MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN LỜI CAM ĐOAN DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG BIỂU PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Lịch sử nghiên cứu 1 3.Mục tiêu nghiên cứu 4 4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4 5.Giả thuyết nghiên cứu 4 6. Nhiệm vụ nghiên cứu 4 7.Phương pháp nghiên cứu 5 8. Đóng góp mới của đề tài 5 PHẦN NỘI DUNG 6 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN 6 1.1. Một số khái niệm 6 1.1.1. Khái niệm hoạt động học tập 6 1.1.2. Khái niệm tự học và tự học của sinh viên 7 1.2. Vai trò tự học đối với sinh viên 8 1.3. Các phương pháp tự học của sinh viên 9 1.3.1. Phương pháp học tập độc lập 9 1.3.2. Tự học thông qua tương tác liên cá nhân 11 1.4. Đặc điểm của tự học trong đào tạo theo học chế tín chỉ 11 1.5. Các yếu tố tác động đến hiệu quả tự học của sinh viên 14 1.5.1. Các yếu tố chủ quan 14 1.5.2. Các yếu tố khách quan 15 Chương 2: THỰC TRẠNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NGÀNH QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI. 17 2.1 Tổng quan về ngành Quản trị nhân lực tại Đại học Nội vụ Hà Nội 17 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 17 2.1.2. Thành tựu trong đào tạo 18 2.1.3. Những thách thức trong nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội 19 2.2. Đặc điểm sinh viên ngành Quản trị nhân lực 19 2.3. Khảo sát về tự học của sinh viên ngành Quản trị nhân lực 20 2.3.1. Về nhận thức của sinh viên 20 2.3.2. Về phương pháp tự học của sinh viên: 22 2.3.3. Về hiệu quả tự học của sinh viên 25 2.4. Đánh giá hiệu quả tự học của sinh viên 26 2.4.1. Ưu điểm và nguyên nhân 26 2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân 27 CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỰ HỌC ĐỐI VỚI SINH VIÊN NGÀNH QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 29 3.1. Mục tiêu và phương hướng nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên ngành Quản trị nhân lực 29 3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên ngành Quản trị nhân lực 30 3.2.1. Nâng cao nhận thức về tự học của sinh viên 30 3.2.2. Phát triển kỹ năng hiểu, làm chủ bản thân của sinh viên 30 3.2.3. Nâng cao kỹ năng quản lý mục tiêu và hiệu suất sử dụng thời gian của sinh viên 32 3.2.3.1. Nâng cao kỹ năng quản lý mục tiêu của sinh viên 32 3.2.3.2. Nâng cao kỹ năng quản lý hiệu suất sử dụng thời gian của sinh viên 34 3.2.4. Áp dụng các phương pháp tự học hiệu quả 36 3.2.4.1.Sử dụng phương pháp seminar 36 3.2.4.2. Sử dụng phương pháp Mind mapping (bản đồ tư duy) 38 3.2.4.3. Sử dụng phương pháp SQR3 39 3.2.5. Đầu tư cơ sở vật chất tạo thuận lợi cho sinh viên trong tự học 41 3.2.6. Đào tạo kỹ năng tự học cho sinh viên 43 3.2.7. Một số phương pháp khác 45 3.3. Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên ngành Quản trị nhân lực 53 3.3.1. Đối với Ban Giám hiệu và các đơn vị trong Nhà trường 53 3.3.2. Đối với các khoa chuyên môn và tổ chức đoàn thể trong trường 55 3.3.3. Đối với Câu lạc bộ Nhà Quản trị nhân lực, Liên chi Khoa Tổ chức và Quản lý nhân lực 56 3.3.4. Đối với sinh viên ngành Quản trị nhân lực 56 C. KẾT LUẬN 58 D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO E. PHỤ LỤC
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “ Nghiên cứu biện pháp nâng cao hiệu quả
tự học đối với sinh viên ngành Quản trị nhân lực tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội”, bên cạnh sự cố gắng, nỗ lực của nhóm tác giả, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ từ nhiều phía Qua đây, nhóm tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
Ban Giám hiệu trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Khoa Tổ chức và Quản lý nhân lực, Phòng Quản lý khoa học và Sau đại học, Phòng Quản lý Đào tạo, Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng và một số đơn vị trong Nhà trường đã tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu, khảo sát.
Đặc biệt, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn ThS.NCS Đoàn Văn Tình đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp chúng tôi hoàn thiện nghiên cứu.
-Cuối cùng, nhóm nghiên cứu xin được cảm ơn tới các bạn sinh viên bậc đại học của trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình khảo sát.
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn!
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Nhóm nghiên cứu xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của nhóm tác giả.Các nội dung trong nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bốdưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ choviệc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính nhóm tác giả thu thập từ các nguồn khácnhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Lê Thị Mai Anh
Trang 3MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 1
3.Mục tiêu nghiên cứu 4
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5.Giả thuyết nghiên cứu 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
7.Phương pháp nghiên cứu 5
8 Đóng góp mới của đề tài 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN 6
1.1 Một số khái niệm 6
1.1.1 Khái niệm hoạt động học tập 6
1.1.2 Khái niệm tự học và tự học của sinh viên 7
1.2 Vai trò tự học đối với sinh viên 8
1.3 Các phương pháp tự học của sinh viên 9
1.3.1 Phương pháp học tập độc lập 9
1.3.2 Tự học thông qua tương tác liên cá nhân 11
1.4 Đặc điểm của tự học trong đào tạo theo học chế tín chỉ 11
1.5 Các yếu tố tác động đến hiệu quả tự học của sinh viên 14
1.5.1 Các yếu tố chủ quan 14
1.5.2 Các yếu tố khách quan 15
Chương 2: THỰC TRẠNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NGÀNH QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 17
2.1 Tổng quan về ngành Quản trị nhân lực tại Đại học Nội vụ Hà Nội 17
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 17
Trang 42.1.2 Thành tựu trong đào tạo 18
2.1.3 Những thách thức trong nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội19 2.2 Đặc điểm sinh viên ngành Quản trị nhân lực 19
2.3 Khảo sát về tự học của sinh viên ngành Quản trị nhân lực 20
2.3.1 Về nhận thức của sinh viên 20
2.3.2 Về phương pháp tự học của sinh viên: 22
2.3.3 Về hiệu quả tự học của sinh viên 25
2.4 Đánh giá hiệu quả tự học của sinh viên 26
2.4.1 Ưu điểm và nguyên nhân 26
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 27
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỰ HỌC ĐỐI VỚI SINH VIÊN NGÀNH QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 29
3.1 Mục tiêu và phương hướng nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên ngành Quản trị nhân lực 29
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên ngành Quản trị nhân lực 30
3.2.1 Nâng cao nhận thức về tự học của sinh viên 30
3.2.2 Phát triển kỹ năng hiểu, làm chủ bản thân của sinh viên 30
3.2.3 Nâng cao kỹ năng quản lý mục tiêu và hiệu suất sử dụng thời gian của sinh viên 32
3.2.3.1 Nâng cao kỹ năng quản lý mục tiêu của sinh viên 32
3.2.3.2 Nâng cao kỹ năng quản lý hiệu suất sử dụng thời gian của sinh viên 34
3.2.4 Áp dụng các phương pháp tự học hiệu quả 36
3.2.4.1.Sử dụng phương pháp seminar 36
3.2.4.2 Sử dụng phương pháp Mind mapping (bản đồ tư duy) 38
3.2.4.3 Sử dụng phương pháp SQR3 39
3.2.5 Đầu tư cơ sở vật chất tạo thuận lợi cho sinh viên trong tự học 41
3.2.6 Đào tạo kỹ năng tự học cho sinh viên 43
3.2.7 Một số phương pháp khác 45
Trang 53.3 Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên ngành Quảntrị nhân lực 533.3.1 Đối với Ban Giám hiệu và các đơn vị trong Nhà trường 533.3.2 Đối với các khoa chuyên môn và tổ chức đoàn thể trong trường 553.3.3 Đối với Câu lạc bộ Nhà Quản trị nhân lực, Liên chi Khoa Tổ chức và Quản
lý nhân lực 563.3.4 Đối với sinh viên ngành Quản trị nhân lực 56
C KẾT LUẬN 58
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
E PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
4 GD&ĐT Giáo dục & Đào tạo
Trang 76 Biểu đồ 2.3 Thể hiện khoảng thời gian sinh viên bỏ ra
7 Biểu đồ 2.4 Thể hiện phương pháp học nhóm 23
8 Biểu đồ 2.5 Thể hiện mức độ đọc bài trước khi đến lớp 24
9 Biểu đồ 2.6 Thể hiện mức độ hoàn thành kế hoạch của
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong giáo dục đại học hiện đại, mục tiêu quan trọng nhất của cơ sở giáo dụckhông phải trang bị cho người học tri thức mà là phương pháp tự học Bởi lượng trithức của nhân loại vô cùng phong phú, đa dạng và tăng lên hàng năm theo cấp sốnhân Để nắm bắt, cập nhật những kiến thức trong xã hội phải có nhiều nỗ lực tronghoạt động học tập, đặc biệt phải dành nhiều thời gian cho việc tự học và tự nghiên cứu
và cần có một phương pháp học đúng đắn, phù hợp và hiệu quả
Phương pháp tự học đối với sinh viên đóng một vai trò quan trọng Tự học có ýnghĩa rất lớn, không chỉ trong giáo dục nhà trường mà cả trong cuộc sống Trong nhàtrường bản chất của việc tự học là cốt lõi, tự học tạo điều kiện hình thành và rèn luyệnkhả năng hoạt động độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó tạo điều kiện và cơhội học tập suốt đời Tự học là nhu cầu, một năng lực cần có của mọi người trong thờiđại ngày nay Mặc dù vậy, trong quá trình quan sát và học tập, nhóm tác giả nhận thấyrằng nhiều sinh viên chưa nhận thức đúng và thiếu phương pháp tự học hiệu quả Đây
là thực trạng nói chung của nhiều sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học nói chung
và sinh viên ngành Quản trị nhân lực tại Đại học Nội vụ Hà Nội nói riêng Nhiều sinhviên chưa dành nhiều thời gian cho việc tự học, chưa xây dựng và rèn luyện kỹ năng tựhọc cho bản thân, hình thức tự học chưa hợp lý
Chính vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề tự học của sinh viên ngành Quản trị nhânlực tại trường Đại học Nội Vụ Hà Nội hiện nay và đề xuất các giải pháp nhằm đẩymạnh hiệu quả của hoạt động tự học của sinh viên góp phần nâng cao kết quả học tập
và chất lượng đào tạo là có tính cấp thiết Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi chọn
đề tài: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao kỹ năng tự học của sinh viên ngành Quản trị nhân lực Trường Đại học Nội vụ Hà Nội”
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu của nước ngoài
Tự học đã được con người thực hiện từ rất sớm, ngay từ khi GD chưa trở thànhmột nghành khoa học thực sự Ở thời kỳ đó, người ta đã biết quan tâm đến việc làmsao cho người học chăm chỉ, tích cực ghi nhớ được những giáo huấn của thầy và hànhđộng theo những điều ghi nhớ đó Montaigne từng khuyên rằng: “Tốt hơn là ông thầy
để cho học trò tự học, tự đi lên phía trước, nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt
Trang 9tốc độ của thầy cho phù hợp với sức học của trò” Từ thế kỷ XVII, các nhà giáo dụcnhư: J.A Comensky (1592-1670); G.Brousseau (1712-1778); J.H Pestalozzi (1746-1872); A.Disterweg (1790-1866) trong các công trình nghiên cứu đều rất quan tâm đến
sự phát triển trí tuệ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh và nhấn mạnh phảikhuyến khích người đọc giành lấy trí thức bằng con đường tự khám phá, tìm tòi và suynghĩ trong quá trình học tập Vào những năm đầu của thế kỷ XX, trên cơ sở phát triểnmạnh mẽ của tâm lý học hành vi, nhiều phương pháp dạy học mới ra đời: “phươngpháp lạc quan”, “phương pháp trọng tâm tri thức”, “phương pháp montessori”… Cácphương pháp dạy học này đã khẳng định vai trò quyết định của học sinh trong học tậpnhưng quá coi trọng “con người cá thể” nên đã hạ thấp vai trò của người giáo viênđồng thời phức tạp hóa quá trình dạy học Mặt khác, những phương pháp này đòi hỏicác điều kiện rất cao kể cả từ phía người học lẫn các điều kiện giảng dạy nên khó cóthể triển khai rộng rãi được Từ giữa những năm 1970 đã có sách hay bài viết về vấn
đề này (Benn, S I viết bài “Freedom, Autonomy and the Concept of the Person” năm1976; Holec H viết quyển “Autonomy in Foreign Language Learning” năm 1981,NXB Oxford) Sau chiến tranh thế giới thứ II, bên cạnh sự tiến bộ rất nhanh của cácnghành khoa học cơ bản, khoa học giáo dục cũng có nhiều tiến bộ đáng kể Một trongnhững tiến bộ đó là: sự xích lại gần nhau hơn giữa dạy học truyền thống (Giáo viên lànơi phát động thông tin, học sinh là nơi tiếp nhận thông qua diễn giảng trên lớp) và cácquan điểm dạy học hiện đại (học sinh là chủ thể tích cực, giáo viên là người tổ chứchướng dẫn) Các nhà giáo dục học ở Mỹ và Tây Âu ở thời kỳ này đã đều thống nhấtkhẳng định vai trò của người học trong quá trình dạy học, song bên cạnh đó cũngkhẳng định vai trò rất quan trọng của người thầy và các PP, phương tiện dạy học Kháiniệm người học trong giai đoạn này cũng không còn được quan niệm cá thể hóa cựcđoan như trước đây, tuy nó vẫn được chú ý Theo J.Dewey: “ học sinh là mặt trời,xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” Tư tưởng “lấy học sinh làm trungtâm” đã được cụ thể hóa thành nhiều phương pháp cụ thể như: “Phương pháp hợp tác”(cooperative methods), “phương pháp tích cực” (active methods), “Phương pháp cá thểhóa”, “Phương pháp nêu vấn đề”, … trong đó “Phương pháp tích cực” được nghiêncứu triển khai rộng hơn cả Theo phương pháp này, giáo viên đóng vai trò gợi sự chú ýkích thích, thúc đẩy học sinh tự hoạt động Vì thế, người học đóng vai trò trung tâmcủa quá trình dạy học, còn người dạy là chuyên gia của việc học Nhìn chung tư tưởng
Trang 10“lấy học sinh là trung tâm trong quá trình dạy học nói riêng và giáo dục nói chung đòihỏi có sự phối hợp của nhiều phương pháp, trong đó “phương pháp tích cực” là chủđạo mang tính nguyên tắc Đây chính là cơ sở để đưa ra những biện pháp bồi dưỡngnăng lực tự học cho học sinh, sinh viên Đồng tình với quan điểm trên, các nhà giáodục Xô Viết đã khẳng định vai trò tiềm năng to lớn của hoạt động tự học trong giáodục nhà trường Đặc biệt, nhiều tác giả còn nghiên cứu sâu sắc cách thức nhằm nângcao hiệu quả hoạt động tự học của người học, trong đó nêu lên những biện pháp tổchức hoạt động độc lập nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học
2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ lâu Ngay từ thời kỳ phong kiến,giáo dục chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất Những nhântài đó, bên cạnh yếu tố được những ông đồ tài giỏi dạy dỗ, thì yếu tố quyết định đều là
tự học của bản thân Cũng chính vì vậy mà người ta coi trọng việc tự học, nêu caonhững tấm gương tự học thành tài Nhưng nhìn chung, lối giáo dục còn rất hạn chế
“người học tìm thấy sự bắt chước, đúng mà không cần độc đáo, người học học thuộclòng …” Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền giáo dục Âu Mỹ rất phát triểnnhưng nền giáo dục nước ta vẫn chậm đổi mới Vấn đề tự học không được nghiên cứu
và phổ biến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu tự học rất cao trong nhiều tầng lớp xãhội
Vấn đề tự học thực sự được phát động rộng rãi sau Cách mạng Tháng Tám(1945) mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng vừa nêu tấm gương về tinhthần và phương pháp tự học Người từng nói: “còn sống thì còn phải học” và cho rằng:
“về cách học phải lấy tự học làm cốt” Có thể nói tự học là một tư tưởng lớn của HồChí Minh, về phương pháp học tập Những lời chỉ dẫn quý báu và những bài học kinhngiệm sâu sắc rút ra từ chính tấm gương tự học bền bỉ và thành công của Người chođến nay vẫn còn nguyên giá trị Sau đó, vấn đề tự học đã được nhiều tác giả trình bàytrực tiếp và gián tiếp trong các công trình nghiên cứu ở góc độ tâm lý học, giáo dụchọc, phương pháp dạy học Các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo,Bùi Tường đã khẳng định: Năng lực tự học của trò dù còn đang phát triển vẫn là nộilực quyết định sự phát triển của bản thân người học Thầy là ngoại lực, là tác nhân,hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học Nói cách khác quá trình tự học, tự nghiêncứu cá nhân hóa việc học của trò phải kết hợp với việc dạy của thầy và quá trình tương
Trang 11tác trong cộng đồng lớp học, tức là quá trình xã hội hóa việc học
Như vậy, vấn đề tự học đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâmnghiên cứu Những công trình nghiên cứu đó đã cung cấp khung lý thuyết cơ bản vàmột số chỉ dẫn về tự học nói chung Tuy nhiên, các công trình đều tập trung trên bìnhdiện rộng với khách thể và bối cảnh nghiên cứu khác biệt với đề tài mà chúng tôihướng tới, cụ thể là vấn đề tự của sinh viên bậc đại học có nhiều đạc thù như ngànhQuản trị nhân lực tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội Do đó, nghiên cứu của nhóm tácgiả không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào trước đây
3.Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng tự học của sinh viênngành Quản trị nhân lực tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội Trên cơ sở đó, nghiên cứunhằm đưa ra các giải pháp nâng cao kỹ năng tự học của sinh viên ngành Quản trị nhânlực tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề tự học của sinh viên ngành Quản trịnhân lực tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội
4.2.Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: ngành Quản trị nhân lực trường Đại học Nội vụ Hà Nội
- Về thời gian: từ năm 2014 đến nay
- Việc nghiên cứu trong phạm vi như vậy sẽ giúp chúng tôi có thể tập trungnghiên cứu từng vấn đề cụ thể
5.Giả thuyết nghiên cứu
Sinh viên ngành Quản trị nhân lực tại Đại học Nội vụ Hà Nội có nhận thứcđúng đắn về tầm quan trọng của việc tự học nhưng chưa có kĩ năng, phương pháp tựhọc hiệu quả
Để nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên ngành Quản trị nhân lực tại Đại họcNội vụ Hà Nội cần có những giải pháp nâng cao nhận thức, năng lực tự hoàn thiện củangười học và sự hỗ trợ, giảng dạy trang bị kiến thức, kỹ năng tự học cho sinh viên từNhà trường
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận về vấn đề tự học trong việc học tập của sinh viên;
Trang 12Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng việc tự học của sinh viên ngành Quản trịnhân lực tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên ngànhQuản trị nhân lực tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội
7.Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu: nhóm tác giả tổng hợp và phântích tài liệu từ các các báo cáo, các công trình nghiên cứu có liên quan; số liệu do cácđơn vị trong Nhà trường cung cấp, sau đó tiến hành phân tích tài liệu sao cho phù hợpvới nội dung của đề tài
- Phương pháp quan sát tham dự: các tác giả thuộc nhóm nghiên cứu đang là
sinh viên ngành Quản trị nhân lực tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội Trong quá trìnhhọc tập và tìm hiểu, nhóm tác giả đã quan sát các bạn sinh viên về kĩ năng, phươngpháp tự học để có những hiểu biết về nhiều khía cạnh của vấn đề này
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Từ ngày 15/03/2017 - 02/04/2017, chúng tôi
đã tiến hành khảo sát 120 sinh viên bậc đại học ngành Quản trị nhân lực tại TrườngĐại học Nội vụ Hà Nội Kết quả khảo sát là cơ sở quan trọng để nhóm nghiên cứuđánh giá về thực trạng tự học của sinh viên và đưa ra các giải pháp, khuyến nghị vềvấn đề này
8 Đóng góp mới của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Đề tài làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về vấn đề tự học của
sinh viên thông qua làm rõ khái niệm, vai trò, các hình thức, phương tự học và các yếu
tố ảnh hưởng tới hiệu quả tự học của sinh viên
- Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu làm rõ thêm thực trạng vấn đề tự học của sinhviên ngành Quản tri nhân lực hiện nay và khả năng thích ứng với yêu cầu tự học trongđào tạo theo học chế tín chỉ, từ đó xây dựng được phương pháp tự học hiệu quả chosinh viên trong mô hình đào tạo theo tín chỉ
Trang 13PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm hoạt động học tập
Hoạt động học tập là loại hoạt động đặc biệt của con người với mục đích đãđược đề ra từ đầu là nhằm tiếp thu tri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo và thái độ tươngứng, nhờ có hoạt động học tập mà tâm lí nhân cách của người học ngày càng pháttriển Đặc điểm của hoạt động học tập là:
- Về đối tượng của hoạt động học tập là những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và thái
độ tương ứng của nó
- Mục đích của học tập: chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và thái độ thông qua
sự tái tạo của cá nhân Việc tái tạo này sẽ không thể thực hiện nếu người học chỉ làkhách thể bị động của những tác động sư phạm, nếu tri thức chỉ được tiếp nhận mộtcách thụ động Muốn học có kết quả, người học phải tích cực tiến hành các hoạt độnghọc tập bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân mình Mục đích củahoạt động học tập là hướng vào làm thay đổi chính bản thân người học (trong khi cáchoạt động khác hướng vào làm thay đổi khách thể )
+ Chủ thể hoạt động học tập là người học (nhân vật chính của hoạt động học) sẽchiếm lĩnh tri thức mà loài người đã tích lũy - đối tượng của hoạt động học Nhờ có sựchiếm lĩnh này mà tâm lí chủ thể mới có thể được thay đổi và phát triển Người họcgiác ngộ mục đích này càng sâu sắc thì sức mạnh vật chất và tinh thần của họ càngđược huy động trong quá trình học tập, do đó tâm lí ngày càng phát triển
Như vậy hoạt động học tập là hoạt động được điều khiển một cách có ý thứcnhằm tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Sự tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong hoạtđộng học mang tính tự giác cao Đối tượng tiếp thu đã trở thành mục đích của hoạtđộng học.Những tri thức cũng được chọn lọc tinh tế và tổ chức thành hệ thống Hoạtđộng học tập không chỉ nhằm tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà còn hướng vào việctiếp thu tri thức của chính bản thân hoạt động, nói cách khác là tiếp thu cả phươngpháp giành lấy tri thức (phương pháp học) Công cụ, phương tiện của hoạt động họctập Công cụ, phương tiện chính là những tri thức mà người học đã được học và đãnắm vững Công cụ, phương tiện là trình độ phát triển trí tuệ của người học từ trước
Trang 14đến nay Công cụ, phương tiện là toàn bộ nhân cách, phẩm chất tốt đẹp của người học.
1.1.2 Khái niệm tự học và tự học của sinh viên
Hiện nay có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau về khái niệm tự học và tự học
của sinh viên Theo GS - TSKH Thái Duy Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập
chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các nănglực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tìnhcảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch
sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”.< Tập
bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho (SV) trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS – TSKH Thái Duy Tuyên>.
Tác giả Nguyễn Kỳ cũng bàn về khái niệm tự học: “Tự học là người học tíchcực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thểhiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí cáctình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình
cá nhân hóa việc học” < Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/1998>.
GS Trần Phương cho rằng: “ Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức
là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức củamình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri
thức ấy” < Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào
tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế >.
Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn đicùng với khái niệm “tự thân” Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cá nhân chỉđược hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy
Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi SV phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiềunguồn; Tự thân rèn luyện các kĩ năng; Tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơimọi lúc
Như vậy Tự học (self - study) là sự nỗ lực tự thân nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹnăng của người học để hướng tới những mục đích học tập nhất định Nói cách khác, tựhọc là quá trình tự giác, độc lập, tích cực, sử dụng các năng lực trí tuệ, phẩm chất củabản thân người học để người học chiếm lĩnh được tri thức của nhân loại và những kinhnghiệm lịch sử xã hội, biến những tri thức đó thành sở hữu của mình, hình thành kỹnăng, thái độ và ngày càng hoàn thiện nhân cách của bản thân
Trang 151.2 Vai trò tự học đối với sinh viên
Học bậc cao đẳng, đại học, đòi hỏi sinh viên phải tiếp thu một lượng kiến thức lớn và khó, cho nên ngoài thời gian học trên lớp sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu ngoài giờ lên lớp để mở rộng và đào sâu tri thức Cũng chính thông qua hoạt động tự học này đã giúp rất nhiều cho sinh viên trong quá trình học tập biểu hiện
Thứ nhất, tự học giúp sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo và nghềnghiệp trong tương lai Chính trong quá trình tự học sinh viên đã từng bước biến vốnkinh nghiệm của loài người thành vốn tri thức riêng của bản thân Hoạt động tự học đãtạo điều kiện cho sinh viên hiểu sâu tri thức, mở rộng kiến thức, củng cố ghi nhớ vữngchắc tri thức, biết vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập mới
Thứ hai, tự học không những giúp sinh viên không ngừng nâng cao chất lượng vàhiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp họ có được hứng thúthói quen và phương pháp tự thường xuyên để làm phong phú thêm, hoàn thiện thêmvốn hiểu biết của mình Giúp họ tránh được sự lạc hậu trước sự biến đổi không ngừngcủa khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay
Thứ ba, tự học thường xuyên, tích cực, tự giác, độc lập không chỉ giúp sinh viên
mở rộng đào sâu kiến thức mà còn giúp sinh viên hình thành được những phẩm chất trítuệ và rèn luyện nhân cách, tạo nếp sống và làm việc khoa học, rèn luyện ý chí phấnđấu, đức tính kiên trì, óc phê phán
Thứ tư, trong quá trình học tập ở trường đại học, nếu bồi dưỡng được ý chí vànăng lực tự học cần thiết thì sẽ khơi dậy được ở sinh viên tiềm năng to lớn vốn có của
họ, tạo nên động lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên trên mọi khó khăn, trởngại bên ngoài Khả năng tự học chính là nhân tố nội lực, nhân tố quyết định chấtlượng đào tạo
Trong xã hội phát triển vai trò của giáo dục ngày càng quan trọng, là động lựcthúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội Giáo dục phải đào tạo được thế hệ trẻ năngđộng, sáng tạo, có đủ tri thức, năng lực và có khả năng thích ứng với đời sống xã hội,làm phát triển xã hội Muốn vậy thế hệ trẻ phải có năng lực đặc biệt đó là khả năng tựhọc, tự nâng cao, tự hoàn thiện và những khả năng này phải được hình thành từ cấptiểu học Có như vậy mới rèn luyện cho họ được kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, khôngngừng nâng cao vốn hiểu biết về văn hoá, khoa học kỹ thuật và hiện đại hoá vốn trithức của mình để trở thành người công dân, người lao động với đầy đủ hành trang
Trang 16bước vào cuộc sống.
1.3 Các phương pháp tự học của sinh viên
1.3.1 Phương pháp học tập độc lập
- Tự học thông qua nghiên cứu tài liệu
Một trong những công cụ không thể thiếu để phục vụ cho quá trình tự học đóchính là nghiên cứu tài liệu học tập Việc nghiên cứu tài liệu học tập giữ một vị tríđáng kể trong việc nắm vững kiến thức nói chung và phát huy tính tích cực hoạt độngtrí tuệ của học sinh nói riêng
Giáo trình: Là những tài liệu học tập cơ bản, chung, chính thống, bắt buộc đối
với mọi sinh viên khi học tập môn đó
Tài liệu tham khảo, đọc thêm: Là những tài liệu cần thiết để bổ xung, đào sâu,
mở rộng tri thức cho từng bài học, từng chương hay từng học phần trong mỗi môn họcnhất định như các sách chuyên khảo Có những tài liệu tham khảo là bắt buộc sinhviên phải có, nhưng cũng có những tài liệu tham khảo chỉ cần khi sinh viên có nhucầu Thông thường, những tài liệu tham khảo này được cán bộ giảng dạy giới thiệu,yêu cầu
Tài liệu hướng dẫn học tập: Là những tài liệu có chức năng hướng dẫn học tập,
ôn tập hay rèn luyện kỹ năng, tự học, tự thực hành, như đề cương bài giảng, đáp ánngân hàng câu hỏi của các môn học, sổ tay sinh viên …
Sách tra cứu: Là những tài liệu dùng để tra cứu khi cần thiết như Từ điển, danh
mục, các bảng thống kê
Tạp chí chuyên ngành: Là những tài liệu khoa học dùng để tham khảo hay
nghiên cứu, như thông tin khoa học kỹ thuật TDTT của viện KHTDTT
Sách nghiên cứu: Là những công trình khoa học hay chuyên khảo dùng cho
sinh viên khi nghiên cứu khoa học, bản tin khoa học đào tạo huấn luyện TT củaTrường Đại học TTBN, Tạp chí TT của Bộ văn hóa TT & du lịch
Tài liệu điện tử: Là những thông tin, kiến thức về mọi mặt thường xuyên được
cập nhật trên mạng dành cho mọi đối tượng trong mọi lĩnh vực
Như vậy tuỳ theo từng đối tượng , mục tiêu và nội dung mà xác định loại tàiliệu học tập cần thiết cho quá trình tự nghiên cứu và học tập của mình Đọc tài liệu làquá trình quan trọng nhất nhằm cụ thể hoá nội dung chương trình môn học thông qua
hệ thống các bài học Đối với sinh viên, giáo trình không những cung cấp những kiến
Trang 17thức chuẩn mực, cơ bản và cần thiết, mà còn góp phần hướng dẫn phương pháp họctập, củng cố những kiến thức đã học, tạo điều kiện phát triển các kĩ năng đã được hìnhthành, đồng thời cũng là cơ sở, nền tảng để cho sinh viên.
- Tự học thông qua chuẩn bị thảo luận, kiểm tra, thi
Kiểm tra , thi sẽ giúp sinh viên biết cách tự đánh giá, sinh viên được đánh giálẫn nhau, mọi sự đổi mới kiểm tra đánh giá phải làm cho học sinh tích cực hơn, nỗ lựchơn và phải dẫn đến sự biến đổi ở người học (không chỉ là làm chủ kiến thức, kỹnăng… mà quan trọng hơn thay đổi cả thái độ, niềm tin).Tạo mọi cơ hội để HS,SV nêucâu hỏi/thắc mắc, tranh luận với giáo viên… và được trải nghiệm các tình huống thựctiễn để thực hành những điều mình học SV nhận ra những điểm mình còn đang thiếu,những sai sót thông qua phản hồi, đánh giá Và đặc biệt nữa là học sinh phải tương tácvới nhau để được thể hiện mình, nuôi dưỡng hứng thú, sự tự tin
- Tự học qua chuẩn bị viết chuyên đề, kiến tập, thực tập, khóa luận tốt nghiệp Giúp sinh viên tiếp cận môi trường làm việc thực tế tại các đơn vị, qua đó cóđiều kiện so sánh, đối chiếu giữa lý thuyết, kiến thức ngành kế toán – kiểm toán đượchọc trong nhà trường với thực tiễn vận dụng tại đơn vị
Làm quen với môi trường làm việc, học hỏi tác phong làm việc và thực hànhmột số kỹ năng công việc, kỹ năng giao tiếp trong công việc, thu thập thông tin và mô
tả thực tế;
Hoàn thành một đề tài tốt nghiệp về kế toán, kiểm toán, trong đó có sự so sánh,đối chiếu giữa thực tế và lý thuyết để từ đó rút ra những nhận xét và đề xuất các kiếnnghị hay giải pháp
- Tự học trên môi trường số hóa (online)
Trong vấn đề giáo dục nói chung và việc học nói riêng thì tự học online có mộtvai trò hết sức quan trọng Tự học online giúp người học hiểu sâu, mở rộng, củng cố
và ghi nhớ bài học một cách vững chắc nhờ vào khả năng tự phân tích, tổng hợp tàiliệu, từ đó có khả năng vận dụng các tri thức đã học vào việc giải quyết những nhiệm
vụ học tập mới Đồng thời, tự học online giúp người học hình thành được tính tích cực,độc lập tự giác trong học tập cũng như nề nếp làm việc khoa học.Từ đó quyết định sự
phát triển các phẩm chất nhân cách và quyết định chất lượng học tập của SV.
Trang 181.3.2 Tự học thông qua tương tác liên cá nhân
Tự học thông qua tương tác liên cả nhân có thể hiểu như hoạt động làm việcnhóm nó là hình thức tự học giúp sinh viên nắm bắt được nội dung bài học, chuẩn bịbài trước khi đến lớp
Trong đào tạo theo tín chỉ, nội dung bài học sẽ được triển khai dưới nhiều hìnhthức dạy và học khác nhau Những nội dung lí thuyết là kiến thức cơ bản về vấn đềđang xem xét nhưng có những nội dung bài giảng viên không giảng lí thuyết, sinh viênphải tự đọc sách, tài liệu để thu lượm kiến thức Đối với những nội dung này, thôngqua làm việc nhóm, sinh viên có thể trao đổi với nhau để có kiến thức hoặc khẳng địnhlại những nội dung mà họ còn thấy phân vân Chỉ trong những trường hợp sinh viênkhông tìm thấy câu trả lời từ các bạn mình thì mới lựa chọn phương án là hỏi giảngviên Đối với những nội dung cần chuẩn bị trước cho giờ thảo luận thì chuẩn bị bài vàtrao đổi ý kiến với các bạn sẽ có hiệu quả hơn so với việc tự học Thực tế cho thấynguyên nhân chủ yếu của việc sinh viên không phát biểu ý kiến trong giờ thảo luận là
vì họ không chuẩn bị bài trước khi đến lớp
Tổ chức làm việc nhóm hiệu quả là một cách buộc sinh viên phải tham giachuẩn bị bài trước cùng các sinh viên khác trong nhóm vì các thành viên trong nhóm
sẽ tự kiểm tra, đánh giá lẫn nhau Một nguyên nhân nữa làm sinh viên ngại phát biểu ýkiến trước lớp là do họ sợ câu trả lời của mình bị sai so với đáp án của giảng viên.Nhưng nếu như vấn đề đó sinh viên đã được chuẩn bị kĩ càng, đã thảo luận và thốngnhất ý kiến với các bạn thì những ngại ngần này có thể sẽ không còn cản trở sinh viênđưa ra ý kiến về một vấn đề liên quan đến bài học
Như vậy, tự học độc lập hay qua tương tác liên cá nhân đều tạo điều kiện choviệc tìm hiểu tri thức một cách sâu sắc, hiểu rõ bản chất của chân lý Trong quá trình
tự học, SV sẽ gặp nhiều vấn đề mới và việc đi tìm giải đáp cho những vấn đề ấy làcách tốt nhất để kích thích hoạt động trí tuệ cho SV Nếu thiếu đi sự nỗ lực tự học củabản thân SV thì kết quả không thể cao cho dù có điều kiện ngoại cảnh (thầy cô, tàiliệu, cơ sở vật chất, ) nhiều thuận lợi
1.4 Đặc điểm của tự học trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Có thể khẳng định rằng: hoạt động tự học của sinh viên trong các cơ sở giáodục đại học là một hoạt động không thể thiếu và đống vai trò đặc biệt quan trọng trongquá trình học tập ở bậc đại học Tuy nhiên trong các phương thức đào tạo khác nhau,
Trang 19hoạt động này lại có những đặc thù khác nhau, hoạt động này có những nét đặc thùriêng Sự khác biệt giữa hoạt động tự học trong niên chế với tự học trong tín chỉ đượcthể hiện một số điểm khác nhau
Thứ nhất: trong phương pháp đào tạo niên chế, sinh viên tuân thủ theo mộttrương trình do nhà trường định sẵn theo từng kỳ học từng năm học, từng khóa học căn
cứ vào thời khóa biểu Khi chuyển sang phương thức đào tạo theo tín chỉ, kế hoạchhọc tập theo tín chỉ phụ thuộc vào việc lập kế hoạch và khả năng tự học của sinh viên.Sinh viên có nhiệm vụ và quyền lợi được lựa chọn môn học và thời gian học, tiến trìnhhọc tập nhanh, chậm phù hợp với khả năng học của bản thân mình Phương pháp nàyđào tạo cho sinh viên năng lực chủ động trong việc lập kế hoạch học tập khoa học, xácđịnh thời gian và phương thức học tập để thực hiện mục tiêu đề ra trong kế hoạch đó.Khi đó sinh viên phải có ý thức xây dựng việc tự học tự nghiên cứu sao cho việc họctập đạt kết quả cao nhất
Thứ hai: Hình thức tổ chức dạy học trong phương thức tín chỉ quy định hoạtđộng tự học của sinh viên như là một phần bắt buộc trong thời khóa biểu và là một nộidung quan trọng và đánh giá kết quả học tập Hoạt động dạy học theo tín chỉ được tổchức theo 3 hình thức: lên lớp, thực hành và tự học Trong 3 hình thức tổ chức dạy họcnày, 2 hình thức đầu tiên có sự tiếp xúc trực tiếp từ giảng viên với sinh viên (giảng bài,hướng dẫn, sinh viên nghe giảng thực hành, thực tập dướt sự huóng dẫn của giảngviên) hình thức thứ 3 có thể không có sự tiếp xúc giữa giảng viên và sinh viên (giảngviên giao nội dung để sinh viên tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành)
có các hình thức tổ chức dạy - học khác nhau Có những môn học chỉ có một kiểu giờtín chỉ, nhưng có những môn học có hai hoặc cả ba kiểu giờ tín chỉ Trong mọi trường
Trang 20hợp, công thức tính cho mỗi môn học là không đổi: 1+0+2 (môn học thuần lý thuyết);0+2+1 (môn học thuần thực hành); 0+0+3 (môn học thuần tự học) Cách tổ chức thựchiện một giờ tín chỉ cho chúng ta thấy một đặc điểm rất quan trọng góp phần tạo nên
sự khác biệt với phương thức đào tạo truyền thống Nếu hoạt động tự học trong họcchế niên chế chỉ mang tính chất tự nguyện thì phương thức đào tạo theo học chế tín chỉcoi tự học là một thành phần hợp pháp và bắt buộc phải có trong hoạt động học tập củasinh viên Để học được 1 giờ lý thuyết hay 2 giờ thực hành, thực tập trên lớp sinh viêncần phải có 2 hay 1 giờ chuẩn bị ở nhà Đó là yêu cầu bắt buộc trong cơ cấu giờ học Thứ ba: nội dung một bài giảng trong hệ thống tín chỉ thường gồm 3 thànhphần chính:
- Phần nội dung bắt buộc phải biết (N1) được giảng trực tiếp trên lớp
- Phần nội dung nên biết (N2) có thể không được giảng trực tiếp trên lớp màgiáo viên có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể sinh viên tự học, tự nghiên cứu
- Phần nội dung có thể biết (N3) dành riêng cho tự học, chuẩn bị bài, làm bàitập, thảo luận nhóm, xemina, làm thí nghiệm… và các hoạt động khác có liên quanđến môn học
Như vậy, kiến thức của mỗi môn học được phát triển thông qua những tìm tòicủa người học dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của giảng viên Nếu sinh viên không tự họcthì họ mới chỉ lĩnh hội được 1/3 khối lượng kiến thức của môn học và như vậy đồngnghĩa với việc họ không đạt được yêu cầu của môn học đó
Ngoài ra, một điểm rất quan trọng, khác biệt với học chế niên chế là trong họcchế tín chỉ, hoạt động tự học được kiểm tra, đánh giá thường xuyên thông qua các bàikiểm tra, bài tập, các buổi thảo luận …trong suốt cả quá trình học
Qua các phân tích trên đây, rõ ràng rằng trong phương thức đào tạo theo tín chỉ,hoạt động tự học của sinh viên trở thành hoạt động bắt buộc với các chế tài cụ thể quiđịnh cho hình thức học tập này
Học chế tín chỉ (HCTC) là một hình thức đào tạo được hầu hết các nước tiêntiến trên thế giới áp dụng vì nó phân chia kiến thức đào tạo thành những đơn vị học tập
mà sinh viên (SV) có thể tự sắp xếp để tích lũy được ở những thời gian và không giankhác nhau Tùy điều kiện của mỗi người, sinh viên có thể học nhanh hơn hay muộnhơn so với tiến độ bình thường, có thể thay đổi chuyên ngành học ngay giữa tiến trìnhhọc tập mà không phải học lại từ đầu HCTC còn tạo ra một "ngôn ngữ chung" giữa
Trang 21các trường ĐH, CĐ; tạo điều kiện cho việc chuyển đổi SV giữa các trường trong nước
và trên thế giới, rất thuận lợi trong các chương trình đào tạo liên kết Theo lộ trình của
Bộ GD-ĐT, từ năm 2010: Tất cả các trường ĐH-CĐ phải áp dụng chương trình đàotạo theo tín chỉ Sau 1 năm đầu áp dụng mô hình này, kết quả ban đầu cho thấy chấtlượng học của SV học theo tín chỉ lại thấp hơn SV học theo niên chế Do đó, một câuhỏi lớn đặt ra: “Làm thế nào để dạy – học theo tín chỉ cho hiệu quả ?” Một số sinhviên tỏ ra háo hức với mô hình dạy học mới này trong khi đó số khác lại tỏ ra tiếc nuốivới mô hình cũ - dạy học theo niên chế Không phải vì mô hình cũ có hứng thú và hiệuquả hơn với họ mà chỉ vì một lí do hết sức đơn giản: họ ngại thay đổi, họ muốn giữthói quen học - thi - trả bài từ bao lâu nay Bản thân nhiều giảng viên cũng chưa thíchứng ngay được với cường độ và tính chất của hình thức giảng dạy mới này.Vì vậy,trước tiên đòi hỏi cả giảng viên và sinh viên phải thực sự bứt phá, có ý thức thay đổi
để thoát khỏi những thói quen cũ
1.5 Các yếu tố tác động đến hiệu quả tự học của sinh viên
1.5.1 Các yếu tố chủ quan
Học tập là hoạt động trí óc, là kết quả của sự quan sát, lắng nghe có chọn lọc
Vì thế, học tập chịu sự tác động của sức khỏe Sức khoẻ không tốt ảnh hưởng rất lớnđến quá trình tiếp thu Có thể nhận thấy rõ ràng, khi có vấn đề về sức khỏe, sinh viên
có thể phải nghỉ học, làm gián đoạn quá trình học tập, bỏ lỡ một số kiến thức giáo viêncung cấp trong giờ lên lớp Hoặc nếu đến lớp, sức khoẻ không tốt làm giảm khả năngtập trung, khả năng ghi nhớ Việc thức khuya làm các dây thần kinh hoạt động hếtcông suất, làm giảm khả năng ghi nhớ bài học, giảm hiệu quả học tập
Bên cạnh đó, sức khỏe tinh thần và tâm lý cũng tác động lớn đến hiệu quả tựhọc Khi đối mặt với một môn học thích thú, sinh viên thường có tâm lý hưng phấn,hứng thú học tập Ngược lại, những học phần khó hoặc không thú vị, sinh viên có tâm
lý lo sợ, né tránh Tâm lý tốt giúp người học nhìn nhận việc học như là một thú vui,học tập hăng say hơn Ngược lại, khi tâm lý buồn chán, con người có nhiều suy nghĩtiêu cực, tinh thần chịu stress, khả năng tập trung giảm, nhìn nhận việc học như mộtgánh nặng gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất học tập
Kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm học tập của sinh viên như khả năng hiểu vàlàm chủ bản thân; kĩ năng làm chủ cảm xúc, quản lý thời gian và mục tiêu cá nhâncũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả tự học của sinh viên Ngoài ra, phẩm chất, sự
Trang 22kiên định và ý chí kiên trì bền bỉ mới là nhân tố giúp sinh viên vượt qua được nhữngtrở ngại của của học tập Đó là một nền tảng cơ bản để dẫn đến sự thành công trongviệc tự học tập và tự nghiên cứu.
Bên cạnh đó, nguồn lực cá nhân cũng là một trong những nhân tố quan trongviệc thúc đẩy và duy trị hoạt động tự học Người học được trang bị đầy đủ cơ sở vậtchất, phương tiện phục vụ sinh hoạt và học tập như máy tính, điện thoại thông minhhoặc điều kiện ăn, ở, sinh hoạt tốt có điều kiện thuận lợi về tự học hơn so với các sinhviên thuộc diện nghèo
sẽ có điều kiện để tập trung vào việc học Cha mẹ cũng chính là người góp phần địnhhướng tương lai học tập cho con, nhất là trong việc chọn ngành nghề để theo học
Thứ hai, không khí gia đình cũng ảnh hưởng tới học tập.Một gia đình vui vẻ,đầm ấm, hạnh phúc là động lực tinh thần giúp người học sinh tập trung vào việc học
để đạt hiệu quả cao.Trong trường hợp học sinh sống trong một gia đình không hạnhphúc, cha mẹ có những biện pháp giáo dục thiếu khoa học gây ảnh hưởng xấu đến việchình thành nhân cách Các bạn học sinh ấy có thể sẽ không coi trọng việc học, sa vàonhững cám dỗ bên ngoài nhà trường, bỏ bê việc học
Thứ ba, không thể không nói đến ảnh hưởng từ kinh tế gia đình Rõ ràng mộtgia đình có kinh tế sẽ tạo cho con những cơ sở vật chất đầy đủ, thuận lợi cho việc học
Ngược lại, những học sinh có hoàn cảnh kinh tế khó khăn sẽ không có điềukiện tốt cho học tập, có những mối lo toan khác bên cạnh việc học.Thậm chí các bạncòn phải san sẻ thời gian học tập của mình để đi làm kinh tế phụ giúp gia đình.Tuyvậy, một học sinh sinh ra trong gia đình có điều kiện kinh tế không hẳn là luôn đạt kếtquả cao trong học tập Do bị chi phối bởi những mối quan hệ khác nhau mà các bạn
Trang 23không đạt được thành tích tốt hoặc bởi suy nghĩ sẽ sống nhờ vào những gì cha mẹ chucấp mà không tập trung vào con đường học vấn.
Còn các bạn học sinh khó khăn lại luôn có ao ước thoát nghèo và học tập chính
là con đường dẫn đến ước mơ đó.Chính điều này đã trở thành động lực giúp các bạnvượt qua khó khăn và thành công trong học tập.Vì vậy mà trong các kì thi tuyển sinhĐại học Cao đẳng toàn quốc, những gương mặt thủ khoa tiêu biểu đa phần xuất thânnông thôn trong những gia đình khó khăn về tài chính
- Môi trường học tập tại Nhà trường
Một học sinh sẽ học tập tốt hơn khi có mối quan hệ tốt với bạn bè Trước hết,nếu chơi với những người bạn tốt, có năng lực học tập sẽ tạo tính cạnh tranh, thúc đẩyquá trình học tập của cá nhân Đồng thời cũng tạo môi trường học tập tốt cho bản thân
Giảng viên là người chỉ đường dẫn lối giúp người học hiểu rõ nội dung bài học
Có mối quan hệ tốt với giáo viên giúp sinh viên có động lực học tập, không có cảmgiác ngại ngùng khi nhờ đến sự trợ giúp của giảng viên trong học tập Nhờ đó mà hiệuquả học tập tăng lên rất nhiều
Bên cạnh đó, thư viện luôn đồng hành cùng sinh viên đại học giúp mở mangtầm nhìn, phát triển của khoa học, bảo tồn và phát huy văn hóa Thư viện là nơi cungcấp thông tin, tạo điều kiện cho người đọc phát triển toàn diện, đặc biệt là tư duy sángtạo, góp phần giúp nhà trường hoàn thành sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực, bồidưỡng nhân tài cho đất nước Để thư viện trường học thật sự là nơi đảm bảo chấtlượng và hiệu quả giáo dục, đòi hỏi phải tăng cường vốn tài liệu, đảm bảo về nội dung,bao gồm đầy đủ về sách giáo khoa, giáo trình sách tham khảo chuyên ngành phù hợpvới ngành nghề đào tạo của nhà trường Bên cạnh đó các nguồn thông tin được bổsung từ các bài báo cáo khoa học, các báo cáo ngoại khóa theo chuyên đề vốn tài liệuphải đa dạng về thể loại: ngoài các loại tài liệu sách, báo, tạp chí truyền thống, cần thuthập đầy đủ các sản phẩm thông tin ở bất kỳ nơi nào và dưới bất cứ dạng nào Đặc biệt
là chất lượng tài liệu phải đảm bảo phù hợp, đáu ứng được yêu cầu sử dụng của ngườidùng tin
Trang 24Chương 2:
THỰC TRẠNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NGÀNH QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI.
2.1 Tổng quan về ngành Quản trị nhân lực tại Đại học Nội vụ Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc
Bộ Nội vụ, được thành lập ngày 14/11/2011 trên cơ sở nâng cấp từ trường Cao đẳngNội vụ Hà Nội.[1] Trước đây có tên gọi là Trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trungương I Tiền thân là Trường Trung học văn thư Lưu trữ Trung ương I, được thành lậpnăm 1971 theo Quyết định số 109/BT ngày 18/12/1971 của Bộ trưởng Phủ Thủ tướng.Năm 1996, Trường được đổi tên thành Trường Trung học Lưu trữ và Nghiệp vụ Vănphòng I
Ngày 29 tháng 01 năm 2007, Bộ trưởng BGDĐT đã ban hành Quyết định số
553/QĐ-BGDĐT giao Trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trung ương I (Nay là
ĐHNVHN) đào tạo hệ chính quy trình độ cao đẳng ngành QTNL Theo Quyết định số
261/QĐ-CĐNV ngày 10 tháng 9 năm 2008 của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Nội vụ
Hà Nội, ngành Quản trị nhân lực được giao cho Khoa Quản lý nhân lực (Tiền thân là
Khoa Thư ký và Quản trị văn phòng)
Từ khi được phép đào tạo tại ĐHNVHN, ngành QTNL luôn thu hút được đôngđảo thí sinh dự thi dự thi, sinh viên ra trường tỉ lệ có việc làm rất cao Do đó, để đápứng yêu cầu phát triển và quản lý ngành học, Hiệu trưởng Nhà trường đã quyết địnhthành lập Khoa Tổ chức và quản lý nhân lực theo Quyết định số 210/QĐ-ĐHNV ngày
24 tháng 4 năm 2012 Khoa Tổ chức và quản lý nhân lực là đơn vị thuộc Trường Đạihọc Nội vụ Hà Nội có chức năng tổ chức thực hiện quá trình đào tạo, bồi dưỡng nguồnnhân lực có trình độ đại học, sau đại học và thấp hơn trong lĩnh vực tổ chức và quản trịnhân lực và ngành nghề khác có liên quan; hợp tác quốc tế; nghiên cứu khoa học vàtriển khai tiến bộ khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
Năm 2012, ĐHNVHN tuyển sinh khóa đầu tiên bậc đại học ngành QTNL Hiệnnay, với quy mô khoảng 1500 sinh viên đang theo học ở các bậc cao đẳng, đại học, đạihọc liên thông hệ chính quy, ngành QTNL được xác định là một trong các ngành trọngđiểm trong đào tạo của ĐHNVHN
Trang 252.1.2 Thành tựu trong đào tạo
Là một trong các ngành có số lượng sinh viên đông nhất Trường, trong quátrình hoạt động, ngành Quản trị nhân lực đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng đàotạo, nghiên cứu khoa học và tham gia các hoạt động ngoại khóa
Hiện nay, Khoa Tổ chức và quản lý nhân lực có 23 cán bộ, giảng viên, trong đócó:
- Về chức danh nghề nghiệp gồm: 01 Trưởng khoa và 02 Phó trưởng khoa; 17giảng viên và 3 chuyên viên hành chính
- Về học hàm, học vị: 01 Phó giáo sư, tiến sĩ; 03 tiến sĩ, 07 nghiên cứu sinh; 10thạc sỹ, 02 học viên cao học
Ngoài ra, tham gia giảng dạy ở khoa còn có nhiều giảng viên kiêm nhiệm
có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao thuộc các trường đại học, các cơ quan Bộ,các Viện nghiên cứu Bởi vậy, chất lượng đào tạo của khoa luôn được đánh giá tốt, tỷ
lệ sinh viên ra trường xin được việc làm luôn chiếm tỷ lệ cao
Với phương châm đa dạng hóa hình thức, phương thức, loại hình đào tạo nhằmđáp ứng nguồn nhân lực cho ngành Nội vụ và thị trường lao động, chương trình đàotạo của Ngành Quản trị nhân lực được phát triển đã dạng theo từng thời kỳ phát triểncủa ĐHNVHN Đến nay, đã có 06 loại chương trình đào tạo từng được ban hành và tổchức đào tạo, gồm:
- Chương trình cao đẳng theo niên chế (dừng đào tạo từ năm 2015)
- Chương trình cao đẳng theo tín chỉ (Bắt đầu đào tạo từ 2013 đến nay)
- Đại học chính quy theo học chế niên chế (dừng đào tạo từ năm 2016)
- Đại học chính quy theo học chế tín chỉ (Bắt đầu đào tạo từ 2013 đến nay)
- Đại học liên thông chính quy theo học chế niên chế (dừng đào tạo từ năm 2014)
- Đại học liên thông chính quy theo học chế tín chỉ (Bắt đầu đào tạo từ 2013đến nay)
Mặc dù là ngành đào tạo mang tính đặc thù của ngành Nội vụ, nhưng ngànhQTNL ở ĐHNVHN vãn luôn thu hút được sự quan tâm lớn của xã hội và người học;được lãnh đạo Bộ Nội vụ và Nhà trường rất quan tâm đầu tư phát triển Ở mỗi hìnhthức đào tạo, chương trình đều được xây dựng bám sát với thực tế, thường xuyên đượcđiều chỉnh đổi mới Sinh viên tốt nghiệp cơ bản đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu và tácnghiệp trong các phòng, ban về tổ chức nhân lực của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ
Trang 26chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến địa phương hoặc trong phòng quản trị nhân lựccủa các doanh nghiệp
2.1.3 Những thách thức trong nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu
xã hội
Hiện nay ngành Quản trị nhân lực cũng đang chịu áp lực cạnh tranh rất lớn vớicác trường đào tạo cùng ngành, đặc biệt trong bối cảnh các trường đào tạo cùng ngànhđều có thâm niên đào tạo lâu và đã được cấp phép đào tạo sau đại học Do đó, việckhông ngừng nghiên cứu nâng cao chất lượng đào tạo nói chung, phát triển chươngtrình đào tạo ngành QTNL đáp ứng yêu cầu LKQT nói riêng là việc làm cấp thiết của
trường ĐHNVHN hiện nay Có thể kể đến những thách thức trong nâng cao chất lượng
đào tạo đáp ứng yêu cầu của xã hội của ngành học như sau:
- Đổi mới phương pháp giảng dạy đã đang được thực hiện, nhưng chưa thườngxuyên ở các Khoa, Bộ môn Một số giáo viên còn thiên về lý luận, áp dụng chưa đadạng những phương pháp giảng dạy tích cực để tăng chủ động hơn trong tiếp thu kiếnthức của người học
- Người học: Phần nhiều ý thức học tập của sinh viên hạn chế, mục tiêu học tậpcủa sinh viên còn mang nặng tính thi cử, trả nợ cho xong môn học…Ngoài ra, đầu vàosinh viên của trường thấp, đặc biệt là sinh viên vào trường theo diện cử tuyển, hệ giãnđiểm ảnh hưởng nhiều đến việc dạy và học
-Về chương trình đào tạo đã được cải tiến, nhưng nội dung lý thuyết còn nhiều,nặng về dạy kiến thức, thiếu về dạy kỹ năng
- Giáo trình, tài liệu giảng dạy, đặc biệt là giáo trình chuyên ngành chủ yếu sửdụng các các trường đào tạo cùng ngành khác nên nhiều nội dung chưa cập nhật vàchưa sát với đối tượng học
- Về cơ sở vật chất đã được đầu tư khá lớn như thư viện điện tử, phương tiệngiảng dạy, nhưng hoạt động duy trì, bảo dưỡng, nâng cấp chưa được tiến hànhthường xuyên
- Thiếu các mô hình đáp ứng tốt, rèn nghề, thực hành, thực tập nghề nghiệptrong trường, hoặc có nhưng mô hình tốt nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao
2.2 Đặc điểm sinh viên ngành Quản trị nhân lực
Ở tất cả các chương trình đào tạo, ngành QTNL ở ĐHNVHN đều có sức thu hútlớn đối với người học, điều đó được thể hiện qua bảng quy mô tuyển sinh sau:
Trang 27Bảng 2.1 Quy mô tuyển sinh của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Năm
Số hồ sơ dự thi/
nguyện vọngvào ngành
Quy môtuyển sinh
(Nguồn: Phòng Quản lý Đào tạo - Trường Đại học Nội vụ Hà Nội)
Tính đến năm 2017, ngành QTNL đã được đào tạo bậc cao đẳng ở ĐHNVHN
10 năm (2007 - 2017) và 5 năm ở bậc đại học (2012 - 2017) với quy mô đào tạo ngàycàng tăng và chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao
Nhờ đội ngũ giảng viên có kiến thức chuyên môn giảng dạy các bạn sinh viên
dễ tiếp thu bài giảng phục vụ cho việc tự học tốt hơn Nhiều bạn sinh viên ngành Quảntrị nhân lực được học bổng, đạt giải trong các cuộc thi về NCKH cấp trường, Khoa,…Ngoài ra các bạn sinh viên còn rất năng động tham gia các các hoạt động ngoại khóanhưng các bạn sinh viên đặt việc học là vấn đề “ưu tiên” hàng đầu của mình Qua quátrình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội các bạn sinh viên tốtnghiệp ngành Quản trị Nhân lực đã khẳng định năng lực của mình tại các cơ quan, tổchức hay các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước
2.3 Khảo sát về tự học của sinh viên ngành Quản trị nhân lực
2.3.1 Về nhận thức của sinh viên
Tự học có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học Đại học của sinh viên
Tự học nhằm phát huy tính tự giác học và nghiên cứu Việc tự học đối với sinh viên cóvai trò hết sức quan trọng vì nó đó góp phần giúp cho sinh viên rèn luyện khả năng tưduy và sáng tạo của cá nhân Hầu hết sinh viên ngành QTNL đều nhận thức rằng vấn
đề tự học là quan trọng khi áp dụng theo học chế tín chỉ
Nhóm đã tiến hành cuộc khảo sát nghiên cứu với sự tham gia của hơn 120 bạnsinh viên ngành Quản trị nhân lực gồm 22,7% các bạn sinh viên năm nhất, 45,2% sinhviên năm hai, 12,6% sinh viên năm 3 và 16,8% sinh viên năm cuối
Trang 28a, Rất quan trọng b, Quan trọng c, Bình thường d, Không quan trọng
Biểu đồ 2.1 Thể hiện nhận thức về vấn đề tự học của sinh viên
Qua biểu đồ, có thể thấy rằng phần đông các bạn sinh viên đã nhận thức đượcvai trò của việc tự học theo hình thức đào tạo theo tín chỉ của ngành trị Nhân lực tạiTrường Đại học Nội vụ Hà Nội là rất quan trọng Tuy nhiên vẫn còn một số nhỏkhoảng 4% các bạn sinh viên cho rằng điều này là quá nhiều thời gian Và các bạnmuốn các thầy cô giành nhiều thời gian giảng dạy để dễ tiếp thu bài học hơn
Biểu đồ 2.2: Thể hiện mục đích học tập của các bạn sinh viên
Nhận thức được việc tự học, nhưng nhiều bạn chưa nắm được mục đích củaviệc học của bản thân mình cũng giống như việc các bạn chưa xác định tương lai chomình vậy Có 25% các bạn sinh viên trả lời rằng học để có tâm bằng tốt nghiệp ra
Trang 29trường như vậy là các bạn không xây dựng định hướng cho tương lai của chính cácbạn Một số bạn sinh viên còn trả lời học cho bố mẹ chứ không phải cho chính bảnthân Đây là một vấn đề cực kì quan trọng đối với thế hệ tương lai sau này
2.3.2 Về phương pháp tự học của sinh viên:
Khi tự học sinh viên có thể chủ động được quỹ thời gian mà không bị ràngbuộc, có thể học bất cứ lúc nào Từ đó giúp sinh viên nắm kiến thức vững chắc và cóthể hiểu sâu và nhớ kỹ hơn các vấn đề (tự học nên nhớ lâu hơn)
Việc tự học giúp cho sinh viên có thể tiếp thu tốt bài giảng trên lớp hay củng cốlại các kiến thức đã học, mở mang thêm nhiều kiến thức mới qua sách vở và mạngInternet phục vụ cho chuyên ngành nghiên cứu, nâng cao kỹ năng làm việc nhóm, tạomôi trường học tập tiến bộ và tiên tiến,…
Nhóm tiến hành khảo sát các phương pháp tự học của sinh viên ngành Quản trịnhân lực tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội và thu về kết quả như sau:
Các phương pháp tự học của các bạn sinh viên
Thường xuyên Thỉnh thoảng Chưa bao giờ
2 Đọc bài trước khi đến lớp 14,2 % 74, 5 % 11,3 %
3 Lên thư viện học bài 7,9 % 55,4 % 38,6 %
4 Đọc thêm nhiều sách tham khảo,
nâng cao ngoài giáo trình và sách
thầy cô yêu cầu
9,9 % 73,3 % 19,8 %
5 Vạch kế hoạch học tập trước mỗi
kì, mỗi năm
30,7 % 57,4 % 16,8 %
6 Sử dụng sơ đồ tư duy (mind
mapping, SQR3, đọc nhanh, ghi
nhận siêu tốc…)
21,8 % 49,5 % 32,7 %
7 Ôn lại kiến thức đã học 28,7 % 69,3 % 5,9 %
Bảng 2.2: Các phương pháp tự học của các bạn sinh viên
Qua bảng thống kê trên, hình thức tự học được sinh viên lực chọn nhiều nhất là
Trang 30hình thức
học nhóm với mức độ thỉnh thoảng 77,2 %; đọc bài trước khi đến lớp; vạch kếhoạch học tập trước mỗi kì, mỗi năm với mức độ thường xuyên là 30,7%; ôn lại kiến thức đãhọc Hình thức tự học ít được sinh viên sử dụng là: lên thư viện học bài với mức độ thườngxuyên là 7,9 % và chưa bao giờ là 38,6 % và sử dụng sơ đồ tư duy (mind mapping, SQR3,đọc nhanh, ghi nhận siêu tốc…) với mức độ chưa bao giờ 32,7 %
Biểu đồ 2.3: Thể hiện khoảng thời gian sinh viên bỏ ra cho việc tự học hàng ngày
Nhận thức được tầm quan trọng của việc tự học, 2 tiếng là khoảng thời gian mà
đa số các bạn sinh viên dành cho việc tự học Có nhiều bạn còn dành 3 tiếng mỗi ngày
và thậm chí là nhiều hơn nữa Đây là khoảng thời gian khá lí tưởng cho việc tự họcmỗi ngày của các bạn sinh viên
Phương pháp tự học tiếp theo đó chính là: Phương pháp học nhóm
Chưa bao giờ
Biểu đồ 2.4: Thể hiện phương pháp học nhóm
Trong thời đại hiện nay, khi khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển thì yêu cầu
Trang 31làm việc theo nhóm là cần thiết hơn bao giờ hết Đơn giản vì không ai hoàn hảo, làmviệc nhóm có thể tập trung những mặt mạnh của từng người và bổ sung, hoàn thiệncho nhau những điểm yếu
Tuy nhiện việc áp dụng phương pháp tự học này của các bạn sinh viên ngànhQTNL chưa thực sự có hiệu quả Chỉ có 16% các bạn sinh viên thường xuyên áp dụngphương pháp này Điều đáng lo ngại hơn cả đó là có đến 11,3% các bạn sinh viên chưabao giờ sử dụng phương pháp này
Đây là phương pháp giúp các bạn sinh viên hoàn thiện kiến thức và kĩ năng, làphương pháp tự học hiệu quả, nhưng các bạn sinh viên chưa thực sự chú ý và hiểu vềphương pháp này
Biểu đồ 2.5: Thể hiện mức độ đọc bài trước khi đến lớp
Việc học bài khi đến lớp giúp các bạn sinh viên nhanh chóng bắt kịp kiến thứcgiảng viên dạy và đem đến nhiều mặt tích cực như:
1 Tận dụng tối đa thời gian trên lớp
2 Nắm được chủ đề của bài và những điều khó hiểu trong bài
3 Tự tin tham gia vào các hoạt động chung trên lớp
4 Làm việc theo nhóm hiệu quả
5 Thể hiện sự tôn trọng của bạn đối với giáo viên hướng dẫn bạn
Qua đó ta có thể thấy được những hiệu quả của việc chuẩn bị, đọc bài trước khiđến lớp
Tuy nhiên các bạn sinh viên rất hạn chế sử dụng phương pháp này chỉ có 14.2%
Trang 32các bạn sinh viên thường xuyên, có đến 74.5% các bạn sinh viên chỉ thỉnh thoảng sựdụng phương pháp này Con số còn lại, các bạn sinh viên không sử dụng đến cách thức
tự học này bao giờ
Đây quả là những con số dáng lo ngại cho việc chuẩn bị bài trước khi đến lớpcủa các bạn sinh viên
Phương pháp tự học khác rất hiệu quả đó là lên thư viên học bài
Có đến 38.6% các bạn sinh viên chưa bao giờ lên thư viện học bài, tham khảo
và đọc những cuốn sách hay trên thư viện Chỉ có 7,9% các bạn sinh viên thườngxuyên lên thư viện Đây quả là những con số rất đáng quan ngại Điều này một phầnnào nói lên việc áp dụng phương pháp tự học của các bạn sinh viên chưa tích cực
Ngoài những giáo trình mà các thầy, cô giáo yêu cầu, các bạn sinh viên có thểđọc thêm các loại sách tham khảo
Qua sự khảo sát của nhóm nhận thấy rẳng các bạn sinh viên càng ngày càng
“lười” đọc sách Đọc nhiều sách tham khảo sẽ giúp bổ sung kiến thức, nâng cao các kỹnăng
Ngoài ra các bạn sinh viên sử dụng một số phương pháp tự học như: Sử dụng
sơ đồ tư duy và vạch ra kế hoạch học tập trước mỗi kì, mỗi năm Những phương phápnày, chỉ một số ít các bạn sinh viên áp dụng
Qua khảo sát thu về kết quả rất bất ngờ, số lượng sinh viên ngành QTNL tạiTrường Đại học Nội vụ Hà Nội áp dụng những phương pháp tự học rất ít và khôngthường xuyên thậm chí có những bạn chưa thực hiện những phương pháp này bao giờ.Điều này chính là những thách thức đối với đội ngũ cán bộ, giảnh viên của Nhàtrường Cần tìm ra những biện pháp khắc phục tình trạng này
2.3.3 Về hiệu quả tự học của sinh viên
Như vừa nêu ở phần các phương pháp tự học, rất ít các bạn sinh viên ngànhQTNL áp dụng các phương pháp tự học một cách thường xuyên, thậm chí có nhữngbạn chưa bao giờ thực hiện phương pháp tự học nào Đây là vấn đề rất đáng quan ngạitrong việc tự học Bởi việc tự học thì yêu cầu lớn nhất của nó chính là việc các bạnsinh viên phải có ý thức tự học, chủ động trong việc học của mình
Trang 33Biểu đồ: Thể hiện mức độ hoàn thành kế
hoạch học tập của sinh viên
Biểu đồ 2.6: Thể hiện mức độ hoàn thành kế hoạch của sinh viên.
Nhận thức được việc tự học rất quan trọng, nhưng các bạn sinh viên chưa ápdụng một cách hợp lý và đúng phương pháp tự học Các kế hoạch tự học đề ra gần nhưkhông hoàn thành, đa số chỉ thực hiện được một thời gian đầu
Qua những số liệu mà nhóm đã khảo sát được có thể thấy rằng các bạn sinhviên ngành QTNL có hiệu quả tự học không được cao
2.4 Đánh giá hiệu quả tự học của sinh viên
2.4.1 Ưu điểm và nguyên nhân
Đi đôi với việc xây dựng đổi mới chương trình đào tạo, nâng cao chất lượnggiáo trình là yêu cầu đổi mới cơ bản phương pháp dạy – học Định hướng cơ bảntrong đổi mới phương pháp giảng dạy theo học chế tín chỉ là tích cực chuyển từ lốitruyền đạt kiến thức một chiều từ phía giảng viên sang việc tăng cường tổ chức cáchoạt động học tập cho sinh viên, phát huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, rènluyện kỹ năng thực hành, bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viênngành QTNL
* Thuận lợi:
- Sinh viên phát huy được tính chủ động và sáng tạo trong việc tự học.
- Giảng dạy những vấn đề chủ chốt của môn học, yêu cầu sinh viên mở rộngnhững thông tin liên quan khi áp dụng thực tế
- Cung cấp, gợi ý một số ý tưởng cho sinh viên học hỏi và tìm kiếm thông tin
- Cung cấp những tài liệu chuyên ngành cho sinh viên tham khảo, gợi ý cho
Trang 34sinh viên nghiên cứu một số chủ đề có liên quan.
* Nguyên nhân:
- Các phương pháp tự học mà các bạn sinh viên áp dụng đúng cách và hiệu quả
- Các bạn sinh viên đã áp dụng hiệu quả phương pháp tự học
- Không có hiệu quả đối với các sinh viên thiếu tinh thần tự giác
- Lớp quá đông nên không có đủ thời gian để phân chia thành từng nhóm nhỏ(2-3 SV/nhóm) để tham gia học tập theo phương pháp báo cáo chuyên đề
- Hầu hết các môn học đều áp dụng phương pháp báo cáo chuyên đề, chính vìthế sinh viên bị quá tải trong việc hoàn thành các chuyên đề cho từng môn học
- Tài liệu chuyên ngành bằng tiếng Việt còn hạn chế
- Giảng viên đưa ra các chủ đề, sinh viên ít khi được chủ động đề xuất vấn đềmình quan tâm, để đầu tư nghiên cứu
* Nguyên nhân:
- Các bạn sinh viên không có tinh thần tự giác trong vấn đề tự học
- Chưa được hướng dẫn cách học, phương pháp tự học sao cho hiệu quả tốtnhất
- Các phương tiện thông tin, giải trí như: Điện thoại, tivi, game, internet,facebook làm mất rất nhiều thời gian (76,2%)
- Bị mất tập trung khi học 70, 3 % sinh viên nói rằng mình hay mất tập trungkhi học
- Việc tìm tài liệu có khó khăn ( 77,2 %)
- Cơ sở vật chất của nhà trường chưa đáp ứng được trong quá trình học ( 59,4