Sử liệu bao gồm những di thư từ năm 1666 ~ 1673 của Shichirobee và Nguyễn Thị Từ, và một ít của một vài người Nhật khác sống ở phố Nhật Bản - Hội An là Tanimura liệu "'An Nam k r có cả n
Trang 1KADOYA SHICHIROBEE TRONG LỊCH sử
CUỐI THÉ KỶ XVII
Huỳnlí Trọng Hiền*
Kadoya Shichirobee còn gọi Kadoya Eikichi 'a (1610-1672) xuất thân
từ dòng họ Matsumoto ở Shinshu íg'J'H - Nagano hiện nay Hidemochi
(1542-1614) - ông nội của Shichirobee - sau khi giúp Tokugawa Ieyasu vượt biển trở về Migawa an toàn thoát khỏi loạn “Honnọịi no hen” năm
1582, được Tokugavva Ieyasu ban cho đặc quyền ra vào tự do các cửa biển Nhật Bản trên thuyền Hachimanmaru quy mô 400 thạch (khoảng 2.4 tấn)
Như chúng ta đã biết giai đoạn Mậu dịch Châu Ấn Thuyền thịnh vượng nhất
kể là từ khi Tokugawa Ieyasu chính thức kết bang giao với các nước lân cận Theo
đó, Shichirobee - người đầu tiên của dòng họ chuyển hướng buôn bán ra nước ngoài
- lên thuyền buôn Nhật Bản đến An Nam năm 1631 Sau đó không lâu, chính sách Sakoku được thực thi khiến ông phải định cư lại Hội An Shichirobee lấy vợ người Đàng Trong là bà Nguyễn Thị Từ - pháp danh Miêu Thái và có một con trai tên Ngô Thuận Quan
Các di thư của Shichirobee được tìm thấy trong bộ sử liệu viết về quan hệ mậu dịch dòng họ Kadoya Sử liệu hiện đang lưu trữ đầy đủ nhất tại Bikokan Jingu
sử liệu dòng họ Kadoya được công nhận là di sản văn hóa trọng yếu của Nhật Bản
Dù vậy, việc nghiên cứu các di thư Shichirobee để lại nhằm hiểu về đời sổng người Nhật ở Hội An, việc giao lưu mậu dịch và văn hóa Việt - Nhật ờ góc độ cá thể chưa được thực hiện một cách cẩn thận
* NCS, Đại học Hiroshima, Japanese History Postgraduate Program, Hiroshima University
1 Kado Kiyoshi, 2009, “ Khái lược tư liệu liên quan thương nhân Kadoya Shichirobee” Sở báo Nghiên cửu X ã hội Khu vực, Đại học Miechukyo, số 21, p 215 ( P W f t o ]
Ỉm®;±ểw9cmm
215JC) 01 th ạ c h í ĩ tương đương khoảng 60kg.
2 Kado Kiyoshi, 2009, sđđ, p 216.
3 5 8
Trang 2KODOYA SHICH IR O B EE TR O N G LỊCH s ử GIAO Lưu.
Di thư của Shichirobee được biên tập trong “A n Nam k r và “A n
N am G ia o C h i K a d o y a E ik ic h i d i th ư " r Ễ i t fỉ] n £[$ ií-íậDM I r J Sừ liệu
"A n N am G iao C h ì K acioya E ik ic h i d i t h ừ ' được Rokuroịiro Moriyoshi và Ariyoshi
- hậu duệ dòng họ Matsumoto - biên tập, đặt tựa và hoàn chỉnh năm 18071 Sử liệu bao gồm những di thư từ năm 1666 ~ 1673 của Shichirobee và Nguyễn Thị Từ, và một ít của một vài người Nhật khác sống ở phố Nhật Bản - Hội An là Tanimura
liệu "'An Nam k r có cả những bức thư người nhà Kadoya gửi từ Nhật Bản đến Hội
An (có thổ trước khi gửi nội dung đã được sao lưu) Sử liệu A n N am
k r r ^ ĩ t f 2 j được biên tập hoàn tất vào năm 17952
Trong hầu hết những nghiên cứu về nhân vật trong lịch sử ngoại thương của Nhật Bản, thường chỉ đề cập đến tiểu sử và sơ lược nội dung, Shichirobee cũng không phải ngoại lệ Gần đây, năm 2009 ~ 2010, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Mie Chukyo đã dịch (DlliĩL kundoku) nguồn sử liệu trên3 Tuy nhiên chưa có bài phân tích xâu chuỗi sự kiện làm rõ cuộc sổng của Shichirobee Tham luận này sẽ bổ sung phần trống đó
Như chúng ta đã biết, sau chính sách Sakoku £ể[H, Mạc Phủ chỉ cho phép giao thương với thuyền buôn Hà Lan và Trung Quốc, Triều Tiên Vì thể, Hà Lan và Trung Quốc hai thế lực này ngày càng bành trướng hom để lấp chổ trống thị phần thương mại mà các thương thuyền Châu Ẩn người Nhật Bản để lại Sự biến mất của thương thuyền Nhật Bản cũng khiến ngoại thương ở Hội An hưng thịnh từ thời Chu
Ẩn Thuyền cũng bị ảnh hưởng về mức độ và quy mô Qua thư tịch của Shichirobee, phác thảo bức tranh đời sống và kinh tế ngoại thương Hội An hậu kỳ Sakoku ở khía cạnh vi mô
1 Kado Kiyoshi, 2010, “Giới thiệu Tư liệu văn thư Kadoya sở hữu của Thư viện thuộc trường Đại học Nagaoya nằm trong văn khố Đại học JinguKogakkan” Sở báo Nghiên cứu Xã hội Khu vực, ĐH Miechukyo, số 22, p.439
2 Matsumoto Yoshihiro, 2010, “Giới thiệu về An Nam kí - Tài sàn văn hóa trọng yếu, thuộc
sở hữu của Vi cổ quán Jingu” Sở báo Nghiên cứu X ã hội Khu vực, ĐH Miechukyo, số 22, p.397 ĩ n - à m - Ẽ i ê m m • m m x í m ơ ) fà fr ]
3 Sở háo Nghiên cứu X ã hội Khu vực, 2010, ĐH Miechukyo, sổ 22, Trong phần “An Nam Giao Chi Kadoya Eikichi di thư' dịch bởi Kado Kiyoshi từ trang 440(1) ~ 398(43) và phần
“/4/7 Nam k r dịch bời Matsumoto từ trang 397(44) ~ 375(66) có nhiều điểm sai biệt, dịch sót chữ (?) và chữ Hán có vài nơi không thống nhất Người viết căn cứ vào ý nghĩa cùa nội dung những di thư để suy ra từ sử dụng gần đúng nhất.
359
Trang 3VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẦN THÚ TƯ
Trong tham luận này, người viết sử dụng nguồn tư liệu đã dịch (tư liệu gốc không thể tiếp cận) bước đầu phân tích các hoạt động, mổi quan hệ, cách thức buôn bán của Shichirobee từ đó phác thào khía cạnh cuộc sống và giao lưu văn hóa của người Nhật cư trú tại Hội An thời kỳ này
1 Trích lược tiểu sử Kadoya Shichirobee
Hội An, một thương cảng quốc tế ở Đàng Trong, là nơi tụ hội buôn bán, trao đổi hàng hóa trong thời kỳ mậu dịch Chu Ấn Thuyền và hậu kỳ T hương mại Đông Nam Á ’1 và là nơi cư ngụ của thương nhân Hà Lan, Trung Quốc và Nhật Bản2 Trong báo cáo, Adams William mô tả ở Hội An có ‘Nhật Bản phố’3 Nhà nghiên cứu Iwao Seiichi đã khẳng định trong thời kỳ mậu dịch Chu Ẩn Thuyền, có
71 chiếc mang Chu Ấn đi từ Nhật Bản đến An Nam Giao Chỉ4, về quy mô của thuyền buôn thời kỳ này có sức chứa từ 90 đến 800 tấn hàng hóa5 Mặt hàng mậu dịch được đưa đến từ Nhật Bản chủ yếu là bạc, đồng, tiền đồng, lưu huỳnh, long não, v.v
Shichirobee là con thứ hai trong gia đình, năm 1631 đến An Nam với tư cách là một thương buôn Tuy nhiên, hai năm sau Mạc Phủ bắt đầu ban hành dần các lệnh cấm người Nhật ở nước ngoài trở về, đến năm 1635 nghiêm cấm tàu thuyền đến Nhật Bản ngoại trừ thuyền của người Hà Lan và Trung Quốc Shichirobee ở lại Hội An lập nghiệp, lấy vợ người Việt và có một người con trai tên là Ngô Thuận Quan
Theo nghiên cứu trước, Shichirobee là một thương nhân thành đạt (?), có chức
vụ cao trong khu phố Nhật Bản ở Hội An Một trong các lý do đó là, tên của Shichirobee được khắc trên bia đá Phổ Đà Linh Trung Phật ở Ngũ Hành Sơn (nay thuộc tinh Quảng Nam) ghi công đức quyên góp trùng tu chùa Tẩm bia đá trên được xác định khắc vào năm 1640ó.Và, trong những năm cuối đời Shichirobee là
1 Anthony Reid, 1993, Southeast Asia in the Age o f Commerce 1450-1680 Vol Two: Expansion and Crisis, Yale University Press.
2 Ogura Sadao, 1989, Người Nhật Bản trong thời đại Chu Ấn Thuyền - Bí ẩn cùa khu phổ Nhật Bản ở Đông Nam Ả'N xb. Chuko Shinsho, p 59 0 —
w c D t a y 5 9 H ) .
3 Iwao Seichi, 1966, Chu Ấn Thuyền và Khu ph ố Nhật Bàn Nxb Shibundo,
p 119 ( £ £ * £ - ĩ ^ m è t 0 W J Ĩ Ẵ i 1 I 9 H ) .
4 Iwao Seichi, 1978, Nghiên cừu Khu phổ Nhật Dem ở Nam Dương Nxb Iwanami Shoten,
5 Kado Kiyoshi, 2009, sđđ p.215.
6 Iwao Seichi, 1978, sđđ, pp.68-73.
3 6 0
Trang 4KODOYA SHICHIROBEE TRO NG LỊCH s ử GIAO Lưu.
Trường khu phổ Nhật Bản' Chùa Matsumoto = Chùa Tùng Bản (Matsumoto là họ gốc) được xây vào những năm 1670-1671, năm 63 tuổi (1672) Shichirobce qua đời, dược chôn cất trong ngôi chùa này
2 Sự giao lưu thương mại, văn hóa Việt-Nhật qua di thư Kadoya Shichirobee Giao thương Nhật Việt vẫn tiếp tục trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVII nhưng chuyển qua hình thức buôn bán gián tiếp Thuyền buôn của người Trung Quốc giữ vai trò trung gian chính yếu trong tuyến thương mại Đàng Trong - Nagasaki và cả tuyến Đàng Ngoài - Nagasaki Tương tự, ở Đàng Ngoài, Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) hoạt động kinh doanh với vai trò trung gian trong tuyến thương mại Tonkin (Đông Kinh) - Nagasaki3
Thời điểm thập niên 60 của thế kỷ XVII, mặt hàng chủ yếu xuất từ Tonkin và Quảng Nam đi Nagasaki là đường đen, đường trắng, da hươu, da cá mập và quế4 Ngược lại, nhập khẩu đồng và tiền đồng và long não5,v.v v ề cơ bản, thương mại ở Hội An bị thương buôn Trung Quốc độc chiếm
Trong tham luận này, việc trình bày chắt lọc từ 12 di thư trong sử liệu
Nam Giao Chi Kadoya Eikichi di thư” và 21 di thư trong “An Nam k r sẽ cho thấy
tình hình buôn bán, đời sống người Nhật Bản ở Hội An nửa cuối thế kỷ XVII Trong hai tập sử liệu trên, thư Shichirobee gửi đi sớm nhất đề năm 1666 và bức sau cùng
là của chùa Shutokuji ở Nagasaki gửi cho Shichirojiro - anh trai Shichirobee - đề năm 1691
Có nhiều di thư cùng một nội dung trong hai tập sử liệu trên Và, đặc trưng di thư là những đom đặt hàng, ký gửi hàng hóa, nội dung quà tặng cùng tên người nhận Bên cạnh đó, có thêm nhiều chi tiết Schichirobee cho thương nhân, chủ thuyền người Trung Quốc vay bạc để kiếm lãi, và để trừ v à o tiền chuyên chở hàng hóa từ Hội An đến Nagasaki và ngược lại, v.v
1 lwao Seichi, 1978, sđđ, p.48.
2 Kado Kiyoshi, 2009, sđđ, p 2 16.
3 Hoàng Anh Tuấn, 2007, Silk fo r Silver Leiden.
4 Nagadumi Yoko (biên tập), 1987, Tosen yushutunyuhin suryo ichiran 1637-1833, Nxb Sobunsha Đối tượng chủ yếu là thuyền buôn Trung Quốc Ký lục số lượng thuyền đến và
đi, lượng hàng hóa xuất và nhập, giá thành sản phẩm.
5 Hoàng Anh Tuấn, 2009 & 2010, “ Kim loại tiền Nhật Bản và chuyển biến kinh tế - xã hội Đàng Ngoài thế kỷ XVII” Nghiên cửu Lịch sử số 12 (404) 2009 & số 1 (405) 2010 Phân tích dựa trên nguồn tư liệu v o c
361
Trang 5VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẦN THỨ TƯ
Ngoài ra, có bản đồ mô tả và chú thích đặc điểm, trang phục người An Nam v.v 1 Trước hết, xin giới thiệu di thư (a)2 đề năm 1666 Kanbun, Khoan Văn năm thứ 6), người viết Shichirobee gửi người nhận Kadoya Shichirojiro (anh trai)
và Kadoya Kyurobee ỷL Ẽ Ị^íậi (em trai)3
Bức di thư (a) này được gửi đi trong bổi cảnh sự nghiêm ngặt.chính sách Sakoku đã giảm đi nhiều Mặc đù Mạc Phủ vẫn cấm người Nhật ở nước ngoài trở
về nhưng về cơ bản chính sách này đã được nới lỏng cho phép người Nhật ở nước ngoài liên lạc thư từ với gia đình, tuy nhiên tất cả thư từ hay hàng hóa gửi về Nhật Bản đều phải ký gửi theo thuyền buôn người Trung Quốc và người có tên đích danh trong thư gửi kèm phải đến Nagasaki để nhận trực tiếp từ tay người có chức trách gọi là Nengyoiýikata ^ Í T ^ ^ Í 4 Trường hợp có sự nghi ngờ thì số hàng hóa và thư
từ sẽ bị tịch thu5 Thư (a)6 của Shichirobee gửi đề ngày lành tháng 67 năm 1666 này
có nội dung như sau:
“Ngày 11 thảng 1 Năm Ngọ (1666) có ba thuyền buôn đến lHội An) và (tôi) đõ nhận thư đề ngày lành thảng 9 năm Tỵ (1665) của hai người (người anh Shichirọịiro và em Kyurobee) biết cả hai và gia đình tất cả mọi người vẫn khỏe mạnh lòng rất lấy làm vui mừng (Tôi) đã nhận đủ những vật phẩm trong đơn hàng gửi đi hồi năm rồi (1665) (Tôi) cũng biết cả hai người cùng xuống Nagasaki theo quy định (cùa Mạc Phủ để nhận hàng gửi từ người thân ở nước ngoài gửi về)
Theo nội dung trên, từ năm 1665 Shichirobee đã xuất hàng đi từ Hội An, và đã nhận đủ lượng hàng nhập trong tháng 1 năm 1666 từ thương thuyền Trung Quốc Chưa đủ cơ sở để khẳng định bắt đầu từ khi nào Shichirobee liên lạc và gửi hàng
1 Matsumoto Yoshihiro, 2010, sđđ, p.397.
2 Các di thư sử dụng trong tham luận này được đánh ký hiệu từ a, b, c, d, e, f, g, h đến i (TG), đối chiếu nội dung di thư bản chữ Hán đính kèm.
3 Sở báo Nghiên cứu X ã hội Khu vực, 2010, ĐH Miechukyo số 22, Phần “An Nam Giao Chi Kadoya Eikichi di th ứ ' pp 436 (5) ~ 426 (15) và “An Nam k r pp.393 (48) ~ 375(66).
4 Đại từ điền tiếng Nhật Nxb.Shogakukan, 1975, p.676; Nengyoụịikata
h a y ^ Í T a ] ^ l à nhóm 5 người luân phiên nhiệm kỳ mồi năm phụ trách nghiệp vụ hành chính thương mại.v.v của các Kabunakamattí^PBl v ề quan điểm này xem thêm Shiba Kentaro,
1929, “Công trạng cùa Kadoya Shichirobee nói lên điều gì” lJịW ịCD^Ỉ$ Itíõ ĩ& a n ỏ ] (_h • T ) Tạp chí Lịch sừ địa lý số 53, 56 Shiba Kentaro, 1942, Lịch sử mậu dịch Chu An thuyền r í t n 5È J Nxb Kọịinsha,.
5 Theo Tsukoichiran (Thông Hùng Nhắt Lãm) Quyển 4, p.471 ( tTiíSỔ/L— f i j WA'ịế, 471 £ 0 .
6 Xem nội dung di thư (a), “An Nam Giao Chì Kadoya Eikichi di thứ".
7 T ính theo lịch âm, chú thích ‘âm lịch’ xin được giàn lược.
3 6 2
Trang 6KODOYA SHICHIROBEE TR O N G LỊCH s ử GIAO Lưu.
h ó a cũng n h ư đ ơ n m u a h à n g vớ i g ia đ ìn h ở M a ts u z a k a , n h ư n g th e o nội duntì thì
v iệ c gửi th ư đ ể t h ô n g tin q u a lại đ ã d iễ n ra ít n h ấ t t ừ trư ớ c n ă m 1665.
" (T ô i) g ử i b ạc đ in h 15 q u a n 1 (T0M15Ml=J) cho th u yền trư ở n g D ư ơ n g Tán
K h êỉM M ĩM v a y và ô n g n à y hứa sẽ đưa (sổ bạc nàv) c h o ngài A r o k ỉ K yu u eim o n
ị ĩ f ệ ỉ ỉ !lì, vậy a n h (Shichirojiro) h ãy nhận so b ạ c n à y từ ngài A ra k i
K y u u e m o n (T ô ỉ) cũng g ử i 2 0 0 câ n (khoảng 120kgJ đ ư ờ n ẹ trắ n g cho thuyền trư ở n g
nà, anh h ã y n h ậ n h à n g từ n g à i K yu u e im o n ”
Bạc và đường trắng được Shichirobee gửi qua thuyền trưởng Dương Tán Khê người nhà bát buộc phải đến Nagasaki để nhận hàng Ở đây, Shichirobee cho vay bạc, việc vay bạc (hay cách đầu tư kinh phí cho các thương thuyền) này không thấy có giấy tờ cam kết đính kèm, vậy có thể thấy việc cho vay bạc đã xảy ra thường xuyên và thuyền trưởng trên có được sự tin tưởng của Shichirobee
Hình thức cho vay (đầu tư) bạc trên được cá thương nhân Nhật bản sử dụng nhiều trong thời kỳ Châu Án thuyền và kể cả sau khi chính sách Sakoku hiệu iực.Việc cho vay bạc cơ bản thực hiện dựa trên lòng tin, cần phải có người đứng trung gian đảm bảo cho việc vay mượn và chi tra đúng cam kết Hình thức cho vay tư bản trên gọi là ‘N ageganefèl8”(gọi là “bottomry” hay “respondentia”) mô phỏng theo cách làm của các thương gia người Bồ, thịnh hành ở Nagasaki lúc bấy giờ2
Nội dung tiếp theo của thư (a) cũng cho biết lượng tiền, hàng, người nhận và cách thức nhận Nhưng, Shichirobee gửi cho nhiều thuyền trường cùng một thời điểm Chỉ riêng về bạc, cho thuyền trường Dương Tán Khê vay 15 quan bạc đinh, Hoàng Nhị Quan H “ ' ! ’ và Ngũ Nương ( có khả năng là người nhà của Shichirobee - TG) vay 15 quan bạc đinh, Ngụy Cửu Sử lái thuyền Nhị Ca vay 5 quan bạc đinh, cho khách buôn của thuyền Ngô Nhị Ca ^ rZ l^ :là Vương Chủ Lão Ĩ Ỉ Ề vay 5 quan bạc đinh Tổng cộng bạc cho vay là 40 quan Tất cả số bạc trên người nhà của Shichirobee được nhận và thuyền trường Ngô Xảo
sẽ đưa số bạc lãi được 7 quan 500 tiền cho Araki Kyuueimon
Riêng về mặt hàng đường trắng, Shichirobee cũng gửi trên nhiều thương thuyền khác nhau Thư gửi đề năm 1666 này còn cỏ ghi 98 cân đường trắng và 2 xấp lụa trắng Lăng Tử làm quà tặng cho Araki Kyuueimon Shichirobee căn dặn tất
1 Bạc 01 quan (theo đơn vị tiền tệ Nhật Bản) hay 01 kanme = 10 tael (lạng) bạc.
2. MatsJtake Hiđeo, 1989, “Shuinsenjidai to soreiko no Nagasaki no Kaigaiboeki” (1)&(2) Tạp chí Kinh tế và Kinh doanh số 69 (2 & 3), Hội Kinh tế học Đại học Nagasaki Người cho vay bạc chủ yếu là các thương buôn giàu có ở Kvoto Osaka, Sakai, Hakata và người vay thường
là chi thuyền tàu, thuvền viên, thirơniỉ buôn trên thuyền Chu An.
3 6 3
Trang 7VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ T ư
cả số hàng hóa, tiền bạc gửi về đều phải nhận từ tay của Araki Kyuueimon Vì thế,
có thể bước đầu khẳng định rằng Araki Kyuueimon là một trong năm người phự trách cỏ chức danh Nengyouji trong giai đoạn này như đã trình bày ờ trên
Rất nhiều câu hỏi được đặt ra ở đây Shichirobee vì sao biết để căn dặn ngirời nhà phải nhận hàng hóa từ tay người có chức trách? Và làm sao biết người đó là Araki Kyuueimon? Ai và làm như thế nào thông tin này đến với Shichirobee? Chi
có thể khẳng định là Shichirobee đã nắm rõ tình hình ở Nagasaki Bởi có thể những thông tin này được cung cấp bởi thương buôn Trung Quốc mỗi năm thực hiện các chuyến buôn đến Nagasaki
Ngoài ra, điểm thú vị ngạc nhiên là trong thư đề năm 1666 ở tập sử liệu “/l/ỉ
Nam k ĩ' có chi tiết Shichirobee gửi về Nhật Bản hai (02) cái bồn tắm Giang Nội
‘bồn tắm nồi tròn Giang Nội=Hà Nội(?)’) nhưng lại không có chi
tiết này trong thư (a) trên ở “An Nam Giao Chỉ Kadoya Eikichi di thư” Và, trong
một di thư (b) khác của Shichirobee tuy không đề năm nhưng có ghi thông tin chi tiết hơn về chất liệu bồn tắm được làm bằng đồng gửi cho Shichirojiro và Kyurobee1
" Bồn tắm đồng Trong đó, 1 cải gửi cho Ngộ Tâm hòa thượng và một cho nhà Kadoya Shichirojiro, hiện nay vẫn còn đang lưu giữ (chi tiết này được viết thêm khi biên tập - TG) ”
Điểm chú ý ở đây là nguồn gốc của bồn tắm Tuy chưa cỏ cơ sở minh chứng nhưng định đoán Shichirobee đã đặt hàng và nhận bồn tắm được sản xuất ở Giang Nội (Hà Nội, bởi chữ J11 cũng có thể viết thành chữM) rồi gửi thuyền đem về Nhật Bản Việc sử dụng bồn tắm là một thói quen sinh hoạt từ xưa nay của người Nhật Bản Vậy, người Việt Nam thời đó đã có thói quen sử dụng bồn tắm? Việc tìm tư liệu minh chứng việc sản xuất và sử dụng bồn tắm trong sinh hoạt ở Việt Nam thời bấy giờ gợi mở thêm một hướng nghiên cứu
Ngoài những mặt hàng thông thường trên còn gửi đi cả tượng Khổng Tử, lư trầm, bát lớn và vừa, đĩa An Nam, lụa Giao Chì gửi đi Nhật cũng trong thư (b);
“ Một ticợng Khổng Tử bằng vàng Một lư trầm hương Đĩa An Nam dùng cho một trăm ngirời (nội dung được biên tập ghi: hiện còn sử dụng cho khoảng năm mươi ngicời) Lụa Giao Chi (ghi theo chủ thích của biên tập: Giao Chi hay còn gọi
1 Kado Kiyoshi, 2010, sđđ, p.436 Xem nội dung di thư (b), “/írt Nam Giao Chì Kadoya Eikichi di thứ'.
364
Trang 8KODOYA SHICHIROBEE TR O N G LỊCH sử GIAO Lưu.
Hà Vội Có lẽ n g ư ờ i biên tậ p đ ã nhận định s a i đ ịa d a n h -T G 1) M ộ t văn khổ Bát khải trư lớn v à v ừ a ”
Ngoài ra, nội dung khác trong thư đề “Thư về tiền cúng công quả” ÍÍPIITÍ:
!$1Z1Ế có ghi cụ thể số tiền cúng cho từng ngôi chùa ở Nagasaki2 Điểm cần lưu ý trorg phần “Thư về tiền cúng công quả” ở đây đó là việc thu chi buôn bán đều ghi ché? rất rõ Shichirobee nhấn mạnh các nội dung sau;
Thứ nhất, sau khi nhận bạc đinh gửi từ Shichirobee, trừ đi số bạc ghi là tiền cún' cho các chùa số, còn lại sử dụng để mua theo đơn hàng đã nhận Thứ hai, phải cho người đầu óc tính toán giỏi đi cùng với hai người (anh và em Shichirobee) để tính toán lấy lãi từ số bạc chi còn dư và bán các mặt hàng có ghi trong thư Thứ ba, ghi :hép lưu lại giá bán và giá thị trường từng loại hàng hóa
Như đã nói ở trên, Shichirobee gửi hàng hóa, bạc tiền, v.v cho nhiều chủ thirền Shichirobee gửi ít nhất cho 05 thuyền buôn Trung Quốc (theo như nội dung
di tìư (a)) Tính sơ bộ trong di thư năm 1666, Shichirobee không chỉ cho các chủ thinền vay bạc mà còn cho viên lái thuyền và thương khách đi trên thuyền buôn đó vaybạc để lấy lãi
Trong di thư năm 1671, chi phí chuyên chở 60 bao đường đen và 5,000 cân hàn' khác tổng cộng là 2 quan bạc và 500 tiền monme Shichirobee yêu cầu sau khi hàn' cập cảng thì cứ 100 cân hàng thì biếu 20 tiền monme cho chức trách Nagasaki,
và íử dụng 240 monme bạc mua gạo Nagasaki Shichirobee còn cho biết dự tính sanị năm (1672) sẽ đích thân đi Nagasaki3
Hàng hóa được gửi về Hội An cũng rất phong phú, ngoài những mặt hàng giao dịch thương mại còn có hơn 40 loại hàng hóa lương thực sử dụng hằng ngày của ngư« Nhật Bản như; cá ngừ khô bào mỏng (katsuobushi), nấm hương (matsutake), loại rong biển dạng cục (konnyaku), nước tương Nhật (shoyu), v.v , được gửi với
số lrợng tương đổi nhiều Danh sách liệt kê các loại hàng lương thực này được Shiíhirobee gửi nhờ anh em trai và Kiyọịiro (cháu) gửi đến Hội An trong vòn' từ 5 ~ 7 năm liên tục4
Việc Shichirobee ký gửi hàng cho thuyền buôn Trung Quốc vẫn tiếp tục diễn
ra tong các năm tiếp theo Di thư (e) đề năm Tuất (1670) cho biết Shichirobee đã nhậi đủ số tiền gửi đến từ Nhật Bản Và cũng trong nội dung di thư (e) này,
1 V: khái niệm địa danh xin xem lwao Seichi, 1978, sđđ, pp 20-31.
2 Xn đọc thêm Ogura Sadao, 1989, sđđ, p.92.
3 Xítn nội dung di thư (c), “An Nam Giao Chi Kadoya Eikichi di thir".
4 Xim nội dung di thư (d), “An Nam Giao Chì Kadoya Eikỉchi di thứ".
365
Trang 9VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ TƯ
Shichirobee cho biết năm nay (1670) con trai Thuận Quan sẽ đi cùng Ngũ Nương 3l£Ố đến Nagasaki và rất mong được giúp đỡ Người nhận của di thư này là
lẫn trong khâu biên tập, những thư khác thì đề Kyuueimon ^ ^ Í Ệ r P ^ ) - những người Nengyoujikata phụ trách thương vụ của Hội thương buôn Kabunakama
như đã trình bày trên
Trong 2 di thư (c)(e) vừa trình bày, hai yếu tổ cần lưu ý; thứ nhất, con trai cùa Shichirobee là Thuận QuanlllMìỀrđến Nagasaki vào năm 1670 - di thư (e) - và thứ hai, đích thân Shichirobee cũng đã dự định đi Nagasaki vào tháng 6 năm 1672 - di thư (c) - , tuy nhiên chuyến đi này đã không thực hiện được bởi Shichirobee qua đời
ở Hội An ngày 19 tháng 10 năm 1672 - theo di thư của Tanimura Shirobee gửi cho anh trai Shichirojiro ngày 8 tháng 6 năm 1673)
Việc trao đổi thư từ giữa Shichirobee và những người chịu trách nhiệm giám sát hoạt động thương mại ở Nagasaki với nội dung con cái sẽ đến Nagasaki buôn bán, cần sự giúp đỡ thì cũng đã cho thấy sự nới lỏng trong quy định nghiêm ngặt của lệnh Sakoku, và cũng cho thấy rằng người Nhật ở nước ngoài và thân nhân của
họ cũng có thể thực hiện hành vi buôn bán tại Nagasaki mà không bị bất cứ hình phạt nào?
Vậy, việc khẳng định chỉ duy nhất người Trung Quốc và Hà Lan mới có thể cập cảng Nagasaki để buôn bán sau Sakoku là thực sự không đúng Dù chưa có thêm tư liệu liên quan minh chứng việc Thuận Quan đã đến được Nagasaki, nhưng qua di thư (i) của bà Nguyễn Thị Từ gửi đi Nagasaki năm 1674 có ghi; hàng hóa
đã gửi đi người nhà Kadoya có thể nhận từ thuyền trưởng Ngô Thuận Q uan ”, vậy
cỏ thể định đoán việc Thuận Quan đến Nagasaki buôn bán là đã thực sự diễn ra Thêm vào đó, yếu tố Shichirobee nhờ vả sự giúp đỡ của những người chức trách ở Nagasaki cũng như chính Shichirobee khẳng định mình sẽ thực hiện chuyến đi đến Nagasaki thì đã có thể trả lời cho câu hỏi trên
Trong cuộc sống tinh thần, sinh hoạt tôn giáo, Shichirobee ngoài việc từng làm công quả trong việc trùng tu tượng Phật ở Ngũ Hành Sơn còn cho xây chùa Matsumoto để tường nhớ đến công đức của dòng họ mình Chùa Matsumoto này có thể đã được xây vào những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ này Di thư (í) đề năm Kanbun năm thứ 10 (1670)' cho thấy Shichirobee đặt hàng đúc một quả chuông để chuẩn bị cho việc trang hoàng;
1 Xem nội dung di thư (0 , “An Nam Giao Chì Kadoya Eikichi di th ư '
3 6 6
Trang 10KODOYA SHICHIROBEE TR O N G LỊCH sử GIAO Lưu
“ Đ ơ n đặt hàng
M ột q u ả c h u ô n g treo 2 thước 5 thốn ( ~ HOcm -T g ) ”
N goài ra, trong phần dịch có di thư (xem nội dung bên dưới) nói v ề đơn đặt hang làm bức Hoành phi # ( 5 0tM. cho chiùa M atsum oto được Shichirobee đặt hàng2
Có thể di thư này được viết cùng thời giain với di thư (g) đề năm 1670 trên.
"V e hoành p h ỉ (chùa) Chiều cao của h o à n h p h i là 1 th ư ớ c 6 thổn 3 p h â n (kh oảng 49cm), B e n g a n g 2 thước 7 phtân (6 2 c m ) m é p rìa trên d ư ớ i kh ắ c hoa cỏ,
m ép rìa trải p h ả i khắc h ình rồng, hình k h ắ c ở rìa m é p p h ả i thì d á t v à n g m ỏ n g ”
Dựa theo nội dung trên, xét về quy mô lớn nhỏ chiều dài rộng của các chuông treo, bức hoành phi thì có thể thấy răng quy m ô chùa không lớn, phù hợp với nơi thờ tự dòng họ hơn là một ngôi chùa dành cho khách thập phương tín ngưỡng (xem
hình ờ phần trích nội dung di thư cuối bài viết).
Bên cạnh đó, di thư 1670 này cũng ghi rõ vị trí tọa lạc của ngôi chùa nằm giữa phố Đường Nhân và phổ Nhật Bản, cho đến nay chỉ có thể khẳng định nơi người dân cư ngụ trong thế kỷ XVI và XVII nhưng vẫn chưa thể khẳng định chắc chắn vị trí phố Nhật Bản3 Xác định vị trí của chùa là việc cần thiết, dựa trên những nghiên cứu khảo cổ và so sánh vởi di thư Kadoya Shichirobee ta thử giả định vị trí của ngôi chùa
T hứ nhất, theo kết quả điều tra nghiên cứu khảo cổ, Kikuchi Seiichi (2003) đã bác bỏ các giả thuyết trước của Ogura Sadao và cho rằng; mạn Nam Bắc tiếp giáp với khu trung tâm đường Trần Phú và Nguyễn Thái Học, Bạch Đằng không thể tồn tại khu dân cư trong thế kỷ XVII Và, với những phát hiện về đồ gốm sứ có niên đại cuối thế kỷ XVI ở cạnh cầu Nhật Bản nên nhận định có cư dân sống ở quanh khu vực cầu.Từ điểm phía Tây cầu Nhật Bản xác minh rõ được di tích người dân cư trú trong thế kỳ XVII Ngoài ra, từ Đình cẩm Phô cho đến Đỉnh Thủ Lệ cũng cỏ di tích
cư trú tương tự
1 I thước ~ 10 thốn ~ 30.3cm
2 Xem nội dung di thư (g), “An Nam Giao Chi Kadova Eikichi di thừ’'
3 Các nghiên cứu trước cũng đã đề cập đến vị trí chùa và khu phố Nhật Bản Ở Nhật tiêu biểu có; Kawajima Gerỹiro, 1916, Tokugcnva shoki no kaigai boekika (Các thương nhân mậu dịch thời Edo sơ kỳ), Nxb Asakhi Shinbunsha, pp.315-316 Ivvao Seiichi, 1966 & 1978, sđđ, pp.34-44 Ogura Sadao, 1989, sđđ, pp 78-82 Kikuchi Seiichi,
2003, ỊT^ p (Khảo cồ học về phố Nhật Bản ở Việt N am )J , Nxb Takashi Shoin, pp 102-118 Ờ Việt Nam: Vũ Minh Giang, 1991, Đô thị cỗ Hội An, NXb Khoa học xã hội, tr.210—214 Đồ Bang, 1993, Luận án P.Tiến Sĩ Phố càng vùng Thuận Quàng thẻ kỳ XVỈI-XVIH, Hà Nội, tr.65~67.
3 6 7