguyễn Bá Ngọc của cô giáo Trần Thị Liên”

- Bài viết “Hiệu quả giáo dục sau một năm nhân rộng mô hình VNEN tại trường tiểu học Bảo Nhai A” của cô giáo Đàm Thị Ngọc Dung…

Tuy nhiên, các bài viết đều chỉ là những sáng kiến, kinh nghiệm cá nhân được

áp dụng ở một lớp hay một trường cụ thể Đến nay, chưa có công trình khoa họcnào nghiên cứu đánh giá thực trạng DH môn tiếng Việt theo mô hình VNEN ở các

trường Tiểu học của thành phố Lào Cai cũng như tỉnh Lào Cai

Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt theo mô hìnhVNEN, đề tài này đi sâu nghiên cứu đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất giải phápnhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt theo mô hình VNEN ở lớp 2, 3các trường tiểu học của thành phố Lào Cai

Trang 5

3.1 Mục tiêu:

Trên cơ sở đánh giá thực trạng dạy học Chương số II – Số nguyên - môn Toántheo mô hình trường học mới Việt nam (VNEN) ở lớp 6 các trường Trung học cơ

sở thành phố Lào Cai, đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Chương số II –

Số nguyên - môn Toán theo mô hình VNEN ở lớp 6 các trường THCS thành phốLào Cai

3.2 Nhiệm vụ

- Xác định cơ sở lí luận cho đề tài

- Thiết kế bộ công cụ khảo sát: 01 mẫu phiếu (phiếu dành cho CBQL và giáoviên), 2 đề kiểm tra Chương số II – Số nguyên môn Toán lớp 6

- Tổ chức điều tra, khảo sát, dự giờ, xử lí kết quả khảo sát

- Đánh giá thực trạng DH Chương số II – Số nguyên môn Toán theo mô hình

VNEN ở lớp 6 một số trường tiểu học của thành phố Lào Cai.

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy – học Chương số II –

Số nguyên môn Toán theo mô hình VNEN ở lớp 6 các trường trung học cơ sở

thuộc địa bàn thành phố Lào Cai.

- Thử nghiệm một vài giải pháp vào quá trình tổ chức dạy học của giáo viên ởcác trường

4 Đóng góp của đề tài

4.1 Tính mới của đề tài

Đây là công trình khoa học đầu tiên khảo sát thực trạng quản lí và tổ chức

DH Chương số II – Số nguyên môn Toán lớp 6 theo mô hình VNEN ở 1 số trườngtrung học cơ sở thành phố Lào Cai và đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng dạyhọc bộ môn theo mô hình VNEN ở lớp 6 các trường trung học cơ sở trên địa bàn

4.2 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Trang 6

Đề tài nghiên cứu, đánh giá cụ thể về thực trạng, đề xuất, thử nghiệm một sốgiải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy - học Chương II – Số nguyên môn Toántheo mô hình VNEN ở lớp 6 tại một số trường trung học cơ sở thuộc địa bàn thành

phố Lào Cai Đây là vấn đề từ trước đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu một

cách hệ thống

4.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Làm rõ cơ sở khoa học của việc dạy học Chương số II – Số nguyên -mônToán theo mô hình trường học mới Việt nam (VNEN) ở lớp 6 các trường Trunghọc cơ sở

Đề tài đưa vào triển khai ứng dụng được để dạy học Chương số II – Sốnguyên - môn toán lớp 6 theo mô hình trường học mới (VNEN) ở một số trườngtrung học cơ sở Dùng làm tài liệu tham khảo cho giảng viên giảng dạy môn PPDHToán, sinh viên lớp CĐSP 16 Toán tin trường CĐSP Lào Cai; tài liệu tham khảocho giáo viên Toán các trường trung học cơ sở thuộc địa bàn thành phố Lào Cai

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả dạy họcChương số II – Số nguyên - môn Toán theo mô hình trường học mới Việt nam(VNEN) ở lớp 6 các trường Trung học cơ sở thành phố Lào Cai

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Khảo sát thực tế (thông qua phiếu khảo sát giáo viên và bài kiểm tra họcsinh) nhằm thu thập được thông tin về việc dạy - học Chương số II – Số nguyên -môn Toán theo mô hình trường học mới Việt nam (VNEN) của giáo viên và kếtquả học tập của học sinh lớp 6; phân tích và chỉ ra nguyên nhân; đánh giá thựctrạng và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy – học môn này Việc khảo sát

Trang 7

được tiến hành trong phạm vi 4 trường THCS học của thành phố Lào Cai: Tả Phời,Kim Tân, Đồng Tuyển, Lê Hồng Phong.

- Tổ chức cho giáo viên dạy thực nghiệm các biện pháp thiết kế cho giờ dạyToán Chương số II – Số nguyên – lớp 6 và kiểm tra kết quả học tập của học sinh.Việc tổ chức thực nghiệm được tiến hành trong 6 tiết ở lớp 6 các trường tiểu học:Đồng Tuyển, Kim Tân

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu, khái quát những tài liệu lý luận có liên quan đến đề tài, phân tích,tổng hợp nhằm xây dựng những khái niệm công cụ và làm sáng tỏ một số vấn đề lýluận có liên quan

6.2 Phương pháp khảo sát điều tra

6.2.1 Phương pháp điều tra viết

Thiết kế các mẫu phiếu điều tra các đối tượng cụ thể là cán bộ quản lý trườngtiểu học (CBQLTH), giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh khối lớp 6 để có đượcnhững thông tin khách quan, làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá đúng thựctrạng, đề ra những giải pháp phù hợp, có hiệu quả đối với việc nâng cao kết quảdạy và học Chương II – Số nguyên môn Toán lớp 6 theo mô hình VNEN

6.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn CBQLTHCS và GVTHCS đang trực tiếp làm công tác quản lí vàgiảng dạy tại các trường trung học cơ sở được khảo sát và thực nghiệm để có đượcthông tin về thực trạng, nguyên nhân dẫn đến thực trạng chất lượng dạy họcChương II – số nguyên môn Toán lớp 6 theo mô hình VNEN thuộc phạm vi đề tàinghiên cứu

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Trang 8

Xử lí số liệu từ các phiếu khảo sát điều tra, đánh giá chất lượng thông quakết quả khảo sát dạy - học Chương II – số nguyên môn Toán lớp 6 của giáo viên vàkết quả học tập của học sinh tiểu học tại một số trường thuộc thành phố Lào Cai.

7 Tư liệu nghiên cứu

7.1 Tư liệu nghiên cứu

- Báo cáo của CBQL đánh giá kết quả về việc áp dụng mô hình VNEN vàodạy - học của các trường trung học cơ sở thuộc đại bàn thành phố Lào Cai từ nămhọc 2014 – 2015 cho đến nay

- Các sáng kiến kinh nghiệm về mô hình trường học mới của các tác giả trên

cả nước nói chung và một số bài viết của GV tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàntỉnh Lào Cai

7.2 Tài liệu tham khảo

- Các tài liệu lí luận về mô hình trường học mới VNEN

- SGK, SGV Toán lớp 6

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về dạy học môn Toán theo mô hình VNEN

Chương II: Thực trạng dạy học Chương số II – Số nguyên - môn Toán theo

mô hình VNEN lớp 6 ở các trường THCS thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Trang 9

Chương III: Biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Chương số II – Số nguyên

- môn Toán theo mô hình VNEN lớp 6 ở các trường THCS thành phố Lào Cai, tỉnhLào Cai

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC CHƯƠNG II – SỐ NGUYÊN MÔN TOÁN

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI

VNEN 1.1 Mô hình trường học mới VNEN

Trang 10

Trường học mới VNEN là nơi HS cùng nhau học tập để lĩnh hội những kiếnthức liên quan mật thiết đến cuộc sống của các em Ở đó giáo viên là người tổchức, hướng dẫn và khích lệ các em tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức, hình thành vàphát triển kĩ năng giao tiếp, ứng xử dân chủ, bình đẳng Ở đó, phụ huynh và cộngđồng cùng tham gia tích cực vào việc chăm sóc và giáo dục con em mình.

Mô hình trường học mới Việt Nam tập trung vào đổi mới sư phạm: Đổi mớiphương pháp dạy, đổi mới phương pháp học, đổi mới phương pháp đánh giá họcsinh, đổi mới tổ chức lớp học và có sự tham gia của phụ huynh HS, CMHS và cộngđồng

Trong mô hình trường học mới, học sinh sẽ ngồi học theo cá nhân, theo cặp vàtiến tới là theo nhóm chứ không ngồi theo kiểu "hội nghị" như mô hình trường họctruyền thống Lớp học cũng được trang trí, làm thêm các đồ dùng học tập trựcquan, phục vụ tốt nhất cho việc học tập của học sinh

Điểm ưu việt của VNEN là HS chủ yếu tự học dựa trên bộ tài liệu, SGK riêngtrong đó hướng dẫn cách tự học Như vậy, khác hoàn toàn với cách học truyềnthống GV giảng giải kiến thức có sẵn, nêu câu hỏi vấn đáp cho các em trả lời từ đórút ra bài học cần thiết, cách học theo VNEN là HS tự học, tự thảo luận nhóm rồicùng trao đổi

Quá trình này, nếu gặp khó khăn, học sinh liên lạc với giáo viên và sẽ nhậnđược sự hỗ trợ cần thiết Sự khác biệt ở đây là thông qua dự hướng dẫn của GV, HS

có thể tự phát hiện, tự tìm ra kiến thức và tự hình thành kỹ năng, thái độ thích hợp.Vai trò chủ thể tích cực của học sinh được phát huy cao độ, các em không còn thụđộng nghe GV giảng bài.Mục tiêu của VNEN hướng tới dạy cách tự học, đồng thờiphát triển các kỹ năng nhận thức và phi nhận thức cho học sinh

Mô hình này bắt đầu được áp dụng từ năm 2012-2013 Tính đến năm học2017-2018 này, theo thống kê của NXB Giáo dục, con số đã lên tới 4.800 trường

Trang 11

tiểu học (gần 32% tổng số trường) áp dụng VNEN Ngoài ra, VNEN cũng được ápdụng tại 1.500 trường THCS (trên 14% tổng số trường).

Dù còn nhiều ý kiến trái chiều về mức độ hiệu quả của mô hình mới này songnhững thành công bước đầu và tính về lâu dài của VNEN là không thể phủ nhận

1.1.2 Tổ chức lớp học

Bàn ghế được bố trí để HS học nhóm, phù hợp với sự tương tác giữa các bạntrong nhóm và GV Ban cán sự lớp được đổi mới thành Hội đồng tự quản Hộiđồng tự quản được thành lập là vì HS, do HS tự ứng cử, đề cử, bầu chọn Các emđược tự quản các hoạt động của lớp

Các công cụ cho Hội đồng tự quản hoạt động như: Bàn ghế đơn để HS chủđộng kê thành các cụm giúp các em học tập theo nhóm nhỏ; nội quy lớp học là domỗi lớp tự đề ra và được tất cả các thành viên trong lớp nhất trí ; thư viện lớp học,các góc học tập bộ môn; hòm thư góp ý, hòm cam kết, hộp thư vui; góc cộng đồng

1.1.3 Đổi mới phương pháp giảng dạy của GV và phương pháp học tập của HS.

Tự học của cá nhân, học tập hợp tác và sự tương tác giữa các thành viêntrong nhóm học tập của mô hình trường học mới VNEN

GV lựa chọn phương pháp hợp lí khi sử dụng tài liệu hướng dẫn học

1.1.4 Đặc điểm mô hình VNEN

1.4.1.1 Hoạt động giáo dục:

Trang 12

Chuyển các hoạt động giáo dục trong nhà trường thành các hoạt động tựgiáo dục cho học sinh Hoạt động giáo dục trong nhà trường đều vì lợi ích của họcsinh và do HS thực hiện Đặc trưng của Mô hình trường học mới là “ TỰ”

1.4.1.2 Hoạt động dạy học và vai trò của giáo viên

* Hoạt động dạy của giáo viên: Chuyển hoạt động Dạy của GV thành hoạtđộng Học của HS, hoạt động quy mô lớp thành hoạt động của quy mô nhóm;

- Học sinh làm việc với sách, có sự tương tác với bạn; giáo viên là người tổchức, hướng dẫn HS tự học theo sách Hướng dẫn học Giáo viên chọn vị trí tốt nhất

để :

- Công việc chủ yếu của GV là tổ chức, hướng dẫn, theo dõi, hỗ trợ kịp thờihoạt động học của từng cá nhân, từng nhóm; đánh giá được tinh thần, thái độ, kếtquả học tập, năng lực học tập, điều hành của mỗi cá nhân, mỗi nhóm

* Vai trò của GV: là cố vấn về tổ chức và tự quản; là người tổ chức, hướngdẫn tự học; hỗ trợ kịp thời HS vượt qua khó khăn trong học tập, rèn luyện Giáoviên không trực tiếp, mà hướng dẫn học sinh tự điểu hành, tự quản mọi hoạt độngcủa lớp có định hướng

1.4.1.3 Đánh giá học sinh:

Sau mỗi tiết học đều có sự đánh giá của giáo viên bằng những nhận xét họcsinh Kết quả đánh giá HS được dựa trên cơ sở HS tự đánh giá, đánh giá của bạn,đánh giá của GV Giữa kì và cuối kì, HS được đánh giá xếp loại

Công cụ đánh giá: Sự quan sát, theo dõi; Phiếu đánh giá tiến độ học tập; Bảntổng hợp ý kiến đánh giá của GV, HS, nhóm, cha mẹ HS và cộng đồng

1.4.5 Cấu trúc bài học theo mô hình VNEN

Mô hình VNEN giữ nguyên nội dung, chuẩn kiến thức, kĩ năng và kế hoạch dạy học theo chương trình của Bộ Giáo dục & Đào tạo

Ngày đăng: 21/01/2018, 14:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w