1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động buôn bán thóc gạo ở thành phố hải dương thời kỳ thuộc địa(1883 1945) (2013) phạm thị tuyết

11 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 5,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là trung tâm hành chính, chí nh trị, quân sự, kinh tế, văn hóa của một tỉnh lớn chuyên về nông nghiệp trồng lúa, có mạng lưới sông ngòi chằng chịt, lại nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng s

Trang 1

HOẠT ĐỘNG BUÔN BÁN THÓC GẠO Ỏ THÀNH PHỐ• • • HẢI DƯƠNG THỜI KỲ THUỘC ĐỊA (1883 - 1945)

Phạm Thị Tuyết'

1 Sự hình thành trung tâni buôn bán gạo (V tỉnh ly Hải Duong

Lỵ sở thừa tuyên Hải Dương từ đời Lê Quang Thuận đặt ở xã Mặc Động, huvện Chí Linh, tục gọi là Dinh Lệ có thành gọi là Thành Vạn Đến đòi Vĩnh Hựu (1735-1740), khi triều đình Lê - Trịnh đang ở buổi mạt kỳ, anh em nhà Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ liên kết với Vũ Trác Oánh nổi quân ở Ninh Xá (Chí Linh), khuấv độna vùng Hải Dương, sau đó tiến đánh và chiếm được thành Vạn Triều đình Lê - Trịnh buộc phải chuyển dời trấn sở Hải Dương về xã Mao Điền, huyện Cẩm Giàng, bên bờ sông Kẻ Săt Vị trí này có cái lợi trước mắt là gần Thăng Long,

“gần nơi viện trợ, tiện việc chạy trạm", nhưng lại có nhiều bất tiện vì “quá xa miền duyên hải, COI1 sông Sặt chỉ là con sông nhỏ, không đủ sức co động khi có biến” 1 Năm 1804, vua Gia Long quyết định cho di dời trấn sở Hải Dương từ Mao Điền

đến Hàm Giang và cho xây dựng thành trấn mới ở đây do vị trí trấn sở cũ không đảm bảo đưọ'c các điều kiện cần thiết cho việc “công - thủ” và cũng không hoàn toàn

thuận lợi cho các hoạt động giao thương, phát triển kinh tế Thành trấn Hải Dương mới (từ năm 1831 gọi là thành tỉnh Hải Dương, còn gọi là Thành Đông) được xây dựng trên địa phận các xã (làng) Hàm Giang, Hàm Thượng, Bình Lao thuộc tổng Hàm Giang, huyện c ấ m Giàng Vùng đất này là khu vực ngã ba sông Kẻ Sặt và sông Thái Bình, một vùng đất địa linh nhân kiệt, đồng thỏi cũng là một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng Ngã ha sôna này chính là nơi mà “Thành thần tâu rằng: Dòne nước sông Hàm Giang phía Đông chảy xuống Yên Quảng, phía Nam chảy đến Sơn Nam, xin dựng đồn thủy để đóng hương binh mà phòng sự hoãn cấp”2

* TS Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

] T ă n g B á H o à n h , 2 0 0 4 , “ T h à n h p h ố Hà i D ư ơ n g q u á t r ì n h h ì n h t h à n h v à p h á t t r i ể n ” , X ư a nay, s ố 2 2 3 , t r a n g 2 4

2 Q u ố c s ử q u á n t r i ề u N g u y ễ n 2 0 0 7 , Đ ạ i Nam thực lụ c - T ậ p 1, N X B G i á o d ụ c , H à N ộ i ,

t r a n g 5 8 9

Trang 2

H O Ạ T Đ Ộ N G BUÕN BÁN TH Ó C G AO Ở THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG.

Nằm ở khu vực trung tâm đồna bằng sông Hồne, ngã ba sông Kẻ Sặt và sông Thái Bình là giao lộ quan trọng trên tuyến đường thủy huyết mạch nối từ các cửa biển Hải Phòna, Thái Bình đến Hà Nội, đồng thời cũng là địa điểm thuận tiện để tập kết thuyền bè từ phía Bắc xuôi về hay từ phía Nam ngược lên Đây là vùng sông nước mênh mông, thuận tiện cho thuyền bè đi lại, vào ra Từ đây, theo dòng chính của sône Thái Bình ngược lên phía Bắc và Đông Bắc có thể giao thương với các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Lạng Sơn, Quảng Y ên và các huyện Thanh Lâm (Nam Sách), Chí Linh, Đông Triều, Giáp Sơn (Kinh Môn), Kim Thành trong tỉnh Theo sông Kẻ Sặt và các nhánh của sông Thái Bình chảy về phía Nam và Đông Nam có thề đến các tỉnh Hưng Yên, N am Định và các huyện phía Nam của tỉnh như c ẩ m Giàng, Đường An, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Hà, Thanh Miện, Vĩnh Lại, Vĩnh Bảo,

Ní^hi Dương, An Dương, An Lão Chính m ạne lưới sône ngòi này đã giúp cho việc giao thông đi lại bằng thuyền bè giữa tỉnh lỵ với các địa phương trong vùng trở nên dễ dàng và thuận tiện Ngoài ra, từ đây còn có một số tuyến đường bộ dẫn đến các huyện trong tỉnh và các tỉnh lân cận

Khi chưa xây dựng thành Hải Dương, khu vực ngã ba sông này vẫn còn khá hoang vu Dân cư quanh vùng sống chủ yếu bằng nghề chài lưới và cấy lúa nước Khi thành Hải Dương mới xây dựng, trong thành chỉ có quan quân, không có dân Xung quanh thành về phía Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc, Tây và Tây Nam là những thôn xóm của các xã Hàm Giang, Hàm Thượng, Bình Lao Phía Đông và Đông Nam

thành Hải Dương, phần lớn là ao đầm và ruộng trũng, vì thế không cỏ dân cư sinh

sống Sau dần, sự hiện diện của thành Hải Dương đã kéo theo những biến đổi lớn ở khu vực này

Do nhu cầu cuộc sổng, người nhà của quan lại, bỉnh lính, thợ thủ công và người buôn bán đến tụ tập làm ăn, sinh sống đông dần lên ở phía ngoài thành, ven sông Kẻ Sặt Họ quần cư thành từng chòm xóm nhỏ rồi lập thành các giáp Các giáp lớn rộng dần, kết liền thành một trung tâm dân cư đông đúc có tên là Đông Kiều Phố, tập trung chủ yếu ở khu vực gần cửa Đông thành Hải Dương Riêng dân cư làm các nghề thủ công đã tập trung vào từng khu phố riêng, hình thành các phố mang tên nghề nghiệp như Hàng Giầy, Hàng Bạc, Hàng Đồng, Hàng Lọng, Ben Bè (hay Hàng Bè) Có khá nhiều người Trung Quốc đến đây sinh sốne nên hình thành một dãy phố gọi là phố người Hoa Có lẽ, chính do điều kiện giao thông thuận lợi, cộng với vai trò là trung tâm hành chính, chính trị, quân sự của tỉnh Hải Dương nên nơi này nhanh chóng thu hút một lực lượng đông đảo thợ thủ công và những người buôn bán Cho đến trước khi thành Hải Dương bị Pháp chiếm, dân số ở đây khi đó (theo báo cáo của Công sứ

Trang 3

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TẺ LÂN TH Ứ T ư

Groleau năm 1899) đã lên tới con số trên 15.000 người' Hoạt độne kinh tế chủ vếu ở đây là làm nghề thủ công và buôn bán Tỉnh lỵ Hải Dương nhanh chóng trở thành một trung tâm kinh tể, một đô thị lớn trong vùng Điều này đã được ghi nhận trong báo cáo của một quan chức người Pháp ở địa phương năm 1901 như sau: “Tinh lỵ

Hải Dương đã tìmg là đô thị lớn thứ hai trong vùng châu thô trước khi có sự chiếm

cũng cho biết: “Cho đến khi thành lập Hải Phòng, đô thị Hải Dương đã từng là một

bán sầm uất”3.

Cũng theo các nguồn tài liệu sưu tầm được, buôn bán eạo là hoạt động kinh tế diễn ra sôi động nhất ở tỉnh lỵ Hải Dương và chủ yếu do các thương nhân người Hoa thâu tóm Cho đến trước khi bị Pháp đánh chiếm, tỉnh lỵ Hải Dương được biết đến như là một trung tâm buôn bán gạo lớn nhất trone vùng Gạo thu mua từ các địa phương quanh vùng được vận chuyển bàng thuyền theo đường sông tập kết về cảng Hải Dương ở sông Kẻ Sặt Từ đây, gạo chủ yếu được các thươna nhân người Hoa xuất cảng sang Trung Quốc, Hông Kông và một số nơi khác đế đổi lấy các mặt hàng tiêu dùng khác từ những nơi này

Là trung tâm hành chính, chí nh trị, quân sự, kinh tế, văn hóa của một tỉnh lớn chuyên về nông nghiệp trồng lúa, có mạng lưới sông ngòi chằng chịt, lại nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng sông Hồng, tiện đường ra biến nên trong điều kiện khi đó

giao thông đường thủy đóng vai trò chính yếu và chưa có cảng biển Hái Phòng thi

tỉnh lỵ Hải Dương là địa điểm có ưu thế hơn cả so với các địa phươna, trong vùng về việc thu mua và xuất cảng gạo Chính điều này đã sớm thúc đấy sự hình thành trung tâm buôn bán gạo ở tỉnh lỵ Hải Dương ngay từ những thập niên đầu của thế kỷ XIX

và sự phát đạt của hoạt động buôn bán gạo đã góp phần quan trọng tạo nên diện mạo một đô thị Hải Dương phồn thịnh ỏ' thế kỷ XIX

Tuy nhiên, cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành xâm lược Bẳc Kỳ và hai lần đem quân tấn công thành Hải Dưưng vào các năm 1873 và 1883 Sau lần tấn

công thứ hai (19-8-1883), quân Pháp chính thức chiếm đóng tỉnh lỵ Hải Dương và

bắt đàu quá trình cai trị suốt 62 năm sau đó (1883-1945) Chính sách cai trị và đầu

Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt - Pháp thành phố Hải Dương cung cấp

phông RST, Hồ sơ 1549( 1), p 5

M.10351, p 11

Trang 4

H O Ạ T Đ Ộ N G BUÔN BÁN TH Ó C GẠO Ở TH ÀN H PHỐ HẢI D Ư Ơ N G

tư khai thác của Pháp đã tác động và làm biến đổi từng bước đô thị Hải Dương trên nhiều phương diện Cuối năm 1923, tỉnh lỵ Hải Dương được nâng cấp lên thành phổ Hải Dương, một thành phố lớn thứ tư ở Bắc Kỳ (sau Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định) và được quản lý bởi một bộ máy chính quyền riêng biệt với nguồn ngân sách tự chủ Diện mạo đô thị ngày càns đổi thay cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội Trong bối cảnh đó, hoạt động buôn bán gạo ở tỉnh lỵ Hải Dương sẽ diễn biến ra sao?

2 Tình hình buôn bán thóc gạo ỏ thành phố Hải Dương thòi kỳ 1883-1945

Nếu như ở thời điểm trước khi quân Pháp đánh phá, tỉnh lỵ Hải Dương phồn thịnh, náo nhiệt với hoạt động buôn bán gạo diễn ra sôi động thì trong 2 thập kỷ cuối của thế kỷ XIX, đô thị này đã trở nên tiêu điều, xơ xác Công sứ Hải Dương Groleau trong báo cáo năm 1899 cho biết: “Tỉnh lỵ Hải Dương trước kia náo nhiệt, phồn thịnh, là nơi có nhiều thứ giải trí, nay bị những trận bẳn phả liên tiếp năm

1873 và 1883 phả hủy phần lớn nhĩrng nhà xây, dân cư phân tán, bển sông bị bồi lap, chi có những thuyền máy trọng tải nhẹ mới có thể cập bến được Ngoài Dinh Công sứ, Nhà thờ của Hội truyền giáo người Ypha nho cỏn có vẻ là lâu đài, người

ta chỉ thấy có nhà xây ở phố có người Hoa Thành Hải Dương hình 6 cạnh, xây dựng kiểu Vouban như thành Hà Nội đã bị phá, chỉ còn một điểm cột cờ cao

Nguyên nhân của tình trạng hoang tàn, đổ nát này trước hết ià do những trận bắn phá của quân Pháp trong các năm 1873 và 1883, rồi những trận giao tranh quyết liệt giữa quân Pháp và các lực lượng yêu nước chống Pháp trong 15 năm sau đó (1883-1897) M ột nguyên nhân khác là do tỉnh lỵ Hải Dương nằm ở vị trí quá xa biển, sông Kẻ Sặt bị bồi lap và sự thành lập Hải Phòng đã lấy đi tầm quan trọng của

nó Dân cư phần nhiều sơ tán về các vùng nông thôn Theo số liệu điều tra năm

1923 thì dân số tỉnh lỵ chỉ có hơn 6.000 người Hoạt động thương mại ở đây cũng vì thế mà sa sút nghiêm trọng, cho mãi đến khoảng đầu những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất mới dần được phục hồi và khởi sắc trở lại Theo nhận định của Công

sử Alfred Bouchet hồi cuối năm 1923 thì trong khoảng 10 năm cuối của giai đoạn này, nền thương mại ở đây đã tăng trưởng hơn gấp đôi2

Trong bối cảnh chung đó, hoạt động buôn bán gạo ở tỉnh lỵ Hải Dương chắc chẳn cũng bị sa sút, bởi lúc này tỉnh lỵ Hải Dương không còn là điểm xuất cảng trực tiếp gạo ra nước ngoài mà chỉ là điểm thu mua, trung chuyển để xuất khẩu gián tiếp

Phó Chù tịch Hội Hữu nghị Việt - Pháp thành phố Hải Dương cung cấp, trang 6

phông RST, Hồ sơ 78790, p 7

Trang 5

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUÓC TÉ LẦN THỨ T ư

qua cảng Hải Phòng Mặt khác, trong tỉnh Hải Dương lúc này đã xuất hiện thêm một vài trung tâm buôn bán gạo khác như Ninh Giang Kẻ Sặt, Yên L ư u bởi từ đây việc vận chuyến gạo ra cảng Hải Phòng theo đường sôna và đường bộ đều rất thuận tiện Không chỉ thu mua gạo mà những trung tâm nàv còn thu mua cả thóc bởi tư bản pháp

đã xây dựng các nhà máy xay xát gạo lớn ở Hải Phòng, Ninh Giang và ngay ở tỉnh lỵ cũng có một xưởng xay xát gạo của Nhà máv Rượu Hải Dương Chính vì vậy, tỉnh lỵ Hải Dương đã mất đi một số lợi thế và không còn là trung tâm đứng đầu về buôn bán thóc gạo Theo một tài liệu viết tay của quan chức địa phương vào năm 1901, số lượng gạo xuất khỏi cảng Hải Dương trung bình hàng năm khoảng từ 140.000 đến 150.000 tạ, mỗi tạ (quintal) tương đương 60 ke (tính theo kilôgam là từ 8.400.000 đến 9.000.000 kg/năm) s ố lượng này kém hơn so với ở Ninh Giang cùne, thời điểm 1

Và cho đến tận những năm 1917-1923, khi báo cáo về tình hình buôn bán thóc gạo ở tỉnh Hải Dương nói chung, các Công sứ chủ tỉnh vẫn nhắc đến Ninh Giang như là một trung tâm thu mua và xuất cảns, thóc gạo lớn nhất trong tỉnh Tuv nhiên, từ năm

1903 tư bản Pháp đã đầu tư xây dựne một nhà máy rượu cỡ lớn với công suất thiết kế ban đầu là 20 tấn gạo/24 eiờ ở tỉnh lỵ Hải Dương nên thường xuyên có một lượng lớn thóc gạo được thu mua về đây để làm nguyên liệu cho nhà máy rượu Vi thế tỉnh lỵ Hải Dương vẫn là một trong số 2 trung tâm buôn bán thóc gạo lớn nhất của tỉnh Chính Công sứ Groleau đã thừa nhận rang: “Tuy vậy Hải Dương vẫn là một điểm quan trọng về buôn bán gạo Kèm theo sự buôn bán ấy là số ngưỏi Tàu khá đỏ na; và

liệu khác viết về huyện c ẩ m Giàng năm 1900 như sau: “Tỉnh lỵ Hải Dương là điểm xuất cảng gạo lớn Từ tỉnh lỵ đến Hải Phòng có hàng ngày hoặc hai chuyến một ngày thuyền mảy của người Tàu, mỗi chuyến chỉ mất 4 g iờ ’0.

Hoạt động buôn bán thóc gạo trong tỉnh nói chung và ở Hải Dươrt£> nói riêng vẫn chủ yếu nằm trong tay những thương nhân người Hoa Họ thu mua thóc gạo từ khắp mọi nơi trong tỉnh và cả trong vùng, tập trung về những trung tâm lớn là Hải Dương, Ninh Giang Kẻ Sặt, Yêu L ư u đế từ đó xuất cảng qua Hải Phòng đi Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản, Singapor hoặc mang vào bán ở các tỉnh Trung Kỳ Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, do nhu cầu lương thực tăng cao, hoạt động buôn bán thóc gạo ở Hải Dương có dấu hiệu khởi sắc đã thu hút một số thương

phông RST, Hồ sơ 1549(1), p 6

Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt - Pháp thành phố Hải Dương cung cấp, trang 7

Dương, trang 59-60

Trang 6

H O Ạ T Đ Ộ N G BUÔN BÁN TH Ó C GẠO Ở T H Ả N H PHỐ HẢI DƯƠNG

nhân người Việt tham gia vào lĩnh vực này Họ chủ yếu lập các cửa hàng ngay tại tỉnh lỵ để thu mua thóc gạo của người dân các xã ngoại thị Thời gian này cả tỉnh lỵ

cỏ tới 32 bàn cân để buôn bán thóc gạo1 Tuy nhiên, vai trò chủ yếu vẫn thuộc về những thương nhân người Hoa

Từ những năm cuối của Chiến tranh thế giới thứ nhất cho đến năm 1923, tình hình buôn bán thóc gạo ở Hải Dương luôn có những biến động do bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tổ như: tình trạng thiên tai, mất mùa, việc điều chỉnh chính sách xuất khấu gạo của Nhà nước thực dân, những bất ổn của thị trường xuất khẩu bên ngoài Lấy ví dụ đơn cử, trong số 5 vụ lúa từ đầu năm 1917 đến giữa năm 1919, duy nhất có vụ chiêm của năm 1918 là được mùa, còn lại đều bị mất mùa2 Do đó thóc gạo trở nên khan hiếm, người trồng lúa có tâm lý dự trữ và việc thu mua rất khó khăn Thêm vào đó, ngay tại những thời điểm này, Nhà nước đã can thiệp bằng cách ban hành chính sách cấm xuất khẩu gạo hoặc tăng thuế xuất khấu gạo, chỉ cho xuất khẩu với số lượng hạn chế làm cho họat động buôn bán gạo vốn chủ yếu nằm trong tay những thương nhân người Hoa và phần lớn để xuất khẩu rơi vào tình trạng ảm đạm

Theo báo cáo của Công sứ Hải Dương, từ tháng 6-1917 đến tháng 6-1918, cảng Ninh Giang chỉ xuất được 11.983,934 tấn3 Nửa cuối năm 1918, tình hình khởi sắc trở lại do Nhà nước bỏ lệnh cấm xuất khẩu gạo và cho xuất khẩu một khối lượng hạn chế ở Bắc Kỳ Sang năm 1919, do mất mùa và diễn ra nạn đói nên lệnh cấm lại được thi hành Một sổ nhà buôn tìm lối thoát bằng cách mang thóc gạo vào

các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ A n bán lẩy tiền hoặc đổi lấy gỗ lim và các đặc sản của

vùng này4 Tuy nhiên, một số nhà buôn đã bị lỗ vốn và có cả những nhà buôn phải đóng cửa Điều này đã được xác nhận trong báo cáo của Công sứ Hải Dương năm 1917-1918 như sau: “ một sổ nhà buôn đã dừng hoạt động vào năm 1917 và vào cuối năm ảm lịch vừa qua Chưa có nhà buôn nào mở cửa trở lạ i”

Từ tháng 11-1920, lệnh cấm xuất khẩu gạo được bãi bỏ cùng với Nghị định về việc giảm thuế xuất khẩu gạo được ban hành (2-1921) đã giúp cho nhiều nhà buôn gạo hoạt động trở lại Thóc gạo được thu mua nhanh chóng với số lượng lớn để xuất khẩu Tuy nhiên, tình hình khởi sẳc chưa được bao lâu thì chỉ sau vụ lúa đầu tiên của năm 1921, việc thu mua buộc phải dừng lại do những nhà buôn Hồng Kông

Chấp hành Liên đoàn Lao động thị xã Hải Dương xuất bản, Hải Dương, trang 22, 6

2, 3, 4 Rapport annuel sur la situation générale de la province de Hài Dương dll 1 Juillet

RST, Hồ sơ 36531 (4), p 64

Trang 7

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẦN THỨ Tư

trước đó đã mua quá nhiều lúa eạo của Nam Bộ và Xiêm để dự trữ, đầu cơ, nhưnạ lúc này giá lúa giảm mạnh, chưa bán được hàng nên họ khôna, mua nữa(i)

Sự bất động của thị trườns bên ngoài đã dẫn đến nhữne bất ổn cho thị trường địa phương Thêm vào đó là chính sách thiếu nhất quán của chính quyền thuộc địa

về vấn đề xuất khẩu gạo Riêng trong năm 1921, có tới 3 lần điều chỉnh chính sách: giảm thuế xuất khẩu vào thána 2 sau đó đưa ra lệnh cấm xuất khẩu cũng trong năm

đó, rồi lại bãi bỏ vào cuối năm (5-11-1921) Trong bối cảnh đó, tại tinh lỵ Hải Dương và tất cả các trung tâm buôn bán gạo khác trone tỉnh, khône còn thấv bóng các tầu thuyền buôn của người Hoa vì tính đến cuối quý I năm 1922, duy nhất có

2 nhà buôn người Hoa là không bị lồ vốn Còn các cửa hiệu nhà buôn nhỏ người Việt cũns không thấv bóna những khách hàne thường ngày Các kho dự trữ cũng

đã cạn kiệt vì ít người bán ra2 Sự can thiệp của Nhà nước bằng việc giảm thuế xuất khẩu cùng với sự kiện Nhật Bản mất mùa sau đó mới cứu vãn được tình hình buôn bán gạo đã trở nên vô cùna sa sút ở Hải D ư ơ n ơ C ó lẽ nguyên nhân của việc chính quyền thuộc địa liên tục ban hành các lệnh cấm xuất khâu gạo ở Bắc Kỳ không phải chỉ vi lo cho dân bị đói mà còn là vì lo thiếu nguồn nguyên liệu cho các nhà máy rượu ở đây và cũng là để hạn chế thế lực của người Hoa trong lĩnh vực buôn bán gạo

Sau khi thành phố Hải Dương được công bố thành lập (12-12-1923), chính quyền thành phố đấy mạnh các hoạt động quv hoạch, xây dựng và chỉnh trang đô thị, nạo vét bến cảng, mở mang đường sá, chợ búa nên dân cư tập trung về đây sinh sống ngày càng đông, sản xuất của Nhà máy Rượu cũna gia tăng làm cho hoạt động buôn bán thóc gạo dần được phục hồi Trong các năm 1925-1927, số lượng gạo xuất

ra khỏi thành phố được thống kê như sau:

Năm 1925: 15.928 tấn

Năm 1926: 13.510 tấn

Năm 1927: 25.628.1 tấn3

Tuy nhiên, tình hình khởi sắc chưa được bao lâu thì diễn ra khủng hoảng kinh

tế thế giới (1929-1933) Trong những năm này, hoạt động thương mại trong tỉnh Hải Dương nhìn chung giảm mạnh Theo các báo cáo của Công sứ Hải Dương về tình hình kinh tế của tỉnh những năm này, nếu như trước khủng hoảng, tỉnh xuất ra ngoài trunc bình mỗi năm từ 25.000 đến 30.000 tấn thóc gạo thì năm 1931 chỉ xuất

I, 2 Rapport annuel sur la situation générale de la province de Hải Dương du ỉ Jui 1 let 1921 au

30 Juin 1922, 1922, TTLTQG!, phông RST Hồ sơ 36544-08, p 6

3 A l f r e d B o u c h e t , 1 9 2 8 , L ’e s s o r de la ville de H ủ i D ư ơ n ạ 1923- 1927, I m p r T o n k i n o i s e , H à Nội, p 30

Trang 8

H O Ạ T Đ Ô N G BUÔN BÁN T H Ó C G AO Ở TH ÀN H PHỐ HẢI DƯƠNG.

được xấp xỉ 3.000 tấn và năm 1933 là 8.000 tấn Tại thành phố Hải Dương, nhiều cửa hàns phải đóne cửa cả năm, nhiều thương nhân không đóng được thuế môn bài nên bị dừng kinh doanh Giá cả thóc gạo trong những năm này cũng giảm mạnh Nấu như năm 1931, siá eạo trune bình từ 5.7 đồna đến 6,1 đồng/100 kg' thì đến năm 1933 giảm xuống chỉ còn 2.7 đồng đến 3.0 đồ n g /100 kg2 Do đó thu nhập của thành phố từ hoạt động buôn bán sạo không được bao nhiêu Năm 1934 do mất mùa lớn nên tình trạns; còn bi đát hơn, cả tỉnh chỉ xuất được 4.000 tấn thóc, nhiều nhà buôn bị phá sản

Năm 1935 sản lượng lúa của tỉnh Hải Dương đứne đầu trong các tỉnh trồng lúa

ở Bắc Kỳ nên việc xuất khẩu dần dần được phục hồi Từ năm 1935 tỉnh xuất khẩu được 13.000 tấn thóc gạo và bán cho Nhà máy Rượu Hải Dương được 10.000 tấn Kinh tế của tỉnh thực sự phục hồi từ năm 1936, xuất khấu thóc gạo đạt 35.000 tấn, giá gạo loại 1 cũng tăng từ mức 3,6 đồng/tạ (tháng 12-1935) lên mức 5,77 đồng/tạ (tháng 12-1936)' Sang năm 1937, tính riêng sổ thóc gạo xuất ra khỏi thành phố Hải Dương là 52.000 bao ( lb a o = 100kg), tươns đương 5.200 tấn Theo các báo cáo về tình hình kinh tế tỉnh Hải Dương trong những năm 1938-1940, việc xuất khẩu thóc gạo ở thành phố Hải Dương cũns, có chiều hướng gia tăng Cụ thể như sau:

Băng 1: số lượng thóc gạo xuất khỏi thành phố Hải Dương những năm 1938 - 1940

Có thể thấy, từ năm 1939, lượng thóc gạo xuất khỏi thành phố Hải Dương tăng mạnh Nguyên nhân là do các nước tăng cường thu mua lương thực dự trữ để phục vụ chiến tranh Đặc biệt, từ năm 1940, sau khi Nhật nhảy vào Đông Dương đã buộc Pháp

ký hiệp định cam kết hàng năm phải xuất khẩu sang Nhật một lượng gạo lớn nên hoạt động thu mua thóc gạo sau đó càng được đẩy mạnh Điều này còn tác động rất lớn đên tình hình giá cả thóc gạo

phông RST, Hồ sơ 74211, p 9

phông RST, Hồ sơ 74212, p 15

phông RST, Hồ sơ 74217, p 22

Trang 9

VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ T ư

Loại hàng hóa Gao loai 1 Gao loai 2

VụT.10: 3,00đ

VụT.5: 2,70đ VụT.10: 2,80đ Năm 1934 Mức trung bình Vụ T.5: 3,30đ

Vụ T.10: 4.20đ Năm 1935 Mức trung bình Vụ T.5: 5,78đ

VụT.10: 5,95đ Năm 1936 Mức trung bình Vụ T.5: 9,92đ

VụT.10: 5,95đ

Qua bảng thốne, kê trên có thể thấy rõ, nhữne năm ỉ 933-1935, giả gạo giảm mạnh, sau đó ỉại tăng vọt trong những năm 1937-1940 N hư một quy luật, khi ẹiá thóc gạo giảm cũng là lúc hoạt độns buôn bán thóc gạo giảm, và ngược lại, khi giá thóc gạo tăng thì hoạt dộng buôn bán thóc gạo cũng theo đà tiến triển Tuy nhiên,

có một thực tế là mặc dù hoạt động buôn bán thóc gạo ở thành phố Hải Dương đã được phục hồi sau khủng hoảng kinh tế nhưng so với những năm trước khủng hoảng thì vẫn kém hơn Nguyên nhân là do thời kỳ này Hải D ương không chỉ bị cạnh tranh bởi các trung tâm buôn bán gạo khác trong tỉnh mà còn bị cạnh tranh bời nhiều trung tâm khác trong vùne như Nam Định, Thái Bình, Phát D iệm Chính sự phát triển của giao thông vận tải đã giúp cho hoạt động buôn bán thóc gạo ở các truna, tâm này ngày càng tiến triển và làm mất dần vị thế của Hải Dương trong lĩnh vực này

Như vậy, nhìn một cách tông thể, hoạt động buôn bán thóc gạo ở tỉnh lỵ - thành phổ Hải Dương trong suốt thời kỳ thuộc địa vẫn được duy trì và đóng vai trò

là hoạt động kinh tế nổi trội hơn cả ở đô thị này Tuy nhiên, nếu như ở thời kỳ trước năm 1883, tỉnh lỵ Hải Dương được biết đến như là một trung tâm buôn bán gạo lớn

Trang 10

HO ẠT Đ Ộ N G BUÔN BÁN TH Ó C G ẠO Ở TH À N H PHỐ HẢI D Ư ƠNG

nhất trona vùne thì thời kỳ này Hải Dương đã mất đi vị trí đó Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do công cuộc xâm lược thực dân và chính sách đầu tư khai thác thuộc địa của Pháp Chính hành động vũ trang xâm lược của quân Pháp đã gây nên cảnh đổ nát, hoang tàn của đô thị Hải Dương và làm cho hoạt động buôn bán gạo ở đây sa sút trong một thời gian dài Sự thành lập cảng và thành phố Hải Phòng

đã làm mất đi nhữne lợi thế trước đây của Hải Dương về điều kiện địa lý do nằm ở

vị trí quá xa biển Sự phát triển nhanh chóng của hệ thống giao thông đường bộ và đường sắt đã làm cho giao thông đườne sông khône còn đóng vai trò chủ yếu trong các hoạt động vận chuyển, lưu thông hàng hóa Trong điều kiện đó, Hải Dương bị cạnh tranh bởi nhiều trung tâm buôn bán thóc gạo khác mới nổi ở trong tỉnh và trona vùng

Hoạt động buôn bán thóc gạo ở thành phố Hải Dương thời kỳ thuộc địa luôn

có những biến động thăng trầm Hoạt động này bị sa sút nghiêm trọng nhất trong 2 thập kỷ cuối của thế kỷ XIX, giai đoạn trước khi thành lập thành phổ Hải Dương (1917-1922), những năm khủng hoảng kinh tế (1929-1933) và chỉ thực sự khởi sắc trong những năm 1924-1928 và 1939-1945 Nguyên nhân của những biến động thăng trầm đó một phần là do những biến động của tình hình chính trị, sự can thiệp của Nhà nước thực dân trong chính sách xuất khẩu gạo, chính sách đầu tư của chính quyền thuộc địa và tư bản Pháp, nhưng phần nhiều là do tác động của những yếu tố khách quan như: khủng hoảng kinh tế, kết quả thu hoạch, nhu cầu thị trường và sự cạnh tranh của các trung tâm khác Đây cũng là tình trạng chung của các trung tâm buôn bán thóc gạo khác ở Bắc Kỳ thời dó

Tài liệu tham khảo

1 Alfred Bouchet, 1928, L ’essor de ỉa ville de Hải Dương 1923- 1927, Impr Tonkinoise, Hà Nội

TTLTQGI, phông RST, Hồ sơ 78790

Đức Ý - Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt - Pháp thành phố Hải Dương cung cấp.

4 Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, Đại Nam thực lục - tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội

phòng RST, Hồ sơ 36531(4)

Ngày đăng: 19/01/2018, 17:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w