1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình xác lập và khai thác chủ quyền của các chúa nguyễn và vương triều nguyễn trên vùng biển tây nam bộ( từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX) (2013) nguyễn thế trung

13 232 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 6,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đảo Tây Nam Mở đầu cho công cuộc xác lập chủ quyền của chính quyền Đàng Trong tại vùng biển đảo từ Hòn Khoai đến mũi Nai là sự kiện năm 1708.. Đặc biệt, việc thành lập đội Bắc Hải ở vùng

Trang 1

QUÁ TRÌNH XÁC LẶP VÀ KHAI THÁC CHỦ QUYÈN CỦA CÁC CHÚA NGUYỄN VÀ VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN TRÊN VỪNG BIỂN TÂY NAM B ộ (TỪ THÉ KỶ XVIII

ĐẾN NỬA ĐẦU THE KỶ XIX)

Nguyễn Thế Trung'

1 Tầm quan trọng của vùng biển Tây Nam trong vịnh Thái Lan

Vùng biển đảo Tây N am trong vịnh Thái Lan (The g u lf o f Thailand), thuộc chủ quyền Việt Nam gồm toàn bộ phần biến đảo tỉnh Kiên Giang và một phần vùng phía Tây tỉnh Cà Mau, nằm về phía Đông Nam của vịnh và phía Tây của đồng bằng sông Cửu Long Vùng biển đảo này kéo dài từ Hòn Khoai (Cà Mau) đến mũi Nai (Hà Tiên) sang phía Bắc đảo Phú Quốc Đây là khu vực có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng; gồm tài nguyên thủy hải sản, tài nguyên dầu khí, tài nguyên du lịch , vận tải biển, đặc biệt là tài nguyên vị thế (vị thế địa tự nhiên, vị thế địa kinh tế, vị thế địa chính trị)1

Phú Quốc và Thổ Chu là tuyển đảo tiền tiên-biên giới, thành trì vững chắc bảo

vệ nước ta từ phía Tây Nam Nhóm đảo từ Thổ Chu đến Hòn Khoai là tuyến đảo tiền tiêu Các đảo như quần đảo Bà Lụa, Hòn Rái, quần đảo Nam Du là nhóm tuyến trong, Các hòn đảo trong vịnh tạo cho vùng lãnh hải Việt Nam rộng thêm hàng ngàn kilômét vuông Các mũi nhô phía Bắc đảo Phú Quốc quyết định hình hài của đường biên giới biển hình thành trong tương lai và độ rộng của hành lang biển bao quanh phía Bắc Trong khi đỏ, đảo Thổ Chu lại có lợi ích quan trọng trong việc hoạch định đường biên giới biển và xác định, phân chia vùng chồng lấn với các nước láng giềng2

* Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

1 Trần Đức Thạnh (2007), “Một số dạng tài nguyên v ị thế biển Việt Nam”, Tạp chí Khoa học

và Công nghệ biến T7, Hà Nội, số 4, trang 80 - 93

2 Lê Đức An, Uông Đình Khanh, Nguyễn Ngọc Thành, “Tài nguyên vị thế các đảo ven bờ Nam bộ với vấn đề an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế-xã hội”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển T9 (2009), số 4, tr 77-87

Trang 2

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉƯ HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ T ư

Không chỉ có ý nghĩa an ninh-quốc phòng, vùng biển đảo này còn có ý nghĩa lớn trong việc phát triển kinh tế, các thách thức từ biến đổi khí hậu và nước biển dâng, hiện tượng xâm nhập mặn và sinh kế cho cộng đồng cư dân ven biển và hải đảo

đảo Tây Nam

Mở đầu cho công cuộc xác lập chủ quyền của chính quyền Đàng Trong tại vùng biển đảo từ Hòn Khoai đến mũi Nai là sự kiện năm 1708 Sau nhiều năm sinh sống tại Chân Lạp và Xiêm, Mạc Cửu đến vùng Long Kỳ, umở tiệm hút, trưng mua việc thu thuê hoa chi các sòng bạc lớn đê làm giàu”, “chiêu tạp dân xiêu dạt đến các nơi Phú Quốc, cần Bột, Gia Khê, Luống Cày, Hương úc, Cà Mau lập thành 7

xã thôn”. 7 địa điểm này là những khu vực ven biển, trải dài từ mũi Cà Mau sang cả một phần đất thuộc Campuchia ngày nay Hiểu rõ tương quan lực lượng giữa Chân Lạp-Đàng Trong-Xiêm, Mạc Cửu dâng vùng biển đảo và đất liền Hà Tiên cho chúa Nguyễn vào năm 1708 Hành động của Mạc Cửu và sự đồng ý của chính quyền Đàng Trong là chính sách có tầm chiến lược cho cả hai bên c ầ n phải nói thêm rằng vùng đất từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên đến cuối thế kỷ XVII, trên danh Ii&hĩa, thuộc Chân Lạp nhưng trên thực tế, vương quốc hưng thịnh một thời này không có khả năng quản lý những vùng đất thuộc Nam bộ Vì vậy, đây vẫn !à vùng đất hoaníí vu, dân cư rất thưa thớt

Chính sách của chúa Nguyễn đối với Hà Tiên là để “ một khoảng không gian

tự do để xây dựng và phái triển'' và chỉ thực sự can thiệp khi cần thiết Chính quyền Đàng Trong giữ quyền bổ nhiệm quan tổng trấn, chia đơn vị lãnh thồ đẩt liền

và biển đảo, viện írợ quân sự, lương thực, những quyền quan trọng nhất xét về phương diện chủ quvền lãnh thố và ỉãnh hải Đặc biệt, việc thành lập đội Bắc Hải ở vùng biển phía Nam cho thấy vùng biển đảo này đã thực sự nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Đ àn s Trong

Được chúa Nguyễn giao quyền về kinh tế, quân sự và chủ động Irons ne;oại giao, hai thế hệ đầu của dòne họ Mạc lãnh trách nhiệm trấn áp cướp biển, chống quân xâm iược và phát triến kinh tế Mạc Cửu đã “ dựng thành quách, lập doanh ngũ, đặt tiêu cá, làm nhiều nhà khách để đón tiếp hiền tài Dân đến ở ngày càng đông, Hà Tiên trở thành một đô hội nhơ'1. Đến thời Mạc Thiên Tứ, ông tăng cường

1 Đặng Hoàng Giang, '‘Quan hệ Hà Tiên-Thuận Hóa thòi kỳ khai thiết đồng bằng miền Tây (từ đầu đến nửa sau thế kỷ XVIII)”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Num Ả, số 6/2010, tr 72-76,

2 Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, Đại Nam liệt truyện tiền biên, tập 1, Nxb Thuận Hóa, tr 174

Trang 3

Q U Á TRÌNH X Á C LẦP V À KHAI THÁC CHỦ Q UYỀN C Ủ A C ÁC C H Ú A NG U YỄN

khả năng chiến đấu của quân đội, " đ ặ t n h a thuộc, kén bô q u â n ngũ, đắp thành xây lũy”. Thành lũy do họ Mạc xây dựne khá chắc chắn Vào năm 1834, trona lời tâu của Tham tán Hồ Văn Khuê từ Hà Tiên về Gia Định, thành trì này vần cò n 1 Một hệ tliốne phòng thủ hai vòng Rồm các lũy ven bờ và trên các đảo như Phú Quốc, Kim

Dữ đã được xây dựng Hơn 60 năm đầu của thế kỷ XVIII, vùng biển, ven biển và hải đảo Tây Nam, đặc biệt là khu vực Hà Tiên, Rạch Giá, Phú Quốc ehi nhận sự dóng eóp ló'n lao của dòng Mạc trên nhiều mặt

Cuộc chiến tranh với Tây Sơn, vừa là “thách thức khắc n g h iệ t” vừa là một “cơ

tiếp cai quản của chính quyền Đàng Tronạ trên vùng biến đảo Tây Nam Với lực lượng lính để lại trên các đảo, cùng các căn cứ x â y dựng tại khu vực ven biển, hải đảo và các con sông2 cũng như việc trực tiếp phân chia các đơn vị lãnh thổ đất liền

và biển đảo3, Nguyễn Ánh đã trực tiếp kiểm soát vùns biển đảo này Có thể nói, từ vai trò người “ b ả o h ộ ” , chính quyền Đàng Trong đã xác lập được chủ quyền trên vùng biển đảo Tây Nam bộ một cách hòa bình và tự nhiên nhất GS.TSKH

1 Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 4, Nxb Giáo dục, năm 2007, tr 132

2 Phú Quốc, Thổ Clui là hai đảo Nguyễn Ánh ẩn t r ố n trước những cuộc tấn công cùa Tây Sơn Tuy không đáng kế và thậm chí là rất ít nhưng chắn hẳn một bộ phận những binh sĩ đã trốn

để ở lại Đồng thời, cũng có những binh sĩ trung thành và những nhóm dân cư định cư sẵn tại dây nhằm che chở, phục vụ cho Nguyễn Ánh

- Khoảng t háng 5/1782, Tây Sơn đem quân t ấ n công đào buộc chúa Nguyễn đang đóng quân

ờ phí Nam đào phải chạy sang Côn Đào Quân Xiêm do được Nguyễn Ánh cầu viện cũng bị Tây Sơn đánh lui Sau khi chiến thắng, chỉ một bộ phận nhỏ quân lính ở lại canh giũ’ đảo Đen năm 1783, Nguyễn Ánh đã quay trở lại và chiếm đảo Phú Quốc

- Năm 1797, khi N g u y ễ n Phúc Ánh đem 10.000 quân sang giúp Xiêm La đánh Miến Điện đã ghé đảo Sau khi giúp Xiêm ồn định tình hình, Nguyễn Ánh đã đế lại đây 2000 quân với hai mục đích chính Một, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đảo và ven đảo trước nguy cơ xâm lược của Xiêm, Cao Miên và cả cuớp biển Thứ hai, đội quân này sẽ làm nhiệm vụ khai thác các nguồn tài nguyên trên đảo Đây là hình thức phổ biến mà các chúa Nguyễn và vua Nguyễn thường tiến hành để xác lập và khai thác chủ quyền các vùng vừa mới giành đưọ'c

3 - Năm 1788, Nguyễn Ánh đem hai đạo Kiên Giang và Long Xuyên lệ thuộc vào dinh Vĩnh Thanh, sau đặt hai huyện Kiên Giang và Long Xuyên do đạo quản hạt

- Năm 1791, chúa Nguyễn cho sỏ' Phú Quốc lệ thuộc vào Long Xuyên, phàm công việc quân dân đều do đấy hết;

- N ă m 1 7 9 5 , “ lấy thom luận quân Thành sách là Nguỵen Tiến Bảo làm Ký lục Vĩnh Trấn, thu thuế sai dư của quân và dân sở Phú Quốc. (Tiền thuế cùa hạng tráng, quân, dân thực nạp và của hạng lão tật thi y theo lệ bốn dinh Những thú binh, mộ phu, người Minh Hương, người Đường (Hoa Kiều) thì mỗi người 3 quan"

Trang 4

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THÚ T ư

Vũ Minh Giang đúng khi nhận xét '"Chúa Nguyễn là người bào hộ cho quá trình khai phá này và việc khăng định quvền quản lý lãnh thổ là một hệ quả tự nhiên Quá trình thụ đắc vùng đất Nam Bộ của chúa Nguyễn chủ yếu thông qua khai phá hoà bình kết hợp với đàm phản ngoại giao để khẳng định chủ quyền Đó là phương thức' được thừa nhận là phù hợp với thông lệ lịch sử và các văn bản quốc tế hiện hành"’1.

Năm 1802 vương triều Nguyễn được thành lập Tầm quan trọng của khu vực biển đảo Tây Nam được các vua Nguyễn ý thức rõ ràng Trong bức thư ?ửi vua Xiêm năm 1809, Nguyễn Ánh khăng định “ Hà Tiên vốn là bờ cõi của triều đình, từ các vua trước của ta dựng cờ lập trân tiết, cha con Mạc Thiên Tứ đều hãy giữ tròn chức vụ nên trao chức cho, chứ đây không phải là khuê điền thái ấp (ruộng đất cắp cho chư hầu), không thể viện làm thế nghiệp được"2. Năm 1832, sau khi đánh diệt giặc Chà Và, M i n h Mạng nghĩ: Côn Lôn thủ và Hà Tiên Phú Quốc thủ đều là những nơi xung yếu, dân ở đông đúc, thế mà thường có giặc biển ẩn hiện Liền truyền dụ cho quan thành chọn đất hai chô thủ ấy, xây đặt pháo dài, liệu cấp súng đcm, khí giới, thuyền bè, phái quân đóng giữ"4.

Chính sách khai khẩn đất hoang bàng đồn điền trên vùng đất liền nói chung và vùng biển, ven biển và hải đảo nói riêng là một biện pháp hiệu quả của nhà Nguyễn Bởi, về mục tiêu kinh tế, việc khai hoang sẽ tăng cường diện tích đất nông nghiệp, lượng lúa gạo và các mặt hàng khác nhiều hơn, đảm bảo nhu cầu của người dân ven biển và hải đ ảơ v ề mục tiêu chính trị, khẩn hoang, ỉập ấp là một biện pháp nhằm khẳng định và khai thác chủ quyền hiệu quả v ấn đề an ninh-quốc phòng của vùnẹ biên giới đất liền và biển đảo Tây Nam cũng được đảm bảo nhò' vào hệ thống làng

ấp và cộng đồng dân cư5

1 Vũ Phi Hoàng, vấn đề chủ quyền lãnh thổ irony luật pháp và tập quán quốc tế, Báo cáo Hội

thảo Việt Nam học lần thứ 111 (Hà Nội, 12/2008), Bàng điện từ tại Báo cáo ở

http://nghiencuubiendong.vn/

2 GS.TSKH Vũ Minh Giang, “Chù quyền lãnh thổ cùa Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ”, trong Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (2001 - 2006), Nxb Thế giới, Hà Nội, 2006

3 Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb Giáo dục, năm 2002, tr 769

4 Viện Khoa học xã hội Việt Nam, V i ệ n Sử học, Quốc sử quán triều Nguyễn, Đ ạ i Nam thực lục, tập 3, Nxb Giáo dục, năm 2007, tr 384

5 Năm 1824, neay tại Hà Tiên đã mở mang 37 thôn xã, ruộng được 348 khoảnh Năm 1826, đặt ra chí Kiên Hùng ở Hà Tiên cho 500 dân miền núi biệt nạp chia làm 10 đội, đổi họ tên và no'i ở theo chữ Hán Đại Nam nhất thống chí cho biết diện tích khai phá ở tỉnh Hà Tiên (năm 1836) 1.699 mẫu

Trang 5

Q U Á TR ÌN H X Á C LẬP VÀ KHAI TH ÁC CHỦ Q UYỀN C Ủ A CÁC C H Ú A N G U YỄN

Suốt hơn năm mươi năm, chính quyền nhà Nguyễn cũng hoàn thành nhiệm vụ trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo Tâv Nam Đó là tiến hành phân chia các đơn vị hành chính, quản lý dân cư; tổ chức cho neười dân khai thác, đẩy mạnh và quản lý các hoạt động kinh tế, trấn áp cưóp biển, đẩy lùi các cuộc xâm lược của Xiêm Đặc biệt, những ghi chép từ địa bạ triều Nguyễn cho thấy rõ việc phân chia đơn vị hành chính và quản lý dân cư được tiến hành khá chặt chẽ Đơn cử như đảo Phú Quốc

Năm 1819 sở Phú Quốc được đặt lệ thuộc quản hạt của trấn Hà Tiên vì có đườne, biển £ần Hà T iê n 1, Lê Văn Ý làm Thủ ngự sở Năm 1819-1820, sở này có các xã thôn Dương Cảng Đông thôn, Vĩnh Thạnh thôn, Tân Qui thôn, Phước Sơn thôn, An Hòa thôn, Phước Lộc thôn, c ẩ m Sơn thôn, Tiên Tỉnh thôn Thái Thạch thôn Phú Đông thôn, Mỹ Thạnh thôn, Minh Hươne thuộc2 Đến năm 1836, tổng Phú Quốc gồm 10 thôn: An Thới thôn, Hàm Ninh thôn, Phú Đông thôn, Thới Thạnh thôn, Cẩm Sơn thôn, Mỹ Thạnh thôn, Phước Lộc thôn, Dương Đông thôn, Tân Tập thôn, Tiên Tỉnh thôn3

Năm 1835, nhà Nguyễn phân chia các đảo trong vịnh thuộc về các ba huyện trong tỉnh Hà Tiên Cách chia là căn cứ vào vị trí của đảo rồi đổi ngang với đất liền

đế sát nhập cho thuận tiện Theo đó, Hòn Khoai, Hòn Chuối thuộc về huyện Long Xuyên (Cà Mau ngày nay), Hòn Tre, Hòn Rái, Hòn Son, thuộc về huyện Kiên Giang Phú Quốc thuộc về huyện Hà Châu (tức huyện Hà Tiên trước khi đổi tên) Đại Nam thực lục ghi lại sự kiện này như sau: “ tuần phủ Hà Tiên, Trần Chấn, tâu nổi; Các đảo ngoài biển thuộc tỉnh (Hà Tiên) từ trước đều lệ thuộc vảo tỉnh Long Xuyên Vậy xin xét xem đào lởn nhỏ nào đỏi ngang với huyện hạt nào, thì đôi thuộc vào huyện ấy, cho đúng với tên trong so sách ( Vũ Dữ [ Hòn Khoai], Ba Tiêu dữ [Hòn Chuối] thuộc huyện Long Xuyên; Trúc Dữ [Hòn Tre], Thát Dữ [Hòn Rái], Nghệ Dữ, Cổ Luân dữ đều thuộc huyện Kiên Giang; Hỏa thạch dữ, Luân dữ, Xưởng

Dữ, Tranh Dữ, Phú Quốc dữ, Thổ Châu Dữ [Hòn Son], Kích Sơn đều thuộc huyện

Hà Châu Kích Sơn nguyên tên là hòn Chông Lại nữa, các xã thôn ở đảo Phú Quốc trước thuộc tống Quảng Xuyên, huyện Long Xuyên, nay đổi thuộc Hà Châu Vậy xin

1 Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực

lục, tập 1, Nxb Giáo dục, n ă m 2002, t r 999

2 Nguyễn Đình Đầu (1994), Nghiên cứu địa bạ triều Nạuyễn: tinh Hà Tiên (Kiên Giang, Minh Hải% Nxb Tp.HCM, tr 85-86

3 Nguyễn Đình Đầu (1994), Nghiên cứu địa bạ triều Nqnyễn: tỉnh Hà Tiên (Kiên Giang, Minh

H ả i), NxbTp.HCM.tr 101-103

4 V i ệ n K h o a h ọ c x ã h ộ i V i ệ t N a m , V i ệ n S ử h ọ c , Q u ố c s ử q u á n t r i ề u N g u y ễ n , Đại Nom thực lục, tập 4, Nxb Giáo dục, năm 2007, tr 656

Trang 6

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUÓC TÉ LẦN THỦ TƯ

Việc phân chia và quản lý đơn vị lãnh thố, dân cư đi liền với việc điều tra nghiên cứu, vẽ bàn đồ và hải trình đường biển cua các vua Neuyễn Việc phát hiện Xiêm La Quốc lộ trình tập lục1 và Hải trình chí lược của Phan Huy Chú, cho thấy,

về cơ bản, chính quyền nhà Nguyễn đã nấm được thông tin về điều kiện địa lý tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư và hoạt động kinh tể trong vùng biển đảo này Trong suốt hơn 50 năm, chiến tranh tại vùng Hà Tiên xảy ra liên miên Sau mỗi lần như vậy, chính quyền họ Neuyễn cử người xây việc xây dựng lại các pháo đài, chốt canh ở vùng cửa biển và trên đảo Hệ thống ven bờ biển gồm lũy Thị Vạn, các pháo đài Kim Dữ, pháo đài Phú An, các hảo Lô Khê, Giana, Thành, Tiên Thới, Đàm Chiết thuộc huyện Hà Châu; huyện Kiên Giang thì có cửa tấn Kiên Giang, cửa tấn Đại Môn, Hoàng Giang, Hiệp Phố Đặc biệt, trên đảo Phú Quốc, Minh Mạnh cho xây dựng hai thành Phú Quốc (năm 1833)2 và Hàm Ninh ( năm 1 838)3 với quy

mô lớn, được trang bị vũ khí và có suất đội cùng vài chục biền binh4 Đe đảm bảo vừng chắc cône cuộc bảo vệ vùng biển đảo này, nhà Nguyễn thành lập các đội Phú Cường5 ở Phú Quốc đế bảo vệ đảo, đội Hà Phú6, làm nhiệm vụ tuần tra và các đội khác nhàm khai thác một số tài nguyên trên đảo Đặc biệt, Minh M ạng nhiều lần chỉ

dụ những đợt tập dợt cho nhân dân Phú Quốc về mặt quân sự để người dân tự bảo

vệ mình trước giặc biến

Hệ thống lũy Giang Thành, sông Vĩnh Tế, các pháo đài Kim Dữ, Hòn Tre, cùng đồn Phú Quốc và Hàm Ninh,., tạo thành một hệ thống phòng thủ đất liền-hải đảo Điều này cho thấy, tầm nhìn của người đứng đầu và một bộ phận quan lại của chính quyền cai trị thời đó Sự kết hợp của hệ thốne phòng thủ và sức mạnh của thủy quân đã giúp họ Nguyền đánh bại tất cả các cuộc tấn công của hải tặc, đám bảo cho các thuyền buôn và đời sống của neười dân vùng biển, ven biển và trên các đảo vào năm 1805, 1817, 1822, 1825, 1828, 1830, 1837, Hệ thống phòng thủ biển đào cũng góp phần không nhỏ trone công cuộc chống Xiêm thành công và giành

1 Phạm Hoàng Quân, “Xiêm La Quốc lộ trình tập lục”, Tạp chí Nghiên cím vò Phát triển, số 6 (89), 2011, tr 61-83

2, 3 Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 5, Nxb Giáo dục, năm 2007, tr 240-241

4 V i ệ n Khoa học xã hội Việt Nam, V i ệ n Sừ học, Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nơm thực lục, tập 2, Nxb Giáo dục, năm 2007, tr 39;

5 Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 3, Nxb Giáo dục, năm 2007, tr 87

6 Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, Quốc sử quán triều Nguvễn, Đại Num thực lục, tập 4, Nxb Giáo dục, năm 2007, tr 898

Trang 7

Q U Á TR ÌN H X Á C LẬP V À KHAI TH Á C CHỦ Q U YỀN C Ủ A CÁC C H Ú A NG UYỀN

ảnh hưởng lớp trên đất Chân Lạp Đỉnh điểm là việc thành lập Trấn Tây thành' và tiến hành điều tra vùng đất neoài biên giới này2

Hoạt động khai thác quyển chủ quyền vùng biển Tây Nam bộ dưới thời chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn

Quá trình xác lập chủ quyền đi liền với công cuộc khai thác quyền chủ quyền trên vùng biến đảo Tây Nam trong vịnh Thái Lan Hai quá trình này diễn ra song song và có sự tương hổ lẫn nhau Chính quá trình khai thác là hình thức khẳng định chủ quyền hiệu quả nhưng chính việc xây dựng các đơn vị hành chính và quân đội

đã giúp người dân có được sự đảm bảo, bảo vệ nhừne thành quả khai thác tốt nhất Đối với một khu vực thường xuyên có chiến tranh, thì việc chính quyền nhà Nguyễn xác định được chủ quyền, ốn định dân cư không chỉ có ý nghĩa đối với người Việt mà cả người Hoa và các thành phần dân tộc ít người khác

Trong giai đoạn đầu của công cuộc này, neười dân đến trước, chính quyền đến sau Trong giai đoạn sau, khi chính quyền thành lập các đơn vị hành chính, xây dựng đồn lũy bảo vệ thì nhân dân đến càng đône, quá trình khai thác diễn ra mạnh

mẽ hơn Chính sự kết hợp giữa chính quyền và nhân dân đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, đảm bảo cho công cuộc xác lập và khai thác chủ quyền biến đảo đạt hiểu quả cao nhất

Dưới thời chính quyền Đàng Trona;, tuy không trực tiếp quản lý và tổ chức khai thác nhưng chúa N guyễn là n gư ời b à o hộ cho q u á trình khơi phá* Hoạt động

kinh tế chủ yếu của neười dân là khai thác nguồn tài nguyên lâm sản, hải sản Hoạt động tiêu biểu cho vùng ven biển là nghề khai thác mật ong và lông chim, đánh bắt thủy hải sản Theo những ghi chép của Phủ Biên tạp lục, Gia Định thành thông chỉ

và Đại Nam thực lục, việc khai thác các loại gỗ quý, tre, mây, dầu rái đều có những thử thuế quy định rõ ràng4 Các sản phẩm đáp ứng cho ngành đóng thuyền,

1 Trấn Tây thành có 33 phủ và 2 huyện với bộ máy cai trị gồm một Tướng quân, một Tham tán đại thần, một đề đốc, một Hiệp tán cơ vụ, hai Lãnh binh, hai phó Lãnh binh và nhiều quan chức khác

2 “Trấn Tây phong thổ ký”: The Customs of Cambodia, Chinese Southern Diaspora Studies,

Volume 1, 2007, translation © Li Tana 200, page 148-157

3 GS.TSKH Vũ Minh Giang, Chù quyển lãnh thỏ cùa Việt Nam trên vùng đất Nam bộ trong

Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (2001 - 2006), Nxb Thế giới, Hà 'Nội, 2006

4 - Năm 1790, Nguyễn Ánh “ra lệnh ch o h a i dinh T rấ n Diên và Phiên Trấn mộ người lập các neat biệt nạp (Nâu dầu rái, moi người moi năm nộp 8 vò; nậu dầu trám, mỗi người nộp 800 cân, đèn nến lớ n m oi n q ư ờ i nộp 1 câ y d à i 4 thước, lư n g tròn 1 th ư ớ c 2 tá c, nến nhỏ 40 c â y ; nậu mâv sắt máy nước, mỗi người nộp 14.000 sợi, moi sợi dài 7 thước, bể ngang 3 phân;

Trang 8

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU I-IỘI THẢO QUỒC TÉ LẦN THÚ TƯ

nhu cầu xây đựnẹ tại địa phương, vừa là mặt hàne xuất khẩu Nổi tiếng nhất là huyền phách Phú Quốc Lê Quý Đôn viết: huvền phách san ở trấn Hà Tiên, có khôi lượng như đồng, sắc đen như sắt, người ỉa nói dùng nó có thê lảnh được gió độc, tiện làm tràng h ạ t " 1. Tuy nhiên, khả năns và quy mô khai thác các nguồn tài nguyên còn nhiều hạn chế Bởi dân số còn thấp và chỉ tập truna ở những khu vực nhất định

Nổi bật nhất suốt thời kỳ Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ là hoạt động thươne mại tại hai cảng chính Hà Tiên và Rạch Giá Vị trí tự nhiên2 cùng điều kiện thời gian thuận lợi3 là hai yếu tổ tiên quyết giúp thương cảng Hà Tiên nhanh chóng trở nèn phồn thịnh Sự thuận lợi này được bô sunti bởi chính thương thương mại mềm dẽo và khéo léo, linh hoạt - như là sự kết hợp bởi tài năng con n&ười kinh nghiệm buôn bán

v à sự trải nghiệm sống-của Mạc Cửu, được duy trì v à phát huy bởi Mạc Thiên Tứ

nâu lá buôn, mỏi người 4.000 lá; nậu buôm ló, mối nẹười 80 bó; thuế thán thì nộp lệ thường; dao dịch đểu mien” rviện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nơm thực lục, tập I, Nxb Giáo dục, năm 2002, tr 263)

- Năm 1791, Nguyễn Ánh định lệ biệt nạp dầu rái cho đạo Long Xiiycn (dân ờ hòn Sơn Lại ) mỗi năm phải nộp 5 vò dầu rái, 100 cây nến hạng nhỏ, được miễn thuế thân (Viện Khoa học

x ã hội V i ệ t N a m , V i ệ n S ử h ọ c Q u ố c s ử q u á n t r i ề u N g u y ễ n , Đ ạ i Nam thực lụ c, t ậ p 1, N x b

Giáo dục, năm 2002, tr 276)

- Năm 1791, Nguvễn Ánh định lệ biệt nạp dầu rái cho đạo Long Xuyên (dàn ở hòn Sơn Lại ) mồi năm phải nộp 5 vò dầu rái 100 cây nến hạng nhỏ, được miễn thuế thân (Viện Khoa học

xã hội Việt Nam, Viện Sử học Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nom thực lục, tập 1, Nxb Giáo dục, năm 2002, tr 276)

1 Lê Quý Đôn (2007), Phù biên tạp lục, Nxb Văn hóa thông tin, tr 424

2. Đặc biệt, vị trí địa lý nối liền với vùng hạ Bassac cùng nguồn hàng ở Campuchìa đã giúp thương mại Hà Tiên phát triển rực rỡ, đặc biệt dưới thời Mạc Thiên Tứ

Hà Tiên là một trong những thành phố như dọc bờ biển vịnh Thái Lan như Bang Plasoi (bây giờ là Chonburi), Rayong, Chantaburi và Trat cùng hàng loại thương cảng ở Đông Nam A hải đảo tạo thành một “Water Frontier’ Trong suốt thế kỷ XVII, XVIII, thương mại trên biển diễn ra hầu khắp các đại dương Thươne thuyền các nước phương Tây và phương Đông

đã gặp gỡ, trao đổi, buôn bán hàng hóa với nhau (Chingho A Chen, “Mac Thien Tu and Phraya Taksin, a Survey on their Political Stands, Conflicts and Background”, in Proceedings of the Seventh 1 AHA Conference, 22-26 August 1977, Bangkok, Chulalongkorn University Press, 1979 Vol 11.), A Reid and L Castles, Pre-Colonial State Systems in Southern Asia, Kuala Lumpur, MBRAS Monographs 6, 1975

3 Trong suốt thế kỷ XVII XVIII, thương mại trên biển diễn ra hầu khắp các đại dương Thương thuyền các nước phương Tày và phương Đông đã gặp gỡ, trao đổi, buôn bán hàng hóa với nhau (Chingho A Chen, "Mac Thien Til and Phraya Taksin, a Survey on their Political Stands, Conflicts and Background”, in Proceedings of the Seventh I AHA Conference, 22-26 August 1977 Bangkok, Chulalongkorn University Press, 1979, Vol II.)

Trang 9

Q U Á TR ÌN H X Á C LẬP VÀ KHAI THÁC CHỦ Q U Y Ề N C Ủ A CÁC C H Ú A N G UYỄN.

Mặt hàng thươne mại của Hà Tiên chủ yếu tập trung vào các sản phẩm nội địa, quan trọna nhất là nguồn hàng đốn từ Xiêm và lâm sản từ Chân L ạ p 1 Việc định cư

và khai thác rừng trên các đảo của người dân thuộc trấn sóp phần làm phone phú và tãne số lượns mặt hàna này Hai mặt hàng lâm sản nổi tiếng của Hà Tiên là neà voi

và sáp ong Ngà voi được chuyển từ Campuchia về Hà Tiên, s ố lượns ngà tập truna tại thươna cảng này nhiều Bane chứng cụ thể là năm 1745.quân Xiêm tấn côna Hà Tiên và đốt đi 200 tấn ngà voi2 Sáp ong tại thươne cảng này đến từ hai nsuồn chính Một, người dân tại vùne khai thác được và nguồn thứ hai đến từ Campuchia Một trong những mặt hàn® giúp Hà Tiên trở thành thương cảne quan trọng hàng đầu của vùnR biển Tây chính là thuốc phiện Thuốc phiện được dùne nhằm mục đích gây ra cảm giác hoane lạc, hưng phấn hoặc sự tịnh dưõ'n2; và giảm đau

Nó được sử dụna rộng rãi như một nguyên liệu kỳ lạ cho dược thảo, tình dục và cả làm giảm sự nhàm chán và tăng khả năng làm việc, tính giải trí cho neười lao động3 Thuốc phiện đến Hà Tiên rồi được bán cho các vùng khác trong hệ thống “Water Frontier” và cả tiêu thụ tại chỗ, phục vụ cho bọn gian hồ tứ chiến đến Hà Tiên Vì,

Hà Tiên là sòng bạc lớn của khu vực vịnh bấy giờ

Hà Tiên còn là thương cảng trung chuyến nhiều mặt hàng quan trọng cho các thương cảng ở Trung Quốc4 Vai trò này đạt đỉnh điểm khi Xiêm bị Burma (Myanma) tấn công vào năm 1767 và Ayhtthya sụp đổ5 Mặt hàng nổi bật nhất là thiếc, các sản phẩm từ bột các loại thực vật, dây m â y, đ ế phục vụ cho việc sản

1 Rungswasdisab, Puangthong, War and trade: Siamese interventions in Cambodia, 1767-

1851, Doctor of Philosophy thesis, Department of History and Politics, University of Wollongong, 1995, Li Tana and Paul A.Van Dyke (2007), Canton, Canccio, and Cochinchina: New Data and New Light on Eighteenth-Century Canton and the Ncmyang, Chinese Southern Diaspora Studies, Volume 1, 2007, page 10-28

2 Lê Văn Năm, “Sàn xuất hàng hóa và thương mại Nam bộ thế kỷ XVlI-nửa đầu thế kỷ XIX”, Tạp chí Nghiên cứa Lịch sứ, số 5+6/1988, tr 80-85, tr 82

3 George Bryan Souza (2009), An Anatomy of Commerce and Consumption: Opium and Merchants at Batavia over the Long Eighteenth Century, Chinese Southern Diaspora Studies, Volume 3, 2009, pages 61-87

4 N o l a Cooke and Li Tana, Water Frontier: Commerce and the Chinese in the lower Mekong region, 1750-1880, Rowman &Littlefied Publishers, first published in Singapore in 2004 by Singapoe University Press, National University of Singapore Publishing, Yusof Ishal House

5 Rungswasdisab, Puangthong, War and trade: Siamese interventions in Cambodia, 1767-

1851, Doctor of Philosophy thesis, Department of History and Politics, University of Wollongong, 1995; Masuda Erika, The fall of Ayhtthya and Siam's disrupted order of tribute to China (1767-1782), Taiwan Journal OS Southeast Asian Studies, 4(2):75-128 (2007), p75-128.

Trang 10

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẦN THỨ TU

xuất trà và sản phẩm đồ sứ của vùne Quảng Châu, Phúc K iến 1 .Ngoài Hà Tiên, vùng này biển Tây Nam trong vịnh Thái Lan còn có một số cảns khác như Rạch Giá, Cà Mau, Hòn Đ ấ t

Khi vương triều Nguyễn được thành lập năm 1802, hoạt động khai thác chủ quyền của các cộng đồng cư dân sống trên vùng ven biển và hải đảo Tây Nam này

có sự thay đổi đánơ kể Nhữne ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí đã khái quát được bức tranh kinh tế- xã hội và tình hình anh ninh - chính trị vùng biển đảo và ven biển Tây Nam trong vịnh Thái Lan

Các cảng biển như Hà Tiên, Rạch Giá, Hòn Đất, Phú Q uốc không còn giữ được nhũng vị trí và mức độ nhộn nhịp như nửa đầu thế kỷ XVIII Nguyên nhân chù yếu là sự suy tàn của hệ thông thương mại cảng biển trong vịnh Thái Lan, sự trồi dậy của các trune tâm thươne mại khác Trong nước, Sài Gòn và Bến Nghé là hai thương cảna được thiên nhiên ưu đãi vị trí địa lý, nguồn hàng2 Ngoài nước, Singapore và một số cảng vùng Đôna Nam Á hải đảo nổi lên với sức hấp dẫn lớn3 Thêm vào đó, neuồn hàng từ Chân Lạp sang Hà Tiên, Rạch Giá cũng mất đi phần nào do bị chia sẽ với các trung tâm thương mại ở Thái Lan và di chuyển bằng đường bộ sang Châu Đốc Quan trọng nhất là do chiến tranh giữa ba thế lực triều Nguyễn-Xiêm-Chân Lạp Tình hình bất ốn vừa đẩy nhừng một bộ phận không nhỏ ns;ười dân di cư sang khu vực khác, ngăn chặn người Hoa nhập cư vừa làm giảm thương thuyền nước ngoài đến các cảng trong vùng Tây Nam

Hoạt động thương mại tại các thươne; cảng trong vùn£ biển Tây Nam tuy mất

đi tính phồn thịnh nhưna, vẫn có những hoạt độne nội thương4 và neoại thương với các nước trong khu vực và Trunẹ Quốc Mặt hàng vẫn là hải sản và lâm sản Đặc biệt, thuốc phiện và gạo vẫn là mặt hàns được buôn lâu nhiều nhất Vua Minh

M ạng phải than: “ Oil Hạt gạo, dân phải nhờ để song, chở bán cho nơi khác, đã là không nên thế mà những hàng hóa được đổi lại không có một thứ gì là trội cả, đến

1 Li Tana and Paul A.Van Dyke (2007), Canton, Cancao, and Cochinchina: New Data and New Light on Eighteenth-Century Canton and the Nanyang, Chinese Southern Diaspora Studies, Volume 1, 2007, page 10-28;

2 Nguyễn Đình Đầu (2007), Địa lý Gia Định-Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

3 Nordin Hussin, Trade and Society in the Straits of Melaka: Dutch Melaka arid English Penang , Dutch Melaka and English Penang, 1780-1830, Nus press an imprint of NUS publishing National Universuty of Singapore, 2007

4 Vu Due Liem, "Early nineteeth century SaiGon-Banekok economic space”, Chulalongkorn University, Hội thảo khoa hội về nhà Nguyễn lại HongKong University, 2012.

Ngày đăng: 19/01/2018, 18:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm