Muốn phát huytính tích cực của học sinh, tạo không khí giờ học, việc giáo viên diễn đạt bài giảngphải lôi cuốn, thông qua những sự kiện, mẩu chuyện, hình ảnh minh họa...sẽ giúphọc sinh y
Trang 11 Đặt vấn đề
Đổi mới phương pháp dạy học là một trọng tâm của đổi mới giáo dục Trung
học phổ thông Luật giáo dục (Điều 28) yêu cầu: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú, hứng thú học tập cho học sinh” Dạy học Lịch sử nhất thiết phải đổi mới theo hướng “Đặt học sinh vào hoạt động trung tâm của quá trình dạy học”, giáo viên đóng vai trò tổ chức, định hướng cho học sinh tự khám phá,
tìm hiểu các sự kiện lịch sử từ đó liên hệ các sự kiện lịch sử với nhau Muốn làmđược điều đó giáo viên phải có những biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch
sử Điều quan trọng và cần thiết nhất là luôn tạo cho các em niềm khát khao tìmhiểu, biết tự đánh giá và nhận xét khách quan các sự kiện hay nhân vật lịch sử nào
đó, khiến các em đam mê thực sự chứ không bị gò bó hay ép buộc bởi bất cứ lí donào
Dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong mỗi giờ học phảiđược thực hiện qua nhiều bước, nhiều khâu khác nhau trong quy trình dạy học,trong đó bao gồm cả việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp của cả giáo viên và họcsinh ở tất cả các môn học Với môn Lịch sử, phát huy vai trò chủ thể của học sinhtrong giờ học phải được xem như là một nguyên tắc cơ bản, phải là một khâu trongquá trình dạy học, trong giáo án của giáo viên qua từng tiết dạy Muốn phát huytính tích cực của học sinh, tạo không khí giờ học, việc giáo viên diễn đạt bài giảngphải lôi cuốn, thông qua những sự kiện, mẩu chuyện, hình ảnh minh họa sẽ giúphọc sinh yêu thích môn lịch sử, đồng thời giáo viên vận dụng các phương pháp dạyhọc linh hoạt, hiệu quả trong từng bài giảng, nhất là phương pháp thảo luận theonhóm nhỏ, thông qua hoạt động nhóm nhỏ, tư duy tích cực của học sinh được pháthuy qua đó rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong nhóm Nhưngmuốn giờ học lịch sử thực sự hấp dẫn lôi cuốn học sinh hợp tác tích cực không chỉ
Trang 2có sự chuẩn bị một phía từ giáo viên mà đòi hỏi chính các em phải có sự chuẩn bịbài trước một cách khoa học qua phương pháp hướng dẫn của giáo viên.
Sách giáo khoa Lịch sử 10 có nhiều thay đổi, được biên soan theo hướng tinh
giản và tích hợp Vì thế muốn học tốt ở trên lớp, tích cực hoạt động trong quá trìnhtiếp nhận, lĩnh hội tác phẩm thì đòi hỏi học sinh phải thực hiện tốt khâu chuẩn bịbài ở nhà và chắc chắn một điều, nếu giờ học Lịch sử nào mà có sự chuẩn bị côngphu ở cả thầy lẫn trò thì giờ học đó sẽ đạt kết quả khả quan hơn Tuy nhiên, mộtthực trạng khá phổ biến hiện nay là nhiều giáo viên dạy Lịch sử chưa thực sự chútrọng đến khâu hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà, hoặc có thực hiện thì cũngmới chỉ ở hình thức tự phát, thiếu tính khoa học Về phía học sinh, các em chưaxây dựng cho mình thói quen chuẩn bị bài kĩ trong nhận thức và hoạt động chuẩn
Trang 32 Nội dung sáng kiến
2.1 Cơ sở lí luận
Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, Nghị quyết TW khóa 7 đã đề ra
nhiệm vụ “Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học” Nghị quyết TW 2 khóa VIII đã chỉ rõ nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục đào tạo là “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói quen, nề nếp tư duy sáng tạo của người học” Đồng thời Đảng ta cũng khẳng định “Lấy nội lực, năng lực tự học làm nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân người học” Trong chương trình giáo dục phổ thông ban
hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng
Bộ giáo dục và Đào tạo đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”.
Có thể coi việc chuyển từ dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy họchướng vào người học, phát huy tính tích cực, tự học, sáng tạo của học sinh là quanđiểm lí luận dạy học có tính định hướng chung cho việc đổi mới phương pháp dạyhọc Nói cách khác cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tậpchủ động, chống thói quen học tập thụ động Vì vậy, việc hướng dẫn học sinh giúpcác em chuẩn bị bài tốt ở nhà trở thành một yêu cầu thiết thực có giá trị to lớntrong tiến trình dạy học trên lớp của giáo viên và học sinh, giúp học sinh chủ động,tích cực trong quá trình học tập Việc chuẩn bị bài ở nhà là một nội dung nằm trongphương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng,thói quen, ý thức tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn cótrong mỗi người, kết quả học tập sẽ ngày được nâng cao
Với môn Lịch sử, phương pháp dạy học tích cực là tập trung vào phát huy tínhtích cực, chủ động sáng tạo khám phá tri thức của học sinh Đó là một trong những
Trang 4vấn đề cơ bản có ý nghĩa phương pháp luận trong đổi mới phương pháp dạy họcLịch sử hiện nay Với yêu cầu đổi mới như đã nêu, học sinh là chủ thể tiếp nhận,tích cực sáng tạo trong các giờ Lịch sử Giáo viên đóng vai trò tổ chức, địnhhướng, điều khiển quá trình tiếp nhận của học sinh Để phát huy năng lực chủđộng, tích cực của học sinh thì giáo viên phải linh hoạt sử dụng nhiều phươngpháp, hình thức, kỹ thuật tổ chức dạy học Vì thế chuẩn bị bài ở nhà là việc làmkhông thể xem nhẹ đối với người học sinh hiện nay Tất nhiên, học sinh chuẩn bịnhư thế nào phụ thuộc rất nhiều vào cách thức hướng dẫn của giáo viên.
2.2 Thực trạng của vấn đề
2.2.1 Đối với giáo viên
Trong thời gian qua việc chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học của các cấp
đã có tác động tích cực đối với nhiều giáo viên ở các nhà trường Đối với bộ mônLịch sử trước sự đổi mới chương trình, SGK, dạy học theo nghiên cứu bài học, dạyhọc theo chuyên đề nhiều thầy cô tích cực vận dụng các phương pháp dạy học tíchcực, kỹ thuật, các phương tiện dạy học nhằm phát huy tính tích cực chủ động củahọc sinh trong giờ học, các tổ chuyên môn, chuyên môn nhà trường tích cực chỉđạo đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học đãthu được một số kết quả đáng mừng Tuy nhiên đa số giáo viên chỉ chú ý tới việcchuẩn bị giáo án của mình cho thật tốt mà chưa chú ý tới việc hướng dẫn học sinhcũng chuẩn bị tốt bài học trước khi tới lớp Việc hướng dẫn, dặn dò học sinh tựhọc, chuẩn bị bài ở nhà của giáo viên còn qua loa, thiếu sự chỉ dẫn cụ thể Điều nàyxuất phát từ nhiều nguyên nhân Trong đó chủ yếu xuất phát từ quan niệm học sinh
về nhà học tốt bài cũ là được Đối với việc chuẩn bị bài mới thì sách giáo khoa đã
có hướng dẫn Giáo viên không cần hướng dẫn thêm Một nguyên nhân nữa cũngphải kể đến đó là thời gian của mỗi tiết dạy Giáo viên thường phân bố thời gianchưa hợp lý cho việc hướng dẫn học sinh tự học ở nhà Nhiều khi trống hết tiết vẫnchưa hết nội dung bài học, sau các tiết dạy giáo viên phải kí sổ, di chuyển tới lớpdạy khác cho nên không còn thời gian hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài Một số
Trang 5giáo viên có giao bài tập, yêu cầu về nhà chuẩn bị bài nhưng chưa có gợi ý, khôngkiểm tra, đánh giá một cách sát sao thường xuyên nên ý thức chuẩn bị bài của một
số học sinh chưa cao
Từ thực trạng nêu trên tôi nhận thấy việc hướng dẫn học sinh chuẩn bị bàimột cách hệ thống, khoa học sáng tạo là vấn đề vô cùng quan trọng, cần thiết Mộtgiờ học Lịch sử thành công hay không, không khí giờ học như thế nào và chấtlượng, hiệu quả giờ học ra sao xét cho cùng phụ thuộc vào niềm say mê nghề, năngkhiếu sư phạm và nghệ thuật tổ chức, hướng dẫn của giáo viên và ý thức tự họccủa học sinh Như vậy, hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài là một khâu then chốttrong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, một trong những yếu tố làm nênchất lượng dạy học môn Lịch sử trong nhà trường Trung học phổ thông hiện nay
2.2.2 Đối với học sinh
Hiện nay trong các nhà trường có không ít tiết học lịch sử không khí học tậpvẫn còn đơn điệu, trầm, nặng nề, học sinh thụ động tiếp thu, ghi chép Nhiều câuhỏi đơn giản giáo viên đặt ra cũng chỉ rất ít học sinh giơ tay phát biểu Mỗi lớpthường chỉ có từ 3 đến 5 em chủ yếu tập trung vào các em là cán sự lớp, cán sựđoàn giơ tay phát biểu khi giáo viên đặt câu hỏi Trong những giờ thao giảng, hộigiảng có giáo viên dự giờ tinh thần học tập của các em cũng không khá hơn đôi khicòn ngược lại Học sinh trầm, thụ động, thiếu hợp tác tích cực trong các giờ học là
do đâu? Qua khảo sát 3 lớp tôi trực tiếp giảng dạy về hoạt động chuẩn bị bài ở nhàkết quả như sau:
Nội dung hỏi
Lớp 10b6 (44HS)
Lớp 10b8 (40 HS)
Lớp 10B7 (43Hs)
Trang 6là 2,32%, lớp 10B8 không có học sinh nào)
Vậy, nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng trên Trước hết, nhiều học sinh vẫnquan niệm học để lấy điểm Các em cho rằng học bài cũ quan trọng hơn chuẩn bịbài mới Kiểm tra bài cũ mà không học thì bị điểm kém, trong khi đó không chuẩn
bị bài mới mà bị kiểm tra thì chỉ bị nhắc nhở, khiển trách thôi Học sinh chưa biếtrằng chuẩn bị bài mới chính là học bài cũ trước một bước Vì thế việc chuẩn bị kỹbài mới vẫn bị học sinh xem nhẹ Một nguyên nhân nữa không thể không nhắc tới
đó là đa số học sinh ở Sốp Cộp đều từ các xã xa phải thuê phòng trọ học, thiếu sựkèm cặp của gia đình, cùng với điều kiện học tập thiếu thốn như thiếu bàn học,thiếu sách giáo khoa, tài liệu tham khảo khiến các em ngại chuẩn bị bài Nhiều
em ham chơi, chưa có ý thức học, chưa có thói quen học bài theo thời gian biểu,học bài chưa khoa học nên việc chuẩn bị bài của các em còn nhiều hạn chế cả về sốlượng lẫn chất lượng
Như vậy có thể thấy công việc tự học chuẩn bị trước bài mới vẫn chưa đượchọc sinh chú trọng Các em chuẩn bị bài gọi là có để chống đối khi giáo viên kiểmtra
2.3 Các biện pháp tiến hành giải quyết vấn đề.
Viết sáng kiến này, tôi thực hiện các bước như sau: Nghiên cứu tài liệu có
Trang 7liên quan tới sáng kiến như đường lối chính sách của Đảng, chỉ đạo của ngành, cácphương pháp dạy học, cơ sở lý luận nhằm tổ chức hoạt động cho học sinh, tài liệuhướng dẫn dạy học Lịch sử 10, tài liệu SGK Lịch sử 10 và các tài liệu khác; Dùngphiếu để điều tra tình hình học bài của sinh học; Dự giờ, trao đổi trực tiếp với đồngnghiệp để điều tra chất lượng và ý thức học tập của em; Điều tra phương pháp dạyhọc đã và đang được giáo viên sử dụng.
Soạn giáo án thực nghiệm có đề xuất các biện pháp tổ chức các hoạt động
tự học cho học sinh; Tiến hành thực nghiệm ở 2 lớp tôi trực tiếp giảng dạy (Lớp thực nghiệm: Bài học được thiết kế có sử dụng các phương pháp tổ chức các hoạt động hướng dẫn học sinh tự học Lớp đối chứng: Bài học thiết kế theo hướng sử dụng phương pháp dạy học thông thường mà giáo viên thường sử dụng) Qua thực
nghiệm, nhìn lại quá trình nghiên cứu đề tài, tôi rút ra một số kinh nghiệm làm cơ
sở để tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng vào dạy học
2.3.1 Một số biện pháp nhằm giúp hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài cho giờ học Lịch sử Việt Nam ở lớp 10 Trung học phổ thông Sốp Cộp.
2.3.1.1 Hướng dẫn học sinh đọc trả lời câu hỏi trong Sách giáo khoa Lịch sử 10.
Sách giáo khoa là sự cụ thể hóa chương trình, là nguồn trí thức thống nhất và
là chỗ dựa cơ bản cho giáo viên khi dạy học Ở nước ta, sách giáo khoa có vai trò
vô cùng quan trọng Điều 25 của Luật Giáo dục đã khẳng định: “Sách giáo khoa để
sử dụng chính thức, thống nhất, ổn định trong giảng dạy, học tập ở nhà trường và các cơ sở giáo dục khác”.
Đã từ lâu, các nhà nghiên cứu lý luận dạy học đã khẳng định vai trò quantrọng của Sách giáo khoa trong quá trình học tập của học sinh Sách giáo khoa lànguồn cung cấp tri thức đúng đắn, khoa học và thống nhất trong nền giáo dục quốcdân Tri thức được đưa vào Sách giáo khoa có tính tinh giản, cô đọng, súc tích,phong phú Nó có thể giúp người học nghiên cứu, tìm tòi, phát huy tính sáng tạo linhhoạt, đa dạng Để giúp học sinh có phương pháp tự học, tự nghiên cứu giáo viên cần
Trang 8có những định hướng cho học sinh trong các hoạt động tiếp xúc với sách giáo khoa,tập cho các em biết gia công tìm tòi, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức.
Cùng với sách giáo khoa, nội dung kênh hình trong sách giáo khoa không chỉdừng lại ở chỗ kích thích hứng thú học tập và làm học sinh dễ hiểu mà còn góp phầntrau dồi khả năng tư duy, kỹ năng, kỹ xảo cho các em thông qua việc sử dụng cáckênh hình
Chuẩn bị bài là một yêu cầu bắt buộc của các môn học đối với học sinh khitiến hành theo tư tưởng đổi mới: học sinh là chủ thể tích cực trong giờ học Nó cótác dụng giúp học sinh có “cơ hội” phát huy vai trò chủ thể của mình trong giờ học.Nhờ chuẩn bị bài mà học sinh chủ động hơn khi tranh luận, trả lời các câu hỏi từ
đó giờ học trên lớp sôi nổi, cuốn hút học sinh hơn
Điều quan trọng nhất trong hướng dẫn học sinh học bài ở nhà trước hết làyêu cầu các em trả lời các câu hỏi ở phần cuối sách giáo khoa, khai thác kênhhình đồng thời giáo viên sử dụng các câu hỏi đặt học sinh vào tình huống có vấn
đề, khuyến khích sự tò mò khám phá của học sinh Muốn hoạt động này của các
em đạt hiệu quả đòi hỏi giáo viên phải có những cách thức, biện pháp phù hợp Ví
như khi dạy bài 17: Quá trình hình thành và phát triển của nhà nước phong kiến(Từ thế kỉ X-XV): Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ nội dung bài, nhất là
phần II: Phát triển và hoàn chỉnh nhà nước phong kiến ở các thế kỉ XI-XV, tậptrung vào tổ chức bộ máy nhà nước thời Lý, Trần, Hồ, đặc biệt là cuộc cải cáchcủa vua Lê Thánh Tông Nội dung luật pháp và quân đội, thấy được sự phát triểncủa nhà nước phong kiến Giáo viên có thể cho học sinh câu hỏi chuẩn bị ở từngmục như sau: Mục II.1: Tổ chức bộ máy nhà nước:
(1) Vì sao năm 1010, vua Lý Thái Tổ cho dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long.
Ý nghĩa của việc làm đó.
(2) Những thay đổi trong cuộc cải cách hành chính thời Lê Thánh Tông Ý nghĩa?
(3) Nếu là người nông dân sống ở dưới thời nhà Lê sơ, em có đồng tình với
Trang 9cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông không? Vì sao?
Mục II.2 Luật pháp và quân đội: với nội dung nhà Lý tuyển dụng quân độitheo chế độ “ngụ binh ư nông” Giáo viên có thể đặt câu hỏi:
(4) “Ngụ binh ư nông” nghĩa là gì? Quân đội ta ngày nay có thực hiện chiến lược này hay không?
Khi dạy bài 25: Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa dưới triều Nguyễn (nửa đầu thế kỉ XIX): Sau khi yêu cầu học sinh tìm hiểu nội dung sách giáo
khoa, quan sát kĩ kênh hình 49-SGK “Lược đồ hành chính Việt Nam thời MinhMạng”, giáo viên có thể cho học sinh câu hỏi chuẩn bị ở nhà:
(1) Quan sát lược đồ, em nhận xét gì về cuộc cải cách hành chính của Vua MinhMạng Cuộc cải cách đó để lại ý nghĩa gì đối với đất nước ta ngày nay?
Giáo viên trả lời những thắc mắc của học sinh nếu các em chưa hiểu câuhỏi Đồng thời có gợi ý cách thức trả lời những câu hỏi này cho học sinh Mộtđiều nữa không kém phần quan trọng là khi hướng dẫn học sinh trả lời các câu hỏitrong Sách giáo khoa giáo viên cần hướng các em cách tìm hiểu nghiêm cứu nộidung bài ở nhà cần đọc toàn bộ phần kênh chữ và quan sát kĩ kênh hình của bài.Sau khi đọc song phải gạch chân vào những sự kiện, hiện tượng mà các em cho lànổi bật, những khái niệm phức tạp để các em tiếp thu, trao đổi trong quá trìnhnghe giảng trên lớp
Nhận thức được tất cả nội dung bài sẽ có ý nghĩa giúp các em nắm đượcnhững kiến thức đơn giản, dễ hiểu Muốn làm được điều này giáo viên phải có đầu
tư suy nghĩ trước một bước Như vậy, việc hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà
sẽ mang lại hiệu quả hơn Hướng dẫn học sinh đọc sách giáo khoa và trả lời câuhỏi, khai thác kênh hình là việc làm vô cùng quan trọng, bởi đây là một bướcchuẩn bị trước làm cơ sở cho việc tiếp thu kiến thức trên lớp Nếu giáo viên làm tốtbước này thì khâu lên lớp sẽ nhẹ nhàng hơn, giờ học sôi nổi hơn và hiệu quả giờhọc sẽ cao hơn
Trang 103.2.1.2 Hướng dẫn học sinh sử dụng biểu đồ, sơ đồ kiến thức, sơ đồ tư duy,
để trả lời câu hỏi.
Nhận thức của học sinh là quá trình đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức
lí tính Con đường nhận thức một vấn đề khoa học nói chung cũng như nhận thứcmột vấn đề lịch sử nói riêng là quá trình đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừtượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Để học sinh có ấn tượng, tiếp thu kiếnthức một cách hiệu quả trong giờ học lịch sử người giáo viên phải gây cho học sinh
sự hứng thú trong học tập Hướng dẫn học sinh sử dụng dạng sơ đồ là một trongnhững cách hướng dẫn dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của họcsinh, nó hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của các
em giúp học sinh có cách tiếp cận mới trong việc lĩnh hội kiến thức từ “kênh chữ”
bằng ghi chép sang “kênh hình” Ví như khi dạy bài 17 “Quá trình hình thành và phát triển của nhà nước phong kiến(Từ thế kỉ X-XV)” Ở mục II.1 Tổ chức bộ
máy nhà nước: Nội dung kiến thức trọng tâm ở mục này là học sinh phải nắmđược mô hình bộ máy nhà nước thời Lê sơ qua cuộc cải cách hành chính của vua
Lê Thánh Tông Để học sinh hình dung được cụ thể, chi tiết về bộ máy nhà nướcquan chủ thời kì này như thế nào mà lại khẳng định là đạt đến mức độ hoàn thiện.Giáo viên yêu cầu học sinh bằng hiểu biết, suy nghĩ của bản thân, tự vẽ sơ đồ:
(1) Vẽ sơ đồ bộ máy nhà nước thời Lê sơ qua cuộc cải cách hành chính của vua Lê Thánh Tông Giáo viên có thể gợi ý học sinh trả lời sơ đồ như sau:
Trang 11Như vậy, bằng việc sử dụng sơ đồ kiến thức trong dạy học lịch sử vận dụnglinh hoạt trong từng mục cụ thể của bài học sẽ giúp học sinh tiếp thu và lĩnh hộikiến thức nhanh và hiệu quả, phát huy tính tích cực chủ động của học sinh.
* Trình bày dưới dạng bảng biểu: Phương pháp sử dụng sơ đồ kiến thức, bảng
biểu nhằm liên kết nhiều mục trong bài giúp học sinh có khả năng khái quát, tổnghợp kiến thức, xâu chuỗi những đơn vị kiến thức theo từng giai đoạn, thời kì lịch
sử đã học Ví như khi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài 19 “ Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỉ X-XV”, hướng dẫn học sinh thống kê các
cuộc kháng chiến và khởi nghĩa chống ngoại xâm theo mẫu:
Tên cuộc
kháng chiến Thời gian Người chỉ huy Trận đánh tiêu biểu
Kháng chiến
chống Tống
Kháng chiến Năm 1075-1077 Lý Thường Kiệt Sông Như Nguyệt
Xã
Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê sơ
Trang 12Các vua Trần, Trần Hưng Đạo
và các vị tướng giỏi
Đông Bộ Đầu, Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Vạn Kiếp, đặc biệt là trận trên sông Bạch Đằng Cuộc khởi
nghĩa Lam Sơn Năm 1418 - 1427
Lê Lợi, Nguyễn Trãi
Chi Lăng, Xương Giang, Tốt Động, Chúc ĐộngVới bảng thống kê trên, học sinh đã tự khái quát, tổng hợp được ngắn gọn
mà đầy đủ những nội dung các mục quan trọng của bài 19, phát triển tư duy độclập, tính tự giác của học sinh trong học tập Qua bảng thống kê giúp các em khắcsâu được những kiến thức trong tâm
* Sử dụng sơ đồ, bảng biểu để khái quát, tổng hợp kiến thức của một bài, một Chương: Ví dụ khi học bài 23 “Phong trào nông dân Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước, bảo vệ tổ quốc cuối thế kỉ XVIII”.
Nội dung quan trọng của bài này là học sinh phải đánh giá được công lao vàvai trò to lớn của Quang Trung – Nguyễn Huệ người đã có công lao to lớn trong sựnghiệp thống nhất đất nước và bảo vệ tổ quốc cuối thế kỉ XVIII Giáo viên có thểđưa câu hỏi yêu cầu học sinh nghiên cứu và tự tổng kết bài học ở nhà, có thểhướng dẫn gợi ý bằng sơ đồ kiến thức sau:
Công lao của phong trào Tây Sơn
- Lật đổ chính quyền họ
Nguyễn và đánh tan quân
xâm lược Xiêm.
+ Giữa năm 1788, Nguyễn Huệ cho quân đánh chiếm Thăng Long
Chính quyền chúa Trịnh sụp đổ.
+ Việc lật đổ chính quyền phong kiến ở 2 Đàng =>
tạo điều kiện cơ bản cho
sự thống nhất đất nước
Đánh tan quân xâm lược nhà Thanh, với các chiến thắng: Ngọc Hồi, Đống Đa, quân Tây Sơn đã đánh bại 29 vạn quân Thanh, giải phóng hoàn toàn đất nước.
Trang 13Với sơ đồ kiến thức trên có ý nghĩa giáo dưỡng quan trọng, học sinh đã nắmđược kiến thức khái quát, trọng tâm của bài học là vai trò của Quang Trung –Nguyễn Huệ đối với lịch sử nước ta cuối thế kỉ XVIII Giáo dục cho học sinh lòngyêu nước, tự hào về truyền thống yêu nước đấu tranh bất khuất chống giặc ngoạixâm của dân tộc, khâm phục và ngưỡng mộ vua Quang Trung, một thiên tài quân
sự – nhà cải cách táo bạo sáng suốt với tư tưởng tiến bộ vượt tầm thời đại Pháttriển cho học sinh kĩ năng lập sơ đồ kiến thức, phát triển óc quan sát cũng như tưduy độc lập để đưa ra nhận xét và đánh giá một vấn đề lịch sử
* Sử dụng sơ đồ, bảng biểu kiến thức để đối chiếu, so sánh các nội dung lịch sử rồi rút ra nhận xét.
Trong dạy học lịch sử, việc sử dụng sơ đồ kiến thức, bảng biểu đối chiếu, sosánh các sự kiện hiện tượng lịch sử để học sinh hiểu rõ bản chất của vấn đề là việclàm cần thiết đối với giáo viên So sánh các nội dung của lịch sử không chỉ giúpngười học hiểu sâu hơn kiến thức mà còn giúp học sinh có cái nhìn nhận khái quát,khách quan, tổng thể về một vấn đề lịch sử để các em phân biệt rõ nội dung, vấn đềlịch sử này với nội dung vấn đề lịch sử khác
Khi học bài 19 “Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thế kỉ X-XV”.
Để so sánh những đặc điểm nổi bật về hai cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý vàcuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông thời Trần, giáo viên hướng dẫn học sinh
về nhà cách lập một bảng biểu tổng hợp kiến thức sau:
Nội dung so
sánh
Cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý
Cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông thời Trần
Hoàn cảnh
lịch sử
- Phía địch: Nhà Tống suy yếu, khó khăn Tiến hành xâm lược Đại Việt nhằm khắc phục khó khăn trong nước, tăng cường thế của Tống với hai nước Liêu, Hạ.
- Phía ta: Nhà Lý đang vươn lên trong phát triển đất nước.
- Phía địch: Đế quốc Mông – Nguyên lớn mạnh, với tư tưởng bành trướng làm chủ phương Nam
- Phía ta: Nhà Trần chính quyền mạnh, đất nước ổn định Kinh tế phát triển.
Lần 1: 1258
Trang 14Lần 2: 1285 Lần 3: 1287-1288
Lãnh đạo Lý Thường Kiệt Các vua Trần,Trần Hưng Đạo và các tướng lĩnh khác
Chiến thắng
lớn Châu Khâm, Châu Liêm, bờ Bắc Sông Như Nguyệt. Đông Bộ Đầu, Chương Dương, Hàm Tử, Vân Đồn, Bạch Đằng
Với bảng biểu trên, qua sự gợi ý chuẩn bị trước ở nhà trong tiết học trên lớphọc sinh sẽ hăng hái, tích cực tổng hợp những đơn vị kiến thức đã chuẩn bị để sosánh về hai cuộc kháng chiến lớn của dân tộc ta Qua việc tạo lập sơ đồ kiến thức:Học sinh thấy được cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta ở thế kỉ XI,XIII diễn ra trong điều kiện thuận lợi đó là sự vững mạnh của các triều đại phongkiến Việt Nam thời Lý -Trần Tuy nhiên, cuộc kháng chiến của nhân dân ta cũngphải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trước những kẻ thù hung bạo, đặc biệt
là cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên thời Trần Nhưng dưới sự lãnh đạo củacác vị tướng tài lão luyện trận mạc cùng với tinh thần đoàn kết yêu nước chốnggiặc ngoại xâm của dân tộc ta, các cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn.Giáo dục cho học sinh lòng yêu nước và ý thức tự hào dân tộc, phát triển cho họcsinh các kĩ năng quan sát, đối chiếu, so sánh, phân tích tổng hợp kiến thức để rút ranhận xét
* Trình bày dưới dạng sơ đồ tư duy: Sơ đồ tư duy được giáo viên, học sinh
sử dụng khá phổ biên trong dạy học cũng nhu học tập Ưu điểm của sử dụng sơ đồ
tư duy trong lĩnh hội trình bày khiến thức rất khoa học, dễ sử dụng Với môn Lịch
sử sử dụng sơ đồ tư duy có hiệu quả giúp học sinh lĩnh hội và ghi nhớ kiến thứcmột cách hệ thống, đồng thời đem đến cho các em cái nhìn mới, cách tư duy mới,
sự hưng phấn, lôi cuốn đối với môn học và có thể sử dụng rộng rãi ở tất cả cáckhâu trong quá trình dạy học nhất là rất cần thiết trong việc hướng dẫn học sinh
Trang 15Khi dạy bài 24: Tình hình văn hóa ở các thế kỉ XVI-XVIII Giáo viên cũng
có thể yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy câu hỏi 3 SGK/124: Thống kê những thành tựu khoa học- kỹ thuật các thế kỉ VXI-XVIII Nhận xét về ưu điểm và hạn chế của
nó Giáo viên gợi ý sơ đồ tư duy:
Trang 16Sử dụng sơ đồ tư duy đem lại hiệu quả trong hầu hết các khâu của quá trìnhlên lớp, từ việc kiểm tra bài cũ, dạy bài mới, củng cố kiến thức bài học, ôn tập,khái quát, hệ thống kiến thức các chương, phần để phát huy tối đa tích tích cự củahọc sinh giáo viên không chỉ yêu cầu các em thực hiện trong khâu trả lời mà phảigắn với hoạt động tự giới thiệu, tự trình bày của học sinh trong mỗi tiết học Cónhư vậy tiết học mới thật sự trở nên sôi động, tạo được hiệu quả và sự hứng thútrong học tập của các em.
2.3.1.3 Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài qua tổ chức phân công từng vấn đề
Bước 1: Giáo viên chuẩn bị trước các vấn đề
Bước 2: Chia nhóm
Bước 3: Phân công vấn đề cụ thể cho từng nhóm
Trang 17Lưu ý: Thời gian giáo viên dành khoảng 2-3 phút cuối mỗi giờ học để làm việc
này Ví dụ khi dạy bài Sơ kết lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX
- Bài 27 “Quá trình dựng và giữ nước”
Ở phần I Các thời kì xây dựng và phát triển đất nước: Ngoài việc học sinh
chuẩn bài theo phần hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa, giáo viên có thểhướng dẫn học sinh tạo lập một bảng biểu tổng hợp kiến thức sau để giao cho họcsinh và yêu cầu mỗi nhóm phải chuẩn bị kĩ phần việc của nhóm mình
Nội dung
Thời kì Chính trị Kinh tế Văn hóa - Giáo dục Xã hội
Giáo viên chia lớp làm 4 nhóm theo tổ, mỗi nhóm đều phải có nhóm trưởngnhóm phó để đôn đốc các thành viên và chịu trách nhiệm chung cho cả nhóm của
mình (Lưu ý việc phân nhóm trưởng, phó phải được luân phiên trong suốt năm học) Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác giáo dục ý thức trách
nhiệm cho học sinh; khắc phục tính chây lười, ỷ lại; phát huy được tính chủ độngtích cực trong học tập của các em
- Nông nghiệp trồng lúa nước.
- TCN dệt, gốm, làm đồ trang sức.
- Đời sống vật chất đạm bạc, giản dị, thích ứng với tự nhiên.
- Tín ngưỡng: Đa thần.
- Đời sống tinh thần phong phú,
đa dạng, chất phát, nguyên sơ.
- Quan hệ vua tôi gần gũi, hòa dịu
Trang 18quân chủ còn sơ khai.
thế kỷ XV hoàn chỉnh bộ máy Nhà nước từ trung ương đến địa phương
- Chiến tranh phong kiến đất nước chia cắt làm
2 miền: Đàng Trong, Đàng Ngoài với 2 chính quyền riêng.
Nền quân chủ không còn vững chắc như trước.
- Nhà nước quan tâm đến SX nông nghiệp.
- TCN - TN phát triển
- Đời sống kinh tế của nhân dân được ổn định
- Thế kỷ XVII kinh tế phục hồi.
+ NN: ổn định và phát triển nhất là
ở Đàng Trong.
+ Kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, giao lưu với nước ngoài
mở rộng tạo điều kiện cho các đô thị hình thành, hưng khởi.
- Nho giáo, Phật giáo thịnh hành
Nho giáo ngày càng được đề cao.
- Giáo dục từ năm 1070 được tôn vinh, ngày càng phát triển
- Nho giáo suy thoái, Phật giáo được phục hồi Đạo Thiên chúa được truyền bá.
- Văn hóa tín ngưỡng dân gian nở rộ.
- Giáo dục tiếp tục phát triển song chất lượng suy giảm.
- Quan hệ
xã hội chưa phát triển thành mâu thuẫn đối kháng.
- Giữa thế
kỷ XVIII chế độ phong kiến
ở hai Đàng ngoài khủng hoảng phong trào nông dân bùng nổ, tiêu biểu là phong trào nông dân Tây Sơn.
-Việt Nam
nửa đầu thế
kỷ XIX
- Năm 1802 nhà Nguyễn thành lập duy trì bộ máy nhà nước quân chủ phong kiến Song nền quân chủ phong kiến đã bước vào khủng hoảng suy vong.
- Chính sách đóng cửa của nhà Nguyễn đã hạn chế sự phát triển của nền kinh tế
Kinh tế Việt Nam trở nên lạc hậu, kém phát triển.
- Nho giáo được độc tôn.
- Văn hóa giáo dục có những đóng góp đáng kể.
- Mâu thuẫn
xã hội gay gắt, phong trào đấu tranh của nhân dân liên tục bùng nổ.
Với sự gợi ý và chuẩn bị trước ở nhà, bảng kê tổng hợp kiến thức dưới dạngbài tập nói trên sẽ phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ học, các
Trang 19em hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài, rèn luyện cho học sinh kĩ năng thựchành, thay đổi cách học mới lấy học sinh làm trung tâm.
Có thể khẳng định rằng, nếu công việc này được giáo viên làm một cách đềuđặn và tâm huyết thì khả năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh sẽ được nângcao Đây cũng là một trong những hình thức tốt để nâng cao chất lượng dạy họcLịch sử ở trường phổ thông Bởi bất cứ một công việc gì khi đã có sự hợp tácchuẩn bị kĩ lưỡng từ hai phía thì chắc chắn hiệu quả sẽ tốt hơn Ưu điểm của cáchlàm này là tiết kiệm được thời gian khi lên lớp, phát huy được cách học hợp tác,vấn đề trọng tâm của bài học sẽ được mổ xẻ một cách sâu sắc hơn Quan trọng khithực hiện điều này, giáo viên phải nắm sát đối tượng để khuyến khích, động viênhọc sinh một cách kịp thời, chân thành kể cả học sinh làm tốt và học sinh làm chưatốt
2.3.1.4 Hướng dẫn học sinh khai thác nguồn tài liệu học tập phục vụ cho việc chuẩn bị bài ở nhà.
Ngoài sách giáo khoa, tài liệu học tập cho môn Lịch sử vô cùng phong phú.Đây là phương tiện rất cần thiết đối với người học Như các loại sách tham khảo,các tài liệu về lịch sử trên các báo, tạp chí lịch sử, đặc biệt trên internet…
Để giúp học sinh tìm và sử dụng tài liệu vào việc chuẩn bị bài cho giờ đọcLịch sử, giáo viên cần giới thiệu cụ thể tên sách tham khảo, các bài viết, tài liệu cóliên quan trực tiếp đến bài học; hướng dẫn học sinh tìm sách, tài liệu tham khảo ởthư viện trường, nhà sách trên địa bàn, ở thầy cô giáo…Giáo viên cũng có thể cungcấp cho học sinh một số địa chỉ trên mạng internet để tự tìm tài liệu, sử dụng trong
học tập Như địa chỉ: hocmai.vn, baogiaoduc.edu.vn, thuvien.net, dethi.violet.vn, baigiang.violet.vn một số trang thông tin điện từ của một số trường THPT, Đại
Trang 20Hán nổi tiếng ở thế kỉ X-XV, những công trình kiến trúc ảnh hưởng Phật giáo vàNho giáo như: Tháp Báo Thiên (Hà Nội), Tượng Quỳnh Lâm (Đông Triều- Quảng
Ninh), Vạc Phổ Minh (Nam Định) (Thơ văn thì sưu tầm ghi ra vở, học thuộc để đọc trước lớp, hình ảnh dán vào ½ tờ A0 để giới thiệu với lớp) Qua những kênh
thông tin này học sinh có thể tìm được những tài liệu liên quan để minh họa chobài học
Tóm lại, để giúp học sinh học tốt môn Lịch sử trong nhà trường THPT, giáoviên phải hướng dẫn và quan trọng hơn là xây dựng ở các em ý thức, thói quen đitìm tài liệu liên quan đến bài học Điều này rất quan trọng đối với việc bổ trợ thêmkiến thức, bồi dưỡng niềm say mê học tập, rèn luyện tác phong làm việc nghiêmtúc khoa học cho học sinh khi đứng trước một vấn đề cần giải quyết
2.3.1.5 Kiểm tra, nhận xét, đánh giá học sinh chuẩn bị bài ở nhà.
Kiểm tra, đánh giá học sinh chuẩn bị bài là khâu cuối cùng của các biệnpháp giúp học sinh chuẩn bị tốt bài ở nhà Nếu giáo viên thường xuyên kiểm tra,đánh giá việc chuẩn bị bài ở nhà thì học sinh sẽ tích cực, nghiêm túc hơn và trởthành thói quen trong học tập Hình thức kiểm tra, đánh giá cũng phải đa dạng,kích thích tính tích cực, chủ động của học sinh Giáo viên có thể kết hợp kiểm traviệc chuẩn bị bài ở nhà với kiểm tra miệng đầu giờ Mỗi tiết học giáo viên kiểm tra
từ 3 đến 5 em rồi chấm lấy điểm 15’ Giáo viên cũng có thể chấm điểm những họcsinh tích tực, hăng hái trả lời câu hỏi trong tiết học… Việc kiểm tra, đánh giá phảivừa gắn với biểu dương kích thích vừa gắn với nghiêm khắc kiểm điểm, phê bìnhhọc sinh chưa có ý thức, chậm tiến Để đạt được hiệu quả tốt, giáo viên phải tiếnhành thường xuyên, kiên trì
2.3.2 Gợi ý phần hướng dẫn học sinh chuẩn bị một số tiết lịch sử 10 (phần
LSVN từ thế kỉ X đến nửa đầu XIX ) ở trường THPT
Dưới đây tôi xin đưa ra cách hướng dẫn học sinh chuẩn bị một số tiết lịch sử
10 (phần LSVN từ thế kỉ X đến nửa đầu XIX ) chương trình chuẩn.
Trang 21(1) Bài 17: “Quá trình hình thành và phát triển của nhà nước phong kiến từ thế
kỉ (X – XV”).
*Câu hỏi hướng dẫn:
Phần II – Mục 1 Tổ chức bộ máy nhà nước: Nội dung trọng tâm kiến thức
phần này là học sinh nắm được những nét chính về tổ chức bộ máy chính quyềnnhà nước phong kiến Việt Nam thời Lý-Trần và thời Lê sơ Nhấn mạnh bộ máychính quyền nhà nước thời Lê sơ đạt đến mức độ hoàn chỉnh Khi hướng dẫn họcsinh chuẩn bị bài ở nhà giáo viên cần lưu ý học sinh khi chuẩn bị bài cần phải nắmđược tổ chức bộ máy nhà nước thời Lý-Trần và Lê sơ, thấy được điểm giống nhau
về hình thức, nhưng khác nhau về bản chất Tùy theo đối tượng học sinh giáo viên
có thể đưa ra thêm yêu cầu sau:
1) Câu hỏi 2-SGK/90: Vẽ sơ đồ nhà nước thời Lý-Trần và thời Lê Thánh Tông Qua đó đánh giá cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông.
2) Nếu là người nông dân sống ở dưới thời nhà Lê sơ, em có đồng tình với cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông không? Vì sao?
3) “Ngụ binh ư nông” nghĩa là gì? Quân đội ta ngày nay có thực hiện chiến lược này hay không?
4) Lập bảng thống kê thời gian thống trị của các triều đại phong kiến Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV.
* Hướng dẫn chuẩn học sinh chuẩn bị bài:
1)Với câu hỏi 2/SGK/90: Vẽ sơ đồ nhà nước thời Lý-Trần và thời Lê Thánh Tông Qua đó đánh giá cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông Giáo viên
có thể hướng dẫn học sinh vẽ theo sơ đồ:
- Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước thời Lí –Trần
Trang 22- Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê sơ (như phần Lí luận Tr.11)
Từ sơ đồ kiến thức trên, học sinh có thể rút ra nhận xét như sau:
Bộ máy nhà nước thời Lý – Trần được tổ chức ngày càng chặt chẽ, quyềnhành nhà vua ngày càng cao
Thời Lê sơ đứng đầu nhà nước là vua, giúp việc cho vua có 6 bộ Vua bãimiễn các chức quan trung gian như Thừa tướng, Thái úy Chứng tỏ vua nắm mọiquyền hành, chuyên chế ở mức độ cao hơn thời Lý – Trần
- Trung ương
- Địa phương
Lộ Phủ Huyện Châu
Vua
Sảnh tướng
tướng
Môn hạ sảnh
Thượng thư sảnh
Hàn lâm viện
Quốc sử viện
Ngự sử đài
Trang 23Đặc điểm khác biệt giữa bộ máy nhà nước thời Lê sơ so với thời Lý – Trần
là bộ máy nhà nước thời Lê sơ được tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến địaphương Chính quyền trung ương tập quyền tăng tính chuyên chế, vua có quyềnlực tuyệt đối, Ngự sử đài, Hàn lâm viện được duy trì với quyền hành cao hơn Từviệc đối chiếu so sánh này học sinh thấy rõ hơn về bộ máy chính quyền nhà nướcthời Lê sơ là bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế đạt đến mức độ hoàn chỉnh,đây là điểm khác biệt so với bộ máy nhà nước thời Lý – Trần
2) Câu hỏi liên hệ: Nếu là người nông dân sống ở dưới thời nhà Lê sơ, em
có đồng tình với cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông không? Vì sao? Giáo viên
gợi ý học sinh thấy những điểm tích cực và hạn chế về tổ chức bộ máy nhà nướcthời Lê sơ Sau đó bằng suy nghĩ của bản thân các em rút ra quan điểm của bảnthân về vấn đề đó
3) “Ngụ binh ư nông” nghĩa là gì? Quân đội ta ngày nay có thực hiện chiến lược này hay không Đây cũng là câu hỏi vận dụng, giáo viên giải thích nghĩa của cụm từ: “Ngụ binh ư nông”- theo nghĩa tiếng Việt là “gửi binh ở nông”: gửi quân
vào nông nghiệp, cho binh lính lao động, sản xuất tại địa phương trong một khoảngthời gian xác định Gợi ý cho học sinh liên hệ đến chế độ Quân nhân dự bị, việccho học bộ môn Quốc phòng ở trường THPT, Cao đẳng, Đại học của Đảng vàNhà nước ta hiện nay Từ đó học sinh sẽ thấy được sự tiếp nối truyền thống củaông cha, đó là một điều nên làm
4) Lập bảng thống kê thời gian thống trị của các triều đại phong kiến Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV Giáo viên gợi ý học sinh thống kê:
Trang 24(2) Bài 18 “Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế trong các thế kỉ X – XV”
*Câu hỏi hướng dẫn:
Trong thế kỉ X-XV với niềm tự hào chân chính và ý thức vươn lên, nhân dânViệt Nam cần cù lao động, xây dựng và phát triển một nền kinh tế tự chủ toàn diệntrên các lĩnh vực nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp Khi hướng dẫn họcsinh học bài, yêu cầu học sinh nắm được những thành tựu đạt được trên các lĩnhvực kinh tế, những nguyên nhân thúc đẩy kinh tế phát triển, đặc biệt là biết kháiquát được công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế thông qua sơ đồ Tùy theo đốitượng học sinh giáo viên có thể đưa câu hỏi:
1) Những nguyên nhân nào tạo nên sự phát triển nông nghiệp ở các thế kỉ XV?
X-2) Nêu những biểu hiện nói lên sự phát triển thủ công nghiệp và thương nghiệp thời Lý, Trần, Lê Rút ra nguyên nhân của sự phát triển?
3) Sự phát triển của các làng thủ công có ý nghĩa gì đối với xã hội? Liên hệ với ngày nay
* Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài:
1) Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bối cảnh lịch sử thế kỉ X-XV: Thời
kì tồn tại các triều đại nào?(Lý-Trần, Lê sơ) Đất nước có những thuận lợi gì cho phát triên kinh tế?(đất nước thống nhất, nhân dân cần cù lao động) Các triều đại
có những chính sách gì trong phát triển nông nghiệp?(Khuyến khích khai hoang,
mở rộng diện tích, quan tâm đề điều, bảo vệ sức kéo, phát triển giống cây trồng…)
2) Những biểu hiện nói lên sự phát triển thủ công nghiệp và thương nghiệp thời Lý, Trần,Lê: Giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác:
- Biểu hiện phát triển thủ công nghiệp: Thủ công nghiệp trong nhân dân và
thủ công nghiệp nhà nước? (Các nghề thủ công cổ truyền như: Đúc đồng, rèn sắt, làm gốm, dệt ngày càng phát triển chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao Các làng nghề thủ công ra đời như; Thổ Hà (Bắc Giang), Bát Tràng (Hà Nội), Chu Đậu (Hải Dương.).( Thủ công nghiệp nhà nước: Nhà nước được thành lập
Trang 25các quan xưởng (Cục bách tác) tập trung thợ giỏi trong nước sản xuất: Tiền, vũ khí, áo mũ cho vua quan, thuyền chiến sản xuất được một số sản phẩm kỹ thuật cao như: Đại bác, thuyền chiến có lầu )
- Nguyên nhân thủ công nghiệp phát triển: Giáo viên gợi ý: Bối cảnh đất
nước? Nhu cầu tiê dùng trong nước?(Truyền thống nghề nghiệp vốn có, trong bối cảnh đất nước có điều kiện phát triển mạnh Nhu cầu xây dựng cung điện, đền chùa nên nghề sản xuất gạch, chạm khắc đá đều phát triển.)
- Biểu hiện phát triển thương nghiệp: Giáo viên gợi ý: Nội thương, ngoại
thương?(Các chợ làng, chợ huyện, chợ chùa mọc lên ở khắp nơi, là nơi nhân dân trao đổi sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp Kinh đô Thăng Long trở thành
đô thị lớn (36 phố phường) - Trung tâm buôn bán và làm nghề thủ công Ngoại thương Thời Lý - Trần khá phát triển, nhà nước cho xây dựng nhiều bến cảng để buôn bán với nước ngoài Vùng biên giới Việt Trung cũng hình thành các đặc điểm buôn bán.)
- Nguyên nhân phát triển ngoại thương Giáo viên gợi ý: Các ngành kinh tế
trong nước? Chính sách của Nhà nước?(Nông nghiệp thủ công phát triển thúc đẩy thương nghiệp phát triển Do thống nhất tiền tệ, đo lường, chính sách mở cửa của nhà Lý, Trần)
3) Ý nghĩa sự phát triển các làng thủ công nghiệp đối với xã hội Giáo viên
gợi ý học sinh rút ra ý nghĩa: Thủ công nghiệp phát triển dẫn đến đời sống vật của
nhân dân?, Kinh tế đất nước?( Đời sống nhân dân được cải thiện, Cùng với sự phát triển thủ công luôn là những sản phẩm có giá trị cả về vật chất và tinh thần; Tạo cơ hội để phát triển kinh tế nói chung, đem lại lợi nhuận cao)
* Liên hệ: Giáo viên gợi ý học sinh: Ngày nay các làng nghề còn duy trì
không? Sản phẩm các làng nghề đáp ứng nhu cầu ở đâu? (Ngày nay, các làng nghề vẫn duy trì và phát triển, không chỉ tạo ra sản phẩm cung cấp nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu, đem lại nguồn lợi cho đất nước.)
Trang 26(3) Bài 19 “Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỉ X-XV”
* Câu hỏi hướng dẫn:
Trong những thế kỉ xây dựng đất nước, nhân dân ta vẫn phải liên tục tiến hànhcác cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Với lòng yêu nước và tinh thần chiến đấukiên cường, anh dũng Nhân dân Đại Việt đã làm nên biết bao chiến thắng huyhoàng, giữ vững nền độc lập dân tộc Để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ về các cuộckháng chiến thời kì này, khi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài, giáo viên có thể đưacác dạng câu hỏi như SGK và một số câu hỏi nâng cao theo đối tượng học sinh:
1) Thống kê các cuộc kháng chiến và khởi nghĩa chống ngoại xâm từ thế kỉ
X đến thế kỉ XV.
2) Phân tích nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Mông –Nguyên ở thế kỉ XIII Theo em cách đánh giặc của nhà Trần và nhà Hồ có
gì khác nhau.
3) Phân tích nguyên nhân thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn.
* Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài:
1) Thống kê các cuộc kháng chiến và khởi nghĩa chống ngoại xâm từ thế kỉ
X đến thế kỉ XV Giáo viên hướng dẫn học sinh thống kê theo mẫu (Như phần lí luận-Tr 11,12).
Tên cuộc kháng
chiến Thời gian Người chỉ huy Trận đánh tiêubiểu
2) Phân tích nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Mông –Nguyên ở thế kỉ XIII Theo em cách đánh giặc của nhà Trần và nhà Hồ có
gì khác nhau
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu nguyên nhân đưa đến thắng lợi
của cuộc kháng chiến chống quân Mông –Nguyên ở thế kỉ XIII: Trong ba lần
kháng chiến, nhân dân có ủng hộ, tham gia? (Tất cả các tầng lớp nhân dân, các thành phần dân tộc đều tham gia đánh giặc, bảo vệ quê hương đất nước) Triều Trần có thuận lợi gì về lực lượng lãnh đạo, lực lượng tham gia?( Có vua hiền,
Trang 27tướng giỏi, các tầng lớp nhân dân vâng mệnh triều đình đoàn kết, kiên cường chống giặc…) Trong quá trình kháng chiến triều Trần có quan tâm chăm sóc sức dân?; Những biện pháp của nhà Trần có hợp lòng dân? (Triều Trần rất quan tâm chăm sóc sức dân, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân bằng nhiều biện pháp để tạo nên sự gắn bó đoàn kết giữa triều đình với nhân dân ) Với
những câu hỏi gợi ý, học sinh sẽ dễ dàng tìm ra được nhưng nguyên nhân đưa đếnthắng lợi của nhà Trần
- Cách đánh giặc của nhà Trần và nhà Hồ có gì khác nhau? Giáo viên gợi
ý học sinh: kinh nghiệm, chiến thuật đánh giặc của nhà Trần? (Nhà Trần biết dựa vào kinh nghiệm của cha ông – bố trí trận địa bãi cọc ở cửa sông Bạch Đằng nhử giặc; chiến lược chiến thuật hợp lí, biết dựa vào dân, được nhân dân ủng hộ) Còn nhà Hồ những điều kiện trên? (Nhà Hồ không có được những điều kiện trên nên nhanh chóng thất bại” Qua các câu gợi ý, học sinh sẽ thấy được sự khác
nhau về cách đánh giặc của nhà Trần và nhà Hồ Từ đó học sinh thấy được giá trịcủa tinh thần đoàn kết, vai trò của nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc (Giáo viên cũng gợi ý cho học sinh liên hệ đến cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp và đế quốc Mĩ sau này)
3) Phân tích nguyên nhân thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn Giáo viên gợi ý cho học sinh tìm ra nguyên nhân thắng lợi: Tài cầm quân của Lê Lợi? ( có những kế sách đúng đắn, kết hợp sức mạnh quân sự và ngoại giao để chiến thắng
kẻ thù) Ý nghĩa hai câu thơ: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo”? (Tư tưởng nhân nghĩa xuyên suốt trong cuộc khởi nghĩa, hợp với lòng dân, nhân dân đoàn kết kháng chiến)
(4) Bài 20 “Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc trong các thế kỉ X-XV”
* Câu hỏi hướng dẫn:
Trải qua các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần Hồ, Lê sơ ở các thế kỉ X-XV,công cuộc xây dựng văn hóa được tiến hành đều đặn, nhất quán Đây là giai đoạnhình thành của nền văn hóa Đại Việt (còn gọi là văn hóa Thăng Long); phản ánh
Trang 28đậm đà tư tưởng yêu nước, tự hào và độc lập dân tộc Để giúp học sinh nắm đượckhái quát nội dung văn hóa thời kì này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh học bàitrả lời các câu hỏi 1,2,3 trong SGK/105 và một số câu hỏi phát triển khả năng tổnghợp, thống kê.
* Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài:
Câu 1: Trình bày tóm lược sự phát triển của giáo dục qua các thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần Hồ, Lê sơ Giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng sơ đồ tư duy (Trình bày phần lí luận-Tr.16)
Câu 2: Vì sao phật giáo rất phát triển dưới thời Lý, Trần nhưng đến thời Lê lại không phát triển? Giáo viên gợi ý học sinh trả lời:
* Phật giáo rất phát triển dưới thời Lý: Phật giáo được truyền bá vào nước ta
khi nào? (Đạo Phật được truyền bá vào nước ta từ rất sớm); Tư tưởng quan điểm của Phật giáo? Thời Lý, Trần quan tâm Phật giáo? (Những tư tưởng của Phật giáo phù hợp với truyền thống của người Việt nên được tiếp thu và phổ biến rộng rãi, dần dần có ảnh hưởng kín trong xã hội Các nhà sư có vị thế cao và có nhiều đóng góp cho đất nước Thời Lý, Trần các nhà sư được triều đình tôn trọng, được tham gia vào bàn bạc các công việc của đất nước Vua quan và nhiều người theo đạo Phật, chùa chiền được xây dựng ở khắp nơi).
- Thời Lê Phật giáo lại không phát triển: Bộ máy nhà nước quân chủ hoàn
chỉnh? Vai trò của Nho giáo?(Cùng với việc hoàn thiện bộ máy nhà nước phong kiến theo hướng quân chủ chuyên chế thì những tư tưởng của Nho giáo đã trở thành công cụ để duy trì và bảo vệ trật tự của xã hội phong kiến Vì vậy, Nho giáo được nâng lên chiếm vị trí độc tôn trong xã hội Nhà nước phong kiến đã ban hành nhiều điều lệ nhằm hạn chế sự phát triển của Phật giáo, đưa Phật giáo xuống hàng thứ yếu)
Câu 3: Thống kê các thành tựu văn học, nghệ thuật ở các thế kỉ XI-XV Giáo
viên gợi ý cho học sinh thống kê dưới dạng sơ đồ:
Trang 29(5) Bài 21 “Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVIII”
XVI-* Câu hỏi hướng dẫn:
Bài 21 với nội dung cơ bản là cuộc khủng hoảng chính trị đầu thế kỉ XVI đãlàm sụp đổ triều Lê sơ Nhà Mạc ra đời chưa được bao lâu thì xảy ra cuộc chiếntranh Nam-Bắc triều và tiếp là chiến tranh Trịnh – Nguyễn Hai chính quyền ởĐàng Ngoài và Đàng Trong được hình thành và tồn tại đến cuối thế kỉ XVIII Khihướng dẫn học sinh học bài, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu kĩ hai câu hỏitrong SGK(câu 1,2/110)
VH chữ Hán (X-XIV)
Nam quốc sơn hà
Chùa
Tháp Thành quách
Sân khấu
Chèo Tuồng
Múa rối nước
Trang 30* Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài:
Câu1 SGK/110: Nguyên nhân sụp đổ của triều Lê sơ: Giáo viên hướng dẫn
học sinh nghiên cứu SGK và rút ra những biểu hiện suy yếu của triều Lê (Vua ăn chơi, nội bộ triều đình mâu thuẫn; nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân và các thế lực chống lại triều đình nổi lên khắp nơi ) Nhà Mạc thành lập? (Lợi dụng triều Lê suy yếu, năm 1527, Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê, lập nhà Mạc và thi hành một số chính sách ổn định đất nước Nhà Mạc lúng túng trong chính sách đối ngoại, cắt đất thần phục nhà Minh làm cho nhà Mạc bị cô lập).
Câu 2 SGK/110: Đánh giá vai trò vương triều Mạc: Giáo viên gợi ý giúp họcsinh đánh giá: trong bối cảnh Triều Lê suy yếu, Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê,
lập nhà Mạc, đánh giá gì về sự kiện này? (sự thay thế tất yếu, hợp quy luật) Những chính sách của nhà Mạc và kết quả bước đầu? (xây dựng chính quyền theo mô hình
cũ của nhà Lê; tổ chức thi cử đều đặn; xây dựng quân đội mạnh; giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân=> bước đầu góp phần ổn định lại đất nước)
(6) Bài 22 “Tình hình kinh tế ở các thế kỉ XVI-XVIII”
* Câu hỏi hướng dẫn:
Nội dung bài 22 trong SGK đã cung cấp khá chi tiết về các ngành kinh tếtrong các thế kỉ XVI-XVIII Khi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ngoài những câuhỏi yêu cầu nhận biết những biểu hiện sự phát triển của nông nghiệp, thủ côngnghiệp, thương nghiệp thì cần yêu cầu học sinh khái quát được tình hình kinh tế vàliên hệ Vì vậy giáo viên có thể hướng dẫn học sinh bằng câu hỏi:
1) Em có nhận xét gì về sự phát triển của thủ công nghiệp ở các thế kỉ XVIII? Sự phát triển của các làng nghề thủ công có ý nghĩa tích cực như thế nào? Liên hệ với hiện nay.
XVI-2 ) Vào các thế kỉ XV-XVI trên thế giới có sự kiện gì đáng ghi nhớ, góp phần quan trọng trong giao lưu quốc tế?
Trang 313) Nguyên nhân nào thúc đẩy ngoại thương, nội thương ở các thế kỉ XVIII phát triển? Sự phát triển của ngoại thương có tác dụng gì đối với sự phát triển kinh tế của nước ta
4) Hãy nêu những câu ca dao về nghề thủ công mà em biết?
* Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài:
1) GV có thể gợi ý học sinh tìm hiểu:
- Thế kỉ XVI-XVIII nghề thủ công phát triển ? (Nghề thủ công truyền thống tiếp tục phát triển đạt trình độ cao (dệt, gốm, làm giấy, đồ trang sức…).Có những điểm gì mới? (Một số nghề mới xuất hiện như: Khắc in bản gỗ, làm đường trắng, làm đồng hồ, làm tranh sơn mài Khai mỏ - một ngành quan trọng rất phát triển ở
cả Đàng Trong và Đàng Ngoài Các làng nghề thủ công xuất hiện ngày càng nhiều Ở các đô thị thợ thủ công đã lập phường hội vừa sản xuất vừa bán hàng (nét mới trong kinh doanh).
- Các làng nghề ra đời có ý nghĩa? ( Đời sống được cải thiện hơn Cùng với
sự phát triển của thủ công nghiệp luôn là những sản phẩm có giá trị về cả vật chất
và tinh thần Nhiều ngành nghề vẫn còn đến ngày nay Cơ hội để phát triển kinh tế nói chung, đem lại lợi nhuận.)
- Liên hệ ngày nay? (Ngày nay các làng nghề vẫn duy trì và phát triển, không chỉ tạo ra sản phẩm cung cấp nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu, đem lại nguồn lợi cho đất nước)
2) Vào các thế kỉ XV-XVI trên thế giới có sự kiện gì đáng ghi nhớ, góp phầnquan trọng trong giao lưu quốc tế? Giáo viên hướng dẫn học sinh nhớ lại kiến thức
(Bài 11- Tây Âu hậu kì trung đại) và nhắc lại (Các cuộc phát kiến địa lí thế kỉ XVI đã mở ra những con đường mới, những vùng đất mới, tăng cường giao lưu văn hóa giữa các châu lục, thị trường thế giới mở rộng, hàng hải quốc tế phát triển)
XV-3) Nguyên nhân nào thúc đẩy ngoại thương, nội thương ở các thế kỉ
XVI-XVIII phát triển?(Do Nông nghiệp thủ công phát triển thúc đẩy thương nghiệp
Trang 32phát triển Do thống nhất tiền tệ, đo lường, đường xá được xây dựng Chính sách
mở cửa của chính quyền hai Đàng; Các cuộc phát kiến địa lí cuối thế kỉ XV tạo điều kiện giao lưu Đông –Tây)
- Sự phát triển của ngoại thương có tác dụng gì đối với sự phát triển kinh tế?
(Sự phát triển của ngoại thương tạo điều kiện cho đất nước tiếp cận với nền kinh
tế thế giới với phương thức sản xuất mới)
4) Một số câu ca dao về nghề thủ công Giáo viên cung cấp cho học sinh một
vào địa chỉ tìm kiếm trên các trang mạng như: Diễn đàn hocmai.vn, Tạp chí Quê
hương Online hoặc Tuyển tập ca dao, tục ngữ Việt Nam và cung cấp một vài câu
ca dao minh họa:
Về làng nghề Bát Tràng dân gian có câu ca:
Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xâyXây dọc rồi lại xây ngangXây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Nghề làm đường ở Quảng Ngãi cũng đã đi vào cao dao với câu:
Mặn mà muối biển Sa HuỳnhNgọt đường Quảng Ngãi thắm tình quê taĐường phổi, chim mía, mạch nha
Ai về Quảng Ngãi thử qua một lần