Năm 1400, Hồ Quý Ly lấy ngôi nhà Trần thì vùng đất này trở thành kinh đô của nước Đại Ngu dưới vương triều Hồ và thành Tây Đô cùng được gọi là thành nhà Hồ.. Những dấu tích của văn hoá S
Trang 1ĐẶC TRUNG VÃN HÓA TÂY ĐÔ -
T Ừ T I É P CẬN KHU • Vực HỌC• •
Nguyễn Thị Thúy*
1 Điều kiện tự nhiên
Từ tiếp cận khu vực học, điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái được coi
là tác nhân trực tiếp đến sáng tạo văn hoá và đồng thời cũng là yếu tổ quy định giới hạn của không gian văn hoá Sự tác động qua lại (interaction) giữa tự nhiên và con người là nhân tố chính tạo nên đặc trưng văn hoá
Tây Đô (hay An Tôn) là vùng đất thuộc phạm vi địa giới hành chính của huyện Vĩnh Lộc (Thanh Hóa): phía Đông giáp huyện Hà Trung; phía Tây giáp huyện Cẩm Thuỷ; phía Nam giáp huyện Yên Định và phía Bắc giáp huyện Thạch Thành
Tên gọi Tây Đô gắn với sự kiện Hồ Quý Ly xây thành, dời đô từ Thăng Long vào vùng đất An Tôn Khi trở thành kinh đô của nước Đại Việt những năm cuối thế
kỷ XIV, Thăng Long được đổi thành Đông Đô (kinh đô phía Đông) thì An Tôn được gọi là Tây Đô (kinh đô phía Tây) Năm 1400, Hồ Quý Ly lấy ngôi nhà Trần thì vùng đất này trở thành kinh đô của nước Đại Ngu dưới vương triều Hồ và thành Tây Đô cùng được gọi là thành nhà Hồ
Ngày nay, tên gọi Tây Đô hay khu vực thành nhà Hồ được hiểu là vùng đất cố
đô phong kiến thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá Ở đây, Tây Đô được hiểu theo nghĩa tương đối rộng, được xác định bời thành Tây Đô là trung tâm và mở rộng phạm vi theo giới hạn tự nhiên của huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá
Nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, Tây Đô là vùng đất có
vị thế quan trọng của xứ Thanh' Với địa hình và cảnh quan môi trường phức hợp;
có núi đất, núi đá, đồi cao, đồi thấp đan xen với đồng bàng; có sông cái, sông con,
* TS Đại học Hồng Đức.
1 Xem thêm Tinh ủy - Hội đồng nhân dân - Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2004), Địa chí Thanh Hóa, tập 2, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
Trang 2VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẰN THỬ T ư
nhiều khe và suối, vừa tạo cho Tây Đô những thuận lợi phát triển kinh tế - văn hóa, nhung đồng thời cũng đặt ra không ít những khó khăn thách thức buộc con người phải luôn sáng tạo để khắc phục và thích ứng
Thiên nhiên hiểm yếu của vùng đất này được tạo bởi hệ thổng núi đá vôi bao quanh khu vực xây thành Tây Đô như núi An Tôn, Núi Đốn, Hý Mã, Du Anh, Vân Đài, Tiến Sĩ, Mồng Cù, Hùng Lĩnh, Kim Sơn, Cô Sơn, Phú Thịnh, Nham Sơn, Kim Tử Hệ thống núi đá vôi ở đây được hình thành do chấn động của tạo sơn Hymalaya không chỉ tạo thành những dải núi đá hiểm trở mà còn tạo nên những danh thắng nổi tiếng như động Hồ Công (xã Vinh Ninh), động Kim Sơn (xã Vĩnh An), núi Tiến Sĩ, núi Rồng, núi Tượng, núi Hắc Khuyển
Tây Đô có thể xem là cả một vùng đồi xen kẽ đồng bằng Hệ thống đồi đất cao thấp kéo dài từ phía Tây xuống phía Đông, tạo thành một vùng đồi thuộc trung lưu sông Mã và sông Bưởi Đồi thấp phổ biến là đồi đá cuội và đồi đất Đồi đất lại được phân định rạch ròi thành hai: Hệ thống đồi đất thấp ở phía Đông và hệ thống đồi đất cao ở phía Tây, làm thành ranh giới giữa châu thổ và vùng núi Thanh Hoá Địa hình như vậy chẳng những không cách trở về mặt giao thông mà cộn tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất Hơn thế, đá vôi, đá cuội và đất ở các dãy núi, đồi này còn là nguyên liệu dồi dào cung ứng cho việc xây dựng thành Tây Đô và đàn Nam Giao Xen kẽ hệ thống núi đồi cao thấp là những cánh đồng bằng phăng Trung tâm đồng bằng là vùng đất Ngã-Ba-Bông Đây là nơi sông Mã phân thêm nhánh (sông Lèn) có lượng phù sa được bồi đắp rất lớn, nguồn nước tưới tự nhiên dồi dào, giao lưu buôn bán ngược xuôi thuận tiện Tuy không dồi dào diện tích canh tác nhưng đồng bằng của Tây Đô được con người chiếm lĩnh khai phá từ rất sớm và có vị trí khá quan trọng trong phát triển nông nghiệp
Sự hợp lưu của sông Mã (phía Tây) với sông Bưởi (phía Đông) tại ngã ba cầu Công tạo thành con hào nước tự nhiên hỉnh vòng cung bao quanh vùng đất Tây Đô
Sự hợp lưu của sông Mã và sông Bưởi cùng một sổ sông suối nhỏ không những tạo nên vị thế tự nhiên đặc biệt, mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của vùng đất Tây Đô
Tây Đô được coi là địa thế hiểm yếu, nhưng là vùng đất nằm trên con đường thượng đạo Bắc - Nam, là nơi hợp lưu cùa sông Bưởi và sông Mã, nên đây là nơi có
ưu thế về giao thông cả đường bộ và đường thủy Từ vùng đất này đi tới tất cả các địa phương trong và ngoài tỉnh đều thuận tiện Tuy đất đai khône thật phù nhiêu, nhưng do điều kiện tự nhiên đa dạng, phong phú và giao lưu tiện lợi, vùng đất Tây
Đô có nhiều tiềm nărlg phát triển kinh tế và văn hóa
5 4 6
Trang 3ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA TÂY ĐÔ.
Xét từ phương diện địa - chính trị và dịa - quân sự, Tây Đô có nhiều lợi thế phù hợp với việc xây dựng một trung tâm chi huy quân sự trong thời kỳ có chiến tranh Đây là vùng đất có thể tận dụng địa hình hiểm trở với hệ thống núi, đồi liên hoàn để phòng thủ Hơn thế, đá núi còn là nguồn vật liệu tại chỗ có thể dùng vào việc xây dựng những công trình quân sự kiên cố Việc Hồ Quý Ly quyết định xây dựng tòa thành đá (thành Tây Đô) với chiến lược phòng thủ một phần xuất phát từ
vị thế này Đây là bước ngoặt quan trọng tạo nên cho Tây Đô những giá trị văn hóa đặc sắc
Có thể khái quát rằng điều kiện tự nhiên Tây Đô đa dạng và phong phú Đây là một đặc điểm nổi bật và cũng là nhân tố đầu tiên tác động mạnh mẽ và thường xuyên đến quá trình hình thành đặc trưng văn hoá Tây Đô
2 T ác động của hoàn cảnh lịch sử và môi trư ờ n g xã hội
Tây Đô là vùng đất có lịch sử lâu đời và có vị thế quan trọng trong dòng chảy của xứ Thanh và lịch sử dân tộc
Những dấu tích của văn hoá Sơn Vi, các di tích văn hóa Đa Bút, Đông Sơn và vàn hoá vật chất thời kỳ các vua Hùng dựng nước còn lại trên đất Tây Đô không chỉ
là minh chứng vùng đất này sớm được khai phá và là địa bàn của bộ Cửu Chân - một trong 15 bộ của nước Văn Lang mà còn khẳng định sự kết tinh của những thành tựu về văn hóa đã đạt được trước đó và bước đầu định hình một bản sắc văn hoá trên vùng đất này
Đặc biệt, cuối thế kỷ XIV quyết định xây thành, dời đô đã làm chuyển biến lịch sử phát triển của vùng đất Tây Đô Từ một huyện trực thuộc (huyện Vĩnh Ninh), vùng đất này đã trở thành kinh đô - trung tâm chính trị cả nước (Tây Đô) Dù
là kinh đô trong thời gian không lâu (những năm cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV) nhưng sự kiện lịch sử này đã ảnh hưởng khá mạnh mẽ đến sự phát triển và diện mạo của Tây Đô
v ề điều này, sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: "Đinh Sửu (Quang Thái) năm thứ mười (1397) (Minh Hồng Vũ năm thứ 30), mùa xuân, tháng giêng sai Lại
bộ Thượng thư kiêm Thái sử Đo Tình đi xem xét đo đạc động An Tôn phủ Thanh Hóa, đắp thành đào hào, lập tông miếu, dựng nền xã tắc, dựng đường phổ, có ý muốn dời kinh đô đến đó, tháng 3 thì công việc hoàn tất”[.
1 Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sừ ký toàn thư (Dịch theo bản khăc năm Chính Hòa thứ 18 -1697), tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 190.
Trang 4VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẦN TH Ứ T ư
Mặc dù quyết định xây thành, dời đô của Hồ Quý Ly đã được chuẩn bị và suy tính kỹ lưỡng, nhưng kết cục của việc dời đô là sự thất bại nhanh chóng trước cuộc xâm lược của đế chế Minh (1407) Dù được nhìn nhận ở góc độ khác nhau, nhưng
có thể khẳng định dấu ấn một thời là trung tâm chính trị, quân sự và văn hoá của cả nước vẫn còn in đậm trên vùng Tây Đô
Dấu ấn của Kinh thành Tây Đô còn lại là tòa thành đá cùng các công trình kiến trúc vệ tinh có liên quan đến trước hoặc sau khi xây thành và đời đô Tiêu biểu như cung Bào Thanh và đàn Nam Giao
Trong số các thành luỹ Việt Nam thời trung đại, có thể nói Tây Đô là toà thành kiên cố nhất với kiến trúc độc đáo và được xây dựng trong thời gian nhanh nhất Nếu lấy thành Tây Đô làm trung tâm, ngoài những công trình kiến trúc vệ tinh
có liên quan, đồ án về quy mô cấu trúc của thành gồm 3 bộ phận cấu thành: hệ thống bảo vệ bên ngoài là La thành (thành ngoại) và hào thành; tường thành (thành nội); Hoàng thành (cấu trúc trong thành) Nhưng một kinh đô xưa hiện còn lưu lại tương đối nguyên vẹn là khu thành nội với bốn bức tường thành và cổng thành đá, còn mọi kiến trúc cung điện trong thành chỉ là dấu tích phần móng và đôi bệ cửa rồng đá cụt đầu
Bốn bức tường thành đều được cấu tạo theo hình thang vuông; bên trong đắp dốc bằng đất thoải đần, ở giữa được chèn bằng lớp đá nhỏ (đá xô bồ) dày gần 4m và bên ngoài được ốp bằng đá theo phương thẳng đứng không cần có mạch vữa cấu trúc từng lớp tường như vậy, vừa vận chuyển đá lên cao dễ dàng lại vừa tạo ra sự vững chãi của tường thành và cũng đáp ứng một trong hai yêu cầu của một kinh đô phong kiến mang nặng tính quân sự phòng thủ (thành cao và hào sâu)
Cổng thành là phần còn lại tương đối nguyên vẹn và cũng là hạng mục công trình kiến trúc đặc sắc nhất Thành Tây Đô có 4 cổng; Đông, Tây, Nam và Bắc (còn gọi là Hữu, Tả, Tiền và Hậu) Bốn cổng thành Tây Đô đều được mở tại trung điểm các mặt thành, cổ n g Bắc, Đông và Tây được xây theo kiểu đơn môn (một vòm cuốn), riêng cửa Nam là cửa chính (cửa tiền) nên quy mô lớn hơn với 3 vòm (vòm giữa to cao hơn, hai vòm bên nhỏ thấp hơn) Toàn bộ cổng thành đều được xây ghép bằn đá phiến khéo léo, vòm cửa xây cuốn tò vò trên những tường trụ hơi nghiêng theo hình thang cân (trên nhỏ, dưới to) Phía trên cửa Nam và cửa Bắc được xây lầu canh, dấu tích còn lại là các hàng lỗ cột
Tây Đô là kết tinh sức lao động và trí sáng tạo không chỉ của người dân xứ Thanh mà của nhân dân cả nước Nếu sự độc đáo của thành Thăng Long thể hiện ở
sự kết hợp hài hoà giữa công năng sử dụng của công trình với địa hình tự nhiên và
5 4 8
Trang 5ĐẶC TRƯNG VÁN HÓA TÂY Đ Ổ
hệ thòng lũy đất bao bọc nương theo dịu hình sông, hồ khiến cho hình dáng vòng
thành ngoài không có hình đáng thường thá> ở các kiến trúc thành luỹ thì Tây Đô
lại (lược xây dựng trên một bình đồ gần viiòim vứi hệ thốn« tưừne đá đồ sộ, kiên cố
Đá là nguyên liệu sẵn có ở vùng Tây Đô nhưng loại vật liệu quý và khó vận chuyển này cũng không bị lạm dụng Trone tổng khối lưựnu tạo ncn kiến trúc, chỉ khoáng 25- 30% được làm bàng đá Có điều đất ỉà phần cốt lõi bcn trong các lớp bọc bằng đá nên khó nhận ra khiến người ta dỗ dàng nhâm lẫn Tây Đô là một toà thàrh đá Phái chăng đó cũng là sự kết hợp kinh nghiệm truyền thống với kỹ thuật hiện đại đương thời1
Cấu trúc thành Tây Đô là hoàn toàn hợp lý, dã chủ ý két hợp yếu tố thành và yeutố thị của một kinh đô Với tầm nhìn cùa một kinh dô kết cấu thành như vậy, có thể khẳng định được Hồ Quý Ly không chỉ là nhà quân sự, chính trị mà còn là một nhà kiến trúc có tầm nhìn rộng và Việt Nam chỉ có duv nhất ở thành Tây Đô
Cho đến nay, cùng với nhân vật Hồ Quý Ly, thành Tày Đô hiện còn chứa đụng nhiều ẩn số cần được lý giải Với những giá trị toàn cẩu, Tây Đô đã trở thành
di sin vãn hoá nhân loại Điều đó không chi chứng tỏ giá trị của toà thành mà còn góp phần tạo cho Tây Đô trở thành một không gian văn hoá dặc sắc
Lấy thành Tây Đô làm trung tâm, ngoài các di vật ử Tây Đô thì cần phải kể đến một sổ công trình kiến trúc vệ tinh Trơng số đó, cung Bảo Thanh là công trinh kiến trúc được xây dựng trước khi xây thành Tây Đô với dự định ban đầu của Hồ Q'U' Ly là dời đô đến đây Cung Bảo Thanh hiện chì còn lại những dấu vết nền mióng chìm trong lòng đất được phát hiện qua các đợt khai quật khảo cổ học
Trong tiến trình đời đô, cung Bảo Thanh có vai trò như là hành cung của nhà Trầi Cùng với khu hoàng thành Tây Đô, cung này nằm trong hệ thống cung thất của một kinh đô
Một công trình quan trọng khác là dàn Nam Giao được xây dựng trên núi Đốn sau khi vương triều Hồ thiết lập (1402) Hiện đàn Nam Giao chỉ còn lại dấu vết của nen móng, nhưng dựa vào dấu tích dược khảo cổ học phát hiện, có thể biết đàn Nam
đạc trưng cùa kiến trúc thời Hồ trona việc sử dụng chất liệu đá phiến
1 >em thêm Nguyễn Thị Thúy (2009), Thành Tùy Đô va vùng iỉất lĩnh Lộc (Thanh Hóa) từ
Ciối thế kỳ X IV đến giữ a thẻ kỳ XIX, Luận án Tiên sĩ Lịch sư Trường Oại học Sir phạm Hà Nội, Hà Nội.
Trang 6VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUÓC TÉ LẰN THỨ T ư
Tây Đô không chỉ là trung tâm của đất nước và sau đó là đất trung hưng cùa nhà Lê mà còn là đất “phát tích” của chúa Trịnh nên nơi đây còn có nhiều công trình kiến trúc lớn Khi vương nghiệp nhà Trịnh được củng cổ, Tây Đô trở thành đất
“quý hương” và nơi đặt lăng mộ của dòng họ Trịnh thì vùng đất này cũng được hưởng nhiều bổng lộc và quyền lợi riêng biệt Chúa Trịnh đã huy động nhiều nhân tài vật lực xây dựng các công trình kiến trúc kỳ vĩ với trình độ kỹ thuật và giá trị nghệ thuật cao
Nghè Vẹt, phủ Trịnh và chùa Hoa Long là các công trình kiến trúc đặc sấc (các công trình này đến nay đã được xếp hạng là các di tích lịch sử - văn hoá)
Đặc biệt khu điện thờ Thái Phi Ngọc Diễm thuộc làng Đa Bút (xã Vĩnh Tân)
là nơi có nhiều tác phẩm điêu khắc như tượng võ sĩ, thềm rồng., điển hình cho phong cách giai đoạn cuối thời Hậu Lê Tại đây hiện vẫn còn 6 khối tượng rồng đá còn nguyên vẹn được xếp vào loại đẹp nhất Việt Nam Khối tượng rồng này đều có kích thước dài gần 2m hiện bị chìm dưới đất 1/3 không bị lộ, đế cao chừng 80cm được tạo bằng loại đá trắng xanh, rắn có độ nháp Những con rồng này nghệ nhân
đã tạo tác với dáng vóc uyển chuyển, thanh thoát hơn rồng thời Trần, Hồ và dữ dội như rồng thời Lê1
Gần kề các khối rồng đá là 12 pho tượng võ sĩ được xếp thành 2 dãy và tượng ngựa chiến cũng được tạc bằng đá nguyên khối Nhóm tượng đá được tạo tác thời chúa Trịnh Tráng với trang phục võ quan giáp trụ, được các nhà nghệ thuật đánh giá
là “tượng đẹp nhất của nước ta hiện nay, cho ta nhiều thông tin về trang phục quân đội thời chúa Trịnh ”2.
Phản ánh về trình độ nghệ thuật và điêu khắc trong các di tích, kiến trúc thời
Lê - Trịnh ở vùng “Bồng Báo” hiện dân vùng Tây Đô còn lưu truyền câu ca đao:
A i lên phù Bảo mà coi Đường chạm, đường đục, đường soi rành rành
Liên quan đến các hoạt động văn hoá - xã hội cung đình, ngoài các công trình kiến trúc thì nhiều làng trên đất Tây Đô còn có đền thờ Khổng Tử, các khu văn chỉ
và các di tích, địa danh như vườn Thượng Uyển, Vườn Hoa, Bàn Cờ, xóm Hát3
1, 2 Trịnh Quang Vũ (1995), “Nghệ thuật tạo hình thời Trịnh thế kỷ XVI- XVIII”, Chúa Trịnh
vị trí và vai trò lịch sừ, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Thanh Hoá, tr 362, tr 366.
3 Trần Minh Báo (1995), “Các di tích nhà Trịnh ờ Vĩnh Lộc những vấn đề cần quan tâm” Kỳ yếu Hội thảo khoa học, Thanh Hoá, tr 40.
550
Trang 7ĐẶC TRƯNG VẢN HÓA TÂY Đ Ô
Vùng đât Tây Đô là nơi có nhiều ngôi chùa nổi tiếng với kiến trúc độc đáo của
xứ Thanh Những chùa được xây dựng từ thời Lý - Trần như chùa Linh Xứng (xã Ngọ Xá, trước thuộc huyện Vĩnh Lộc nay thuộc huyện Hà Trung) được xây dựng từ thời Lý Thường Kiệt kinh lý các xứ Thanh Hoá và Nghệ An; chùa Du Anh và chùa Kim Âu (xã Kim Âu) xây dựng thời Trần
Cùng với điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử thì môi trường xã hội là những nhân tổ có ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình sáng tạo văn hóa Đối với môi trường xã hội vùng Tây Đô, di sản các làng cổ vừa là nhân tổ tác động tạo nên nền cành vừa là điểm tựa làm tôn vinh giá tri văn hoá của vùng đất này
Trong khu vực của di sản văn hoá thể giới thành Tây Đô, hiện còn tồn tại nhiều làng cổ, có lịch sử đồng đại hoặc lịch đại so với sự ra đời và tồn tại của vương triều Hồ và kinh thành Tây Đô Ngoài những làng cổ sát vùng lõi như Tây Giai, Đông Môn, Xuân Giai, trong khu vực đệm còn có các làng cổ như làng Trác, c ổ Điệp, Bái Xuân, Cao Mật, cầm Hoàng, Yên Tôn Thượng, Thọ Đồn, Thổ Phụ, Nhân
Lộ, Hà Lương và làng Xoài Trong sổ đó, đáng lưu ý là các làng cổ như Tây Giai và Đông Môn
Tây Giai là ngôi làng cổ nằm ở phía Tây (cửa Tây) gắn liền với sự ra đời của
thành nhà Hồ Cuối thế kỷ XIV, Hồ Quý Ly đã cho xây thành, dời đô đến “địa phận thôn An Tôn, làng Tây Giai, phủ Quảng Hoả nên tên gọi cùa toà thành cũng gắn với thôn An Tôn (thành An Tôn) và làng Tây Giai (thành Tây Giai)2 Hiện làng Tây Giai vẫn còn lưu lại những truyền thuyết, địa danh và các di tích lịch sử - văn hoá gán với vùng đất kinh đô xưa như chợ Tây, đường cổng Đá Một trong những di sản vàn hoá vật thể độc đáo của làng là ngôi nhà cổ của ông Phạm Ngọc Tùng được xây dựng từ năm 1810 và đã được UNESCO công nhận là một trong 10 nhà cổ dân gian có kiến trúc tiêu biểu nhất của Việt Nam Năm 2002 tổ chức JICA của Nhật Bản đầu tư kinh phí nghiên cứu, bảo tồn, trùng tu di tích này
Làng Đông Môn nằm sát tường thành phía Đông (cửa Đông) thành nhà Hồ Cũng như Tây Giai, đây là ngôi làng cổ gắn liền với sự ra đời của toà thành này
1 Loui Bezacier (1954), L a rt Viet Namien, Editions de L union française 3, Rue Biaise - Desgoffe, Pariis - vi (Bản dịch lưu tại Viện Bảo tàng Việt Nam), tr 83.
2 Trong số các ngôi làng cổ Việt Nam, thành nhà Hồ là một trong những toà thành mang nhiều tên gọi khác nhau như thành An Tôn, Tây Đô, Tây Giai, thành nhà Hồ, thành Vĩnh Lộc Tên gọi thành Tây Giai xuất hiện từ vương triều Nguyễn Cũng như Thăng Long - Đông Kinh được đổi tên thành trấn Bắc Thành và sau đó được đổi tên là tinh Hà Nội thì thành An Tôn lúc này cũng mang tên mới (thành Tây Nhai) Tây Nhai là mang tên gọi cùa một làng ờ cùa Tây thành (làng Tây Nhai) Sau đó, từ “Nhai” được đồi thành “Giai” , làng
“Tây Nhai” thành làng “Tây Giai” ncn toà thành cũng được gọi là "thành Tây Giai”
Trang 8VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ T ư
Làng cổ Đông Môn hiện còn lưu giữ một số hiện vật, di tích, truyền thuy ết và nhừng sinh hoạt truyền thống gắn với kinh thành Tây Đô Đền thờ nàng Bình Khương, bia mộ cố n g Sinh và đoạn tường thành phía Đông bị sụt lở thuộc địa phận làng cổ Đông Môn là một trong số các dấu tích phản ánh về việc Hồ Quý Ly xây thành, đắp luỹ kiên cố và phu phen tạp dịch nặng nề Chuyện xưa cho biết về sự tích
bi ai, oan nghiệt của Trần Công Sĩ (còn gọi là cống Sinh), người được Hồ Quý Ly giao cho trọng trách đốc phu xây thành phía Đông, nhưng do mạch nước ngầm làm sụt lở phần móng nên một đoạn thành cứ xây xong lại bị sụt đổ Hồ Quý Ly cho rằng Cống Sinh mưu phản, không đốc thúc phu phen, cổ tình trì hoãn việc xây thành đắp luỹ, nên đã bị xử tội chết Nàng Bình Khương vì quá thương xót v ề cái chết oan ức của chồng, nên đã đập đầu vào tường đá tự vẫn Trong đền thờ nàng Bình Khương, phía trước bài vị của bà hiện còn một phiến đá nguyên khối dài 4m, rộng 2m, có dấu tích đá lún in hình đầu người và hai bàn tay
Bên cạnh những nét chung mang tính phổ biến của làng truyền thống Việt Nam thì các làng cổ Tây Đô còn có đặc trưng riêng biệt của một vùng đất cố đô phong kiến Vì thế các làng cổ trên vùng đất cố đô không chỉ là cơ sở cho việc hình thành thành Tây Đô, góp phần tạo nên toà thành này có giá trị nhiều mặt mà còn là một trong những thành tố quan trọng tạo nên giá trị truyền thống và đặc tnm,;g văn hoá Tây Đô
3 N hững đặc điểm d ân cư
Nói tới đặc trưng văn hoá không thể không xét tới chính chủ thể của văưi hoá nên nguồn gốc cư dân, quá trình tộc người và đặc điểm của cả cộng đồng ỉà những yếu tố cần được xem xét Đặc biệt, Tây Đô là vùng đất cổ, vì thế ngoài những cur dân khai phá đất đai từ buổi đầu lập làng thì điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội và hoàn cảnh lịch sử là những yếu tố tác động mạnh mẽ làm biển đổi, tạo nên nét riêng biệt của cộng đồng cư dân và chi phối những đặc trưng văn hoá củavùng đất này Tây Đô là vùng đất giáp ranh giữa miền núi và miền xuôi, từng là cố) đô - trung tâm chính trị của cả nước một thời, rồi sau đó trở thành một địa bàn có vị trí đặc biệt quan trọng về địa - chính trị, địa - quân sự qua nhiều thời kỳ lịch sử mên đã tạo điều kiều kiện thuận lợi để nhiều dân tộc cùng cư trú Ngoài người Kinh lià chủ yếu, Tây Đô còn là địa bàn cư trú của người Mường và người Chăm
Không những có sự khác biệt về thành phần dân tộc mà so với các vùng đất khác, Tây Đô còn có nét đặc thù trong nguồn gốc cư dân Cụ thể là nguồn dán cư từ nhiều vùng quê trong tỉnh và các tinh phía Bắc, phía Nam đến ngụ cư lại chiếm ti lệ cao hơn dân bản địa
5 5 2
Trang 9ĐẶC TRƯ NG VẰN HÓA TÂY ĐỔ.
Gia phả các dòng họ ở Tây Đô cho biết những người sớm đến khai phá, lập làng trên vùng đất này là vùng đồng bằng trư ớ c núi ven bờ trung lưu sông M ã (Tây
Đô là một trong những địa bàn phân bồ chủ yếu của văn hoá Đa Bút) Nguyên do cùa hiện tượng này rất có thể từ xa xưa Tây Đô vốn là vùng đất có vị trí địa lý và hệ thống giao thông đường thuỷ thuận lợi cùa xứ Thanh Hơn nữa, khi Hồ Quý Ly quyết định xây thành, dời đô về Tây Đô, một lượng lớn nhân công đã dồn về đây phục vụ nhu cầu xây dựng kinh đô cũng như mọi sinh hoạt của một trung tâm chính trị cả nước Nhiều người trong số này vốn là những người thợ thủ công, binh lính nhà Hồ giải ngũ đã lưu lại sinh cơ lập nghiệp khu vực gần kinh đô Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giao lưu văn hoá giữa vùng đất Tây Đô với các vùng đất khác
Đặc điểm đa dang về dân cư đã có tác động không nhỏ tạo cho Tây Đô trở thành một vùng văn hoá truyền thống với nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc Ngoài những lễ hội và sinh hoạt văn hoá của người Việt, các lễ hội của người Mường và nghệ thuật điêu khắc của Chăm ở Tây Đô càng làm cho giá trị văn hoá của vùng đất này thêm thêm đa dạng
v ề sinh hoạt văn hoá truyền thống, ở các làng xã Tây Đô có rất nhiều lễ hội Trong chu trình thời gian một năm: từ tết nguyên tiêu mở đầu năm mới, tết thanh minh, tết khai hạ, tết cơm mới, tết đoan ngọ cho đến tết nguyên đán khép lại chu trình sản xuất nông nghiệp Giữa hai chu trình sản xuất nông nghiệp là thời kỳ nghỉ ngơi sinh hoạt văn hoá
Hầu hết cư dân vùng Tây Đô đều có sinh hoạt văn hoá với các hình thức tín ngưỡng: tín ngưỡng vòng đời của một con người; đầy cữ, đầy tháng, đầy năm, lễ cưới, lễ lên lão, lễ thượng thọ, lễ tiễn đưa về nơi an nghỉ cuối cùng, lễ kỵ; lễ tế nông nghiệp, lễ động thổ, lễ mở cửa rừng (đối với người Mường), lễ xuống đồng, lễ thực điền, lễ rửa lá lúa, lễ hú vía lúa, lẽ cơm mới, lễ cầu vũ, càu đảo và các lễ hội văn hoá
xã hội như lễ chùa, lễ đền, lễ nghè tiêu biểu là lễ hội đền Hàn, đền Ông, đền Ba Bông, Đức thánh Trần, đền thờ Trịnh Khả
Lễ hội đền Tam Tổng mà trung tâm là đền thờ Trần Khát Chân dưới chân Đốn Sơn và đền Tam Tổng trước cửa Nam thành Tây Đô là một trong những lễ hội lớn ven sông Mã thuộc vùng đất Tây Đô nhằm tưởng niệm danh tướng Trần Khát Chân
Lẻ hội đền thờ Trịnh Khả ở xã Vĩnh Hoà nhàm tôn vinh danh tướng Trịnh Khả, người có công trong khởi nghĩa Lam Sơn
Lễ hội đền Ông và đền Hàn ở vùng Ngã-Ba-Bông (Tây Đô) là lễ hội tín ngưỡng kVn của xứ Thanh thu hút khách thập phương trong một thời gian dài Lễ
Trang 10VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẦN T H Ứ TƯ
hội này nằm trong hệ thống lễ hội nhằm tôn vinh mẫu Liễu Hạnh vốn phổ liến ở vùng Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá
Tây Đô là vùng đất cổ nơi có những trầm tích và những đường hoá thạih văn hoá Ở đây còn bảo tồn rất nhiều tín ngưỡng cổ, thờ cúng các lực lượng tự nhiên như thờ đá, thờ cây, thờ sông, thờ núi (Cao Sơn đại vương, bà chúa Thượng ngàn)
và ở ven sông thì thờ hà bá Đặc biệt, ở làng Còng (xã Vĩnh Hưng) có đền thr thần săn bắn Đây là các tín ngưỡng có liên quan đến một thời kỳ mà nghề săn bài còn
có vị thế trong đời sống cư dân
Bên cạnh những sinh hoạt văn hoá của người Việt (Kinh), Tây Đô là đa bàn
cư trú và nằm trong vùng giao thoa văn hoá Việt - Mường nên ở đây còn có ;ác lễ hội và hình thức sinh hoạt văn hoá của người Mường Các hình thức sinh hoit văn hoá của người Mường như hát Sét Bùa (hát chúc mừng năm mới) và hát đ»i đáp nam nữ Cùng với các lễ hội là các phong tục tập quán và sinh hoạt văn hot của người Mường càng làm cho lễ hội dân gian ở vùng Tây Đô thêm đặc sắc
Tây Đô đã có thời kỳ là kinh đô, nên ngoài phong tục, tập quán, lễ hội ruyền thống của địa phương còn là nơi hội tụ và lưu giữ nhiều phong tục tập quán mang dấu ấn của một trung tâm văn hoá nhất là các làng xã khu vực quanh thành Tiy Đô (vùng đất thuộc kinh đô cũ) Tiêu biểu như gái Hoa Nhai rất giỏi ca hát; tra Nhật Chiếu, Phú Lâm và Đông Môn (trước thuộc tổng Binh Bút) giỏi võ thuật; (ân xã Nam Cai (trước là tổng Nam Cai) thích uống rượu và tục đấu trí ờ tổng Ngọ Xá Đặc biệt, ở tổng Biện Thượng vào mùa hạ thường tổ chức thi chọn viên chù t« Tục
lệ này “thuần phác, thời họ Trịnh toàn thịnh cũng không thay đổi, cỏ lẽ là từ phong tục c ố " 1.
Để phục vụ sinh hoạt cung đình, hát ca công đã trở thành nhu cầu khôig thể thiếu Hơn 600 năm đã trôi qua, hát ca công của kinh thành xưa dần theo thờ gian
mà mai một Nhưng loại hình nghệ thuật cung đình này vẫn còn lại dấu tích ( làng Phú Lĩnh và làng Tây Giai (xã Vĩnh Tiến) Bằng chứng là những năm 1920 -1945,
ở phố Giáng gần thành Tây Đô vẫn còn cửa hàng cô Đầu Và trong dân giai hiện còn lưu truyền gia i thoại về mối kỳ duyên giữa cụ Vọng Tân Đặng Hy Trứ bic đại nho thời Tự Đức được sung chức Nhiếp biện ấn vụ phủ Quảng Hoá (tức hu}ệr Vĩnh Lộc ngày nay) với cô đào hát họ Trần thuộc dòng họ hát ca công ở làng Tây Gai2
1 Lưu Công Đạo (Gia Long 15- 1816), Thanh Hóa Vĩnh Lộc huyện chí, Ký hiệu VH\ 1.71, L-
ưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội (Dịch và hiệu đính của Trần Kim A:.h Trần Kim Măng, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tr 99-100, tr 34-35.
2 Lê Huy Trâm (2002), Khảo sát hát ca công ở Thanh Hoá, Nxb Văn hoá Dân tộc, r ‘7-51.
5 5 4