1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích thông tin, dữ kiện số liệu về giáo dục, thi cử nho học ở nam bộ nửa đầu thế kỷ XIX (2013) đặng ngọc hà

15 180 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 8,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lúc còn ở Nam Bộ trong cuộc chiến với Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã từng tổ chức các cuộc khảo thí, sát hạch những người đi học nhằm tuyển quan lại nhưng công việc này chỉ là biện pháp tạm thời

Trang 1

PHÂN TÍCH THÔNG TIN,

D ữ KIỆN SÓ LIỆU VÈ GIÁO DỤC, THI CỬ NHO HỌC Ở NAM Bộ NỬA ĐÀU THÉ KỶ XIX

Đặng Ngọc Ha

1 Hệ thống giáo dục Nho học

Nam Bộ là vùng đất không cỏ truyền thống thi cử Nho học Do đặc trưng về thiên nhiên, quần cư, đời sống kinh tế, văn hóa và hành chính dẫn đến sự xâm nhập của Nho giáo ờ đây không mạnh mẽ Trước yêu cầu phải có tầng lớp quan lại nguồn gốc Nam Bộ và kéo Nam Bộ vào quỹ đạo tư tưởng Nho giáo cho nên nhà Nguyễn

đã thúc đẩy mạnh mẽ giáo dục Nho học

Lúc còn ở Nam Bộ trong cuộc chiến với Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã từng tổ chức các cuộc khảo thí, sát hạch những người đi học nhằm tuyển quan lại nhưng công việc này chỉ là biện pháp tạm thời Ngay khi thành lập năm 1802, triều Nguyễn đã tổ chức khảo thí nhằm chọn tuyển quan lại1 Sang năm 1803, quy chế giáo dục Nho học chính thức được ban hành2 Đến năm 1805 công việc tổ chức hệ thống giáo dục Nho học hoàn thiện thêm một bước nữa với việc đặt một viên quan đốc học cùng hai vị phó đốc học để phụ trách giáo dục, thi cử3 Như vậy, trong nửa thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XIX hệ thống giáo dục Nho học đã được thành lập và từ

đó về sau là quá trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống này

Từ đầu thế kỷ XVIII, trong quá trình mở đất của chúa Nguyễn ở Nam Bộ, biểu tượng của Nho giáo là Văn miếu đã được xây dựng tại đinh Trấn Biên (thể kỷ XIX thuộc tinh Biên Hòa) là một vùng đất địa đầu4 Hơn một thế kỷ sau, Văn miếu thứ hai của Nam Bộ mới được xây dựng ở tinh Gia Định5 Đến giừa thế kỷ XIX, Văn

* Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quổc gia Hà Nội.

1 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 484.

2 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 1, sđd, tr 574.

3 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 1,sđd, tr 640.

4 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 1, sđd, tr 133.

5 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2006, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, N xb Thuận Hóa, Huế,

tr 273.

3 2 2

Trang 2

PHÂN TÍCH THÔNG TIN, DỬ KIỆN s ố LIÊU.

Miếu ở Vĩnh Long cũng được xây dựng1 Trong 6 tỉnh Nam Bộ chi có 3 tỉnh xây dựng Văn Miếu điều này cho thấy tính chất Nho giáo không lan mạnh ở toàn bộ vùng đốt này

Thiết chế quan trọng bậc nhất của giáo dục là trường học, các trường học từ huyện trở lên ở Nam Bộ hầu hết được xây dựng sau năm 1830 Trường học cấp tỉnh Gia Định được xây dựng sớm nhất vào năm 1805, riêng Hà Tiên không có trường cấp tỉnh Trường học cấp huyện được xây đựng muộn nhất ở Vĩnh Long vào năm

1861 Theo Đại Nam nhất thống chỉ đến giữa thế kỷ XIX Nam Bộ có 24 trường học

từ cấp huyện trở lên, trong đó có 5 trường cấp tỉnh, 8 cấp phủ và 11 cấp huyện; bên dưới cấp huyện là các trường được tổ chức trong các thôn làng

Con số trường học trên chỉ bằng khoảng 1/7 của cả nước Trung bình số trường học ở mỗi tỉnh Nam Bộ thấp hơn châu thổ Bắc Bộ, ở châu thổ Bắc Bộ mỗi tình trung bình có khoảng 11 trường học từ cấp huyện trở lên Dựa theo ghi chép về

sổ đinh của Đại Nam nhất thống chí ở giữa thế kỷ XIX thì Nam Bộ trung bình gần

5.000 đinh có một trường học, con sổ này ở châu thổ Bắc Bộ thấp hom với trên 4.000 đinh Cũng giống như cả nước, cơ quan phụ trách giáo dục ở Nam Bộ gồm đội ngũ giáo chức được tổ chức theo ngành dọc từ đốc học xuống đến giáo thụ, huấn đẹo ở phủ, huyện; dưới thôn làng là các thầy đồ Tuy nhiên, có khi hệ thống giáo dục này không liên thông với hệ thống hành chính, năm 1822 Minh Mệnh có chiếu tuyển học sinh Nam Bộ ra làm việc nhưng như lời của phó đốc học Gia Định nói với Minh Mệnh thì cơ quan hành chính không gửi thông tin cho cơ quan giáo dục che nên dù biết nhưng do sợ vượt quyền mà cơ quan giảo dục không dám cử người2

Ban đầu cả vùng Nam Bộ khi đó là trấn Gia Định (sau là thành Gia Định) chi

có một đốc học phụ trách giáo dục, bên dưới là hai phó đốc học Đến năm 1822, trong 5 trấn của thành Gia Định mỗi trấn đều có chức đốc học, sang năm 1823 chức đốc học của thành Gia Định phụ trách chung 5 trấn bị bãi bỏ3 Cũng năm 1823, bắt đầu đặt giáo thụ các phủ và huấn đạo các huyện Sau cải cách Minh Mệnh, Vĩnh Lọng và Biên Hòa là hai tỉnh có chức đốc học sớm nhất bắt đầu khi thành lập tỉnh vào năm 1832, hai năm sau Định Tường và Gia Định cũng có đốc học, đến tận năm

1840 An Giang mới có chức đốc học Riêng Hà Tiên không có chức đốc học vì dân

số nhỏ và “hay di chuyển bất thường”4

1 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2006, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, sđd, tr 170.

2 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 303.

3 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2 sđd, tr 306.

4 Trịnh Hoài Đức, 2006, Gia Định thìinh thông chí, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai, tr 189.

323

Trang 3

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ T ư

Huấn đạo là giáo chức cấp cơ sờ có vai trò sát sao nhất trong hệ thống quan chức giáo dục Chức vụ này chỉ có ở các huyện giáo dục, thi cử Nho học phát triển Năm 1830 các huyện Phước Chính, Bình An, Long Thành, Tân Minh, Vĩnh Bình, Kiến Hưng, Kiến Đăng có nhiều người đi học nên mới lập chức huấn đạo cho mỗi huyện1 Việc cắt cử hay bãi bỏ chức vụ này tùy thuộc vào số lượng người đi học, đi thi Huyện Long Xuyên ở Hà Tiên có chức huấn đạo năm 1827, nhưng đến năm

1836 chức này bị bãi bỏ và cho tri huyện kiêm chức, đến năm 1844 lại đặt chức huấn đạo riêng2 Với mục đích “giáo hỏa”, triều Nguyễn rất quan tâm đặt chức huấn đạo ở các huyện nhiều người thiểu số; năm 1829, Minh Mệnh đặt chức vụ này hai huyện Tuân Nghĩa, Trà Vinh3 nơi có nhiều người Khmer

Nguồn gốc xuất thân của các vị giáo chức ở Nam Bộ rất khác nhau Con đường hoạn lộ của những vị quan trước khi đến Nam Bộ làm giáo chức khá đa

dạng Thống kê trong Đại Nam thực lục cho thấy có 11/42 người là quan từ chính

quyền trung ương được cử xuống làm đốc học ở Nam Bộ; cũng có 11/42 người là quan hành chính được thuyên chuyển làm đốc học; 8/42 người là giáo chức được chuyển làm đốc học4 Thậm chí có người chi là “sĩ nhân Nghệ An” cũng được thăng làm phó đốc học thành Gia Định năm 18215 Những vị giáo chức ở Nam Bộ đến từ

nhiều vùng miền trong nước Con số thống kê từ Quốc triều hương khoa lục6 cho

biết có 20 người quê quán ở Nam Bộ đảm nhiệm các chức vụ giáo chức ngay tại quê hương mình, nhưng cũng có 5 người ở Hà Nội, Thanh Hóa, Thừa Thiên đến làm giáo chức ở Nam Bộ7 Cũng có người là tri huyện Ý Yên, Nam Định đến Nam

Bộ làm đốc học trấn Vĩnh Thanh8

Nội dung giáo dục Nho học ở Nam Bộ không khác nội dung chung được sử dụng cho cả nước Quy định nội dung học tập ở Nam Bộ được ban hành năm 1803

như sau: từ 8 tuổi bắt đầu học Hiếu kinh, Trung kinh; đến 12 tuổi trở lên học Luận ngữ, Mạnh Tử sau đó là Trung dung, Đại học-, từ 15 tuổi trở lên học Thi Thư, Dịch

1 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 104.

2 Quốc sử quán triều Nguyễn, 1971, Đại Nam thực lục, tập 25, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

tr 51.

3 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2,sđd, tr 868.

4 Đặng Ngọc Hà, 2007, Giáo dục và thi cừ Nho học ở Nam Bộ (1802 - 1867), Khóa luận tốt nghiệp ngành Lịch sử, Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, tr 52-54.

5 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2, sđd, tr 124.

6 Cao Xuân Dục, 1993, Quốc triều hương khoa lục, Nxb Tp Hồ Chí Minh, tr 742.

7 Đặng Ngọc Hà, 2007, Giảo dục và thi cừ Nho học ở Nam Bộ (1802 - 1867), sđd, tr 58-59.

8 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2 sđd, tr 775.

324

Trang 4

PHÂN TÍCH TH Ô NG TIN, DỮ KIỆN s ố LIỆU.

Lễ, Xuân Thu, Chư Tử và lịch sử1 Đe đẩy mạnh chất lượng giáo dục, từ 1832 nhà

Nguyễn ban hành quy chế giảng dạy riêng cho Nam Bộ2 Theo đó, mật độ học tập cùa người học vất vả hơn, mỗi ngày các giáo chức phải thực hiện 3 lần giảng, mỗi lần đều ra theo 4 nội dung của thi Hương, thi Hội

Người đi học có thể dự thi đều đặn các kỳ thi Hương, thi Hội đặc biệt các kỳ thi Hương được tổ chức ngay tại Nam Bộ với trường thi Gia Định, sau này khi Nam

Kỳ bị Pháp chiếm nhà Nguyễn lập trường An Giang Có 20 kỳ thi Hương được tổ chức ở Nam Bộ từ năm 1813 đến 1864, trong thời gian này các trường thi ờ châu thổ Bẳc Bộ đã diễn ra 24 kỳ thi Có nhiều kỳ thi Hương Nam Bộ không tổ chức trường thi do ít người dự thi hoặc ảnh hưởng của cuộc chiến chổng Lê Văn Khôi hay bị Pháp xâm lược

Quy mô trường thi Hương ở Nam Bộ nhỏ hơn châu thổ Bắc Bộ Theo quy định năm 1834, số lượng các ngạch quan chức làm việc tại trường thi Gia Định ít hơn so với các trường thi lớn như Hà Nội, Nam Định, Nghệ An, Thừa Thiên3 Có trường hợp năm 1841 triều Nguyễn còn bớt sổ người làm công tác thi như quy định

ờ trường Gia Định vì: “số thí sinh ở trường thi Gia Định rất ít”4 Nội dung thi Hương, thi Hội được quy định chung trên cả nước, Nam Bộ cũng không phải là ngoại lệ Ban đầu 1802 khi khảo thí ở Nam Bộ chi thi 3 kỳ là kinh truyện; chiếu, chế biểu; thơ, phú Năm 1807 quy định thi Hương gồm 4 kỳ thi: kinh nghĩa; chiếu, biểu; thơ, phú; văn sách Nội dung thi Hội cũng gồm 4 kỳ thi

Nội dung học tập, thi cử thường tỏ ra khó khăn với người học ở Nam Bộ Điển hình có người học trò ở Nam Bộ 4 năm tham gia kiểm tra năng lực học tập với 8 lần khảo khóa mà vẫn lchông đạt yêu cầu5 Minh Mệnh sửng sốt với thông tin này và ông phải điều chinh quy chế thi kiểm tra năng lực (khảo khóa) ở Nam Bộ để thuận lợi cho người học Những người đỗ thi Hương ở đây chỉ chiếm 1/10 cả nước, suốt lịch sử giáo dục triều Nguyễn ở Nam Bộ chỉ có 3 người đỗ Tiến sĩ Thậm chí có trường hợp hy hữu xảy ra năm 1819, khi gặp phải đề thi khó, học trò nổi loạn nên quan coi trường thi Gia Định phải ra đề thi khác6

1 Quốc sử quán triều N guyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 1, sđd, tr 574-575.

2 Ọuốc sử quán triều N guyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr 309-310.

3 Quốc sử quán triều N guyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 117- 120.

4 Quốc sử quán triều N guyễn, 1970, Đại Nam thực lục, tập 23, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

tr 421.

5 Quốc sử quán triều N guyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr.g 56.

6 Quốc sừ quán triều N guyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập ỉ, sđd, tr 993-994.

325

Trang 5

VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ TƯ

Các thứ bậc trong sát hạnh người đi thi Hương có quy định chung (gồm 4 hạng là ưu, bình, thứ, liệt) nhưng năm 1855 Biên Hòa, Gia Định đặt thêm một ngạch nữa là bình thứ ở khoảng giữa bình và thứ, Tự Đức cho rằng điều này khóng nên mà nên làm theo cách của tinh An Giang sắp xếp thứ tự trong hạng bình1

Hệ thống giáo dục Nho học ở Nam Bộ được tổ chức khá hoàn bị Tuy nhiên, các thiết chế giáo dục ở đây không quy mô như vùng châu thổ Bắc Bộ Cơ cấu nhân

sự trong tổ chức giáo dục có thành phần đa dạng nhưng không đông đảo Các kỳ thi Hương chưa được tổ chức thường xuyên do hiện tượng ít người học hoặc do những biến cố về quân sự

2 Chính sách khuyến khích giáo dục Nho học

Nhà Nguyễn hết sức quan tâm đến Nam Bộ vì là đất “trung hưng” của họ Nguyễn, đồng thời là khu vực hệ trọng trong quan hệ ngoại giao với Chân Lạp, Xiêm Từ kinh nghiệm chiến trường lâu dài ở Nam Bộ, Gia Long đánh giá: “Gia Định là thành lớn ở phương Nam, lại có việc ngoại giao quan trọng, không có người giỏi thì không xong”2 Nhà Nguyễn tiến hành rất nhiều công việc quan trọng ở Nam

Bộ trong đó có giáo dục, thi cử Chính sách khuyến khích phát triển giáo dục, th: cử Nho học nhàm tạo ra những quan chức có nguồn gốc Nam Bộ phục vụ cho công tác quản lý đồng thời muốn kéo Nam Bộ vào quỹ đạo của tư tường chính thống Nho giáo Chính sách khuyến khích của triều Nguyễn là hệ thống khá toàn diện tác đ)ng đến nhiều đối tượng của giáo dục Nho học

Triều Nguyễn nhận thức đầy đủ thực trạng yếu kém của giáo dục Nho học Nam Bộ nên hệ các chính sách khuyến khích đã ra đời ngay từ thời Gia Long Trước việc không tuyển được nhiều quan lại, cộng với các vị trí quan trọng ở ch'nh quyền trung ương phần nhiều là người miền Bắc3 nên Minh Mệnh phải thốt lên rằng: “ngày xưa nói văn thần võ tướng, đầy rẫy đông đúc, để nên sự nghiệp tmng hưng, không ai không phải là người Gia Định, mà sau ngày nay lại vắng vẻ như thế?”4 Chính sách khuyến khích giáo dục càng được đẩy mạnh vào thời Vinh Mệnh khi ông xác định Nam Bộ là đất “văn phong mới mở”, “văn học mới ctớm nở”, “phong hóa chưa thấm nhuần”

Trọng tâm của chính sách khuyến khích giáo dục Nho học ở Nam Bộ được đật vào đối tượng người đi học Chúng tôi không phân tích các chính sách khiyốn

1 Quốc sử quán triều Nguyễn, 1973, Đại Nam thực lục, tập 28, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

tr 116-118.

2 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 1, sđd, tr 938.

3 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr 117.

4 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2, sđd, tr.g 789.

3 2 6

Trang 6

PHÂN TÍCH THÔ NG TIN, DỮ KIỆN s ố LIỆU.

khích chung với người đi học mà chỉ đi vào chính sách riêng ở Nam Bộ Chính sách này tác động vào các yếu tổ xã hội liên quan đến người đi học, quá trình học tập, thi

cử và việc tuyển chọn người ra làm quan

Thứ nhất, triều Nguyễn thực hiện việc “phụ thí” linh động ở Nam Bộ Từ năm

1821, triều Nguyễn cho phép những người học đã cư ngụ ở Nam Bộ được phép thi Hương tại trường thi Gia Định, còn Phú Yên ra miền Bắc phải về nguyên quán thi Hương1 Hơn 10 năm sau, chính quyền lại ra quy định thứ hai nói rõ những người hiện sống ở Nam Bộ quê quán khác nhau nhưng vẫn được thi ở trường thi Gia Định2 Đốn giữa thế kỷ XIX, nhà nước lại đưa ra chính sách những người quê Nam

Bộ sinh sống trên địa bàn cả nước đến kỳ thi Hương đều được phép thi tại nơi ở hiện tại3 Năm 1834, cuộc chiến chống Lê Văn Khôi làm náo loạn Nam Bộ, triều Nguyễn cũng cho phép người đi học ở Nam Bộ ra Thừa Thiên thi Hương4 Không

có con số về những người ở nơi khác đến dự thi ở Nam Bộ, nhưng cặn cứ theo

Quốc triều Hương khoa lục thì có 25 người ở nơi khác đỗ cử nhân ở các trường thi

Nam Bộ trong đó phần lớn những người này đến từ Khánh Hòa và Bình Thuận Chính sách “phụ thí” đã tạo điều kiện thuận lợi trong thi cử cho những người quê ở Nam Bộ sống trên địa bàn cả nước và những người nơi khác hiện đang sinh sống ở Nam Bộ

Thứ hai, không đòi hỏi cao trong kỳ thi khảo khóa Khảo khóa là các kỳ kiểm

tra quá trình học tập, chuẩn bị cho kỳ thi Hương Năm 1832, triều Nguyễn sửa đổi quy chế khảo khóa, cho phép trong 4 năm đến năm 1836 việc chấm thi khảo khỏa, thi hạch được: “tùy văn mà phê chuẩn”5 không cần đúng theo quy cách chung; đồng thời cũng cho phép người đi học được tham gia 8 lần thi khảo khỏa Đến năm 1833, khi cuộc chiến chống Lê Văn Khôi vẫn đang diễn ra, để tạo thuận lợi cho việc học tập ở Nam Bộ, triều Nguyễn nhấn mạnh trong hai năm 1834, 1835 cho phép các giáo quan: “tùy theo văn lý điểm duyệt, phê lấy, không câu nệ là thể văn nào”6 và gia hạn thêm thời gian sửa đổi khảo khóa đến hết năm 1837, và từ 1838 trở đi việc khảo khóa phải trở về với quy định chung của cả nước Sửa đổi quy chế khảo khóa nhằm tạo điều kiện dễ dàng hơn trong nội dung học tập ở Nam Bộ

1 Quốc sử quán triều N guyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2, sđd, tr 136.

2 Quốc sử quán triều N guyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr 117.

3. Quốc sử quán triều N guyễn, 1973, Đại Nam thực lục, tập 28, sđd, tr 426-427.

4 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr 180.

5. Quốc sử quán triều N guyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr 309-310.

6 Quốc sử quán triều N guyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr 823.

3 2 7

Trang 7

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TẺ LÀN THỨ T Ư

Thứ ba, sửa đổi quy chế thi Hội tạo thuận lợi cho người đi thi vùng Nam Bộ

Triều Nguyễn đã thực hiện hai động thái để cụ thể hóa chính sách này Đầu tiên là đặc cách lấy Tiến sĩ là người Nam Bộ Năm 1826, Minh Mệnh nhận thấy trải qua hai kỳ thi Hội mà không có ai người từ Thừa Thiên trở vào Nam nên lấy đỗ thêm một Tiến sĩ là Phan Thanh Giản người Vĩnh Long nhằm: “cổ lệ sĩ phong” 1 Tiếp theo, thay đổi cơ chế sắp xếp phòng thi Hội diễn ra năm 1835, theo đó các thí sinh ở Thừa Thiên trở vào Nam Bộ thi phòng riêng gọi là “vi giáp”, từ Thừa Thiên ra Bắc thi ở phòng riêng gọi là “vi ất” Đen khi chấm bài sẽ chấm riêng hai phòng thi, phòng thi “vi giáp” sẽ được xem xét cho phù hợp hom nhàm: “lượm lặt không sót,

mà việc thu dùng nhân tài mới có công hiệu thực sự”2

Triều Nguyễn cho rằng việc học tập ở Nam Bộ có nhiều người tài năng nhung

họ “chưa tinh chuyên về cử nghiệp”3 như người học ở miền Bắc Năm 1827, chính quyền ban quy chế đến các cơ quan giáo dục về cách thức giảng dạy nên: “cốt phát huy ý sách, lời văn dồi dào đẹp đẽ, chớ chuyên dùng cách thức học quy”4 Từ năm

1832, Minh Mệnh đã chia sẻ với nhận định của Thượng thư Bộ Binh Lê Văn Đức

về nguyên nhân người miền Nam đỗ Tiến sĩ rất ít ỏi: “Từ Nghệ An trở ra Bắc, văn chương chẳng phải đều tinh túy, đẹp đẽ cả, song vì sĩ tử phần nhiều có gia giáo, cho nên dễ đỗ; còn từ Quảng Bình trờ vào Nam, chẳng phải không học rộng, chi vì văn thể chưa am luyện nên đến kỳ thi Hội, ít đỗ đó thôi”5 Như vậy, chính quyền đã nhận thấy khoảng cách giữa kiến thức học tập và việc thực hành trong mô phạm nhất định của kỳ thi Do đó cơ chế phòng thi Hội năm 1835 được thay đổi Sự thay đổi này đã có kết quả ngay lập tức khi Đinh Văn Minh ờ Định Tường đỗ Phó bảng ừong kỳ thi Hội năm 1835 Sau đó Nam Bộ có thêm 2 người đồ Tiến sĩ6

Thứ tư, ưu tiên của người đi học ở Nam Bộ được làm việc trong các cấp chính

quyền, đặc biệt ở chính quyền trung ương Năm 1834, Minh Mệnh than phiền trong

cơ quan trung ương ở kinh đô có ít người Nam Bộ và ông bắt đầu thực hiện chính sách bổ dụng người Nam Bộ trong các cơ quan trung ương dù họ xuất thân khoa cử hay không phải khoa cừ nhưng có tài năng7 Trong các năm tiếp theo như 1834,

1 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2, sđd, tr 489.

2 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr 508-511.

3 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr 508.

4 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 2, sđd, tr 640.

5 Quốc sử quán triều N guỹễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr 389.

6 Xem thêm: Cao Xuân Dục, 1962, Quốc triều đăng khoa lục, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1962.

7 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr 117.

3 2 8

Trang 8

PHÂN TÍCH TH Ô N G TIN, DỮ KIỆN SỐ LIỆU

1835, 1838 nhiều học trò, tú tài (không đồ thi Hương, học vị thấp hơn cử nhân một bậc ở Nam Bộ về làm việc ở kinh đô Thực ra, trước năm 1834, cả Gia Long và Mirn Mạng đều ưu tiêu người Nam Bộ làm việc ở các cơ quan trung ương nhưng cliưi trở thành chính sách cụ thể chỉ là những biện pháp tản mạn

Ngoài ưu tiên làm việc tại cơ quan trung ương, triều Nguyễn nhiều lần lựa chọi những người chưa đỗ kỳ thi Hương ở Nam Bộ làm việc ngay tại các cơ quan Nan Bộ Có thể kể đến một sổ chiếu chỉ vào năm 1823, 1828, 1864

Ngoài những chính sách ưu tiên, triều Nguyễn còn tỏ ra rất tôn trọng người đi học Năm 1834, Minh Mệnh cho các quan đi hòi tham dò ý kiến của học trò khắp Nan Kỳ xem có nên mở kỳ thi Hương năm này không vì lúc này cuộc chiến chống

Lê /ăn Khôi chưa chấm dứt Các tinh thông báo rằng đa sổ người học muốn để san' năm 1835 mở kỳ thi Hương'

Ngoài việc áp dụng cho người đi học, chính sách khuyến khích giáo dục cũng hưcng đến các giáo chức Giáo chức ở Nam Bộ có thể không nhất thiết phải có bằng cấp theo quy định Năm 1834 ở Nam Bộ thiếu nhiều chức huấn đạo, triều Nguyễn

đà Úy người Nam Bộ cho chức vụ này với yêu cầu chỉ cần là tú tài từ 40 tuổi trở lên

và (ó đức hạnh tốt Việc lựa chọn với yêu cầu như vậy là khá thấp, trong một quy địrứ năm 1857 thì chí ít huấn đạo là cử nhân dự thi đạt kết quả tốt trong kỳ thi Hội3, nhu vậy chính sách này nhằm tạo điều kiện cho người Nam Bộ làm trong các cơ quai giáo dục ngay tại quê hương nọ

Việc lựa chọn chức đốc học cho Nam Bộ dường như cũng không quá khắt khe Có 3 trường hợp từ tri huyện được điều vưựt cấp lên đốc học của các tỉnh Nan Bộ4 Cũng có trường hợp chi là “sĩ nhân” chưa hề trải qua công việc nào trorg cơ quan giáo dục hay hành chính cũng được điều làm phó đốc học thành Gia Địm năm 1821

Như vậy, chính sách khuyến khích giáo dục Nho học ở Nam Bộ tác động đến nhiói yếu tố trong hệ thống giáo dục nhằm tạo điều kiện hết sức cho người đi học trờ lên tích cực trong việc học tập, thi cử

3 Dữ kiện số liệu về thực trạng thi cử Nho học

Diện mạo thực trạng thi cử Nho học ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XIX rất đa

dạr»Ị, thú vị Dựa vào ghi chép về những người đỗ kỳ thi Hương trong Quốc triều

1 Quốc sử quán triều N guyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr 294.

2 Cuốc sử quán triều N guyễn, 2004, Đại Nam thực lục, tập 4, sđd, tr 200.

3 Cuốc sử quán triều N guyễn, 1973, Đại Nam thực lục, tập 28, sđd, tr.g 398.

4 Eặng Ngọc Hà, 2007, Giảo dục và thi cừ Nho học ở Nam Bộ (1802 - 1867), sđd, tr 52-54.

3 2 9

Trang 9

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI T R Ù ) QUỐC TÉ LÀN THỨ T ư

hương khoa lục có thể phác họa drợc diện mạo này Quốc triều hương khoa lục là

tác phẩm ghi chép tất cả những người đỗ thi Hương ở Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn Đối với Nam Bộ, kỳ thi Hương đầu tiên diễn ra năm 1813 và kết thúc năm

1864 khi thực dân Pháp xâm lược nơi đây Tổng hợp ghi chép về kỳ thi Hương trên toàn quốc trong hơn 50 năm giúp nhận diện thực trạng thi cử Nho học ở Nam Bộ so với các vùng khác và trong nội vùng Nam Bộ

Tính đến năm 1864, nhà Nguyễn đã tổ chức 24 kỳ thi Hương, trong đó ở Nam

Bộ diễn ra 20 kỳ thi Có 19 kỳ thi diễn ra ở trường thi Gia Định, kỳ thi cuối cùng ở Nam Bộ tổ chức tại trường thi An Giang, tổng số người đỗ cử nhân ở hai trường thi này là 269 người Nam Bộ cũng chi có 3 người đỗ Tiến sĩ trong các kỳ thi Hội là Phan Thanh Giản, Phan Hiển Đạo, Nguyễn Chánh và 1 người đỗ Phó bảng là Đinh Văn Minh trong khi đó trên cả nước từ năm 1822 đến năm 1865 có gần 300 người

đỗ Tiến sĩ1

Trong hom nửa thế kỷ, hai trường thi Hương ở Nam Bộ lấy đỗ số cử nhân rất thấp chỉ chiếm hơn 10% so với cả nước Thừa Thiên và Hà Nội là hai trường thi có nhiều cử nhân nhất Vào thời Thiệu Trị, trường thi Gia Định có số lượng cử nhân nhiều nhất, thời gian này chênh lệch giữa trường thi Gia Định với các trường thi lớn như Hà Nội, Nam Định không nhiều

r

SỐ lượng cử nhân tại các trường thi Nam Bộ có xu hướng tăng mạnh hơn theo thời gian Vào thời G ia Long số lượng cử nhân tại trường Gia Định chênh lệch rất lớn so với hai trường thi lớn nhất lúc đó là Sơn Nam và Hà Nội Từ thời Minh Mệnh trở về sau số lượng cử nhân ở Nam Bộ tăng nhanh hơn và sự chênh lệch so với các trường thi lớn có giảm đi Một phần nhà nước có sự cân đối giữa các trường thi và khuyến khích người đi học ở Nam Bộ, nhưng mặt khác cũng cho thấy sự phát triển hơn của giáo dục ở Nam Bộ Và dường như đến thời Minh Mệnh: “sau gần 20 năm “dự nhập” trong không khí chung của giáo dục cả nước thì thời điểm này giáo dục ở Nam Bộ có bước tiến mạnh hơn”2

Việc lẩy nhiều hay ít cử nhân là do quy định của nhà nước, nhưng một thực tế chung là các trường thi ở đất Nam Bộ chưa thu hút được nhiều người đi thi Hương Nguyên nhân tình trạng lấy ít cử nhân Nam Bộ một phần do dân số ở đây ít, hơn nữa số lượng người đi học cũng ít hơn các nơi khác của cả nước

1 Xem thêm: Đ ặng N gọc Hà, 2007, Giáo dục và thi cừ Nho học ờ Nam Bộ (1802 - 1867), sđd, phần Phụ lục.

2 Đặng Ngọc Hà, 2007, Giáo dục và thi cử Nho học ờ Nam Bộ (1802 - 1867), sđd, tr 84.

3 3 0

Trang 10

Bảng 1: Số lượng cử nhân ử các trường thi Hương (1807 - 1864)1

Số lưọrng % Số lưọnng % Số lư ợ n g % Số lượng %

9 nni 4 rpí Thừa Thiên• A ♦••• 26 10,20 152 21,14 209 34,2 ì 223 24,81 OIO ~ H Ĩ 6 ~ ị

I Tập hợp số liệu Irong: Cao Xuân Dục, 1993, Quốc triều hương khoa lục, sđd, tr 92-372.

* Các trường thi Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn T ây c h i được m ờ duy nhất một lần vào năm 1807 Trường thi Sơn Nam được mờ dưới thời Gia Long, Minh Mệnh Trường thi Thanh Hóa băt đâu m ở từ thời Gia Long, bị gián đoạn dưới thời Thiệu Trị sau đỏ Tự Đức lại cho mở trường

này Hai trường thi Bình Định, An Giang bắt đầu được m ở vào thời Tự ĐứcT

** Trước 1834 gọi là trường thi Thăng Long.

**’ Trước 1825 gọi là trường thi Thanh Hoa.

**’* Trước 1825 gọi là trường thi Quảng Đức, riêng năm 1819 gọi là trường thi Trực Lệ.

Ngày đăng: 19/01/2018, 18:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w