Việc tham gia vào các tổ chức kinh tế lớnmang tầm cỡ khu vực và quốc tế, điển hình là WTO đã mang lại cho chúng ta rấtnhiều cơ hội để phát triển nền kinh tế song đồng thời cũng phải đối
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những kết quảđáng khích lệ trong nhiều lĩnh vực Việc tham gia vào các tổ chức kinh tế lớnmang tầm cỡ khu vực và quốc tế, điển hình là WTO đã mang lại cho chúng ta rấtnhiều cơ hội để phát triển nền kinh tế song đồng thời cũng phải đối mặt với không
ít khó khăn và thách thức… Vấn đề thành lập một doanh nghiệp để kinh doanh trởnên dễ dàng và nhanh chóng trong nền kinh tế thị trường hiện nay, theo thống kêmới nhất của tổng cục thống kê năm 2016 cả nước có khoảng 101.683 doanhnghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký khoảng 797.000 tỷ đồng Đây là những
số liệu rất khả quan tuy nhiên bên cạnh đó số doanh nghiệp giải thể, gặp khó khăn
và rơi vào tình trạng ngừng hoạt động không ngừng tăng cao (12.478 doanh nghiệpgiải thể, 19.917 doanh nghiệp ngừng hoạt động) Việc chọn cho mình một loại hìnhkinh doanh phù hợp trở thành vấn đề được rất nhiều nhà đầu tư quan tâm, nó ảnhhưởng rất lớn đến sự thành công của doanh nghiệp, giúp người đầu tư sử dụng hiệuquả nguồn vốn và nguồn lực hiện có của mình để tìm kiếm lợi nhuận cao nhất Vớinhững ưu điểm như nhanh chóng, dễ dàng về thủ tục thành lập, chủ động hoàn toàntrong các quyết định kinh doanh, ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật… thì
loại hình Doanh nghiệp tư nhân luôn là lựa chọn hàng đầu của các nhà đầu tư
muốn tự mình quản lý công ty, mạo hiểm với các quyết định kinh doanh “lời ăn, lỗchịu” và kinh doanh với quy mô vốn nhỏ
Với mục đích nghiên cứu về các loại hình doanh nghiệp đồng thời đáp ứng
yêu cầu của môn học Luật kinh tế với sự hướng dẫn của thầy T.S Đặng Công Tráng em xin thực hiện tiểu luận “Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh và dịch vụ của Doanh nghiệp tư nhân” Em mong rằng
tiểu luận này sẽ đáp ứng được yêu cầu môn học và trở thành một nguồn tài liệutham khảo hữu ích cho các nhà đầu tư quan tâm đến loại hình doanh nghiệp đầysức hấp dẫn này Vì thời gian có hạn cũng như nhận thức, kiến thức về vấn đề nàychưa đầy đủ kính mong thầy cô cùng các bạn thông cảm và đóng góp ý kiến để tiểuluận được hoàn thiện hơn
Trang 2CHƯƠNG 1: DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
1 Khái niệm và sơ lược về lịch sử hình thành doanh nghiệp tư nhân.
1.1 Khái niệm:
Theo khoản 1 điều 141 luật doanh nghiệp 2005 Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm
bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Đây là một
khái niệm cơ bản dựa trên các đặc điểm quan trọng nhất, đó là “loại hình”, “chủ sởhữu” và “chế độ trách nhiệm, nó giúp chúng ta có thể dễ dàng phân biệt DNTN vớicác hoại hình doanh nghiệp khác
1.2 Sơ lược về lịch sử hình thành DNTN
- Năm 1986, khi kế hoạch Đổi mới nền kinh tế được thông qua, các doanhnghiệp tư nhân Việt Nam bắt đầu xuất hiện và giai đoạn 1986 -1997 có thể coi làthời kỳ “khai sinh” trong lịch sử doanh nghiệp tư nhân Việt Nam sau ngày giảiphóng Luật Doanh nghiệp Tư nhân và Luật Công ty được ban hành năm 1990, dùcòn sơ sài và thiếu sót, đã mở ra hành lang thể chế cho khu vực tư nhân Luậtdoanh nghiệp tư nhân ban hành ngày 21/ 12/1990 quy định : “Nhà nước công nhận
sự tồn tại lâu dài và phát triển của doanh nghiệp tư nhân, thừa nhận sự bình đẳngvới các doanh nghiệp khác: (Điều 1) Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng Hòa XãHội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng ghi nhận : “Nhà nước phát triển kinh tế hàng hóanhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng, dựa trênchế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân” (Điều 19) ; “Các cơ sởkinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đề bình đẳng trước pháp luật” (Điều 22).+ Về mặt tài chính, sau khi các ngân hàng nước ngoài như ANZ, BangkokBank, BNP được cấp phép mở chi nhánh ở Việt Nam từ năm 1992 thì năm 1993ngân hàng tư nhân đầu tiên của Việt Nam là VP Bank ra đời
+ Về mặt thị trường, ngoài việc dỡ bỏ chế độ bao cấp, hai giá và ngăn sôngcấm chợ, Việt Nam bắt đầu bình thường hóa quan hệ với Mỹ năm 1994 và gianhập ASEAN năm 1995, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tư nhân cạnh tranh cảtrên thị trường nội địa lẫn xuất khẩu Nhờ vậy, số doanh nghiệp tư nhân được
Trang 3thành lập mỗi năm tăng rất nhanh, từ 6.808 đơn vị năm 1993 lên 25.002 đơn vịnăm 1997.
- Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 tuy không ảnh hưởng trựctiếp nhưng dư chấn của nó đã có những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt,một trong số đó là tốc độ đổi mới được đẩy nhanh hơn
- Thị trường chứng khoán ra đời năm 1998, sau vài năm mờ nhạt đã trở nênsôi động, kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn
- Luật Doanh nghiệp được sửa đổi năm đã đánh dấu một mốc son trên conđường hoàn thiện khung pháp luật về các loại hình thức doanh nghiệp ở nước tanói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêng Có thể nói luật doanh nghiệp năm
1999 đã bổ sung và cơ cấu lại các quy định về doanh nghiệp tư nhân ở mọi phươngdiện, từ cơ cấu tổ chức, trình tự thành lập, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của doanhnghiệp cũng như chủ doanh nghiệp tư nhân, đặt cơ sở cho một hướng phát triểnđồng bộ, thống nhất hình thức doanh nghiệp này
- Ngày 19/11/2005 quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đãthông qua luật doanh nghiệp thay thế cho luật doanh nghiệp năm 1999; Luậtdoanh nghiệp nhà nước năm 2003 và luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996(sửa đổi bổ sung 2000) Luật doanh nghiệp năm 2005 ra đời thể hiện sự thốngnhất trong việc điểu chỉnh địa vị pháp lý của doanh nghiệp ở việt nam, điều nàykhẳng định vị trí, vai trò của doanh nghiệp tư nhân bên cạnh các loại hình kinhdoanh khác
- Trải qua hơn một thập kỷ tích lũy vốn và kinh nghiệm, hệ thống doanhnghiệp tư nhân của Việt Nam bước vào một thời kỳ mà các rào cản về thể chế cơbản được dẹp bỏ, thị trường trong nước và quốc tế được khơi thông với kết quảcuối cùng là việc gia nhập WTO năm 2006 Giống như một đứa trẻ mới lớn đượctrang bị nhiều đồ chơi đắt tiền, giai đoạn từ 1997 đến 2007 được đặc trưng bởi sựsôi động, phấn chấn và nhiều khi bốc đồng Vì thế, có thể coi đây là giai đoạn niênthiếu của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam
- Trong khi khối doanh nghiệp tư nhân chiếm tới hơn 50% số doanh nghiệpmới xuất hiện trong bảng V1000 (nơi hội tụ các doanh nghiệp nộp thuế lớn nhấtViệt Nam) năm 2012, thì con số tương tự của năm 2013 chỉ là 37%, đây thực sự làmột bước thụt lùi lớn Bên cạnh đó, trong tổng số thuế mà 1000 doanh nghiệp
Trang 4thuộc BXH đã nộp, số thuế của nhóm DN tư nhân đạt được chỉ chiếm 23,4%, thấphơn so với nhóm DN nước ngoài Nếu chỉ xét riêng Top 100 của Bảng xếp hạng,con số đóng góp thuế TNDN 18,8% thực sự là mức đáng buồn khi đặt cạnh mức64,5% của nhóm DNNN Rõ ràng, những doanh nghiệp tư nhân vốn đang đượccoi như "ngôi sao đang lên" với lợi thế năng động và linh hoạt dường như đangmất dần thế mạnh của mình, khi mà các ông anh cả đã trở lại sân chơi với chiếnlược kinh doanh hợp lý của mình.
- Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được Quốc hội Nước Cộng Hòa XãHội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26 tháng 11năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 sẽ thay thế choLuật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 và Luật sửa đổi,
bổ sung Điều 170 của Luật Doanh nghiệp số 37/2013/QH13 ngày 20 tháng 6 năm
2013 So với Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 có
10 Chương, 213 Điều, tăng 41 Điều Trong đó Chương IV quy định về Doanhnghiệp nhà nước với 22 Điều và Điều 10 quy định về tiêu chí, quyền và nghĩa vụcủa doanh nghiệp xã hội là những nội dung mới hoàn toàn
- Luật Doanh nghiệp năm 2014 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quyđịnh còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của Luật Doanh nghiệp năm 2005,nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những hạnchế, bất cập của Luật cũ, tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi,phù hợp với thông lệ quốc tế
1.3 Đặc điểm Pháp lý của DNTN
- Doanh nghiệp tư nhân là một loại hình doanh nghiệp: DNTN có đầy đủ dấu
hiệu của một doanh nghiệp theo khoản 1 điều 4 luật doanh nghiệp 2005 (có tênriêng, tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký theo quy định của pháp luậtnhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh) do đó có quyền tự do tham gia kinhdoanh bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật quy định, được hưởng các quy chếpháp lý chung cho các doanh nghiệp tại Việt Nam
- Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân do một cá nhân đầu tư vốn thành lập
và làm chủ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp:
Trang 5+ DNTN do một chủ thể đứng ra thành lập, dùng tài sản của mình đầu tư kinhdoanh, không có sự liên kết hay chia sẻ với bất cứ ai.
+ Chủ sở hữu DNTN chỉ có thể là cá nhân, cá nhân này vừa làm chủ, sở hữutài sản và cũng là người trực tiếp quản lý doanh nghiệp Cá nhân thành lập DNTNkhông được nằm trong đối tượng cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp quy định tạikhoản 2 điều 13 luật doanh nghiệp 2005 Theo đó , một số cá nhân sau đây khôngthể trở thành chủ doanh nghiệp tư nhân :
* Cán bộ, công chức, viên chức;
* Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trongcác cơ quan, đơn vị trực thuộc quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyênnghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân;
* Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sởhữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện ủy quyền để quản lý phầnvốn góp nhà nước tại doanh nghiệp khác;
* Người chưa thành niên, người thành niên bị hạn chế hoặc bị mất năng lựchành vi dân sự
* Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị tòa án cấm hành nghề kinhdoanh
* Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản
- Giữa doanh nghiệp và cá nhân người sở hữu có mối quan hệ lệ thuộc, gắnbó: mỗi DNTN do 1 cá nhân làm chủ và 1 cá nhân chỉ được thành lập 1 DNTN
- Chủ DNTN chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về mọihoạt động của doanh nghiệp (khoản 1, điều 141, luật doanh nghiệp 2005)
- Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân: Một tổ chức được công
nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: (căn cứ theo điều 84 bộ luậtdân sự)
1 Được thành lập hợp pháp;
2 Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
3 Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tàisản đó;
Trang 64 Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
DNTN chỉ đáp ứng được các điều kiện 1 và 2, không đáp ứng được điều kiện
3 và 4 nên không có tư cách pháp nhân
- Doanh nghiệp tư nhân có khả năng huy động vốn hạn chế: Doanh nghiệp tư
nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào (khoản 2, điều 141 luậtdoanh nghiệp 2005), tất cả các kênh huy động vốn rộng rãi trong công chúng đều
bị ngăn lại đối với DNTN
1.4 Ưu và nhược điểm của DNTN
1.4.1 Ưu điểm:
- Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân là do một người đứng đầu đại diện làmchủ sở hữu và hoàn toàn không có các thành viên hay cổ đông khác nên điều hànhdoanh nghiệp tư nhân khá đơn giản và không phức tạp về kê khai thuế cũng nhưcác vấn đề pháp lý khác phát sinh Thậm chí giải thể hoặc chuyển nhượng cũng rấtđơn giản
- Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ sở hữu duy nhất nên người chủ sởhữu này hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạtđộng kinh doanh
- Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởngcho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởipháp luật như các loại hình doanh nghiệp khác
- Dễ cha truyền con nối, khó bị thôn tính bởi doanh nghiệp khác
1.4.2 Nhược điểm
- Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân Do không có tư cáchpháp nhân nên mức độ rủi ro của chủ doanh tư nhân cao, chủ doanh nghiệp tư nhânphải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và của chủdoanh nghiệp chứ không giới hạn số vốn mà chủ doanh nghiệp đã đầu tư vàodoanh nghiệp
Trang 7- Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp thì chủdoanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp.
- Khó huy động vốn một cách rộng rãi
1.5 Thủ tục đăng ký DNTN
Theo quy định tại điều 12 Luật Doanh nghiệp, người thành lập doanhnghiệp phải lập và nộp đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh theo quy định dưới đây tại cơquan đăng ký kinh doanh thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơidoanh nghiệp đặt trụ sở chính và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trungthực của nội dung đăng ký kinh doanh
Việc đăng ký kinh doanh được hoàn tất trong 15 ngày, kể từ ngày cơquan đăng ký kinh doanh nhận được đủ hồ sơ Nếu từ chối việc đăng ký kinhdoanh, cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do
* Đối với những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện
Doanh nghiệp được quyền kinh doanh kể từ ngày được cơ quan nhà nước cóthẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh hoặc có đủ điều kiện kinh doanh theo quyđịnh của pháp luật Cụ thể:
- Đối với doanh nghiệp tư nhân kinh doanh các ngành, nghề phải có vốn phápđịnh thì phải có thêm xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc chứng chỉ hợppháp chứng minh về số vốn của doanh nghiệp
- Đối với doanh nghiệp tư nhân kinh doanh các ngành, nghề phải có chứng chỉhành nghề thì phải có thêm bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của chủ doanhnghiệp tư nhân hoặc giám đốc quản lý doanh nghiệp
* Hồ sơ đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân: Được quy định rõ tại điều 16 luật doanh nghiệp 2005.
1 Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng kýkinh doanh có thẩm quyền quy định
2 Bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhânhợp pháp khác
Trang 83 Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đốivới doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải cóvốn pháp định.
4 Chứng chỉ hành nghề của Giám đốc và cá nhân khác đối với doanh nghiệpkinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hànhnghề
1.6 Quản lý DNTN: được quy định tại điều 143 luật doanh nghiệp 2005
1 Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế vàthực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật
2 Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý,điều hành hoạt động kinh doanh Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản
lý doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký với cơ quan đăng kýkinh doanh và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp
3 Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đếndoanh nghiệp
4 Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
1.7 Cho thuê, bán DNTN: được quy định rõ tại điều 144 và 145 luật doanh
nghiệp 2005
- Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp củamình nhưng phải báo cáo bằng văn bản kèm theo bản sao hợp đồng cho thuê cócông chứng đến cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế Trong thời hạn chothuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tưcách là chủ sở hữu doanh nghiệp Quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu và ngườithuê đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được quy định trong hợpđồng cho thuê
- Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho ngườikhác Chậm nhất mười lăm ngày trước ngày chuyển giao doanh nghiệp cho người
Trang 9mua, chủ doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinhdoanh Thông báo phải nêu rõ tên, trụ sở của doanh nghiệp; tên, địa chỉ của ngườimua; tổng số nợ chưa thanh toán của doanh nghiệp; tên, địa chỉ, số nợ và thời hạnthanh toán cho từng chủ nợ; hợp đồng lao động và các hợp đồng khác đã ký màchưa thực hiện xong và cách thức giải quyết các hợp đồng đó.
- Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu tráchnhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện,trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thoả thuậnkhác
- Người bán, người mua doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của phápluật về lao động
- Người mua doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh lại theo quy định củaLuật này
1.8 Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp tư nhân
- Giải thể doanh nghiêp tư nhân
Với tư cách là một loại hình doanh nghiệp hoạt động theo luật doanhnghiệp, doanh nghiệp tư nhân cũng có cùng một quy chế giải thể chung với cácloại hình doanh nghiệp khác như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần vàcông ty hợp danh Tuy nhiên ngoài những quy định chung, xét riêng đối với doanhnghiệp tư nhân, quy chế giải thể cũng có một số điểm khác biệt
Theo điều 157 luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp tư nhân giải thểtheo các trường hợp sau đây:
Thứ nhất theo quyết định của chủ doanh nghiệp tư nhân
Có thể coi đây là trường hợp giải thể tự nguyện với quy định này, luậtdoanh nghiệp trao cho doanh nghiệp tư nhân được quyết định có giải thể doanhnghiệp hay không, nghĩa là lý do giải thể ở đây sẽ phụ thuộc vào ý chí và sự lựachọn rộng rãi của chủ doanh nghiệp tư nhân Như vậy chủ doanh nghiệp tư nhân cóthể giải thể doanh nghiệp với bất cứ lí do gì, khi cho rằng sự tồn tại của doanhnghiệp tư nhân là không còn có lợi điều này cũng đảm bảo cho một cách cao hơnquyền tự do kinh doanh và sở hữu doanh nghiệp của các nhà đầu tư
Thứ hai , bị thu hồi giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh
Trang 10Luật doanh nghiệp quy định trường hợp giải thể bắt buộc đối với doanhnghiệp tư nhân, khi doanh nghiệp tư nhân bị thu hối giấy chứng nhận đăng kí kinhdoanh Việc quy định này xuất phát từ việc đảm bảo tính pháp chế tuyệt đối trongviệc áp dụng luật Theo luật doanh nghiệp, để thành lập doanh nghiệp tư nhân,người thành lập phải làm hồ sơ đăng kí kinh doanh và nộp cho cơ quan đăng kíkinh doanh Nội dung của giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh bao gồm những yếu
tố cấu thành nên doanh nghiệp tư nhân như: tên chủ doanh nghiệp, số vốn đăng kí,thời hạn hoạt động, ngành nghề và phạm vi kinh doanh….giấy chứng nhận đăng kíkinh doanh chính là giấy tờ quan trọng nhất của doanh nghiệp, có được giấy này,chứng tỏ nhà nước công nhận doanh nghiệp tư nhân là một chủ thể kinh doanh vàthẩm quyền kinh doanh Hay nói khác đi, giấy chứng nhận đăng kí kinh doanhchứng minh tính hợp lí hay bất hợp pháp của hoạt động kinh doanh do doanhnghiệp tư nhân tiến hành Có thể coi giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh là tấmgiấy” thông hành” để doanh nghiệp tư nhân có thể tiến hành các hoạt động củamình, xác lập các quan hệ với nhà nước và với công chúng giao dịch Bị thu hồigiấy chứng nhận kinh doanh cũng có nghĩa là nhà nước rút lại sự công nhận tưcách chủ thể kinh doanh đối với doanh nghiệp tư nhân Lúc này, doanh nghiệp tưnhân không có thẩm quyền kinh tế, nghĩa là không còn được tiến hành hoạt độngkinh doanh, mục đích củ việc thành lập doanh nghiệp không có cơ hội dể thựchiện nữa vì vậy , sự tồn tại của doanh nghiệp này cũng không còn ý nghĩa
Điều 158 luật doanh nghiệp năm 2005 quy định rất rõ về thủ tục giải thểdoanh nghiệp , trong đó có doanh nghiệp tư nhân Cụ thể , thủ tục giả thẻ doanhnghiệp tư nhân gồm có 3 bước:
Bước 1: Chủ doanh nghiệp tư nhân quyết định giải thể doanh nghiệp.
Bước 2 : Chủ doanh nghiệp trực tiếp tổ chức thanh lí tài sản doanh nghiệp Bước 3 : Trong thời hạn 7 ngày làm việc, phải tiến hành gửi quyết định giải
thể tới cơ quan đănh kí kinh doanh và thông báo giải thể đến tất cả những người cóquyền và lợi ích liên quan, các chủ nợ của doanh nghiệp (kèm theo phương án giảiquyết nợ), tiến hành thông báo công khai về việc giải thể thông qua việc niêm yếtquyết định giải thể tại chủ sở chính của doanh nghiệp và đăng báo địa phương hoặctrung ương 3 số liên tiếp (nếu pháp luật quy định phải đăng báo)
Bước 4: trong thời hạn 7 ngày kể từ khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ của
doanh nghiệp, người đại diện cho doanh nghiệp phải gửi hồ sơ về giải thể doanhnghiệp tư nhân đến cơ quan đăng kí kinh doanh Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngàynhận hồ sơ về giải thể doanh nghiệp, cơ quan đăng kí kinh doanh phải xóa tên
Trang 11doanh nghiệp tư nhân đó trong sổ đăng kí kinh doanh Đây là hành vi pháp lí cuốicùng chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp tư nhân với tư cách là một doanhnghiệp.
- Phá sản doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp kinhdoanh thua lỗ kéo dài đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn Doanhnghiệp tư nhân là một trong những đối tượng áp dụng của luật phá sản năm 2004,
vì thế khi doanh nghiệp tư nhân lâm vào tình trạng phá sản nó sẽ được áp dụng cácquy định của luật phá sản năm 2004 để giải quyết việc thanh thoán nợ với các chủ
nợ, doanh nghiệp tư nhân có những lợi ích nhất định, đó là việc chủ doanh nghiệp
tư nhân sẽ thanh toán các khoản nợ theo quy định của pháp luật phá sản cho đếnhết tài sản hiện có của chủ doanh nghiệp Sau khi thủ tục phá sản chấm dứt, tùytheo trường hợp theo quy định pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụvới các khoản nợ còn chưa thanh toán hết với các chủ nợ