Quan điểm Y học hiện đại: Những mối liên quan hoạt động giữa các phần của bộ phận sinh dục nữthường được nghiên cứu đối chiếu với kinh nguyệt và cuộc đời hoạt động của ngườiphụ nữ về sin
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
-PHAN THỊ THANH THỦY
XÁC ĐỊNH TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN CÁC BỆNH CẢNH Y HỌC CỔ TRUYỀN CỦA VÔ SINH NỮ NGUYÊN PHÁT
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC CỔ TRUYỀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
PHAN THỊ THANH THỦY
-XÁC ĐỊNH TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN CÁC BỆNH CẢNH Y HỌC CỔ TRUYỀN CỦA VÔ SINH NỮ NGUYÊN PHÁT
Chuyên ngành: Y HỌC CỔ TRUYỀN
Mã số: 60 72 02 01
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC CỔ TRUYỀN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS NGUYỄN THỊ BAY
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Quan điểm Y học hiện đại: 3
1.1.1 Sinh lý phụ khoa: 3
1.1.1.1 Vùng dưới đồi: 3
1.1.1.2 Tuyến yên: 4
1.1.1.3 Buồng trứng: 5
1.1.1.4 Chu kỳ sinh dục ở phụ nữ: 10
1.1.1.5 Kinh nguyệt: 11
1.1.1.6 Sự thụ tinh: 13
1.1.1.7 Trứng đã thụ tinh di chuyển vào buồng tử cung 14
1.1.1.8 Phôi làm tổ và phát triển trong buồng tử cung 15
1.1.1.9 Các thời kỳ hoạt động sinh dục của người phụ nữ: 15
1.1.2 Đại cương về vô sinh nữ: 16
1.1.2.1 Định nghĩa: 16
1.1.2.2 Nguyên nhân: 17
1.1.2.3 Triệu chứng: 18
1.1.2.4 Điều trị: 19
1.2 Quan điểm của Y học cổ truyền: 20
1.2.1 Sinh lý phụ khoa: 21
1.2.1.1 Bào cung: 21
1.2.1.2 Thận khí: 21
1.2.1.3 Thiên quý: 21
1.2.1.4 Mạch Xung: 21
1.2.1.5 Mạch Nhâm: 22
Trang 41.2.1.6 Mạch Đới: 22
1.2.1.7 Mạch Đốc: 22
1.2.1.8 Các mạch Xung, Nhâm, Đốc, Đới có quan hệ với phụ khoa 22
1.2.1.9 Kinh nguyệt: 23
1.2.1.10 Thụ tinh: 25
1.2.2 Vô sinh nữ: 25
1.2.2.1 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh: 26
1.3 Điều trị: 31
1.4 Các nghiên cứu khoa học: 32
1.5 Mô hình cây tiềm ẩn (Latent Tree Models): 39
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 41
2.1.1 Tài liệu y văn YHCT: 41
2.1.2 Bệnh nhân được điều trị vô sinh nữ nguyên phát tại Bệnh viện Từ Dũ Tp Hồ Chí Minh: 41
2.2 Phương pháp nghiên cứu: 41
2.2.1 Khảo sát y văn: 41
2.2.2 Khảo sát trên lâm sàng 42
2.2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: 42
2.2.2.2 Cỡ mẫu: 42
2.2.2.3 Tiêu chuẩn chọn bệnh: 42
2.2.2.4 Địa điểm nghiên cứu: 42
2.2.2.5 Thời gian nghiên cứu: 42
2.2.2.6 Cách tiến hành: 42
2.2.2.7 Định nghĩa các biến số: 43
2.2.2.7 Phương pháp nhận biết và phân loại thể lâm sàng trong y học cổ truyền: .54 2.3 Vấn đề y đức: 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 BMI Body Mass Index
(Chỉ số khối của cơ thể)
4 COH Controlled ovarian hyperstimulation
(Kích thích buồng trứng có kiểm soát)
5 DNA Deoxyribonucleic acid
(Nguyên liệu di truyền ở người)
6 FSH Follicle Stimulating Hormone
(Hormon kích thích nang trứng)
7 Gn-RH Gonadotropin Releasing Hormone
(Hormon tác dụng kích thích tuyến yên tăng cường tiết các hormon gonadotropin)
8 ICD International Classification Diseases
(Hệ thống phân loại các bệnh tật theo quốc tế)
9 IUI Intrauterine insemination
(Kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng tử cung)
10 IVF In vitro fertilization
(Thụ tinh trong ống nghiệm)
11 IVF-ET In vitro fertilization - Embryo Transfer
(Thụ tinh trong ống nghiệm – chuyển phôi)
12 LH Luteinizing Hormone
(Hormon kích thích thể vàng)
13 LH-RH Luteinizing Hormone - Kelcasing Hormone
(Một decapeplid có tác dụng kích thích tuyến yên chế tiết LH)
14 LTH Luteotrophic Hormone
(Hormon tạo hoàn thể)
15 LTMs Latent Tree Models
(Mô hình cây tiềm ẩn)
16 MRI Magnetic Resonnace Imaging
(Kỹ thuật tạo hình cắt lớp sử dụng từ trường và sóng radio)
Trang 617 PCOS Polycystic Ovary Syndrome
(Hội chứng buồng trứng đa nang)
18 WHO World Health Organization
(Tổ chức Y tế Thế giới)
19 WPRO Western Pacific Regional Offic
(Văn phòng Khu vực Tây Thái Bình Dương)
20 YHCT Y học cổ truyền
21 YHHĐ Y học hiện đại
22 ZYP Zishen Yutai Pill
(đơn thuốc Zishen Yutai)
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Định nghĩa biến số nền 42 Bảng 2.2: Định nghĩa biến số triệu chứng 46
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ cơ chế bệnh sinh 30
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Vô sinh hiện nay là một tình trạng khá phổ biến, bị coi là nỗi bất hạnh nhấtcủa đời người Khi một cặp vợ chồng cưới nhau 2-3 năm chưa có con thì các lo lắngbắt đầu đè nặng và ngày càng lớn dần theo thời gian, có thể dẫn đến mất hạnh phúc
Trang 9và thường dẫn đến sự đỗ vỡ Cho nên có thể xem đây là một chứng bệnh có mức ámảnh, gây thương tổn về mặt tâm lý bậc nhất đối với không chỉ bệnh nhân mà với cảgia đình, những người thân quen gần gũi nhất trong gia đình Bên cạnh đó, từ xưa,
và ở nhiều nước, kể cả các nước phát triển, người ta thường cho rằng nguyên nhângây vô sinh là do người vợ Có lẽ đó là do cảm tính, thấy rằng người phụ nữ đóngvai trò chính trong suốt thời gian từ đầu của sự thụ thai đến khi sinh con xong.Nhưng cũng có lẽ do ngộ nhận, người vợ thấy rằng chồng mình quan hệ tình dụcvới mình bình thường thì không có lý gì nguyên nhân vô sinh lại do chồng mình.Thật ra, vô sinh có thể nguyên phát với người vợ hoặc với người chồng hoặc mộtcặp vợ chồng Tương tự vô sinh có thể là thứ phát đối với người vợ, người chồnghoặc cả hai Theo Alice D Domar (2007) ở các nước phát triển có khoảng 10 – 15%các cặp vợ chồng lâm vào cảnh hiếm muộn [8] Tại Việt Nam, theo kết quả điều tradân số năm 1982, tỷ lệ vô sinh chiếm 13%, trong đó vô sinh nữ chiếm khoảng 40%,
vô sinh nam chiếm khoảng 40% và vô sinh không rõ nguyên nhân chiếm 20% [20].Đến năm 1994 - 2000, chương trình Demographic and Health Surveys (DHS) thì tỷ
lệ vô sinh nguyên phát nữ ở Việt Nam là 7,9% ở độ tuổi 15 – 49 [30]
Ngày nay, y học hiện đại đã không ngừng cố gắng để có những kỹ thuật hỗtrợ sinh sản như thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), bơm tinh trùng vào buồng tửcung (IUI), tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI)… Nhưng kể cả các giải pháptiên tiến như vậy, với chi phí rất đắt đỏ không phải ai cũng thực hiện được thì xácxuất thành công không cao Song song đó, y học cổ truyền cũng đã đề cập đến vấn
đề này từ hàng ngàn năm nay Các danh y xưa rất chú ý về chứng không thai nghén,đặc biệt nhất là “Thiên kim phương” xuất hiện vào đời Đường đã nêu việc đó nơithiên đầu tiên nói lên chứng không thai nghén là việc quan trọng trong các bệnh phụkhoa [9] Hay trong Cốt không luận thiên, chương sáu mươi, sách Hoàng đế Nộikinh Tố Vấn nói: “ĐỐC MẠCH … Bịnh phát sinh ở mạch này: từ thiếu phúc xunglên Tâm mà đau, không đại tiện được, đó gọi là XUNG SÁN Ở con gái thì khôngthụ thai” [15] Trong Hải Thượng Lãn Ông thì có “Cầu tự”, trong Nam khoa – Nữ
Trang 10khoa của Lê Đức Thiếp thì có “Chủng tử” … đều đưa sự quan trọng của việc điềutrị vô sinh, tương đương trong phạm vi “vô sinh” trong y học hiện đại
Đối với Y học cổ truyền nước ta trong điều trị vô sinh nữ cũng đã có nhữnglưu truyền đáng kể Nhưng ở các tài liệu y khoa đều đề cập đến bệnh vô sinh nữ vớinhiều thể bệnh và các bài thuốc điều trị khác nhau, chưa có sự đồng nhất Ở nướcngoài, đặc biệt là ở Trung Quốc cũng có những y thư cổ về điều trị và những nghiêncứu về bệnh vô sinh nữ trong Y học cổ truyền, nhưng vẫn chưa có nghiên cứu nào
về tiêu chuẩn chẩn đoán để có thể ứng dụng điều trị bệnh vô sinh nữ theo YHCT Vìthế việc thực hiện đề tài xây dựng tiêu chuẩn chẩn đoán các thể lâm sàng bệnh vôsinh nữ theo YHCT ở với các bài thuốc điều trị phù hợp, nhằm trả lời cho câu hỏi:
“Y học cổ truyền đối với vô sinh nữ nguyên phát có những thể bệnh lâm sàng nào
và tiêu chuẩn nào giúp chẩn đoán?”
Với mục tiêu tổng quát:
Xác định cở sở chẩn đoán và điều trị Y học cổ truyền đối với bệnh Vô sinh
nữ nguyên phát
Mục tiêu cụ thể:
1 Sàng lọc các thể lâm sàng và điều trị vô sinh nữ theo YHCT
2 Xác định tỷ lệ các thể lâm sàng của bệnh Vô sinh nữ nguyên phát theoYHCT trên bệnh nhân nữ bệnh vô sinh nguyên phát đang điều trị tại Bệnhviện Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh
3 Xây dựng tiêu chuẩn chẩn đoán các thể lâm sàng của bệnh Vô sinh nữnguyên phát theo YHCT bằng mô hình cây tiềm ẩn
Trang 11Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Quan điểm Y học hiện đại:
Những mối liên quan hoạt động giữa các phần của bộ phận sinh dục nữthường được nghiên cứu đối chiếu với kinh nguyệt và cuộc đời hoạt động của ngườiphụ nữ về sinh dục cũng được sắp xếp theo các thời kỳ: trước dậy thì, dậy thì (khihành kinh lần đầu tiên), thời kỳ hoạt động sinh dục (thời kỳ hành kinh đều dặn) vàthời kỳ mãn kinh (thôi không hành kinh) là dựa vào sự hành kinh [22]
Hoạt động của vùng dưới đồi kích thích hoạt động của tuyến yên Hoạt độngcủa tuyến yên kích thích hoạt động của buồng trứng Ngược trở lại, hoạt động mạnhcùa buồng trứng sẽ ức chế hoạt động của vùng dưới đồi theo cơ chế hồi tác (feed-back) [22]
1.1.1.1 Vùng dưới đồi:
Trung khu sinh dục của vùng dưới đồi nằm trong nền của trung não, phíatrên giao thoa thị giác, gồm một nhóm các nhân thần kinh giàu mạch máu, có khảnăng tiết hormon Nhân trên thị chế tiết vasopressin, nhân bên thất chế tiết oxytocin,các chất này được các sợi thần kinh dẫn xuống thuỳ sau của tuyến yên [22]
Củ xám, nhân bụng giữa, nhân lưng giữa và nhân cung tiết ra các hormongiải phóng Các hormon này được chuyển xuống thuỳ trước tuyến yên (còn gọi làtuyến yên tuyến) theo một hệ tĩnh mạch gọi là hệ tĩnh mạch gánh của Popa và
Trang 12Fielding Trong số các hormon giải phóng nói trên có các hormon giải phóng sinhdục, gọi tắt là Gn-RH (Gonadotropin Releasing Hormone) [22]
Năm 1971, Shally đã tổng hợp được LH-RH (LH-Kelcasing Hormone) Đó
là một decapeplid có tác dụng kích thích tuyến yên chế tiết LH Nhưng từ đó đếnnay, người ta vẫn chưa tìm được một hormon giai phóng thứ hai, FSH-KH nhưtrong giả thiết đã nêu Đồng thời, LH-RH cũng lại có tác dụng kích thích tuyến yênchế tiết FSH Vì thế, trong những năm gần dây, nhiều tác giá đã gọi LH-RH là Gn-
RH Nhưng cũng còn những tác giả khác vẫn giữ tên cũ LH-RH, mặc dầu chất này
có cả khả năng kích thích tuyến yên sản sinh ra FSH như đã nói ở trên [22]
1.1.1.2 Tuyến yên:
Tuyến yên nằm trong hố yên, nặng khoảng 0,5 g, có hai thuỳ Thuỳ trước làmột tuyến nội tiết nên còn được gọi là tuyến yên tuyến (adenohypophysis) Thuỳsau là một mô giống thần kinh, còn được gọi là tuyến yên thần kinh(neurohypophysis), không phải là tuyến nội tiết [22]
Đứng về phương diện hoạt động sinh dục mà nói, thuỳ trước tuyến yên chếtiết các hormon hướng sinh dục kích thích các tuyến sinh dục, đồng thời chế tiếtprolactin kích thích tuyến vú [22]
Có hai hormon hướng sinh dục, FSH và LH Cả hai đều là glycoprotein [22]FSH (Follicle Stimulating Hormone) kích thích nang noãn của buồng trứngphát triển và trưởng thành (chín) [22]
LH (Luteinizing Hormone) kích Ihích nang noãn trưởng thành phóng noãn,kích thích hình thành hoàng thể và kích thích hoàng thể chế tiết Như vậy LH củaloài người làm cả nhiệm vụ của LTH (Luteotrophic Hormone) của một số loại gặmnhấm [22]
Prolactin là một hormon protein kích thích tuyến vú tiết sữa [22]
FSH và LH có các đường cong chế tiết trong chu kỳ kinh gần như song songvới nhau và có đỉnh cao vào trước phóng noãn một ngày Tuy nhiên, đỉnh FSHkhông cao đột ngột như đỉnh LH, cũng không tăng nhiều như đỉnh LH Vào trướcngày phóng noãn, đỉnh LH có khi đạt trị số gấp tới 5 - 10 lần so với trước đó Vào
Trang 13nửa sau của vòng kinh, trị số của FSH hơi thấp hơn so với vào nửa đầu của vòngkinh [22]
LH như đã nói, vài ngày trước phóng noãn có thể tăng nhanh đột ngột, đạtđỉnh cao trước phóng noãn 1 ngày, sau đó lại giảm nhanh, xuống mức như trước khiphóng noãn [22]
1.1.1.3 Buồng trứng:
Buồng trứng là tuyến sinh dục nữ, thường có 2 buồng trứng, nặng 8 - 15 g
Có hai chức năng: chức năng ngoại tiết tạo noãn chín và chức năng nội tiết tạo cáchormon sinh dục [22]
Buồng trứng có rất nhiều nang noãn Số lượng các nang noãn này giảm rấtnhanh theo thời gian Khi còn là thai nhi với tuổi 20 tuần, hai bên buồng trứng có1,5 - 2 triệu nang noãn nguyên thuỷ Nhưng khi em bé gái ra đời, số lượng các nangnoãn này đã giảm xuống rất nhiều, chỉ còn chừng 200.000 - 300.000, nghĩa là giảm
đi khoảng 10 lần trong thời gian 20 tuần Vào tuổi dậy thì, số lượng nang noãn chỉcòn 20.000 - 30.000 Tuy tốc độ giảm có chậm hơn, nhưng cũng là một vấn đề đángsuy nghĩ về số phận và khả năng của những nang noãn còn lại Sự giảm số lượngcác nang noãn là do các nang noãn bị thoái triển teo đi Nhưng các nang còn lạicũng trên đà thoái triển, mặc dầu chậm chạp, từ từ hơn Nếu những noãn nằm trongcác nang này được thụ tinh muộn thì cái phôi được hình thành có thể có khả năng bị
đe doạ về phát triển [22]
Buồng trứng không có khả năng sản sinh những nang noãn mới, khác vớitinh hoàn có khả năng sản sinh tinh trùng mới và tinh trùng luôn luôn trẻ [22]
Hoạt động sinh sản:
Nang noãn nguyên thuỷ có đường kính 0,05 mm Dưới tác dụng của FSH,nang noãn lớn lên, chín Nang noãn chín còn gọi là nang Graaf, có đường kính 1,5 -2cm Noãn chứa trong nang này cũng chín và chịu tác dụng phân bào Noãn chín cóđường kính 0,1 mm (100 micromet) [22]
Trong mỗi vòng kinh thường chỉ có một nang noãn phát triển để trở thànhnang Graaf Đó là nang nhạy nhất trong vòng kinh ấy Nang này phát triển từ một
Trang 14nang đã đang phát triển do đang từ cuối vòng kinh trước, chứ không phái từ mộtnang nguyên thuỷ như những lý thuyết cũ đã nêu [22]
Nang noãn chín là môt nang có hốc (nang rỗng) có các thành phần: [22]
- Vỏ nang ngoài làm bởi các sợi liên kết, thực sự chi có tác dụng bọc lấy nang
- Vỏ nang trong có nhiều mạch máu, là một tuyến nội tiết, có khả năng chế tiếtestrogen
- Màng tế bào hạt có tới 10 - 15 lớp tế bào hạt
- Noãn trưởng thành đã phân bào giảm số và có 22 nhiễm sắc thể thân và mộtnhiễm sắc thể giới X
- Hốc nang chứa dịch nang (liquor folliculi) trong có estron
Dưới tác dụng của LH, nang noãn càng chín nhanh, lồi ra phần ngoại vi củabuồng trứng rồi vỡ, phóng noãn ra ngoài Đó là hiện tượng phóng noãn [22]
Cũng dưới tác dụng của LH, phần còn lại của nang noãn tại buồng trứng dầndần biến thành hoàng thể Vào cuối vòng kinh, khi LH tụt xuống trong máu, hoàngthể teo di, để lại sẹo trắng, gọi là vật trắng hay bạch thể [22]
Hoạt động nội tiết:
Các tế bào hạt và những tế hào của vỏ nang trong chế tiết ra 3 hormon chính:estrogen, progesteron và androgen Các hormon này là hormon sinh dục, có nhânsteran nên còn được gọi là steroid sinh dục [22]
- Vỏ nang trong chế tiết estrogen
- Các tế bào hạt của hoàng thể chế tiết progesteron
- Các tế bào của rốn buồng trứng chế tiết androgen (hormon nam)
Nang noãn có thể coi là mỗi đơn vị hoạt động của buồng trứng cả về phươngdiện sinh sản, cả về phương diện nội tiết Thật vậy, nang noãn chín có khả năngphóng ra một noãn chín để thụ tinh được Các hormon của nang noãn và của hoàngthể đủ để làm thay đổi niêm mạc tử cung giúp cho trứng làm tố, và nếu như ngườiphụ nữ không thụ thai thì cũng đủ gây đươc kinh nguyệt [22]
Tác dụng của các hormon sinh dục nữ:
Estrogen:[22]
Trang 15Gọi là estrogen vì đây là những chất gây động dục (estrus) cho chuột cái đã
bị cắt bỏ hai buồng trứng Buồng trứng chế tiết estrogen dưới sự kích thích của LHkết hợp với FSH Cũng vì lượng FSH và LH thay đổi có chu kỳ nên lượng estrogencũng thay đổi có chu kỳ
Có 3 loại estrogen chính của buồng trứng là estradiol, estron và estriol Đốivơi niêm mạc tử cung, estradiol có tác dụng mạnh gấp 8 -10 lần so với estron.Estriol rất ít có tác dụng lên niêm mạc tử cung
Trong vòng kinh, estrogen có hai đỉnh cao, một ở vào trước ngày phóng noãn
do sự tăng chế tiết cực đại của nang noãn chín Người ta thấy rằng sự tăng cao nàycủa estrogen đã dẫn đến đỉnh cao của LH vào trước phóng noãn 1 ngày Đó là doestrogen đã làm tăng nhạy cảm của tuyến yên đối với LH-KH của vùng dưới đồinên tuyến yên đã tăng tiết LH nhanh chóng
Đỉnh cao thứ hai của estrogen xảy ra sau ngày phóng noãn khoảng một tuần,vào thời điểm hoạt động mạnh nhất của hoàng thể
Tác dụng cụ thể của estrogen được trình bày dưới đây
Đối với cơ tử cung:
- Làm phát triển các sợi cơ tử cung, làm tăng độ lớn, độ dài và số lượng cácsợi cơ Từ đó làm tử cung to ra
- Làm tăng nhạy cảm của cơ tử cung đối vơi oxytocin Vì thế estrogen đượccoi là nhân tố dễ gây sẩy thai
Đối với niêm mạc tử cung:
- Kích thích phân bào, tăng sinh niêm mạc tử cung, được coi là một hormonsinh ung thư niêm mạc tử cung, gây ung thư rõ rệt nhất trong tất cả các loạihormon hiện biết
- Vì nồng độ estrogen trong máu dao động có chu kỳ nên sự phát triển củaniêm mạc tử cung cũng thay đổi theo trong vòng kinh, dẫn đến quá trình pháttriển, bong rụng và chảy máu kinh nguyệt có chu kỳ Nếu có thêm vai tròcộng đồng của progesteron, sự diễn biến bằng kinh nguyệt lại càng rõ nét.Đối với cổ tử cung:
Trang 16- Kích thích chế tiết chất nhầy cổ từ cung, làm chất nhầy tăng nhiều, trong vàloãng, tạo điều kiện thuận lợi cho tinh trùng thâm nhập lên đường sinh dụctrên của người phụ nữ.
- Song song với việc tãng tiết chất nhầy, lỗ cổ tử cung mở rộng, tạo điều kiệncho tinh trùng thâm nhập
Đối với âm đạo:
- Làm phát triển biểu mô âm đạo, làm dầy thành âm đạo thông qua tác dụngduy trì, làm chậm bong các tế bào của biểu mô âm đạo Ở những người kémhoạt động của buồng trứng như ở người mãn kinh lâu năm, người đã bị cắt
bỏ hai buồng trứng, do thiếu trầm trọng estrogen, âm đạo sẽ bị teo mỏng, dễchảy máu khi va chạm
- Làm biểu mô âm đạo chứa glycogen Vì thế khi bôi Lugol vào âm đạo sẽ cómàu nâu thẫm do iod của Lugol đã tác dụng lên glycogen Nếu thiếuestrogen, âm đạo sẽ không bắt màu nâu thẫm mà chỉ nhuộm màu vàng nhạtcủa Lugol
- Làm môi trường âm đạo toan tính do glycogen của biểu mô đã được trựckhuẩn Doderlein vốn có trong âm đạo biến thành acid lactic, khiến pH của
âm đạo chỉ còn 4,5 - 5,5 Đây là khả năng tự bảo vệ tích cực của âm dạochống lại sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, ở những người có hoạt độngkém của buồng trứng, khả năng chống viêm của âm đạo cũng kém
Đối với âm hộ:
- Làm phát triển môi lớn và môi nhỏ của âm hộ Người thiếu estrogen, các môilớn, môi nhỏ sẽ kém phát triển và âm hộ sẽ bị hé mở Đây là trường hợp củacác em bé gái còn nhỏ tuổi và của các cụ bà mãn kinh đã lâu năm
- Làm phát triển các tuyến của âm hộ như tuyến Bartholin, tuyến Skene, kíchthích các tuyến này chế tiết chất nhờn
Progesteron: [22]
Trang 17Progesteron được hoàng thể chế tiết trong nửa sau của vòng kinh Tuy vậy,đường cong của progesteron trong máu bắt đầu từ 1 ngày trước phóng noãn do có
sự hoàng thể hóa sớm của nang noãn chín, dưới tác dụng của nồng độ cao LH.Đối
với cơ tử cung:
- Làm mềm cơ tử cung Làm giảm nhạy cảm của cơ tử cung đối với oxytocin
Từ đó cổ tác dụng giữ thai và còn được gọi là hormon trợ thai
- Cộng đồng với estrogen làm tăng phát triển cơ tử cung về cả số lượng các sợi
cơ, độ dài, độ lớn của các sợi cơ Vì thế, khi có thai, dưới tác dụng của nồng
độ estrogen và progesteron cao trong máu, cơ tử cung phát triển mạnh mẽ, cókhả năng chứa được thai phát triển nhanh trong tử cung
Đối với niêm mạc tử cung:
- Làm teo niêm mạc tử cung Là một hormon duy nhất cho tới nay có khả năngđiều trị ung thư niêm mạc tử cung Tuy nhiên, trên thực tế người ta chỉ sửdụng progestin (tất cả các chất có tác dụng giống progesteron) để điều trị dicăn của các loại ung thư này ở những nơi của cơ thể mà các phương phápđiều trị bằng phẫu thuật và tia xạ không giải quyết được hoặc dùng để điềutrị triệu chứng dành cho các bệnh nhân ung thư niêm mạc tử cung không cóchỉ định mổ
- Cộng đồng với estrogen và nhất là sau khi đã được chuẩn bị trước bằngestrogen, làm niêm mạc tử cung chế tiết Sự chế tiết này liên quan chặt chẽvới khả năng làm tổ của niêm mạc tử cung
Đối
với cổ tử cung:
- Đối kháng với estrogen, ức chế chế tiết chất nhầy của các tuyến trong ống cổ
tử cung, khiến lượng chất nhầy ít đi, chất nhầy trở thành đục và đặc, cổ tửcung đóng lại, ngăn cản sự thâm nhập của tinh trùng lên đường sinh dục trêncủa người phụ nữ Vì thế có thể sử dụng làm thuốc tránh thai
Đối với âm đạo:
- Đối kháng với estrogen, làm bong sớm các tế bào biểu mô âm đạo, nguyênnhân gián tiếp gây teo niêm mạc tử cung, làm giảm khả năng tự bảo vệ
Trang 18chống viêm của âm đạo Người sử dụng progestin kéo dài liều cao, người cóthai dễ bị viêm âm đạo hơn người bình thường.
1.1.1.4 Chu kỳ sinh dục ở phụ nữ:
Ở người phụ nữ hoạt động sinh dục cũng có chu kỳ, nhưng nhiều tác giả nghĩrằng nguyên nhân hoạt động có chu kỳ của người phụ nữ là do có cơ chế hồi tác(feed-back) [22]
Chu kỳ sinh dục của người phụ nữ có độ dài trung hình là 28 ngày, dao động
từ 22 đến 35 ngày cũng được coi là bình thường Mỗi chu kỳ được mở đầu bằngngày bắt đầu hành kinh và kết thúc bằng ngày bắt đầu của kỳ hành kinh sau Vì thếchu kỳ sinh dục còn được gọi là chu kỳ kinh hay vòng kinh [22]
Mở đầu của mỗi chu kỳ, Gn-RH của vùng dưới đồi kích thích tuyến yên chếtiết các hormon hướng sinh dục FSH của tuyến yên kích thích nang noãn của buồngtrứng phát triển Cộng với tác dụng của LH, nang noãn này chế tiết estrogen Khiestrogen đạt tới một mức độ nhất định sẽ tác động ngược lên vùng dưới đồi và tuyếnyên làm tăng tiết LH, dẫn đến phóng noãn và hình thành hoàng thể [22]
Khi estrogen và progesteron của hoàng thể đạt đỉnh cao sẽ ức chế vùng dướiđồi Hormon giải phóng Gn-RH giảm xuống Tuyến yên ngừng tiết các hormonhướng sinh dục Hoàng thể teo đi, các hormon của hoàng thể giảm xuống làm bongniêm mạc tử cung dẫn đến kinh nguyệt [22]
Khi các hormon sinh dục estrogen và progesteron giảm thì vùng dưới đồikhông bị ức chế nữa và bắt đầu chế tiết lại Gn-RH, mở đầu mỗi chu kỳ mới, mộtvòng kinh mới Đây là đường hối tác dài Theo chúng tôi, đường hồi tác ngắn không
có, giữa tuyến yên và vùng dưới đồi [22]
Sự hành kinh đều đặn là điều chứng tỏ cơ chế hối tác đã được thực hiện tốt
do các tuyến nội tiết như tuyến yên, buồng trứng đều hoạt động Chế tiết tốt, dùnồng độ hormon ức chế vùng dưới đồi và vùng dưới đồi cũng đã hoạt động tốt mộtkhi không bị ức chế ngược Nói một cách khác, một người phụ nữ có kinh nguyệtđều là có nhiều khả năng có hoạt động bình thường của trục vùng dưới đồi – tuyếnyên - buồng trứng, nghĩa là có phóng noãn, có khả năng sinh sản [22]
Trang 191.1.1.5 Kinh nguyệt:
Cơ chế của kinh nguyệt: [22]
Kinh nguyệt là hiện tượng chảy máu có tính chất chu kỳ hàng tháng từ tửcung ra ngoài do bong niêm mạc tử cung dưới ảnh hưởng của sự tụt đột ngộtestrogen và progesteron trong cơ thể
Nếu là vòng kinh không phóng noãn, chỉ có estrogen thì sự tụt đột ngột cùaestrogen cũng đủ gây kinh nguyệt
Nếu là vòng kinh có phóng noãn, có hoàng thể, thì sự tụt đột ngột của cảestrogen và progesteron là cần thiết để dẫn đến kinh nguyệt
Về cơ chế kinh nguyệt, giả thuyết tụt đơn thuần progesteron đã bị bác bỏ vìmột mình progesteron không làm phát triển niêm mạc tử cung và khi tụt cũng khônglàm bong niêm mạc tử cung
Estrogen làm phát triển các tiểu động mạch xoắn ốc của lớp nông niêm mạc
tử cung Khi estrogen tụt thì các tiểu động mạch này co giãn và kết thúc bằng giãncực độ, dẫn tới vỡ thành mạch và chảy máu kinh nguyệt
Vào cuối vòng kinh, dưới tác dụng của progesteron kết hợp với estrogen,xuất hiện những xoang tiếp nối (shunt) động-tĩnh mạch Khi estrogen vàprogesteron tụt thì máu dồn mạnh từ tiểu động mạch vào tiểu tĩnh mạch làm vỡxoang tĩnh mạch và gây chảy máu kinh
Nhiều tác giả nêu nguyên nhân hoại tử và bong niêm mạc tử cung là do cácmạch máu bị co thắt gây thiếu máu
Tất cả các giả thuyết nêu trên đều có giá trị và các hiện tượng xảy ra ở phạm
vi niêm mạc tử cung là hỗn hợp, đa dạng và ở các mức độ khác nhau Chỉ có mộtđiều người ta còn băn khoăn về cơ chế của chảy máu kinh nguyệt cho là do hậu quảcủa sự tụt các hormon sinh dục nữ Đó là trong thực hành điều trị dùng estrogen, đôikhi cũng xảy ra chảy máu Trong trường hợp này, estrogen không tụt mà lại tănglên
Tính chất của kinh nguyệt: [22]
Trang 20Mặc dù là do cơ chế nào, cho tới nay, chúng ta có thể có những nhận xét tómtắt như sau:
- Niêm mạc tử cung bong không đều tại các vùng khác nhau trong tử cung, cónơi bong rồi, có nơi đang bong và có nơi chưa bong Chính vì thế đợt hànhkinh léo dài 3 - 5 ngày Nếu niêm mạc tử cung bong nhanh, gọn như trườnghợp nạo niêm mạc tử cung bằng dụng cụ thì việc hành kinh có lẽ chỉ xảy ratrong vài giờ
- Từ lâu người ta đã có nhận xét thấy niêm mạc tử cung bong đến đâu thì táitạo ngay đến đấy Người ta chưa giải thích cơ chế cùa hiện tượng tái tạo này
là do đâu, trong khi các hormon sinh dục chưa tăng
- Trong những vòng kinh không phóng noãn, niêm mạc tử cung chỉ chịu tácdụng cùa estrogen, sẽ không có các xoang tiếp nối động - tĩnh mạch mà chỉ
vỡ các tiểu động mạch xoắn ốc theo cơ chế của Markee, nên máu kinh làmáu động mạch đỏ tươi
- Trong những vòng kinh có phóng noãn, máu kinh thường thẫm màu, ngả vềnâu Đây là máu chảy từ các xoang tĩnh mạch vỡ của các tiếp nối động - tĩnhmạch đã được hình thành dưới tác dụng của estrogen phối hợp vớiprogesterone
- Tuy gọi là máu kinh nhưng không phải chỉ là máu đơn thuần mà là một hỗndịch máu không đông trong chứa cả chất nhầy của tử cung, của cổ tử cung,của vòi trứng, những mảnh niêm mạc tử cung, những tế bào bong của âmđạo
- Máu kinh chứa các chất protein, các chất men và các progstaglandin Thôngthường những cục máu trong âm đạo không chứa sợi huyết mà chỉ là nhữngtích tụ hồng cầu trong chất nhầy Có hiện tượng tiêu sợi huyết mạnh và tiêuprotein mạnh xảy ra trong buồng tử cung và ở chất nhầy cổ tử cung Nhữngsản phẩm giáng hoá của sinh sợi huyết và của sợi huyết cũng là những nhân
tố chống đông máu rất có hiệu quả
Trang 21- Cục huyết khi hình thành trong buồng tử cung, lập tức sợi huyết bị tiêu ngay.Prostacyclin chứa nhiều trong máu kinh cũng có tác dụng lên mạch máu vàtác dụng kháng tiểu cầu Vì thế trong khi hành kinh, tác dụng tiêu sợi huyết
và tiêu protein liên tục có mặt làm cho những chất liệu thải qua máu kinh đã
bị hoá lỏng và máu kinh cũng không đông trong suốt thời gian hành kinh
- Máu kinh có mùi hơi nồng, không tanh như máu chảy do các nguyên nhânkhác
- Chu kỳ kinh có thể thay dổi giữa người này với người khác nhưng ít thay đổi
ở cùng một người và trong tuổi hoạt động sinh dục
- Lượng máu mất trong mỗi kỳ kinh thay đổi theo tuổi, ở lứa 50 tuổi lượngmáu kinh nhiều hơn so với lứa tuổi 15 Nói chung, lượng máu kinh bìnhthường vào quãng 60 - 80 ml Lượng máu kinh thường nhiều vào nhữngngày giữa của kỳ kinh Không có mối liên quan giữa độ dài của kỳ kinh vàlượng máu kinh Lượng máu kinh có thể khác nhau nhiều, gấp tới 4 lần giữangười này và người khác, nhưng không khác nhau bao nhiêu giữa các kỳkinh của mỗi người
1.1.1.6 Sự thụ tinh:
Sau phóng tinh, nhờ sự di động của tinh trùng cùng với sự co bóp của cơ tửcung và vòi trứng dưới tác dụng của prostaglandin, tinh trùng di chuyển qua tử cungđến vòi trứng Sau mỗi lần giao hợp, tại âm đạo có khoảng nửa tỷ tinh trùng nhưngchỉ có khoảng vài ngàn tinh trùng di chuyển đến được vòi trứng
Sự thụ tinh thường xảy ra ở khoảng 1/3 ngoài của vòi trứng Tinh trùngmuốn xâm nhập vào trong noãn, trước hết phải xuyên qua được lớp tế bào hạt baoquanh noãn để tiến tới vỏ ngoài của noãn Sau đó tinh trùng phải gắn và xuyên quađược màng trong suốt Cơ chế xâm nhập vào noãn của tinh trùng được giải thíchnhư sau:
Khi tinh trùng còn ở trong tinh dịch, có một lượng lớn cholesterol bọc quanhđầu tinh trùng làm bền vững màng bao bọc quanh đầu tinh trùng và ngăn chặn sựgiải phóng enzym Sau khi phóng tinh, tinh trùng di chuyển trong đường sinh dục
Trang 22nữ, lớp cholesterol bọc đầu tinh trùng bị mất, màng tinh trùng trở nên yếu và tăngtính thấm với ion calci Nồng độ ion calci cao trong bào tương của đầu tinh trùngmột mặt làm tăng hoạt động của tinh trùng, mặt khác làm giải phóng các enzym từđầu tinh trùng.
Đầu tinh trùng dự trữ một lượng lớn hyaluronidase và các enzym thuỷ phânprotein Dưới tác dụng của enzym hyaluronidase, các chất gắn liên kết tế bào hạtbao quanh noãn bị phá huỷ Sau đó nhờ enzym phân giải protein mà tinh trùng cóthể chọc thủng màng trong suốt của noãn và tiếp cận với lớp vỏ bao quanh noãn.Tại đây có receptor để cố định màng trước của tinh trùng vào lớp vỏ của noãn Rấtnhanh, màng trước của tinh trùng bị tiêu đi, tinh trùng giải phóng enzym và mởđường để xâm nhập vào lòng noãn Màng của đầu tinh trùng tan ra và vật chất củađầu tinh trùng đã xâm nhập vào noãn gây ra hiện tượng thụ tinh Trong quá trình thụtinh, thường chỉ có một tinh trùng xâm nhập vào noãn
Khi tinh trùng đã lọt vào bào tương của noãn, bào tương của tinh trùng sẽhoà lẫn với bào tương của noãn Nhân của noãn được gọi là tiền nhân cái, nhân củatinh trùng được gọi là tiền nhân đực Do mỗi tiền nhân cái chỉ chứa 1 n DNA nênchúng phải tăng lượng DNA lên gấp đôi Ngay sau đó màng nhân của tiền nhân cái
và tiền nhân đực mất đi, các thể nhiễm sắc xoắn lại, ngắn và dày lên Các thể nhiễmsắc này được giải phóng vào bào tương, sắp xếp lại tạo ra một đường xích đạo cáchđều hai cực Rồi mỗi thể nhiễm sắc con tiến về một cực tế bào Trên bề mặt trứngxuất hiện một rãnh phân chia ngày càng rõ
1.1.1.7 Trứng đã thụ tinh di chuyển vào buồng tử cung
Sau hiện tượng thụ tinh, trứng phải mất từ 3-4 ngày để di chuyển vào buồng
tử cung Trứng di chuyển được vào tử cung là nhờ dịch vòi trứng, hoạt động của tếbào lông rung ở vòi trứng, tác dụng giãn vòi trứng ở đoạn sát với tử cung củaprogesteron
Trong quá trình di chuyển, trứng được nuôi dưỡng bằng dịch của vòi trứng
và thực hiện nhiều giai đoạn của quá trình phân chia Khi tới tử cung trứng đã phânchia và được gọi là phôi bào (blastocyst) với khoảng 100 tế bào
Trang 23Vì một lý do nào đó trứng đã thụ tinh không di chuyển vào buồng tử cung (ví
dụ do viêm tắc vòi trứng), trứng có thể phát triển ngay tại vòi trứng hoặc rơi vào ổbụng Những trường hợp này được gọi là chửa ngoài dạ con Nếu không được pháthiện và xử trí kịp thời, phôi phát triển đến một mức nào đó sẽ làm giãn, vỡ gây chảymáu làm nguy hiểm đến tình trạng người mẹ
1.1.1.8 Phôi làm tổ và phát triển trong buồng tử cung
Sau khi chạm vào niêm mạc tử cung, phôi thường tiếp tục phát triển trongbuồng tử cung từ 1-3 ngày nữa rồi mới gắn vào niêm mạc tử cung Như vậy sự làm
tổ trong niêm mạc tử cùng thường xảy ra vào khoảng ngày thứ 5 - 7 sau khi phóngnoãn và đó cũng là lúc niêm mạc tử cung được chuẩn bị sẵn sàng để đón phôi vàolàm tổ
Hiện tượng làm tổ được bắt đầu bằng sự phát triển của các tế bào lá nuôi(trophoblast cells) trên bề mặt túi phôi Những tế bào này bài tiết enzym phân giảiprotein làm tiêu huỷ các tế bào biểu mô của niêm mạc tử cung đồng thời lấy chấtdinh dưỡng bằng hiện tượng thực bào để nuôi phôi Các tế bào lá nuôi phát triển ănsâu vào niêm mạc tử cung làm cho túi phôi vùi sâu vào niêm mạc tử cung
Ngay khi hiện tượng làm tổ xảy ra, các tế bào lá nuôi của phôi và các tế bàoniêm mạc tử cung tại chỗ đều tăng sinh nhanh để tạo ra rau thai và các màng thai
Trong hai tuần đầu, phôi phát triển nhờ chất dinh dưỡng lấy từ dịch niêmmạc tử cung Sau đó hệ thống mạch máu của bào thai phát triển và nguồn dinhdưỡng nuôi bào thai được lấy từ máu mẹ qua rau thai
1.1.1.9 Các thời kỳ hoạt động sinh dục của người phụ nữ:
Đứng về hoạt động sinh dục, cuộc đời người phụ nữ có thể chia làm bốn thời
kỳ dựa vào sự diễn biến của kinh nguyệt [22]
Thời kỳ trẻ em (trước dậy thì)
- Dần dần xuất hiện các dấu hiệu sinh dục phụ của phụ nữ như vú hơi nhô ra,
lông mu bắt đầu mọc lưa thưa khi gần sát vào tuổi dậy thì
- Cơ thể cũng phát triển dưới tác dụng song song của các hormon tăng trưởng
và các hormon sinh dục
Trang 24- Tuy nhiên, vì hoạt động nội tiết của buồng trứng còn chưa đủ để làm thay đổi
đáng kể niêm mạc tử cung nên chưa đủ dẫn đến kinh nguyệt Người thiếu nữchưa hành kinh
Thời kỳ dậy thì
- Tuổi dậy thì về sinh dục được đánh dấu bằng kỳ hành kinh đầu tiên Song
song với sự dậy thì về sinh dục, có sự dậy thì chung của toàn cơ thể
- Tuổi dậy thì trung bình vào khoảng 13 - 16 tuổi Ở một số nước, tuổi dậy thì
có xu hướng sớm hơn, 11 - 12 tuổi
- Các dấu hiệu sinh dục phụ của người phụ nữ xuất hiện rõ nét như vú nở
nang, lông mu phát triển, lông nách bắt đầu mọc, tiếng nói thanh do dâythanh âm căng hơn Lông nách xuất hiện sau lông mu khoảng hai năm
Thời kỳ hoạt động sinh dục
- Tiếp theo tuổi dậy thì là thời kỳ hoạt động sinh dục, kéo dài đến khi mãn
kinh Trong thời kỳ này, người phụ nữ thường hành kinh đều đặn, tỉ lệ vòngkinh có phóng noãn tăng lên do hoạt động nội tiết của trục dưới đồi - tuyếnyên - buồng trứng đã được hoàn chỉnh Người phụ nữ có thể thụ thai được
- Trong thời kỳ này, các tính chất sinh dục phụ cũng như toàn cơ thể của người
phụ nữ vẫn tiếp tục phát triển đến mức tối đa Thời kỳ hoạt động sinh dụckéo dài 30 - 35 năm
Thời kỳ mãn kinh
- Tuổi mãn kinh trung bình là 45 - 50 tuổi Theo một số điều tra cơ bản, tuổi
mãn kinh trùng bình của người Việt Nam là 47 ± 3 tuổi
- Kể từ khi mãn kinh, người phụ nữ không còn khá năng có thai nữa.
1.1.2 Đại cương về vô sinh nữ:
1.1.2.1 Định nghĩa:
Một cặp vợ chồng được xem là vô sinh sau khi 1 năm chung sống không ápdụng bất cứ phương pháp tránh thai nào mà người vợ vẫn không mang thai Tìnhtrạng này ảnh hưởng đến 10 – 15% số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản (15 – 44tuổi)
Trang 25Vô sinh nguyên phát là hai vợ chồng chưa bao giờ có thai, mặc dù đã sốngvới nhau trên một năm và không dùng biện pháp tránh thai nào [4]
Vô sinh thứ phát là hai vợ chồng trước kia đã có con hoặc đã có thai, nhưngsau đó không thể có thai lại mặc dù đang sống với nhau trên một năm và không dùngbiện pháp tránh thai nào [4]
1 Không phóng noãn có giảm gonadotrophin
2 Không phóng noãn có gonadotrophin bình thường
3 Không phóng noãn có tăng gonadotrophin
o Không phóng noãn có giảm gonadotrophin:
Rối loạn chức năng dưới đồi
Do rối loạn chức năng tuyến yên
Rối loạn nội tiết tuyến giáp
Tăng prolactin
o Không phóng noãn có gonadotrophin bình thường:
Hội chứng buồng trứng đa nang
Tăng androgen
Thiểu năng pha hoàng thể
o Không phóng noãn có tăng gonadotrophin:
Suy sớm buồng trứng
Buồng trứng đáp ứng kém
- Vô sinh do vòi tử cung: các bệnh lý có thể gây tổn thương vòi tử cung nhưviêm nhiễm đường sinh dục, bệnh lây qua đường sinh dục, tiền sử phẫu thuậtvùng chậu và vòi tử cung, lạc nội mạc tử cung ở vòi tử cung, bất thường bẩmsinh ở vòi tử cung hoặc do triệt sản [4]
Trang 26- Vô sinh do cổ tử cung: chất nhầy kém, kháng thể kháng tinh trùng, tổnthương ở cổ tử cung do can thiệp thủ thuật (khoét chóp, đốt điện …), cổ tửcung ngắn [4]
- Vô sinh do tử cung: u xơ tử cung, viêm dính buồng tử cung, bất thường bẩmsinh (dị dạng tử cung hai sừng, tử cung không có vách ngăn, không có tửcung …) [4]
- Lạc nội mạc tử cung [4]
- Chưa rõ nguyên nhân: khoảng 10% vô sinh không thể tìm nguyên nhân chínhxác sau khi đã thăm khám và làm tất cả xét nghiệm cần thiết để thăm dò vàchẩn đoán [4]
1.1.2.3 Triệu chứng:
Vô sinh nữ không có những triệu chứng rõ ràng, nhưng từ các nguyên nhângây nên vô sinh, ta có những triệu chứng có thể có sau:
- Kinh không đều.
- Kinh thưa (chu kỳ kinh nguyệt > 35 ngày hay có kinh < 8 lần /năm).
- Kinh nhiều.
- Thiểu kinh.
- Rong kinh.
- Rong huyết.
- Khí hư dị thường có những mùi hôi.
- Đau vùng chậu khi hành kinh (có khi kéo dài ngoài những ngày hành kinh).
- Vô kinh nguyên phát.
- Vô kinh thứ phát (không có kinh > 6 tháng) (> 6 tháng sau khi sinh hay sau
khi ngưng sử dụng thuốc ngừa thai)
- Dậy thì muộn (không có dấu hiệu sinh dục phụ nào ở tuổi 14 hoặc không có
kinh nguyệt cho tới tuổi 18) (biểu hiện nhi tính, chậm trưởng thành (trướctuổi dậy thì)
- Mụn trứng cá.
- Rậm lông: mọc ria mép, mọc râu, mọc lông mu, lông chân kiểu nam giới…
Trang 27- Rụng lông nách và lông bộ phận sinh dục (sau thời kỳ trưởng thành).
- Hói đầu kiểu nam giới.
- Giảm ham muốn tình dục.
- Đau khi giao hợp.
- Chảy máu và cảm giác nóng khi đi tiểu.
- Tiểu khó (bí tiểu), buốt.
- Chảy sữa (một hoặc cả hai bên, nhiều hay ít, khác nhau về màu sắc dịch tiết
và độ đậm đặc, máu) (trường hợp ngưng cho con bú trên 6 tháng vẫn cònchảy sữa phải coi là bất thường)
- Béo phì: kiểu trung tâm, được đánh giá bằng cách sử dụng chỉ số khối cơ thể
(Body Mass Index – BMI) và tỉ sô eo hông (Waist-Hip ratio – WHR)
- Biếng ăn hoặc ăn vô đối.
Rối loạn phóng noãn:
Suy dưới đồi – tuyến yên: [4]
- Thay đổi cách sống.
- Cải thiện dinh dưỡng, chế độ ăn uống.
- Nếu không có kết quả có thể điều trị bằng Gonadotrophins.
Rối loạn dưới đồi – tuyến yên: [4]
- Thay đổi các sống, giảm cân.
- Kích thích phóng noãn (Clomiphene citrate …).
- Metformin để cải thiện đáp ứng với Clomiphene ở người bệnh PCOS.
Trang 28- IUI (bơm tinh trình vào buồng tử cung), IVF (thụ tinh trong ống nghiệm) Suy buồng trứng: [4]
- Xin noãn làm IVF.
- Liệu pháp hormone thay thế để điều trị triệu chứng và phòng ngừa loãng
xương
Không phóng noãn do prolactin máu cao: [4]
- Cần phải chụp MRI để loại trừ khối u tuyến yên.
- Dopamine động vật.
Do vòi tử cung: [4]
- Phẫu thuật mở thông vòi trứng qua mổ bụng hoặc nội soi.
- IVF khi phẫu thuật không đem lại kết quả.
Lạc nội mạc tử cung: [4]
Có thể phẫu thuật bóc nang lạc nội mạc tử cung, tách dính để điều trị nộikhoa
- Kích thích phóng noãn, IUI nếu có vòi tử cung bình thường.
- IVF nếu phẫu thuật, kích thích phóng noãn IUI thất bại hoặc lạc nội mạc tử
cung to
Do tử cung: [4]
- U xơ tử cung: nên phẫu thuật khi vị trí và kích thước khối u ảnh hưởng đến
buồng tử cung
- Polyp buồng tử cung: nên phẫu thuật cắt polyp qua soi buồng tử cung.
- Tử cung có vách ngăn và dính buồng tử cung: soi buồng tử cung phẫu thuật.
Do cổ tử cung: [4]
- IUI, IVF.
- Điều trị viêm cổ tử cung.
Không rõ nguyên nhân: [4]
- Kích thích buồng trứng, IUI.
- Nếu thất bại chuyển IVF.
1.2 Quan điểm của Y học cổ truyền:
Trang 291.2.1.2 Thận khí:
Thận khí là gốc của tiên thiên, là nguồn của sinh hóa Đó là bẩm thụ của tiênthiên tạo thành bởi sự kết hợp tinh huyết của bố mẹ, có tác dụng thúc đầy quá trìnhsinh trưởng va phát dục của cơ thể [19]
1.2.1.3 Thiên quý:
Thiên quý là loại vật chất mới sinh ra khi chức năng sinh lý của con người đãhoàn thiện Chức năng của thiên quý là làm cho nhâm mạch thông, thái xung mạchthịnh, tạo ra kinh nguyệt ở nữ, làm tinh khí tràn đầy ở nam [19]
Quý là nói Nhâm Quý, Nhâm Quý là 2 thiên can cuối cùng ở trong 10 thiêncan: giáp ất, bính đinh, mậu kỷ, canh tân, nhâm quý [16]
Nhâm quý thuộc phương bắc, hành thủy, tức là “bắc phương nhâm quý thủy”con người có thận thuộc thủy, nước ở trong thận gọi nước “thiên chân” Nên gọithiên quý, hay nói Bắc phương Nhâm quý thủy cũng là nói Thận thủy [16]
Trang 301.2.1.5 Mạch Nhâm:
Mạch nhâm chủ bào cung, thống quản các mạch âm trong cơ thể con người [19]Vương Băng nói: “Mạch xung là bể chứa huyết, mạch nhâm chủ về bào thai.Hai mạch xung – nhâm nương tựa hỗ trợ cho nhau tốt thì đấy là nguồn suối củakinh nguyệt và thai sản” [19]
Theo y học nhập môn: mạch Nhâm khởi từ huyệt Trung cực lên bụng tớihuyệt Thừa tương theo quanh mặt vào mắt và lưỡi Là một nguồn lực dinh dưỡngcủa bào thai [16]
1.2.1.6 Mạch Đới:
Đới là cái đai Mạch đới là một trong 8 mạch ở Kỳ kinh Mạch đới gốc từmạch Túc Thiếu âm lên đến huyệt Quắc trung rẽ sang Túc Thái dương mà hợp vớiThận đến đốt xương sống thứ 14 ra đi quanh một vòng ngang lưng [16]
Trong 12 kinh mạch và 7 kinh trong Kỳ kinh đều chu lưu lên xuống, chỉ cómạch Đới là đi quanh ngang lưng một vòng; như đánh đai lưng, nên gọi là mạchĐới [16]
1.2.1.7 Mạch Đốc:
Mạch Đốc là một trong 8 mạch của Kỳ kinh Đốc có nghĩa là đốc suất tổngquát tất cả dương mạch trong thân người Mạch Đốc khởi từ huyệt Hạ cực và dọcxương sống lên đến huyệt Phong phủ vào óc [16]
1.2.1.8 Các mạch Xung, Nhâm, Đốc, Đới có quan hệ với phụ khoa
Trọng yếu nhất là hai mạch Xung và Nhâm vì hai mạch này là nguồn suốicủa kinh nguyệt và thai sản [19]
Các mạch Xung, Nhâm, Đốc, Đới đều khởi đầu từ huyệt hội âm rồi chia ra 3nhánh Mạch Xung Nhâm nối liền vào dạ con chịu sự ràng buộc của mạch đới Vìthế bốn mạch Xung, Nhâm, Đốc, Đới cùng liên quan ảnh hưởng với nhau gây thành
hệ thống có quan hệ trực tiếp đến sinh lý phụ nữ [19]
Trang 31Mạch Xung – Nhâm đầy đủ, thịnh vượng thì thân thể khỏe mạnh, kinhnguyệt điều hòa, thụ thai và sinh nở bình thường Nếu mạch Xung – Nhâm bị tổnthương có thể gây ra bệnh phụ khoa [19]
Mạch Đới thì ràng buộc lấy các mạch để gìn giữ lấy mối quan hệ lẫn nhau.Nếu công năng lấy không điều hòa thì 3 mạch Xung, Nhâm, Đốc bị ảnh hưởng sinh
ra bệnh đới hạ, vô sinh [19]
1.2.1.9 Kinh nguyệt:
Sách Hoàng đế Nội kinh Tố Vấn, trong Thượng cổ thiên chân luận:
“Con gái 7 tuổi, thận khí thịnh, thay răng, tóc dài Hai lần bảy (14 tuổi)
có thiên quý sinh ra, Nhâm mạch thông, Thái xung mạch thịnh, kinhnguyệt đúng kỳ xuống nên mới có con Đến năm ba bảy (21 tuổi), Thậnkhí điều hòa, chân nha mọc hết Đến năm bồn bảy (28 tuổi), gân xươngđều bền rắn, tóc dài hết mực, thân thể khỏe mạnh Đến năm năm bảy (35tuổi), Dương minh mạch suy, vẻ mặt bắt đầu khô khan, tóc bắt đầu rụng.Đến năm sáu bảy (42 tuổi), mạch của ba kinh dương suy kém ở trên, vẻmặt khô khan hẳn, tóc bạc Đến năm bảy bảy (49 tuổi), Nhâm mạch hư,Thái xung mạch kém sút, thiên quý hết, địa đạo không thông cho nênthân thể hao mòn mà không có con.” [15]
Trong Hải Thượng Lãn Ông:
“Thiên quý đến mạch Nhâm thông, mạch Thái xung thịnh, hai mạch lưuthông, kinh nguyệt đầy dần, đúng thời kỳ ra giống như mặt trăng có lúctròn lúc khuyết, nên gọi là “kinh nguyệt”, và kinh đến không sai hẹn, nêncũng gọi là “nguyệt tín”, nhưng bởi vì Thận thuộc thủy, quý cũng thuộcthủy, do khí của tiên thiên súc tích đến cực độ mà sinh ra, cho nên gọi là
âm tinh là thiên quý.” [10] “Nhưng cũng nên biết Huyết hải có thừa, do
12 kinh đều thừa, chứ không phải chỉ một mình Huyết hải, cho nên kinhmới có được.” [10] “Đàn bà đến 49 tuổi, thì thiên quý hết cái hết đó chỉthủy của thiên quý, còn huyết lưu hành vẫn không thấy khô cạn, mà vẫnchạy ở trong khoảng kinh lạc và bì phu đó, tức như lúc 14 tuổi, khí ở
Trang 32thiên quý tới mạch nhâm mới thông, thì kinh nguyệt mới theo kỳ mà ra.Như thế là đủ thấy kinh nguyệt chẳng những là do thủy của thiên quý,
mà còn do khí của thiên chân (tức là chân nguyên hay nguyên khí) nữa.”[10]
Kinh nguyệt không chỉ có mối liên quan đến mạch Xung, mạch Nhâm, Thậnnhư đã nêu trên mà còn liên hệ đến ba tạng Tâm, Tỳ, Can Trong Hải Thượng LãnÔng cũng có nói: “Kinh nguyệt … còn ở kinh Thủ Thái dương Tiểu trường thuộcphủ, chủ ở phần biểu, là dương, và ở kinh Thủ Thiếu âm Tâm thuộc tạng, chủ ởphần lý, là âm Hai kinh này ở trên là sữa, ở dưới là kinh nguyệt” [10], “MạchNhâm đảm nhiệm âm huyết của toàn thân Thái xung thuộc kinh Dương minh là bểcủa huyết, cho nên cốc khí thịnh thì bể huyết đầy, mà kinh nguyệt đến kỳ ra.” [10]
vì thế thức ăn vào dạ dày, tràn đầy tinh khí, trên thì chuyển vận lên Tỳ, Tỳ khí phântán đưa lên Phế, mà thông điều đường thủy, dưới thì chuyển vận xuống Bàng quang,tinh túy của nước lưu hành ra khắp kinh mạch của năm tạng [10] Đó là lý do bổhuyết thường dùng thuốc chữa Tỳ Vị trong trị kinh nguyệt
Can chủ về tàng huyết, tính của nó thích sơ tiết, điều đạt Khi Can khí bìnhhòa thì huyết mạch lưu thông, huyết hải định tịnh Khi Can khí bị uất, mất chứcnăng điều đạt sẽ gây ảnh hưởng đến kinh, đới, thai, sản (nhất là phụ nữ ở gia đoạntiền mãn kinh hay gặp chứng trạng này) Vì vậy trong điều trị càng sơ đạt can khí làchính [19]
Màu sắc kinh nguyệt còn do mệnh môn ảnh hưởng, như Hải Thượng LãnÔng có viết:
“Mạch Xung mạch Nhâm khởi đầu từ trong tử cung, con trai để chứatinh, con gái để gìn giữ bào thai, mà làm thành công dụng ấy, trong đó lạiđặc biệt có một điểm hỏa của mệnh môn làm chủ Cho nên hỏa vượng thìkinh đỏ, hỏa suy thì kinh nhợt, hỏa quá vượng, thì kinh đỏ bầm, hỏa quásuy thì kinh trắng bệch Vì thế, đã tư thủy lại kiêm dương hỏa Hỏa quálắm thì kinh khô cặn không thông, tuy nói là hỏa quá thịnh nhưng cũng
do thủy quá hư, thì cũng không nên dùng thuốc đắng lạnh để giáng hỏa,
Trang 33mà chỉ nên bổ mạnh vào thủy theo nguồn “thiên nhất” để nuôi dưỡnglàm cho kinh nguyệt đầy, kinh đầy rồi thì tự nhiên chảy tràn ra, chứkhông có thứ thuốc mạnh dữ nào có thể làm thông kinh được.” [10]
Có trường hợp 2 tháng có kinh 1 lần (tính nguyệt), 3 tháng có kinh 1 lần (cựkinh), một năm thấy kinh 1 lần (tỵ niên), suốt đời không có kinh mà vẫn có thai (ámkinh), sau khi có thai đến kỳ kinh vẫn ra chút ít (khích kinh), đó là sự khác thường
về sinh lý, không phải bệnh tật [19] Sữa là do huyết qua Phế mà thành “Khi có thai,huyết phải nuôi thai, khi đẻ rồi, chất tinh túy ấy trở về Phế kim đi ra các mạch, chảyvào vú, biến ra sắc trắng mà thành sữa, tức là bẩm thụ theo màu sắc của Phế kim.”[10], nếu không cho bú, thì “tân dịch vào mạch Xung, mạch Nhâm mà làm thànhkinh nguyệt, biến ra sắc đỏ làm thành máu, tức là bẩm thụ theo màu sắc của âmhỏa” [10]
1.2.1.10 Thụ tinh:
Sách Linh Khu, thiên 30 Quyết khí có ghi: “Lưỡng thần tương bác, hợp nhịthành hình” Nghĩa là hai thần chung đúc nhau hợp lại mà nên con người, vậy chất
để chung đúc ấy là tinh cha và huyết mẹ [19]
Huyết khí hộ vệ bên ngoài, thành bào thai, tinh thì dầy đặc bên trong để hóasinh nuôi dưỡng
1.2.2 Vô sinh nữ:
Các danh y xưa rất chú ý về chứng không thai nghén, đặc biệt nhất là “Thiênkim phương” xuất hiện vào đời Đường đã nêu việc đó nơi thiên đầu tiên nói lênchứng không thai nghén là việc quan trọng trong các bệnh phụ khoa [9] Với HảiThượng Lãn Ông thì có “Cầu tự”, trong Nam khoa – Nữ khoa của Lê Đức Thiếp thì
có “Chủng tử” … đều đưa sự quan trọng của việc điều trị không thai nghén Tươngđương trong phạm vi “Vô sản, vô sinh” trong y học hiện đại
Y học cổ truyền rất xem trọng yếu tố “tiên thiên” và “hậu thiên” trong vấn đề
vô sinh Kinh dịch nói: trời đất hun đúc, muôn vật hóa thành, trai gái giao cấu,muôn vật hóa sinh Nếu tinh cha huyết mẹ không đầy đủ mà có thể chửa đẻ thì chưabao giờ có [8]
Trang 341.2.2.1 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh:
Do phú bẩm bất túc, hoặc phòng lao, sinh đẻ nhiều dẫn đến dương khí bấttúc, bào cung mất sự nuôi dưỡng ấm áp, sự sinh hóa của khí huyết bất cập gây nênbệnh Do dương khí vốn hư, bào cung thiếu sự ấm áp, khí ít huyết lạnh, sinh hóa bấtcập gây nên bệnh [14]
Do hàn tà xâm phạm Bào cung, huyết bị hàn làm ngưng đọng làm cho đườnghuyết đi bị rít trệ, sự lưu thông mất bình thường gây nên bệnh Chứng hậu này hayphát sinh khi đang hành kinh hoặc mới sinh đẻ, bị tà khí phong hàn ở bên ngoài ẩnnáu đột ngột hoặc ăn đồ sống lạnh làm bên trong cơ thể bị tổn hại gây nên bệnh.[14]
Tâm tình không thư thái, can khí uất kết sơ tiết không bình thường làm chokhí huyết mất điều hòa [17]
Can mộc không thư thái, tất thị làm cho Tâm hỏa và Thận thủy không giaothông với nhau rồi lại xuống xung khắc với Tỳ thổ thì cái sức của lưng rốn yếu đi,cái khí của mạch Nhâm, mạch Đới bế tắc lại mà cái cửa bào thai cũng vì vậy bế tắcluôn [16]
Người phụ nữ vốn cơ thể hư nhược hoặc do bệnh tật ảnh hưởng, do phòngdục vô độ, lao động quá sức hoặc do tình chí rối loạn đều làm cho Thận dương hư,Thận khí yếu nên tinh huyết kém, mạch xung nhâm hư tổn, bào cung không đượcnuôi dưỡng tốt [7]
Do cơ thể vốn dương hư, Tỳ không vận chuyển mạnh, thấp tụ lại thành Đàmdồn xuống hai mạch Xung Nhâm làm ngăn trở Bào cung Bào mạch gây nên loạtchứng trạng Chứng này gặp nhiều ở người béo mập [14] [19]
Chứng Đàm thấp ngăn trở Bào cung đa số gặp ở phụ nữ béo mập, nên có thểcoi thể trạng béo mập là đặc điểm của chứng bệnh này; nhưng cũng có thể thất ởngười bẩm thụ quá đầy đủ, hoặc là dùng nhiều đồ béo ngọt rượu chè; cho nên khôngquá câu nệ vào cái thuyết chỉ có người béo mập mới mắc chứng này [14]
Vì bào thai ở trong cái khoảng tâm và thận Bào thai mà lạnh là vì 2 chân hỏacủa tâm thận suy kém Tỳ Vị mà hư hàn là bởi Tâm Thận: Vị thổ (con Vị thuộc thổ)
Trang 35mà không có Tâm hỏa thì không sinh hóa, Tỳ thổ mà không có Thận hỏa cũngkhông sinh hóa [16]
Nếu Tâm Thận hỏa mà suy thì Tỳ Vị thổ mất sinh khí, đã không thể tiêu hóacơm nước để chuyển vận tinh vi thì tự nhiên không có tân dịch để tưới bón thấmnhuần cho bào thai Vậy Tỳ Vị không khỏe, tất nhiên mạch Đới vô lực, mạch Đới
mà vô lực thì có thụ thai cũng vẫn sợ cái thai có thể trụy hạ [16]
Uống nhiều thuốc ôn nhiệt quá, hoặc huyết hư hỏa thịnh, nhiệt ẩn nấp ởmạch Xung, Nhâm [17]
Bởi vì bào thai đã thông vào Thận, mà xương tủy phải nhờ Thận thủy tư hóa.[16]Nay Thận thủy không đủ tư hóa cho xương tủy, thì xương tủy nóng quá, thành
ra trong xương rỗng không, chỉ còn cái sức nóng cháy của tâm hỏa, lấy gì mà tưdưỡng cho bào thai Vậy bào thai không được sự tư dưỡng của xương tủy, làm saobào thai không nóng [16]
Do ứ huyết ngưng kết ở hai mạch Xung Nhâm, ấp ủ sinh ra thấp rồi xuất hiệnmột loạt chứng trạng Chứng trạng này đa số do chính khí bất túc, bệnh tà nhân chỗ
hư lọt vào Xung Nhâm gây nên; hoặc do nội thương thất tình, công năng Tạng Phủthất thường làm cho Xung Nhâm mất điều hòa gây nên bệnh [14]
“Huyết” tàng ở Can, “tinh” chứa ở Thận, tinh huyết đầy đủ, mỗi khi giaocảm, tinh huyết bèn tiết ra Can khí mà không dẫn xuống thì Thận tinh không thểtiết ra Vậy thì Thận tinh mà tiết ra là bởi nhờ có Can khí dẫn xuống [16]
Một khi Can khí dẫn xuống, Thận tinh đã tiết ra rồi, thì Can bị khô, khôngcòn được chịu sự tưới mát của Thận nữa Bởi thận là mẹ của Can (Thận thủy sinhCan mộc) mẹ đã bị tiết tinh đi thì không thể còn nước để phân chia mà tưới bónnuôi con được Như thế thì cây khô là bởi thiếu nước [16]
Đã khô mà lại thiếu nước tất sinh hỏa, mà cái hỏa ấy cứ khuấy động âm thầm
để đốt cái tinh khí của Thận cho khô cạn Bởi vậy, Thận tinh hư thì can huyết cũng
hư [16]
Xung Nhâm có quan hệ mật thiết với tạng Thận [14]
Trang 36Vì Xung mạch và Nhâm mạch gốc đều từ tạng Thận, cho nên chứng XungNhâm hư suy trên lâm sàng đều có những biểu hiện Thận hư, có thể chia loại: mộtloại là biểu hiện lâm sàng chỉ mạch Nhâm mới bị bệnh; một loại chủ yếu là chứngtrạng toàn thân ví dụ như thờ ơ về sinh lý, lưng gối mỏi yếu, … Vì mức độ Thận hưkhác nhau, cho nên chứng Xung Nhâm hư suy biểu hiện chứng trạng chủ yếu cũngchia ra nặng và nhẹ [14]
Mạch Nhâm mà hư thì mạch Đới tụt xuống phía trước, mạch Đốc mà hư thìmạch Đới trụt xuống phía sau Mạch Nhâm, mạch Đốc mà hư cả, ắt là phát ra chứngsán, hà Sán, hà làm trở ngại cho bào thai mà bề ngoài phát trướng thì bào thai co lại
ở trong sán hà, làm cho khó thụ thai [16]
Sán: âm khí tích lại ở trong bụng, lại cảm thêm khí lạnh ở bên ngoài làm chovinh vệ không thông hóa, huyết khí hư nhược, cho nên thành sán [16]
Hà: khi kinh đang hành, cảm lạnh hay Tỳ hư, hay uất giận, huyết không hànhnữa, ngưng tích lại thành hà làm cho nóng lạnh, ăn không tiêu, kinh không hành,mặt bủng da vàng … Bệnh hà thường hay lẫn với bệnh “Trưng” Hà kết hòn ở trongbụng, nhưng ấn chỗ này chạy chỗ khác, không ở nguyên một chỗ như Trưng [16]
Can Tỳ mất điều hòa, khí uất ở Xung Nhâm không hóa được đến nỗi thấp vàhuyết tụ hình thành các khối sưng có hình dáng [14]
Như vậy nguyên nhân và cơ chế là:
- Ngoại nhân: lúc hành kinh do giữ gìn không cẩn thận ăn nhiều đồ sống lạnh,hoặc hóng gió lạnh làm cho hàn tà xâm nhập, hàn ngưng ở Xung Nhâm dẫnđến kết đọng ở bào cung
- Nội nhân: tình chí hay nóng giận làm cho can khí uất kết sơ tiết không bìnhthường, làm cho khí huyết mất điều hòa, ảnh hưởng đến bào cung
- Bất nội ngoại nhân:
o Tiên thiên Xung Nhâm, bào cung chưa đầy đủ
o Cơ thể hư nhược hoặc do bệnh tật ảnh hưởng, do phòng dục vô độ,lao động quá sức, làm cho Tâm, Thận dương hư
Trang 37 Làm tinh huyết kém, mạch Xung Nhâm hư tổn, bàocung không được nuôi dưỡng tốt.
Ảnh hưởng đến Tỳ, làm mất kiện vận, thấp tụ lại thànhđàm trở ở Xung Nhâm, bào cung
o Cơ thể vốn đờm thấp thịnh hoặc ăn nhiều chất béo bổ sinh đờmthấp tích trệ ở bào cung
o Uống nhiều thuốc ôn nhiệt quá, hoặc huyết hư hỏa thịnh, hoặc CanThận âm hư hóa hỏa, ẩn nấp ở mạch Xung, Nhâm
o Ăn uống thất điều làm Tỳ khí hư
o Can Tỳ mất điều hòa làm khí uất ở Xung Nhâm không hóa đượcđến nỗi thấp và huyết tụ hình thành các khối
Uốngnhiềuthuốcônnhiệt
Phòngdụcquá độ
Nộithương
Ẩmthựcthấtđiều
Béomập
Hay
cáu
giận
Tiênthiênbấttúc
Bào cungMạch Xung – Mạch Nhâm
Huyếtnhiệt
Khíhuyếthư
Khí
huyết
ứ
Đàmthấp
TâmThậndươnghư
CanThậnâmhư
Tỳkhíhư
Can
khí
uất
Trang 38là ra Cho nên điều kinh thì phải bổ chân âm trong thận [10]
Trong Phụ Đạo Sán Nhiên của Hải Thượng Lãn Ông có viết về cách chữa các chứng gây hiếm muộn ở nam và nữ:
- Đàn bà mập khó có thai do mỡ dầy dẫn đến bế tắc tử cung Cho nên sử dụng các vị thuốc ráo đờm thấp: Nam tinh, Bán hạ, Thương truật, Chỉ xác, Xuyên khung, Hương phụ, Trần bì [10]
- Người gầy tính nóng, kinh nguyệt không đều do tử cung khô sáp, không huyết không thu được tinh khí Vì thế dùng thuốc lương huyết giáng hỏa: Tứ vật gia Hoàng cầm, Hương phụ hoặc Lục vị địa hoàng hoàn [10]
- Thể hư hàn: dùng thuốc tân ôn kiêm thuốc bổ dưỡng khí huyết (tân ôn cộng với bổ dưỡng sẽ thành ôn ấm) Không nên dùng thuốc âm đơn thuần [10]
- Đàn ông thận tinh hư yếu, khí huyết hư tổn, ham muốn không chừng độ, âm tinh suy bại Vì thế nên tìm gốc bệnh mà chữa [10]
- Điều trị không dùng thuốc:
- Ít tình dục (quả dục): tinh sinh huyết, không những giao cấu tổn tinh
mà tất cả những việc làm tổn huyết cũng phải kiêng Do đó cần phải lao động có tiết độ (tiết lao) [10]
- Rượu làm động huyết, uống rượu thì mặt đỏ, tay chân đỏ, đó là làm loạn huyết Người khí huyết suy, phải vài ba tháng mới không giao cấu thì tinh mới đặc lại Nếu đêm nào say rượu thì tinh loãng ngay
Do đó phải kiêng rượu [10]
- Ngăn ngừa tình dục, phòng dục có chừng, làm cho tâm chí vui tươi, tinh thần phấn khởi thì hiệu quả chữa bệnh lại càng tốt hơn [17]
Trang 391.4 Các nghiên cứu khoa học:
Yu-Chiang Hung và cộng sự (năm 2016) đã nghiên cứu các thảo dược TrungQuốc trong điều trị vô sinh nữ ở Đài Loan [27], là một nghiên cứu đoàn thể dựa trêndân số Dựa vào 8766 bệnh nhân nữ đang điều trị vô sinh nữ bằng Đông y với bảohiểm y tế quốc gia, họ đưa ra 2 đơn thuốc Đông y thường được dùng nhất là Dang-Gui-Sha-Yao-San (17,25%) và vị thuốc được dùng nhiều nhất là Thỏ ty tử(27,40%) Họ đưa ra các nghiên cứu về Dang-Gui-Sha-Yao-San có tác dụng điềuchỉnh suy giảm thể tích thể vàng, thông qua cơ chế chống oxy hóa hoặc tác độngđối kháng trên cả hai prostaglandin F2-α và sự co tử cung do acetylcholine gây ra;
và các nghiên cứu về Thỏ ty tử với tác dụng cải thiện rối loạn nội tiết buồng trứng
và làm tăng sự biểu hiện thụ thể estrogen trong vùng hồi hải mã, vùng dưới đồi, vàtuyến yên, cũng như biểu hiện thụ thể hormon luteinizing trong buồng trứng, còn cótác dụng ngăn ngừa sảy thai Một bài thuốc khác cũng được dùng nhiều là Wen-Jing-Tang (16,35%), có tác dụng cải thiện tình trạng nội tiết trong điều trị rối loạn
rụng trứng và ức chế sự co lại của cơ trơn; vị thuốc Ích mẫu (13,55%) đã được báo
cáo là có tác dụng chống oxy hoá trên tử cung Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ cungcấp thông tin về các bài thuốc và vị thuốc Đông y thường được dùng trong điều trị
vô sinh nữ, chưa có đưa nghiên cứu rõ tác dụng cụ thể của từng bài thuốc
Xiaofeng Xu và cộng sự (năm 2017) đã nghiên cứu thực nghiệm tác dụngcủa bài thuốc Bushen Tianjing trong mô hình chuột bị suy buồng trứng sớm dothiếu chất tripterygium glycoside [33] Bài thuốc gồm: Thục địa, Bạch thược, Quybản và Quy giáp và Sơn thù Ba liều 1,88 g / kg, 3,75 g / kg, 7,50 g / kg được dùngthông qua việc thẩm thấu nội mạc cho chuột cái, sau 15 ngày điều trị sẽ kiểm tra.Kết quả, những con vật được điều trị với liều cao có thời gian chu kỳ động dụctương tự như nhóm chứng; ba liều đều cho thấy giảm đáng kể mức độ huyết thanhcủa E2 và mức FSH, P, và T cao hơn đáng kể so với nhóm chứng; liều trung bình vàcao cho thấy mô học gần như bình thường tương đương với nhóm chứng; hiển thịrằng phần lớn các tế bào hạt có màng tế bào nguyên vẹn và hạt nhân rõ ràng, vàphân tích định lượng cho thấy tỷ lệ phần trăm của các tế bào apoptosis được giảm ở
Trang 40tất cả các liều điều trị, đặc biệt là trong liều cao.Họ kết luận bài thuốc không chỉphục hồi chu kỳ động dục bất thường và làm giảm chỉ số buồng trứng ở chuột bịsuy buồng trứng sớm mà còn cải thiện sự tiết hormone sinh dục bất thường liênquan đến suy buồng trứng sớm Ngoài ra, điều trị bằng bài thuốc có thể bảo vệbuồng trứng khỏi tổn thương do tripterygium glycoside gây ra, gây ra biểu hiện củaVEGF và VEGFR2 trong nội tạng, và điều chỉnh sự biểu hiện của protein apoptosistrong nội tạng Một số hạn chế là: mặc dù mô hình chuột gây ra bởi gentripterygium glycoside được sử dụng rộng rãi, nhưng nó không phản ánh đầy đủ quátrình sinh bệnh của suy buồng trứng sớm; kết quả nghiên cứu cơ học vẫn còn sơ bộ
Lian F và cộng sự (năm 2008), đã nghiên cứu đánh giá phối hợp thuốc Đông
y Trung Quốc với liệu pháp thụ tinh trong ống nghiệm và cấy phôi trên bệnh nhân
bị bệnh buồng trứng đa nang [29] 64 bệnh nhân được phân ngẫu nhiên thành hainhóm, nhóm điều trị (36 trường hợp) và nhóm chứng (28 trường hợp) Đối với ngàytiêm human chorionic gonadotrophin (HCG), tỷ lệ ba lớp nội mạc tử cung ở nhómđược điều trị là 75,0% (27/36), cao hơn nhóm chứng (42,9% 12/28), cho thấy sựkhác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm (P <0,01) Tỷ lệ bào thai trưởng thành, thụ tinh,
tỷ lệ thụ thai phôi cao, tỉ lệ mang thai và tỷ lệ xuất hiện hội chứng quá kích thíchbuồng trứng ở nhóm được điều trị lần lượt là (76,8 +/- 8,2) %, (73,5 +/- 8,9) %,(89.4 +/- 14.4) %, 36.11% (13/36) và 5.56% (2/36); trong khi nhóm đối chứng (64,4+/- 8,7) %, (68,2 +/- 10,0) %, (79,5 +/- 15,2) %, 21,43% (6/28) và 10,71%(3/28) Liều dùng gonadotrophin trong nhóm được điều trị là 33,8 ± 12,5 ampoules,
và trong nhóm chứng 47,6 ± 18,2 ampoules, Ý nghĩa thống kê được thể hiện giữacác nhóm trong việc so sánh tất cả các thông số trên (P <0,05, P <0,01) Tuy nhiên,
số tế bào trứng thu được ở hai nhóm không khác biệt đáng kể (P> 0,05) Họ kết luậnrằng sử dụng kết hợp thuốc Đông y Trung Quốc cho bệnh buồng trứng đa nangtrong liệu pháp thụ tinh trong ống nghiệm và cấy phôi có thể làm giảm liềugonadotrophin và tăng tỷ lệ mang thai
Chang XF và cộng sự (năm 2011) đã nghiên cứu tác dụng và cơ chế của bàithuốc Bushen Tiaojing để cải thiện chất lượng của noãn bào và phôi ở những bệnh