1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát mật độ XƯƠNG và cấu TRÚC XƯƠNG TRÊN BỆNH NHÂN đái THÁO ĐƯỜNG týp 2

48 355 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và sau khi dùng hồi quy đa biến để hiệu chỉnh theo BMI thì sự mật độ xương vẫntăng có ý nghĩa[42] .Tác giả Petit và cộng sự 2008 [18]tiến hành đo cấu trúcxương chày và xương quay bằng má

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT MẬT ĐỘ XƯƠNG VÀ CẤU TRÚC XƯƠNG TRÊN BỆNH

NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

Học viên: BSNT Đỗ Trung Thành

Bộ môn Lão- ĐHYD TPHCM

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

1 Mục tiêu tổng quát: 4

2 Mục tiêu chuyên biệt: 4

III TỔNG QUAN Y VĂN 5

1 Sức mạnh xương: 5

1.1 Chuyển hóa xương: 5

1.2 Mật độ xương( bone mineral density) 13

1.3 Cấu trúc xương 15

2 Đái Tháo Đường 23

2.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán: [55] 23

2.2 Phân loại:[30] 23

3 Cơ sở cho sự ảnh hưởng của ĐTĐ lên hoạt động chuyển hóa xương: 25

4 Các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài 26

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

1 Thiết kế nghiên cứu: 34

2 Dân số nghiên cứu: 34

3 Cỡ mẫu 34

4 Phương pháp chọn mẫu: 34

5 Tiêu chuẩn chọn mẫu: 36

6 Tiêu chuẩn loại trừ 36

7 Biến số nghiên cứu 36

8 Cách thu thập số liệu 37

9 Phương pháp phân tích số liệu 38

V TÀI LIỆU THAM KHẢO: 39

Trang 3

KHẢO SÁT MẬT ĐỘ XƯƠNG VÀ CẤU TRÚC XƯƠNG TRÊN BỆNH

NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, đái tháo đường týp 2 (ĐTĐ 2) là một bệnh lý mãn tính phổ biến trên toànthế giới với tuần suất mắc bệnh không ngừng gia tăng trong tương lai[54].Bên cạnhtuần suất mắc bệnh cao, hệ quả của ĐTĐ 2 còn làm suy giảm chất lượng cuộc sống

và tăng nguy cơ tử vong do tổn thương trên nhiều cơ quan như tim mạch, thầnkinh, mắt [54] Trong khoảng 10 năm gần đây, những ảnh hưởng của bệnh lý nàylên xương ngày càng được chú ý do tỷ lệ gãy xương ở bệnh nhân ĐTĐ 2 tăng caohơn so với người không mắc ĐTĐ từ 20%-80% [1], [15] Trong khi đó, tăng nguy

cơ gãy xương đồng nghĩa với tăng thêm nguy cơ tử vong và tàn phế cũng như giảmchất lương cuộc sống ở bệnh nhân ĐTĐ 2[6], [9] Để lý giải cho sự tăng nguy cơnày nhiều nghiên cứu đã khảo sát mật độ cấu trúc xương trên nhóm bệnh nhânĐTĐ 2

Các nghiên cứu đoàn hệ tiến cứ cho thấy mặc dù tăng tỷ lệ gãy xương nhưng bệnhnhân ĐTĐ tuýp 2 có mật độ xương tương đương hay thậm chí còn cao hơn so vớinhóm chứng [1], [4] Nguyên nhân việc tăng mật độ xương được cho là do tăngchỉ số khối cơ thể (bmi) điều thường thấy ở bệnh nhân Đái tháo đường Bìnhthường mật độ xương tăng cao là yếu tố bảo vệ, giúp giảm nguy cơ gãy xương chobệnh nhân Nhưng trên bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 tỷ lệ gãy xương vẫn tăngcao hơn so với nhóm chứng Điều này đưa đến một giả thiết là những rối loạnchuyển hóa trên bệnh nhân ĐTĐ 2 có ảnh hưởng lên chuyển hóa xương, làm thayđổi chất lượng xương ở những góc độ mà đo mật độ xương bằng máy DXA khôngthể phát hiện được Trong các biện pháp đánh giá chất lượng xương ngoài mật độxương, còn có khảo sát chu chuyển xương bằng các dấu ấn sinh hóa và đánh giá

Trang 4

cấu trúc xương qua máy chụp cắt lớp vi tính định lượng (quantitative computedtomography)

Nhiều tác giả đã tiến hành các nghiên cứu đánh giá về những thay đổi trên xương ởbệnh nhân ĐTĐ 2 Tác giả Tác giả Ma và cộng sự (2012) cũng tiến hành phântích gộp cũng cho thấy sự tăng mật độ xương có ý nghĩa trên bệnh nhân ĐTĐ 2

Và sau khi dùng hồi quy đa biến để hiệu chỉnh theo BMI thì sự mật độ xương vẫntăng có ý nghĩa[42] Tác giả Petit và cộng sự (2008) [18]tiến hành đo cấu trúcxương chày và xương quay bằng máy pQCT trên 1171 bệnh nhân cho thấycó sự táiphân bố cấu trúc bất thường tại vùng xương bè (tăng mật độ xương bè) và só sựsuy giảm diện tích xương tại vùng xương vỏ Tác giả Samelson và đồng sự nghiêncứu so sánh mật độ xương ở bệnh nhân ĐTĐ 2 và nhóm chứng cho thấy có sựgiảm mật độ xương vỏ,và tăng mật độ xương bè ở bệnh nhân ĐTĐ 2 [46] ở cả haigiới nam và nữ Như vậy, trên bệnh nhân ĐTĐ 2 có một sự mất xương ở vùngxương vỏ, mà xương vỏ đóng vai trò quan trọng trong quá trình duy trì sức bền vàtính chịu lực của xương Ngày nay nhờ sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, với sự ra đờicủa máy pqct đã giúp chúng ta đánh giá chính xác mật độ vỏ xương, độ dày cũngnhư tính toán khá chính xác khả năng chịu lực của xương

Tại việt nam, đã có nhiều nghiên cứu về loãng xương cũng như đánh giá sức khỏexương, cho thấy tỉ lệ loãng xương, và gãy xương ngày càng tăng trong tương laibên cạnh đó những nghiên cứu về ĐTĐ 2 cũng cho thấy kết quả tương tự trong bốicảnh dân số việt nam ngày càng già hóa Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nàođánh giá những thay đổi về cấu trúc xương trên bệnh nhân đái tháo đường Trongkhi ngày càng có nhiều giả thiết và y học chứng cứ cho thấy mối liên quan chặt chẽgiữa hai bệnh lý này

Trang 5

Việc xác định sự thay đổi cấu trúc xương ở những bệnh nhân ĐTĐ 2 giúp chúng ta

có cái nhìn toàn diện hơn trong việc đánh giá biến chứng mãn tính của bệnh, từ đógiúp phát hiện, phòng ngừa và điều trị kịp thời biến chứng nặng nề của gãy xươngtrên bệnh nhân ĐTĐ 2 Từ những lý do trên tôi quyết định thực hiện nghiên cứu “Khảo sát mật độ xương và cấu trúc xương trên bệnh nhân Đái Tháo Đường týp 2”

1

Trang 6

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mục tiêu tổng quát:

So sánh sự khác biệt của mật độ xương và cấu trúc xương trên nhóm bệnh nhân ĐTĐ 2 so với nhóm chứng

2 Mục tiêu chuyên biệt:

 So sánh sự khác biệt về mật độ xương theo diện tích giữa nhóm bệnh nhân ĐTĐ 2 và nhóm chứng

 So sánh sự khác biệt về các cấu trúc xương (mật độ xương vỏ, mật độ xươngxốp, bề dày lớp xương đặc, bề dày lớp xương xốp) giữa nhóm bệnh nhân ĐTĐ 2 và nhóm chứng

Trang 7

III TỔNG QUAN Y VĂN

1 Sức mạnh xương:

Sức mạnh của xương (bone strength) được xác định không chỉ bởi mật độ xương

(BMD) mà còn bởi những yếu tố khác (non-BMD) Những yếu tố đó bao gồm:

chuyển hóa xương (bone metabolism); cấu trúc xương (bề dày lớp xương đặc, sự

liên kết giữa các bè xương xốp…)

1.1 Chuyển hóa xương:

Ở người chuyển hóa xương bao gồm hai quá trình : cấu trúc (modelling) và tái cấu trúc xương (remodeling) [16]

1.1.1 Quá trình cấu trúc xương:

Là quá trình mà xương được tạo thành và tái hấp thu ở hai vị trí khác nhau Tạo cốtbào tạo xương mới từ mặt ngoài và hủy cốt bào tái hấp thu xương cũ ở mặt trong, hoạt động của tạo và hủy cốt bào diễn ra độc lập với nhau Ở trẻ nhỏ và thanh thiếuniên, quá trình này diễn ra theo chiều dọc, giúp tăng chiều cao Trong giai đoạn trường thành, quá trình cấu trúc xương diễn ra theo chiều ngang, giúp tăng chiều rộng xương Vậy quá trình cấu trúc xương sẽ làm thay đổi hình dạng và kích thước xương Bên cạnh yếu tố di truyền ảnh hưởng đến hình dạng và kích thước xương, một yếu tố quan trọng khác đó là hoạt động thể chất vì xương phát triển theo

hướng tối ưu theo chức năng mà nó đảm nhiệm “ cấu tạo theo chức năng” (form follow function)

1.1.2 Quá trình tái cấu trúc xương:

Trang 8

Là quá trình xương cũ được thay thế liên tục trong suốt cuộc đời bởi xương mới Quá trình này giúp sửa chữa các vi vết nứt gãy (microfractures) và thay đổi cấu trúc xương để đáp ứng với tác động của stress và các lực cơ học Tạo cốt bào và hủy cốt bào hợp tác chặt chẽ với mhau trong quá trình này hình thành nên đơn vị tái cấu trúc (basic multicellular unit - BMU) Đơn vị tái cấu trúc khác nhau ở vùng xương đặc và xương xốp, sự khác nhau này chủ yếu là về mặt hình thái học hơn là

về sinh học Ở vùng xương đặc (xương vỏ) đơn vị tái cấu trúc hình thành một ống hình trụ: dài khoảng 2000 μm , rộng khoảng 200 μm và từ từ đào sâu xuyên qua xương với vận tốc 20-40 μm/ ngày Tại đây khoảng 10 hủy cốt bào xếp thành vòng tròn và hấp thu xương cũ tạo thành một ống hình trụ theo chiều trọng lực[43], theo sau là hàng ngàn tạo cốt bào tạo xương mới lấp đầy ống hình trụ Mỗi năm có khoảng 2%-5% xương đặc được tái cấu trúc So với xương đặc, vùng xương xốp được tái cấu trúc nhiều hơn do có diện tích bề mặt lớn hơn Hủy cốt bào hấp di chuyển trên bề mặt của bè xương xốp với vận tốc 25 μm/ngày, tạo ra những rãnh sâu 40-60 μm

Hình 1: Đơn vị tái cấu trúc xương tại vùng xương đặc

Trang 9

Nguồn: Doblare M (2004), "Modelling bone tissue fracture and healing", Engineering Fracture

Mechanics 71, pp 1809-1840

Hình 2: Đơn vị tái cấu trúc xương tại vùng xương xốp

Nguồn: Doblare M (2004), "Modelling bone tissue fracture and healing", Engineering Fracture

Mechanics 71, pp 1809-1840

Trang 10

1.1.2.1 Các giai đoạn tái cấu trúc xương :

Gồm 5 giai đoạn xảy ra liên tiếp nhau[31]:

+ Giai đoạn khởi động (activation): sự xuất hiện của vi gãy xương gây hoạt hóa sự chết theo chương trình của tế nào xương (osteocytic apoptosis) Khi đó tế bào xương sẽ phóng thích ra các yếu tố tại chỗ để thu hút các tế bào từ máu và tủy xương đến mô xương bị tổn thương và chuyển dạng thành các tiền hủy cốt bào đơnnhân

+ Giai đoạn tái hấp thu (resorption): tiền hủy cốt bào khi đến bề mặt xương sẽ chuyển dạng thành hủy cốt bào đa nhân Các hủy cốt bào này bám vào xương, sau

đó tiêu hủy xương bằng quá trình acid hóa và ly giải protein

+ Giai đoạn đảo ngược (reversal): sau khi hoàn thành tái hấp thu xương, các hủy cốt bào sẽ rời đi, sau đó các tế bào mono sẽ xuất hiện trên bề mặt xương Các tế bào mono này tiến hành dọn dẹp các xác tế bào chết còn xót lại để chuẩn bị bề mặt xương cho giai đoạn tạo xương, đồng thời gửi tín hiệu cho quá trình biệt hóa và thuhút các tạo cốt bào

+ Giai đoạn tạo xương (formation): tạo cốt bào bắt đầu tạo ra xương mới thay thế cho xương cũ bị hấp thu

+ Giai đoạn bất động (quiescence): sau khi giai đoạn tạo xương hoàn tất, xương sẽ trải qua giai đoạn bất động cho đến khi bắt đầu một chu trình tái cấu trúc mới

Trang 11

Hình 3: Các giai đoạn của quá trình tái cấu trúc xương

Nguồn: Bringhurst R (2015), "Disorders of bone and mineral metabolism", Harrison's Principles of

(osteoprotegerin) do tạo cốt bào tạo ra, có vai trò ức chế toàn bộ hệ thống bằng cách gắn kết với RANKL [22]

Trang 12

Bảng 1: Ảnh hưởng của cytokins và hormones lên quá trình tái cấu trúc thông qua hệ

Bảng 2: Ảnh hưởng của hormone lên quá trình tái cấu trúc

Trang 13

a Liều cao PTH và vitamin D sẽ giảm tổng hợp collagen

b Estrogen giảm tổng hợp xương do giảm tái cấu trúc xương, nhưng giảm tạo xương

c Glucocorticoids tăng tái hấp thu gián tiếp bằng cách ức chế tái hấp thu calcium qua đường tiêu hóa

a/ Hormone cận giáp:

- Giúp điều hòa nồng độ Ca trong máu Khi nồng độ Ca trong máu giảm, cơ thể sẽ tăng tiết PTH PTH tác động lên các cơ quan đích như xương, thận, ruột

để tăng tái hấp thu Ca.[32]

Hình 4: Điều hòa điều hòa của PTH

Nguồn: "Parathyroid Hormone, Calcitonin, Calcium, and Phosphate Metabolism, Vitamin D,

Bone and Teeth" (2016), Guyton and Hall Textbook of Medical Physiology

- PTH tăng tái hấp thu Ca từ xương thông qua kích thích sự trưởng thành của hủy cốt bào:[32]

+ Đầu tiên, PTH gắn kết với thụ thể trên tạo cốt bào, kích thích tạo cốt bào

Trang 14

hình thành thụ thể RANKL (receptor activator for nuclear factor K-B ligand)

và phóng thích yếu tố khích thích dòng đại thực bào (M-CSF: macrophase- colony stimulating factor)

+ Tiếp theo, RANKL sẽ gắn kết với RANK và M-CSF gắn kết với thụ thể của

nó trên tiền hủy cốt bào Từ đó kích thích tiền hủy cốt bào biệt hóa thành hủy cốt bào

+ Bên cạnh đó, PTH còn ức chế tạo cốt bào sản xuất ra OPG (osteoprotegerin).OPG có khả năng gắn kết với RANKL và ngăn cản RANKL gắn kết với

RANK trên bề mặt tiền hủy cốt bào gây ức chế quá trình trưởng thành của tiền hủy cốt bào

Hình 5: Điều hòa quá trình tái cấu trúc xương

Nguồn: "Parathyroid Hormone, Calcitonin, Calcium, and Phosphate Metabolism, Vitamin D, Bone and

Teeth" (2016), Guyton and Hall Textbook of Medical Physiology

Trang 15

b/ Glucocorticoids:

- Glucocorticoids làm giảm sản sinh tạo cất bào đồng thời tăng tỷ lệ tạo cốt bào

và cốt bào chết theo chương trình[53]

- Glucocorticoids kích thích hoạt động hủy cốt bào do làm tăng sản xuất

RANKL, giảm tạo OPG [32]

c/ Estrogen

- Giảm đáp ứng của tiền hủy cốt bào với RANKL nên giảm hình thành hủy cốt bào trưởng thành [23] Bên cạnh đó, estrogen còn làm rút ngắn đời sống của hủy cốt bào [41]

- Kích thích tạo cốt bào tăng sinh và giảm sự chết theo chương trình của tạo cốtbào

1.1.2.3 Đánh giá hoạt động chuyển hóa xương

Quá trình tái cấu trúc xương là sự phối hợp chặt chẽ, đảm bảo cân bằng giữa quá trình tái hấp thu xương cũ bởi hủy cốt bào và quá trình tạo xương mới bởi tạo cốt bào Sự mất cân bằng giữa 2 quá trình này sẽ dẫn tới những bệnh lý chuyển hóa của xương (loãng xương) Do đó việc đánh giá hoạt động của tạo cốt bào và hủy cốt bào là rất quan trọng trong đánh giá sức khỏe xương Trongquá trình tái cấu trúc xương, một số sàn phẩm được tạo ra và đi vào hệ tuần hoàn giúp ta có thể đo lường nồng độ trong máu hay nước tiểu Các dấu ấn sinh hóa được sử dụng

Trang 16

Dấu ấn tái

hấp thu xương

Sản phẩm thoái hóa của Collagen tuýp 1

C- telopeptides (CTX)N- telopeptides (NTX)Liên kết chéo Pyridinium

Bone isoform of alkaline phosphatase (BALP)

1.2 Mật độ xương( bone mineral density)

1.3.1 Cấu tạo mô xương- Định nghĩa mật độ xương

Mô xương là một mô liên kết gồm 3 loại tế bào (tạo cốt bào, hủy cốt bào, cốt bào)

và chất nền xương Chất nền xương bao gồm: thành phần hữu cơ (collagen tuýp 1),khoáng chất (tinh thể hydroxyapatite- Ca10(PO4)6(OH)2), nước [36]

Hình 6: Thành phần chất nền xương

Trang 17

Nguồn: Burr D B (2014), "Bone Composition", Basic and Applied Bone Biology

Trang 18

Mật độ xương là lượng khoáng chất (chủ yếu là hydroxyapatite) có trong một đơn

vị thể tích xương (gam/m3)

1.3.2 Đo mật xương bằng DXA (Dual- energy x-ray absorptiometry):

Máy sẽ đo lượng chất khoáng trong xương (BMC-bone mineral content) tính theo gam, và đo diện tích xương (BA- bone area) tính theo cm2 Sau đó máy sẽ tính được mật độ xương theo diện tích (gam/cm2)

Gãy xương do loãng xương thường xảy ra tập trung ở những vị trí xương có nhiều xường bè (đốt sống, cổ tay, xương đùi) [3], nên DXA thường đo ở 3 vị trí: đốt sốngthắt lưng L1-L4, cổ xương đùi, đầu xa cẳng tay

Khảo sát mật độ xương bằng máy DXA được áp dụng rộng rãi trong lâm sàng để chẩn đoán loãng xương, tiên lượng nguy cơ gãy xương và theo dõi đáp ứng điều trị

vì có nhiều ưu điểm:

+ Nhiều nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu cho thấy mối quan hệ giữa nguy cơ gãy xương và mật độ xương đo bằng DXA [12]

+ Nhiều nghiên cứu về cơ sinh học cho thấy mối tương quan giữa sức mạnh cơ học và mật độ xương đo bằng DXA

+ Cơ sở dữ liệu tham chiếu (nghiên cứu NHANES III) trong tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương của WHO được lấy bằng cách đo mật độ xương bằng DXA [11]

Trang 19

+ Mô hình tiên lượng gãy xương của FRAX (fracture risk assessment tool) sử dụng mật độ xương đùi đo bằng DXA

+ Có mối quan hệ giữa giảm nguy cơ gãy xương do thuốc điều trị và sự tăng mật độ xương đo bằng DXA [27]

+ Thời gian chụp nhanh (1-2 phút) [45]

+ Liều phóng xạ thấp (1-6 μSv) tương đương với liều phóng xạ có trong môi trường tự nhiên (7μSv/ngày) [38]

Tuy nhiên DXA vẫn có 1 số điểm hạn chế:

+DXA cung cấp mật độ xương theo diện tích của toàn bộ vùng diện tích xương được chụp nên không không đo được mật độ xương “thật” (mật độxương theo thể tích) nên DXA dễ bị ảnh hưởng bởi tình trạng thoái hóa, đặc biệt là khi bệnh nhân có tình trạng thoái hóa cột sống thắt lưng sẽ làmgiá trị mật độ xương đo bằng DXA tăng giả tạo (do DXA không phân biệtđược gai xương và khối xương cột sống)

+ DXA không phân biệt được mật độ xương riêng biệt của xương vỏ và xương bè

+ Tỷ lệ xương vỏ/ xương bè phân bố khác nhau trên các xương khác nhaunên kết quả DXA thay đổi tùy theo từng vị trí đo

+ DXA không đánh giá được cấu trúc xương (bề dày lớp xương vỏ, lớp xương bè) và không ước tính được sức chịu lực của xương

1.3 Cấu trúc xương

Hệ xương người trưởng thành bao gồm 80% là xương vỏ và 20% xương bè Các xương khác nhau và các vị trí khác nhau trên cùng một xương sẽ có tỷ lệ xương vỏ

và xường bè khác nhau Tỷ lệ này xương vỏ/xương bè của xương cột sống là

25:75; của đầu xương đùi 50:50; thân xương quay 95:5 [37]

Trang 20

1.3.1 Xương vỏ:

Trang 21

Xương vỏ là vùng xương có cấu trúc dày, đặc và bao quanh khoang tủy Xương vỏ thường được tìm thấy ở thân xương dài

Cột xương vỏ (cortical osteons) còn được gọi hệ thống Haversian Hệ thống

Haversian này thường có hình trụ và có thành được tạo thành bởi những lá xương đồng tâm Hoạt động chuyển hóa tại vùng xương vỏ thường kém hơn so với xương

bè Độ xốp của vỏ xương (cortical porosity) thường<5% và tỷ lệ này phụ thuộc vào

tỷ lệ hoạt động tái cấu trúc của hệ thống Haversian Tăng hoạt động tái cấu trúc xương vỏ làm tăng độ xốp của vỏ xương và giảm khối lượng xương vỏ Xương người cao tuổi thường có lớp xương vỏ mỏng và tăng độ xốp xương vỏ

Xương vỏ có hai mặt là: mặt màng ngoài xươngvà mặt màng trong xương Cả hai mặt đều đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển xương Trong đó, hoạt động tái cấu trúc của màng ngoài xương giúp xương sửa chữa vết nứt gãy và làm tăng đường kính xương theo tuổi Do tiếp xúc trực tiếp với nhiều cytokine từ vùng tủy nên hoạt động tái cấu trúc của màng trong xương cao hơn màng ngoài xương, hoạt động tái hấp thu cao hơn tạo xương Vì vậy, khoang tủy xương thường được mở rộng theo tuổi

1.3.2 Xương bè:

Xương bè thường được tìm thấy ở cổ xương dài, xương đốt sống, xương sườn, xương cánh chậu Xương bè có cấu trúc mạng lưới dạng tổ ong do những phiến xương (plates) và cột xương (rod) liên kết với nhau tạo thành Chính cấu trúc liên kết này đã hỗ trợ vùng xương vỏ bên ngoài làm tăng khả năng chịu lực của xương nhưng không làm tăng khối lượng xương Càng nhiều liên kết được hình thành đặc biệt là với xương vỏ bên ngoài càng làm tăng khả năng chịu lực của xương

Trang 22

Hình 7: Ảnh hưởng của cấu trúc liên kết lên sức mạnh xương

Đăc điểm cấu trúc xương bè được biểu hiện qua các thông số của QCT bao gồm:

số lượng bè xương (Tb.N), bề dày lớp xương bè(Tb.Th), sự phân chia lớp xương

bè (Tb.Sp) Trong các thông số này thì Tb.N là liên quan mật thiết với sức chịu lực của xương Nghiên cứu cho thấy khi cùng mất một khối lượng xương thì giảm số lượng bè xương sẽ giảm sức mạnh xương (từ 2-3 lần) nhiều hơn so với giảm bề dày xương bè Nguyên nhân của hiện tượng này là do khi mất toàn bộ bè xương sẽ làm giảm số lượng liên kết bên trong , vì vậy xương kém chịu lực

Hình 8: Số lượng xương bè đóng vai trò quan trọng trong sức mạnh xương

Trang 23

Ở người trưởng thành khỏe mạnh, phiến xương (plate) chiếm tỷ lệ nhiều hơn cột xương (rod) Phiến xương có khả năng chịu lực lớn hơn cột xương Trong bệnh loãng xương, bè xương hình phiến chuyển thành hình cột và mất đi những liên kết của chúng.

1.3.3 Khảo sát hình thái, cấu tạo xương bằng máy pQCT (peripheral quantitative computed tomography)

Trong chẩn đoán hình ảnh, QCT là thuật ngữ chỉ sự phân tích hình ảnh chụp cắt lớp dựa trên phần mềm máy tính chuyên dụng để tính toán ra các thông số định lượng [40] QCT có thể được dùng để đánh giá cấu trúc xương trung tâm (axial QCT): xương đốt sống, đầu gần xương đùi; hay xương ngoại vi (peripheral QCT): xương quay, xương chày Trong đánh giá sức mạnh xương, chụp cắt lớp điện toán ngoại biên (pQCT) đã được giới thiệu từ rất lâu từ cuối những năm 1970

Nguyên lý hoạt động, máy sẽ chụp những lát cắt hai chiều, sau đó sẽ dựng lại hình ảnh của vùng cần phân tích Sau đó kết quả BMD sẽ được lấy ra từ quá trình chuẩnhóa với khối phantom Tuy nhiên vì nhiều lý do như liều phóng xạ thấp, quá trình

đo đơn giản, giá thành thấp nên DXA đã thay thế QCT và trở thành tiêu chuẩn vàng cho việc đánh giá mật độ xương từ những năm 1990

Tuy nhiên, pQCT có khả năng mà DXA không thay thế được đó là đánh giá được riêng biệt cấu trúc xương vỏ và xương bè, cung cấp các thông số về đặc điểm hình học của xương, ước tình được khả năng chịu lực của xương

Vị trí đo của pQCT: (đo bên tay và chân không thuận)[40]

 Xương quay: (chiều dài xương quay được tính từ khớp cổ tay quay đến mỏm khuỷu)

Trang 24

+ Đầu xa xương quay (4% của chiều dài xương quay): tại vị trí này xương quay có thành phần chính là xương bè

+ Thân xương (15%- 65% của chiều dài xương quay, thường lấy vi trí 33%): xương quay có thành phần chủ yếu là xương vỏ

Hình 9: Vị trí đo trên xương quay

 Xương chày: (chiều dài xương chày tính tử đỉnh mắt cá trong đến khe khớp gối)

+ Đầu xa: (4% chiều dài xương chày) xương bè chủ yếu+ Đầu gần: (66% chiều dài xương chày) xương vỏ là chủ yếuThiết bị đo: máy qQCT được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu là máy XCT

2000 (Stratec Medizintechnik, Đức)

Ngày đăng: 19/01/2018, 19:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bonds D. E. et al. (2006), "Risk of fracture in women with type 2 diabetes: the Women's Health Initiative Observational Study", J Clin Endocrinol Metab. 91 (9), pp. 3404-3410 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk of fracture in women with type 2 diabetes: the Women's Health Initiative Observational Study
Tác giả: Bonds D. E. et al
Năm: 2006
2. Chen H. et al. (2013), "The effects of diabetes mellitus and diabetic nephropathy on bone and mineral metabolism in T2DM patients", Diabetes Res Clin Pract. 100 (2), pp. 272-276 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effects of diabetes mellitus and diabetic nephropathy on bone and mineral metabolism in T2DM patients
Tác giả: Chen H. et al
Năm: 2013
3. Cummings S. R. et al. (2002), "Epidemiology and outcomes of osteoporotic fractures", Lancet. 359 (9319), pp. 1761-1767 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiology and outcomes of osteoporotic fractures
Tác giả: Cummings S. R. et al
Năm: 2002
4. de L., II et al. (2005), "Bone mineral density and fracture risk in type-2 diabetes mellitus: the Rotterdam Study", Osteoporos Int. 16 (12), pp. 1713-1720 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bone mineral density and fracture risk in type-2 diabetes mellitus: the Rotterdam Study
Tác giả: de L., II et al
Năm: 2005
5. Hsu H. et al. (1999), "Tumor necrosis factor receptor family member RANK mediates osteoclast differentiation and activation induced by osteoprotegerin ligand", Proc Natl Acad Sci U S A. 96 (7), pp.3540-3545 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tumor necrosis factor receptor family member RANK mediates osteoclast differentiation and activation induced by osteoprotegerin ligand
Tác giả: Hsu H. et al
Năm: 1999
6. Johnell O. et al. (2004), "Mortality after osteoporotic fractures", Osteoporos Int. 15 (1), pp. 38-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mortality after osteoporotic fractures
Tác giả: Johnell O. et al
Năm: 2004
7. Koh W. P. et al. (2010), "Diabetes and risk of hip fracture in the Singapore Chinese Health Study", Diabetes Care. 33 (8), pp. 1766-1770 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabetes and risk of hip fracture in the Singapore Chinese Health Study
Tác giả: Koh W. P. et al
Năm: 2010
8. Kume S. et al. (2005), "Advanced glycation end-products attenuate human mesenchymal stem cells and prevent cognate differentiation into adipose tissue, cartilage, and bone", J Bone Miner Res. 20 (9), pp.1647-1658 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Advanced glycation end-products attenuate human mesenchymal stem cells andprevent cognate differentiation into adipose tissue, cartilage, and bone
Tác giả: Kume S. et al
Năm: 2005
9. Liao C. C. et al. (2014), "Increased risk of fracture and postfracture adverse events in patients with diabetes: two nationwide population-based retrospective cohort studies", Diabetes Care. 37 (8), pp. 2246- 2252 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Increased risk of fracture and postfracture adverse events in patients with diabetes: two nationwide population-based retrospective cohort studies
Tác giả: Liao C. C. et al
Năm: 2014
10. Lipscombe L. L. et al. (2007), "The risk of hip fractures in older individuals with diabetes: a population-based study", Diabetes Care. 30 (4), pp. 835-841 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The risk of hip fractures in older individuals with diabetes: a population-based study
Tác giả: Lipscombe L. L. et al
Năm: 2007
11. Looker A. C. et al. (1995), "Proximal femur bone mineral levels of US adults", Osteoporos Int. 5 (5), pp. 389-409 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Proximal femur bone mineral levels of US adults
Tác giả: Looker A. C. et al
Năm: 1995
12. Marshall D. et al. (1996), "Meta-analysis of how well measures of bone mineral density predict occurrence of osteoporotic fractures", Bmj. 312 (7041), pp. 1254-1259 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Meta-analysis of how well measures of bone mineral density predict occurrence of osteoporotic fractures
Tác giả: Marshall D. et al
Năm: 1996
13. Melton L. J., 3rd et al. (2008), "A bone structural basis for fracture risk in diabetes", J Clin Endocrinol Metab. 93 (12), pp. 4804-4809 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A bone structural basis for fracture risk in diabetes
Tác giả: Melton L. J., 3rd et al
Năm: 2008
14. Napoli N. et al. (2014), "Fracture risk in diabetic elderly men: the MrOS study", Diabetologia. 57 (10), pp. 2057-2065 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fracture risk in diabetic elderly men: the MrOS study
Tác giả: Napoli N. et al
Năm: 2014
15. Nicodemus K. K. et al. (2001), "Type 1 and type 2 diabetes and incident hip fractures in postmenopausal women", Diabetes Care. 24 (7), pp. 1192-1197 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Type 1 and type 2 diabetes and incident hip fractures in postmenopausal women
Tác giả: Nicodemus K. K. et al
Năm: 2001
16. Office of the Surgeon G. (2004), "Bone Health and Osteoporosis", Bone Health and Osteoporosis: A Report of the Surgeon General, Office of the Surgeon General (US), Rockville (MD) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bone Health and Osteoporosis
Tác giả: Office of the Surgeon G
Năm: 2004
17. Patsch J. M. et al. (2013), "Increased cortical porosity in type 2 diabetic postmenopausal women with fragility fractures", J Bone Miner Res. 28 (2), pp. 313-324 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Increased cortical porosity in type 2 diabetic postmenopausal women with fragility fractures
Tác giả: Patsch J. M. et al
Năm: 2013
18. Petit M. A. et al. (2010), "Bone mass and strength in older men with type 2 diabetes: the Osteoporotic Fractures in Men Study", J Bone Miner Res. 25 (2), pp. 285-291 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bone mass and strength in older men with type 2 diabetes: the Osteoporotic Fractures in Men Study
Tác giả: Petit M. A. et al
Năm: 2010
19. Schwartz A. V. et al. (2009), "Pentosidine and increased fracture risk in older adults with type 2 diabetes", J Clin Endocrinol Metab. 94 (7), pp. 2380-2386 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pentosidine and increased fracture risk in older adults with type 2 diabetes
Tác giả: Schwartz A. V. et al
Năm: 2009
20. Schwartz A. V. et al. (2002), "Older women with diabetes have a higher risk of falls: a prospective study", Diabetes Care. 25 (10), pp. 1749-1754 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Older women with diabetes have a higher risk of falls: a prospective study
Tác giả: Schwartz A. V. et al
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w