MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN LỜI CAM ĐOAN MỞ ĐẦU 1 1. Lí do chọn đề tài. 1 2. Lịch sử nghiên cứu. 1 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi giới hạn nghiên cứu của đề tài 2 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2 5. Phương pháp nghiên cứu 3 6. Giả thuyết khoa học 3 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 3 8. Cấu trúc của đề tài 3 CHƯƠNG 1.LỊCH SỬ VỀ BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA Ở VIỆT NAM 4 1.1. Khái niệm 4 1.2. Đặc điểm 4 1.3 Lịch sử hình thành biểu tượng quốc gia 5 1.3.1 Quốc kỳ 5 1.3.2 Quốc huy 10 1.3.3 Quốc ca 15 1.3.4. Quốc hiệu 19 TIỂU KẾT : 25 CHƯƠNG 2.HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 26 2.1. Hệ thống biểu tượng Quốc gia của Nhật Bản 26 2.2. Hệ thống biểu tượng quốc gia của Lào 27 2.3. Hệ thống biểu tượng quốc gia của Đức 29 2.4. Hệ thống biểu tượng quốc gia của Australia 30 2.5. Hệ thống biểu tượng quốc gia của Mỹ 32 TIỂU KẾT: 33 CHƯƠNG 3.ĐÁNH GIÁ VIỆC SỬ DỤNG CÁC BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA HIỆN NAY 34 3.1. Sử dụng quốc kỳ Việt Nam hiện nay 34 3.2. Sử dụng Quốc huy Việt Nam hiện nay 38 3.3 Sử dụng Quốc hiệu Việt Nam hiện nay 40 3.4. Sử dụng Quốc ca Việt Nam hiện nay 41 TIỂU KẾT: 41 KẾT LUẬN 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bài Tiểu luận về đề tài: “Đánh giá về tình hình sử dụng các biểu tượng quốc gia của Việt Nam” Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo bộ môn “ Nghi thức Nhà nước” Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội
đã giảng dạy và hướng dẫn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu đề tài
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo Ths Đinh Thị Hải Yến, làgiảng viên trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn chu đáo, tận tình giúp tôi hoànthành bài Tiểu luận này
Mặc dù đã cố gắng để thực hiện tốt đề tài một cách hoàn chỉnh và hiệuquả nhất Xong do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu về đề tài nàycũng như hạn chế về kinh nghiệm và kiến thức không thể tránh khỏi những thiếuxót mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quýThầy, Cô giáo cũng như bạn đọc để bài Tiểu luận được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và Các nộidung nghiên cứu và kết quả này là trung thực
Và trong quá trình nghiên cứu có tham khảo và sử dụng một số nộidung , nhận xét, đánh giá của các tác giả và cơ quan tổ chức khác đều có ghinguồn gốc,chú thích rõ ràng
Nếu có bất kỳ sự gian lận nào trong quá trình nghiên cứu tôi xin chịuhoàn toàn trách nhiệm
Trang 3MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 1
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi giới hạn nghiên cứu của đề tài 2
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 3
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 3
8 Cấu trúc của đề tài 3
CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ VỀ BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA Ở VIỆT NAM 4
1.1 Khái niệm 4
1.2 Đặc điểm 4
1.3 Lịch sử hình thành biểu tượng quốc gia 5
1.3.1 Quốc kỳ 5
1.3.2 Quốc huy 10
1.3.3 Quốc ca 15
1.3.4 Quốc hiệu 19
TIỂU KẾT : 25
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 26
2.1 Hệ thống biểu tượng Quốc gia của Nhật Bản 26
2.2 Hệ thống biểu tượng quốc gia của Lào 27
2.3 Hệ thống biểu tượng quốc gia của Đức 29
2.4 Hệ thống biểu tượng quốc gia của Australia 30
2.5 Hệ thống biểu tượng quốc gia của Mỹ 32
TIỂU KẾT: 33
Trang 4CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ VIỆC SỬ DỤNG CÁC BIỂU TƯỢNG QUỐC
GIA HIỆN NAY 34
3.1 Sử dụng quốc kỳ Việt Nam hiện nay 34
3.2 Sử dụng Quốc huy Việt Nam hiện nay 38
3.3 Sử dụng Quốc hiệu Việt Nam hiện nay 40
3.4 Sử dụng Quốc ca Việt Nam hiện nay 41
TIỂU KẾT: 41
KẾT LUẬN 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài.
Trong thời đại Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước , chúng ta đangmải mê đi xây dựng và phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa… mà đôi khi cónhiều người quên đi và không biết đến nguồn gốc lịch sử , các biểu tượng Quốcgia, các yếu tố cấu thành nên Quốc thể nó là gì? nó như thế nào? và nó xuất hiệnphát triển ra làm sao? Bác Hồ đã nói “ dân ta phải biết sử ta, cho tường tích gốc
nước nhà Việt Nam”, cho nên việc tìm hiểu lịch sử dân tộc nói chung và “tìm
hiểu lịch sử các biểu tượng quốc gia Việt Nam” nói riêng là hết sức quan trọng
đối với mỗi công dân đất Việt , đặc biệt là những thế hệ trẻ, những chủ nhântương lai của đất nước Hơn thế nữa, không chỉ biết về lịch sử Nước nhà mà cònphải trang bị cho mình những kiến thức sâu rộng hơn về thế giới bên ngoài như
việc “giới thiệu hệ thống biểu tượng quốc gia của một số nước trên thế giới”.
Vậy thì chủ đề này sẽ giúp chúng ta đi sâu và hiểu rõ hơn về việc “Đánh giá
việc sử các biểu tượng quốc gia của Việt Nam “
2 Lịch sử nghiên cứu.
Về lịch sử Việt Nam thì có rất nhiều những nhà nghiên cứu quan tâm và
khai thác Nhưg “Đánh giá việc sử dụng các biểu tượng quốc gia Việt Nam”
nhìn chung chưa có nhiều nghiên cứu Đa số là các bài viết, đề tài trên các tạpchí chuyên ngành, hội thảo liên quan và các văn bản quy phạm pháp luật, vănbản áp dụng quy phạm pháp luật như:
- Điều lệ số 973-Ttg của Thủ Tướng Chính phủ ngày 21 tháng 7 năm
1956 về việc dùng Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc hiệu, Quốc huy nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
- Hướng dẫn 3420/ HD-BVHTTDL ngày 02 tháng 10 năm 2012 về việc
sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh
- “Vài suy nghĩ về giọng nói và biểu tượng quốc gia” của tác giả Xuân
Dương (2014)
- “Giáo trình môn Nghi thức nhà nước” (NXB THỐNG KÊ 2001) của
Trang 6TS Lưu Kiếm Thanh
- “Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới” (NXB CHÍNH
TRỊ QUỐC GIA) của TS Nguyễn Minh Tuấn
- “Môn nghi thức nhà nước – Ngữ văn” (Thư viện giáo án điện tử) của
Đinh Thùy Dương
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi giới hạn nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Lịch sử các biểu tượng quốc gia Việt Nam và giới thiệu biểu tượng quốcgia của 5 nước cụ thể trên thế giới: Nhật Bản, Lào, Hoa Kỳ, Đức và Australia
3.2 Phạm vi giới hạn nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đề tài trong phạm vi quốc gia Việt Nam và giới thiệu sơ qua
về biểu tượng của 5 Quốc gia: Lào, Nhật Bản, Đức, Hoa Kỳ và Australia
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
sử nước nhà cũng là cách thể hiện lòng yêu nước, biết “tường gốc tích” là thểhiện trách nhiệm cao với tổ tiên, với nòi giống, với quốc gia
Ngoài ra nghiên cứu đề tài còn cung cấp tài liệu , cơ sở cho bạn đọc có thểtiếp cận dễ dàng hơn, tạo ra cái sự phong phú về số lượng nhưng vẫn giữ đượctính hiệu quả và tính chính xác
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Là một người con của dân tộc, là một sinh viên ngành quản trị VănPhòng Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội cần phải có khối kiến thức đủ, hoàn
thành chương trình giáo dục về “Nghi thức nhà nước” nói chung và lịch sử biểu
tượng của quốc gia nói riêng, chúng ta cần phải nghiên cứu đề tài để hiểu rõ hơn
về biểu tượng của dân tộc cũng như cần phải tiếp thu và hiểu rộng hơn nữa đối
Trang 7với văn hóa, biểu tượng của các nước khác trên thế giới Hơn nữa chúng tanghiên cứu đề tài không những để hoàn thành trong chương trình giáo dục,không những để mình chúng ta biết rõ mà còn để mọi người trên đất nước đều
có thể biết về lịch sử biểu tượng quốc gia, nét truyền thống của dân tộc
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã được sử dụng khá là nhiều phươngpháp để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu như: phương pháp quan sát, phương phápđiều tra, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp thu thập và xử lí thôngtin và sử dụng một số tài liệu để phục vụ cho công tác nghiên cứu đề tài
6 Giả thuyết khoa học
Đi đôi với chiều dài lịch sử, thì các biểu tượng của quốc gia Việt Nam nóichung và các Nước khác nói riêng là một phần trong lịch sử của mỗi đất nước.Nhưng đến hiện nay thì nguồn tài liệu về vấn đề này chưa được nhiều các tác giả
đi sâu, tuy là vẫn có những nhà nghiên cứu đi trước nhưng chưa làm đa dạngnguồn tài liệu về vấn đè này Có lẽ một phần do trong tính lịch sử của Dân tộcmỗi quốc gia có rất nhiều nội dung, mà họ chưa thể đi nghiên cứu tới vấn đềnày Hay có thể một phần nhỏ trong lịch sử của mỗi quốc gia chưa có sự nghiêncứu chính xác, chưa thể đưa ra được những tài liệu, kết quả cuối cùng
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu về vấn đề trọng tâm
và các vấn đề có liên quan Giúp cho mọi người, bạn đọc và bản thân ngườinghiên cứu đề tài nắm bắt và hiểu rõ hơn về yêu cầu, nội dung của đề tài nghiêncứu Bỏ túi được một phần hệ thống kiến thức, tính học hỏi, tiếp thu nhữngnguồn tri thức phong phú trong lịch sử
8 Cấu trúc của đề tài
Chương 1 Lịch sử các biểu tượng quốc gia của Việt Nam
Chương 2 Hệ thống biểu tượng quốc gia của một số nước trên thế giới
Chương 3 Đánh giá việc sử dụng biểu tượng quốc gia hiện nay
Trang 8+ Quốc hiệu là tên gọi chính thức của một quốc gia.
+ Quốc kì là loại cờ được dùng làm biểu trưng cho một quốc gia, nhữngcông trình công cộng và tư nhân như trường học và cơ quan nhà nước , chínhphủ thường treo quốc kỳ ở một số nước quốc kỳ chỉ được treo ở những côngtrình phi quân sự vào những ngày cụ thể Có ba loại quốc kỳ phân biệt để sửdụng trên đất liền và ba loại sử dụng trên biển, mặc dù nhiều nước sử dụng cùngmột kiểu thiết kế cho vài ( đôi khi tất cả) các loại cờ
+ Quốc ca là một bài hát chính thức, ái quốc khơi gợi và tán dương lịch sửtruyền thống và đấu tranh của nhân dân quốc gia đó được dúng trong các nghi lễtrang trọng
+ Quốc huy là một trong những biểu tượng của quốc gia, bên cạnh Quốc
kì , Quốc ca và Quốc hiệu là một biểu hiện chế độ hình ảnh đặc trưng của quốcgia đó Quốc huy thường được sử dụng trên các ấn phẩm quốc gia như : tiền tệ,
hộ chiếu, giấy tờ…
1.2 Đặc điểm
+ Không thể thiếu được quốc gia , dân tộc
+ Mang đặc điểm riêng biệt của quốc gia dân tộc
+ Thể hiện được chủ quyền của các quốc gia
+ Cấu thành nên quốc thể
+ Là hình ảnh đại diện của mỗi quốc gia trong quan hệ quốc tế và là biểu
Trang 9hiện tính chính thức trong quan hệ giữa nhà nước với công dân và các tổ chức.
+ Là biểu trưng đặc trưng của mỗi quốc gia, thể hiện tinh thần tự tôn dântộc và bẳn sắc văn hóa đặc trưng của mỗi quốc gia
+ Là sự kết tinh các giá trị văn hóa, xã hội và chính trị của một quốc giađược khái quát hóa thông qua các phương tiện như : âm nhạc , hội họa hay ngônngữ
1.3 Lịch sử hình thành biểu tượng quốc gia
1.3.1 Quốc kỳ
a Sự ra đời của Quốc kỳ Việt Nam:
Quốc kỳ Việt Nam hiện nay được công nhận chính thức từ
1976, là lá cờ đại diện cho nước Việt Nam thống nhất
Lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc khởinghĩa Nam Kỳ chống thực dân Pháp (23-11-1940) Tác giả sángtạo ra lá cờ nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh này làđồng chí Nguyễn Hữu Tiến (sinh ngày 5-3-1901 tại Hà Nam.Tâm huyết của tác giả khi sáng tạo ra lá cờ Tổ quốc được khắchọa rõ nét trong bài thơ của ông
Hỡi những ai máu đỏ da vàng Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc Nền cờ thắm máu đào vì nước
Sao vàng tươi, da của giống nòi Đứng lên mau hồn nước gọi ta rồi Hỡi sỹ nông công thương binh Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh
Tháng 5-1941 tại Khui Nậm, Cao Bằng, Lãnh tụ Hồ ChíMinh chủ trì hội nghị Trung ương VIII quyết định thành lập tổchức Việt Nam độc Lập đồng minh - đoạn mở đầu chương trìnhViệt Minh ghi rõ: "Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp, Nhật, sẽ lậpnên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa,lấy cờ đỏ sao vàng 5 cánh làm Quốc kỳ" Đây là văn bản đầu
Trang 10tiên, chính thức quy định Quốc kỳ của nước Việt Nam là cờ đỏsao vàng.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Quốc hộikhóa đầu tiên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đãghi vào Hiến pháp: "Quốc kỳ Việt Nam dân chủ cộng hòa hìnhchữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa
có ngôi sao vàng năm cánh"
Sau ngày 30-4-1975, miền Nam được hoàn toàn giảiphóng, non sông Việt Nam đã liền một dải Từ ngày 24-6 đến 3-7-1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất họp tại Thủ đô HàNội, đã thông qua nhiều Nghị quyết quan trọng, trong đó côngnhận Lá cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam
b Ý nghĩa của lá cờ đỏ sao vàng :
Nền đỏ tượng trưng cho cách mạng, màu vàng là màutruyền thống tượng trưng cho dân tộc Việt Nam, và năm cánhsao tượng trưng cho năm tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binhcùng đoàn kết trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Lá cờ đỏ sao vàng năm cánh - đó là hồn nước, là niềm tựhào, là biểu tượng thiêng liêng bất khả xâm phạm của bản sắcdân tộc Việt Nam
c Quốc kỳ Việt Nam qua các thời kỳ:
Long Tinh Kỳ (1802-1885) : Quốc Kỳ nguyên thủy của triều đình Nhà Nguyễn
Đối chiếu với các tài liệu được tham
khảo thì lá quốc kỳ đầu tiên trong thời nhà
Nguyễn đã được đặt tên bằng tiếng Hán là
“Long Tinh Kỳ” (Ghi chú cho tuổi trẻ Việt
Nam: Ý nghĩa của các chữ Hán như sau: Kỳ là
Trang 11cờ Long là Rồng, biểu tượng cho hoàng đế, có màu vàng Râutua màu xanh dương chung quanh tượng trưng cho Tiên vàcũng là màu đại dương, nơi Rồng cư ngụ Tinh có nghĩa là ngôisao trên trời, mà cũng có nghĩa là màu đỏ Màu đỏ còn biểutượng cho phương Nam và cho lòng nhiệt thành Long Tinh Kỳ là
Cờ Rồng có chấm Đỏ viền tua xanh, biểu hiệu cho một dân tộc
có nguồn gốc Rồng Tiên ở phương Nam vùng nhiệt đới)
Trang 12 Đại Nam Quốc Kỳ (1885-1890)
Đây là hình lá cờ Đại Nam của triều
đình Đồng Khánh, được tìm thấy qua tài liệu
của người Tây phương
Quốc kỳ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ dưới hai triều đại Kháng Pháp 1890 – 1920
Sự kiến tạo lá quốc kỳ mới ấy có nhiều ý nghĩa vô cùngquan trọng:
- Thể hiện ý chí đấu tranh, bác bỏ hiệp ước Quý Mùi, “chia
để trị” của thực dân Pháp, đã tao ra tình trạng Nam Kỳ thuộc
- Xác quyết sự toàn vẹn lãnh thổ của Đại Nam Quốc, ba miềnđều có tư thế chính trị giống nhau và bất khả phân trong nềntảng màu Vàng của dân tộc Việt ở phương Nam
- Nêu cao tinh thần “quốc gia dân tộc”, bằng cách đoạntuyệt với sự liên hệ của chữ Hán, cũng như thoát ly ra khỏi nềnbảo hộ Pháp và triều cống Tàu
Chính vì các ý nghĩa trên mà lá cờ Vàng còn được mệnhdanh là cờ “Quốc Gia” Như vậy, từ ngữ “quốc gia” có từ cuốithế kỷ 19, đối nghịch với “thuộc địa”, chớ không chỉ mới có vàobán thế kỷ 20 khi từ ngữ “cộng sản” xuất hiện
Trang 13 Cờ Bắc Trung Kỳ trong thời miền Nam thành thuộc địa Pháp
Long Tinh Kỳ (1920 – 10 Mar, 1945) Nền
vàng Một sọc đỏ lớn Biểu tượng cho Bắc và
Trung kỳ mà thôi
10-3-45 là ngày cáo chung của chế độ bảo hộ
Pháp
Lá cờ Vàng Một Sọc Đỏ, cũng được gọi là cờ “Long Tinh”, vì
nó biến thể từ Long Tinh Kỳ nguyên thủy trong mấy chục nămđầu của nhà Nguyễn Nền vàng có hình chữ nhật tương tự nhưquốc kỳ của các quốc gia khác Chấm đỏ được kéo dài ra thànhsọc đỏ ở giữa Tua xanh không còn nữa Đây là lá cờ biểu hiệucho một quốc gia chỉ còn hai miền Bắc và Trung, thuộc quyềnbảo hộ Pháp Lá cờ này trải qua đời vua Khải Định và tồn tạitrong đời vua Bảo Đại, sau khi vua Khải Định băng hà vào năm
1925 Sau khi lên ngôi vào đầu năm 1926 lúc mới 12 tuổi, vuaBảo Đại trao hết quyền cho “Hội Đồng Phụ Chính” với sự chỉ đạocủa Toàn Quyền Pháp rồi trở sang Paris tiếp tục học cho đến
1932 mới trở về chấp chính Lá cờ Long Tinh vẫn được tiếp tụcdùng làm biểu tượng của triều đình Huế, lúc bấy giờ chỉ cònthẩm quyền cai trị hai miền Bắc và Trung dưới sự bảo hộ củaPháp
Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa (miền Nam thuộc địa Pháp)
Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa (1923 – Mar 10, 1945)
Nền vàng
Cờ Tam Tài, màu xanh trắng đỏ nằm trên góc
trái
10-3-45: Nhật đảo chính Pháp
Cờ này tồn tại đến 10-3-45 thì cáo chung sau
khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương
Trang 14 Long Tinh Kỳ trong thời Nhật chiếm Đông Dương,
11 tháng 3, 1945 – Aug 1945
Long Tinh Đế Kỳ (11 Mar – 30 Aug, 1945)
Nền vàng, Sọc đỏ bằng 1/3 cờ 11-3-45: Bảo
Đại tuyên bố VN độc lập, Long Tinh Kỳ trở
thành Đế Kỳ 30-8-45: Bảo Đại thoái vị, Đế Kỳ cáo chung
Một ngày sau khi Nhật đảo chánh Pháp, vua Bảo Đại đăngđàn tại Huế vào ngày 11-3-45, tuyên bố hủy bỏ hòa ước QuýMùi 1883 và Giáp Thân 1884, Việt Nam thống nhất và độc lập,theo chế độ Quân Chủ tân thời như một số quốc gia TâyPhương, và ủy nhiệm cho học giả Trần Trọng Kim thành lậpchính phủ Sau đó, vua Bảo Đại phân định cho Long Tinh Kỳ trởlại cương vị của Đế Kỳ, chỉ treo nơi Hoàng Thành Huế hoặcmang theo những nơi vua tuần du Long Tinh Đế Kỳ cũng tương
tự như Long Tinh Quốc Kỳ trong thời Pháp bảo hộ, nhưng nềnvàng đậm hơn và sọc đỏ thu hẹp lại bằng 1/3 chiều cao lá cờ,
để tương xứng với cờ Quẻ Ly của chính phủ Trần Trọng Kim
Cờ Quẻ Ly của quốc gia Việt Nam trong thời Nhật chiếm Đông Dương
Cờ Quẻ Ly thời Nhật (11 Mar – 5 Sep,
1945)
Nền vàng, ba sọc đỏ, sọc giữa đứt khoảng hơi
giống hình Quẻ Ly Quốc kỳ chính thức thời
Nhật, đồng thời với Long Tinh Kế Kỳ
Để biểu trưng cho Quốc Gia trong chế độ Quân Chủ, BảoĐại ký sắc lệnh chấp thuận đề nghị của Thủ Tướng Trần TrọngKim, lấy lại quốc hiệu Việt Nam mà nhà Thanh đã chấp thuậntrong thời vua Gia Long, và sáng tạo ra một quốc kỳ mới Đó là
lá cờ có nền vàng tương tự như Long Tinh Đế Kỳ nhưng vạch đỏ
Trang 15được chia làm ba vạch nhỏ bằng nhau, riêng vạch giữa thì đứtkhoảng, tương tự như quẻ Ly, một quẻ trong bát Quái.
Cờ Đỏ Sao Vàng của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”
Cờ Mặt Trận Việt Minh (5 Sep, 1945 – 20
Dec, 1946) Nền đỏ, sao vàng, cạnh sao hơi
cong
5-9-45: Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 5 dùng cờ
Việt Minh làm Quốc Kỳ, thay thế cờ Quẻ Ly
20-12-46: Việt Minh rút vào bưng kháng chiến chống Pháp Cờ Việt Minh tạm mất tư thế Quốc Kỳ
- Trong suốt năm 1946, quân đội Pháp càng ngày càngchiếm ưu thế trên các cuộc đụng độ với quân đội Việt Minh Đến20-12-46, Pháp chiếm được Bắc Bộ Phủ, Hồ Chí Minh tuyên bốrút vào bưng kháng chiến Dần dần, Pháp chiếm đóng và kiểmsoát các thành phố, quận lỵ, và các làng xã đông dân; còn ViệtMinh thì đồn trú tại các vùng quê, rừng núi hẻo lánh Như vậy,
Cờ Đỏ Việt Minh bị xem như tạm thời mất tư thế “quốc kỳ” kể từngày 20-12-46 là ngày Pháp chiếm Bắc Bộ Phủ cho đến ngày20-7-1954 là ngày đất nước chia đôi và Việt Minh trở lại cầmquyền trên miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở lên
Cờ Vàng sọc Xanh của Chính Phủ
Lâm Thời “Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc”
Cờ Nam Kỳ Cộng Hoà Quốc (1 Jun, 1946
– 2 Jun, 1948) 1-6-46: Nam Kỳ CH Quốc trong
Liên Bang Đông Dương Nền vàng, ba sọc xanh, hai sọc trắng2-6-48: Bảo Đại lập Quốc Gia Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp, thống nhất ba miền
Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của “Việt Nam Quốc” và “Việt Nam Cộng Hòa”
Trang 16Cờ Vàng Quốc Gia VN (2 Jun, 1948 – 20
Jul, 1954) 2-6-48: Chính Phủ Trung Ương dùng
Cờ Vàng làm quốc kỳ giống như Đại Nam Kỳ
Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá I nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 2 tháng Ba
năm 1946 đã biểu quyết nhất trí cờ đỏ sao
vàng là Quốc kỳ của nước Việt Nam Cờ đỏ sao
vàng tồn tại từ đó cho đến nay
1.3.2 Quốc huy
a Sự ra đời của Quốc huy Việt Nam
Quốc huy Việt Nam (nguyên thủy là Quốc huy Việt NamDân chủ Cộng hòa) được Quốc hội Việt Nam khóa 1, kỳ họpQuốc hội thứ VI (từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 9 năm 1955),phê chuẩn từ mẫu quốc huy do chính phủ đề nghị Mẫu quốchuy này do họa sĩ Bùi Trang Chước vẽ mẫu và họa sỹ Trần VănCẩn chỉnh sửa
Năm 1976, khi Việt Nam thống nhất, mẫu quốc huy đượcsửa đổi về quốc hiệu (theo phê chuẩn của Quốc hội Việt Namkhóa VI)
b Ý nghĩa của Quốc huy Việt Nam
Quốc huy Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi saovàng năm cánh tượng trưng cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, cholịch sử cách mạng của dân tộc Việt và tiền đồ sáng lạn của quốcgia; bông lúa vàng bao quanh tượng trưng cho nông nghiệp;bánh xe tượng trưng cho công nghiệp và chính giữa, phía dưới
Trang 17là dòng chữ tên nước.
c Quá trình xác định tác giả của Quốc huy Viện Nam
Quốc huy Việt Nam - một sản phẩm của sáng tác hội hoạ,
là biểu tượng cô đọng, súc tích và đầy đủ về đất nước và conngười Việt Nam, nó hàm chứa khát vọng tha thiết của một dântộc yêu chuộng hoà bình và khẳng định chủ quyền thiêng liêngcủa quốc gia độc lập Quốc huy của chúng ta thật đẹp về hìnhthức, hàm súc về nội dung, thật sự không thua kém bất cứ quốchuy nào trên thế giới
Tác giả Quốc huy từ mấy chục năm nay được xác định làcủa Cố hoạ sĩ Trần Văn Cẩn Tuy nhiên, từ sau ngày 9 tháng 9năm 2001, khi hoạ sĩ Lê Lam có bài “Người vẽ Quốc huy” đăngtrên báo Nhân dân cuối tuần khẳng định: Hoạ sĩ Bùi TrangChước là người sáng tác và thực hiện các phác thảo Quốc huy Đặc biệt, khi gia đình cố hoạ sĩ Bùi Trang Chước gửi đơn thư tớicác cơ quan chức năng đề nghị xét công nhận tác giả Quốc huycho Ông Bùi Trang Chước với những tài liệu gốc do gia đình cóđược hoặc sưu tầm được thì vấn đề đòi hỏi xác định lại tác giảQuốc huy đã thật sự trở nên nóng bỏng và bức xúc Từ năm
2001 tới nay đã có hàng trăm bài báo, hàng chục cuộc họp củacác cơ quan chức năng với gia đình cố hoạ sĩ Bùi Trang Chước
để xem xét việc xác định tác giả Quốc huy Do vậy, một số tàiliệu lưu trữ bảo quản tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III và cảnhững tài liệu cá nhân của cố hoạ sĩ Bùi Trang Chước do giađình biếu tặng đã được đưa ra nghiên cứu, thẩm định Bài viếtnày đề cập sơ bộ đến quá trình sáng tác mẫu Quốc huy của cốhoạ sĩ Bùi Trang Chước và một số tài liệu hiện đang lưu giữ ởTrung tâm Lưu trữ quốc gia III (những tài liệu đã góp phần vàoviệc xác định tác giả Quốc huy Việt Nam)
Qua những tài liệu do gia đình gửi tặng Trung tâm LTQG
Trang 18III, có thể thấy một số tài liệu, tư liệu, hiện vật gốc của cố Hoạ sĩBùi Trang Chước để lại liên quan trực tiếp đến quá trình sángtác Quốc huy như:
- Di bút “Tôi vẽ mẫu Quốc huy” của hoạ sĩ Bùi TrangChước
- Văn bản 237/MT ngày 24/11/1954 của Ban Mỹ thuậtTrung ương gửi Bộ tuyên truyền do họa sĩ Trần Văn Cẩn ký;
- Toàn bộ 94 bản phác thảo chì thể hiện quá trình tìm tòi
và sáng tạo mẫu Quốc huy từ năm 1953 đến 1955;
- 15 mẫu Quốc huy thể hiện màu, đã được Ban Mỹ thuậtchọn trình Trung ương duyệt vào tháng 10 /1954
- 2 bản vẽ đen trắng (số 16, 17) đã thể hiện các bước chỉnhsửa để dẫn tới bản mẫu cuối cùng (số 18) và hai bản vẽ táchmàu đen trắng bản mẫu Quốc huy cuối cùng mà hoạ sĩ BùiTrang Chước sáng tác giữa năm 1955 chắt lọc từ 15 mẫu trướcđó
Theo Di bút “Tôi vẽ mẫu Quốc huy” của hoạ sĩ Bùi TrangChước viết ngày 26/ 4/1985, tiếp thu những ý kiến đóng góp củaChủ tịch Hồ Chí Minh vào mẫu vẽ số 1 - mẫu vẽ cuối cùng trong
số 15 mẫu vẽ; “Hình tượng cái đe là thủ công nghiệp cá thể,nên dùng hình tượng tượng trưng cho nền công nghiệp hiện đại”sau 3 lần chỉnh sửa, từ đầu năm 1955 đến tháng 9/1955, hoạ sĩBùi Trang Chước đã hoàn thành mẫu Quốc huy cuối cùng gồm 1bản màu và 2 bản tách màu đen trắng Về mẫu vẽ Quốc huycuối cùng này, trong Di bút của mình, Ông Bùi Trang Chướcviết: “Mẫu Quốc huy lần này tôi cũng vẽ hình tròn, chung quanh
2 bên có thêm những bông lúa kéo dài lên trên tiếp giáp vớinhau ở đỉnh trục đường vòng tròn, 2 bên vẫn giữ những bônglúa rủ xuống vào trong ôm lấy bánh xe thay cho cái Đe, ở phíadưới, giải lụa ở giữa có chữ “Việt Nam dân chủ cộng hoà”, hai
Trang 19đầu giải lụa vẫn quấn lên các bông lúa mỗi bên 2 đoạn, gốc cácbông lúa bắt chéo nhau tạo thành đế Quốc huy thót 2 đầu chogọn Phía bên trong nền là ngôi sao, dưới ngôi sao để trống chothoáng, không có mặt trời và tia chiếu sáng chung quanh Vềmàu sắc, riêng nền bên trong Quốc huy và giải lụa là màu đỏ,còn các hoạ tiết khác như các bông lúa, ngôi sao và bánh xeđều là màu vàng” Sau khi hoàn thành bản vẽ mẫu Quốc huycuối cùng này, do nhiệm vụ đặc biệt và tuyệt mật của Chínhphủ giao, ông lên đường sang Trung Quốc để vẽ tiền và in tiền.Chính vì vậy, Ông không có điều kiện chỉnh sửa, hoàn thiệnQuốc huy theo sự góp ý của Trung ương sau kỳ họp Quốc hộivào tháng 9/1955 Nhiệm vụ chỉnh sửa, hoàn thiện này sau đóđược giao cho hoạ sĩ Trần Văn Cẩn.
Một tài liệu lưu trữ rất quan trọng trong Phông Bộ Tuyêntruyền là Văn bản số 237/MT ngày 24/11/1954 do chính Hoạ sĩTrần Văn Cẩn phụ trách Ban Mỹ thuật - Ngành Văn nghệ Trungương ký, gửi Bộ Tuyên truyền, trong đó cũng khẳng định rõ 15mẫu mà Ban Mỹ thuật trình Bộ Tuyên truyền là của Họa sĩ BùiTrang Chước Văn bản nói rõ: “Khoảng trung tuần tháng 10/54,chúng tôi có gửi sang quí Bộ một số 15 mẫu quốc trưng để quí
Bộ đưa trình Thủ Tướng phủ xem và cho ý kiến quyết định.Chúng tôi chờ đợi đã lâu mà chưa có tin tức gì về việc đó Gầnđây Vụ Lễ tân bên Thủ Tướng phủ có cho người dục luôn nênchúng tôi cử hoạ sĩ Bùi Trang Chước, tác giả những mẫu ấy,sang đề nghị quý Bộ cho biết tin tức về các mẫu đã được chọn.Cũng đề nghị quí Bộ trao lại cho hoạ sĩ Chước những mẫu đã gửi
để đem về sửa lại và hoàn thành”
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đã cung cấp cho các cơquan chức năng và gia đình cố hoạ sĩ Bùi Trang Chước một tàiliệu quan trọng khác từ Phông Quốc hội Đó là hình mẫu Quốc
Trang 20huy mà Chính phủ đệ trình Quốc hội để thông qua tại kỳ họpthứ 5/1955 (Hồ sơ 18, trang 66) Tài liệu này trong quá trìnhthẩm định khoa học hình sự đã trở thành tài liệu gốc chuẩn để
so sánh đối chiếu với tài liệu của cố hoạ sĩ Bùi Trang Chước và
cố hoạ sĩ Trần Văn Cẩn
Sau nhiều công văn, cuộc họp của Ban Tư tưởng Văn hoáTrung ương, Văn phòng Chính phủ, Bộ Văn hoá - Thông tin, CụcBản quyền tác giả để giải quyết vấn đề xác định tác giả Quốchuy nhưng vẫn chưa có kết quả Nguyên nhân là do: về phía giađình cố hoạ sĩ Trần Văn Cẩn, Uỷ ban toàn quốc các hội văn họcnghệ thuật Việt Nam và một số hoạ sĩ căn cứ trên một số tàiliệu cho rằng hoạ sĩ Trần Văn Cẩn là tác giả Quốc huy Về phíagia đình cố hoạ sĩ Bùi Trang Chước, nhiều hoạ sĩ căn cứ trênnhững tài liệu, hiện vật gốc về Quốc huy mà gia đình có đượccũng như tài liệu khai thác từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III,cương quyết cho rằng tác giả Quốc huy Việt Nam không thể aikhác ngoài hoạ sĩ Bùi Trang Chước Chính do còn giữ được nhiềuvăn bản, tài liệu gốc, gia đình Hoạ sĩ Bùi Trang Chước đề nghịChính phủ cho phép thẩm định bằng khoa học hình sự những tàiliệu, hiện vật gốc liên quan đến Quốc huy Việt Nam Tháng6/2003 Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an đã chính thức tiếnhành công tác thẩm định và đã trả lời kết quả cho Cục Bảnquyền tác giả Ngày 28/10/2003 Cục Bản quyền tác giả đãthông báo chính thức kết quả giám định khoa học hình sự nhưsau: “Bản viết tay “Tôi vẽ mẫu Quốc huy” của cố hoạ sĩ BùiTrang Chước và bản viết tay “Chúng tôi làm Quốc huy” của cốhoạ sĩ Trần Văn Cẩn là do chính các cố hoạ sĩ viết”
Mẫu phác thảo Quốc huy số 18 của cố hoạ sĩ Bùi TrangChước (do gia đình cung cấp) có 04 chi tiết cơ bản giống vớimẫu Quốc huy Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà in trên trang
Trang 21bìa tài liệu có dòng chữ “Quốc hội họp khoá V tháng 9/1955” doTrung tâm Lưu trữ Quốc gia III cung cấp; gồm: hình bông lúa,ngôi sao, dải băng và phần gốc bó lúa;
Mẫu phác thảo Quốc huy của cố hoạ sĩ Trần Văn Cẩn (do
bà Trần Thị Hồng, người được hưởng thừa kế của cố hoạ sĩ TrầnVăn Cẩn và ông Triều Dương cung cấp) có 02 chi tiết cơ bảngiống với mẫu Quốc huy Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà intrên trang bìa tài liệu có dòng chữ “Quốc hội họp khoá V tháng9/1955 “do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III cung cấp ; gồm: hìnhngôi sao và bánh xe hình răng cưa”
Ba tuần sau đó, ngày 19/ 11/2003 bằng Văn bản số227/BQTG-VHNT, Cục Bản quyền tác giả cho rằng: “Kết quảgiám định đó không trái với các nguồn tư liệu, chứng cứ và các
ý kiến đã được các thành viên trong tổ Tư vấn và những người
có liên quan trao đổi, thảo luận Kết quả giám định cũng phùhợp với ý kiến của đa số thành viên của Tổ Tư vấn và ý kiến của
Bộ Văn hoá - Thông tin, làm rõ hơn căn cứ xác định tác giả Quốchuy Việt Nam Vì vậy Bộ Văn hoá - Thông tin cho rằng Quốc huyViệt Nam do đồng tác giả sáng tạo gồm cố hoạ sĩ Bùi TrangChước và cố họa sĩ Trần Văn Cẩn là kết luận thoả đáng và hoàntoàn có căn cứ Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin đã báo cáoThủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định”
Tất nhiên, sau đó gia đình cố hoạ sĩ Bùi Trang Chướckhông thoả mãn với kết luận đó và tiếp tục đề nghị xem xét lại.Ngày 9/02/ 2004, tại cuộc họp, sau khi nghe đại diện Bộ Vănhoá - Thông tin báo cáo, nghe ý kiến cuả các Phó Thủ tướng và
ý kiến của các đại biểu dự họp, Thủ tướng Phan Văn Khải đã có
ý kiến kết luận Ngày 27/02/2004 Văn phòng Chính phủ đã cóCông văn số 42/TB-VPCP thông báo ý kiến của Thủ tướng PhanVăn Khải tại cuộc họp về việc xác định tác giả vẽ mẫu Quốc huy
Trang 22Việt Nam như sau: “Việc xây dựng mẫu Quốc huy Việt Nam được thực hiện theo chủ trương của Bác Hồ, Đảng và Nhà nước
ta Mẫu Quốc huy Việt Nam là một cống hiến chung của giới mỹ thuật Cách mạng Việt Nam, trong đó phải kể đến công lao của hoạ sĩ Bùi Trang Chước - người đã vẽ những mẫu Quốc huy để làm cơ sở lựa chọn, hoàn thiện, và hoạ sĩ Trần Văn Cẩn - người
đã chỉnh sửa, hoàn thiện mẫu Quốc huy theo ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo để trình Quốc hội phê duyệt Giao Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin có văn bản báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
về vấn đề tác giả vẽ mẫu Quốc huy Việt Nam”.
1.3.3 Quốc ca
a Lịch sử ra đời Quốc ca Việt Nam
Mùa đông năm 1944, Văn Cao gặp Vũ Quý, một cán bộViệt minh, ở ga Hàng Cỏ Vũ Quý là người từng quen biết VănCao và đã động viên ông viết những bài hát yêu nước như Đống
Đa, Thăng Long hành khúc ca Vũ Quý đề nghị Văn Cao thoát
ly hoạt động cách mạng, và nhiệm vụ đầu tiên là sáng tác mộtbài hành khúc cho đội quân Việt Minh.Văn Cao viết bài hát đótrong nhiều ngày tại căn gác số 45 Nguyễn Thượng Hiền Ông
có viết lại trong một ghi chép tháng 7 năm 1976 như sau: " Tôichỉ đang làm một bài hát Tôi chưa được biết chiến khu, chỉ biếtnhững con đường Phố Ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ theothói quen tôi đi Tôi chưa gặp các chiến sĩ cách mạng của chúng
ta, trong khóa quân chính đầu tiên ấy, và biết họ hát như thếnào Ở đây đang nghĩ cách viết một bài hát thật giản dị cho họ
có thể hát Văn Cao nói rằng, tên bài hát và lời ca của nó là một
sự tiếp tục từ ca khúc Thăng Long hành khúc ca trước đó: "Cùngtiến bước về phương Thăng Long thành cao đứng" và bài ĐốngĐa: "Tiến quân hành khúc ca, thét vang rừng núi xa" Và ông
đã rút lại những ca từ trong bài hát đó thành Tiến quân ca
Trang 23Bài hát viết xong, Văn Cao gặp và hát cho Vũ Quý nghe.
Vũ Quý rất hài lòng, giao cho Văn Cao tự tay viết bài hát lên đá
in Và lần đầu tiên Tiến quân ca được in trên trang văn nghệ củabáo Độc Lập tháng 11 năm 1944 bằng bản in đá do chính VănCao viết Nguyễn Đình Thi khi nghe Văn Cao hát bài hát này, đãxúc động thật sự, và đề nghị mỗi người viết một bài hát nữa vềmặt trận Việt Minh Sau đó Nguyễn Đình Thi viết được bài Diệtphát xít, Văn Cao viết thêm bài Chiến sĩ Việt Nam, cả hai bài hátnày đều phổ biến rộng rãi trong công chúng
Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chínhthức duyệt Tiến quân ca làm quốc ca của nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa Ngày 17 tháng 8 năm 1945, trong cuộc mít tinhcủa nhân dân Hà Nội trước Nhà hát lớn, bài Tiến quân ca đãđược cất lên Cũng tại quảng trường Nhà hát lớn, ngày 19 tháng
8 năm 1945, trong cuộc mít tinh lớn, dàn đồng ca của Đội Thiếuniên Tiền phong đã hát bài Tiến quân ca chào lá cờ đỏ sao vàng
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Tiến quân ca chính thức được
cử hành trong ngày Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường BaĐình bởi Ban nhạc Giải phóng quân do Đinh Ngọc Liên chỉ huy.Trước ngày biểu diễn, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên và nhạc sĩ NguyễnHữu Hiếu đã bàn với Văn Cao thống nhất sửa hai chữ trong Tiếnquân ca, cụ thể là rút ngắn độ dài của nốt rê đầu tiên ở chữ
"Đoàn" và nốt mi ở giữa chữ "xác" làm cho bản nhạc khoẻkhoắn hơn
Năm 1946, Quốc hội khóa I đã quyết định chọn Tiến quân
ca làm quốc ca Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ViệtNam, tại điều 3 ghi rõ: "Quốc ca là bài Tiến quân ca" Năm
1955, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá I đã quyết định mời tác giảtham gia sửa một số chỗ về phần lời của quốc ca
Cho đến nay, bài hát có sửa đổi đôi ba chữ nhưng cơ bản
Trang 24vẫn là bài Tiến quân ca đã được Quốc hội khoá 1 thông qua làQuốc ca Bài Quốc ca cùng với lá Quốc kỳ, cờ đỏ sao vàng, làbiểu tượng đẹp và khó phai mờ đối với người Việt Nam
Lời 1:
Đoàn quân Việt Nam đi
Chung lòng cứu quốc,
Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa,
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,
Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca,
Đường vinh quang xây xác quân thù,
Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu,
Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,
Tiến mau ra sa trường.
Tiến lên! Cùng tiến lên!
Nước non Việt Nam ta vững bền.
Lời 2
Đoàn Quân Việt Nam đi
Sao vàng phấp phới
Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than
Cùng chung sức phấn đấu xây đời mới
Đứng đều lên gông xích ta đập tan
Từ bao lâu ta nuốt căm hờn
Quyết hy sinh đời ta tươi thắm hơn
Vì nhân dân chiến đấu không ngừng
Tiến mau ra sa trường
Tiến lên! Cùng tiến lên!
Nước non Việt Nam ta vững bền.
b Ý nghĩa của Quốc ca Việt Nam
Trong thời kỳ chiến tranh : lá cờ đỏ sao vàng và bài hát'Tiến quân ca' chỉ có một mục đích là cổ vũ tinh thần đấu tranh,
Trang 25khơi gợi lòng yêu nước của người Việt Nam cùng đứng lên giànhđộc lập.
Trong thời bình ngày nay: Quốc ca có vai trò làm xôi xụckhí thế yêu nước, vực dậy truyền thống hào hùng của dân tộc
Để các thế hệ sau này luôn nhớ về lịch sử của nước nhà, luôngiữ trong mình tinh thần yêu nước
d Quốc ca qua các thời kỳ của Dân tộc
Bản Quốc ca đầu tiên: Đăng đàn cung là một bản cổ
nhạc Việt Nam, hiện vẫn được sử dụng trong hầu hết các giáotrình dạy cổ nhạc và nhạc cụ cổ truyền Đây là bài nhạc nằmtrong nghi thức lễ tế Nam Giao, được dùng khi vua ngự đến đài
tế lễ Lễ tế Nam Giao, thực hiện ba năm một lần vào ngày đôngchí, là lễ quan trọng nhất trong nghi thức của triều đình, khi nhàvua thay mặt quốc dân làm lễ tế trời
Bài Đăng đàn cung được dùng cho nước Đại Nam, gồm
Trung kỳ và Bắc kỳ, chứ không dùng cho Nam kỳ vì Nam kỳ làđất thuộc địa, một lãnh thổ hải ngoại của Pháp
Khi được chọn làm quốc ca, bài Đăng đàn cung có lời bắt
đầu với:
Bên núi sông hùng vĩ trời Nam.
Đã bao đời vết anh hùng chưa hề tan.
Vì đâu máu ai ghi ngàn thu.
Còn tỏ tường bên núi sông.
Xác thân tan tành.
Vì nước quên mình.
Giai đoạn 1945-1954: Năm 1945, Nhật đảo chính
Pháp, chính quyền Nhật tuyên bố "trao trả độc lập" cho ViệtNam Chính phủ Đế quốc Việt Nam được thành lập, tuyên bốđộc lập trên danh nghĩa, và đổi quốc kỳ ra cờ
Sau Cách mạng tháng Tám, khi thành lập nước Việt Nam
Trang 26Dân chủ Cộng hòa thì bài Tiến quân ca được chọn làm quốc ca
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Điều này được ghi vào hiến phápngày 9 tháng 11 năm 1946
Trong khi đó, năm 1946, tại Nam kỳ, Pháp thành lập Nam
Kỳ quốc Chính phủ Nam kỳ Cộng hòa quốc được thành lập ngày
23 tháng 6 do Nguyễn Văn Thinh lãnh đạo Chính phủ này dùngquốc ca là một bài hát của giáo sư Võ Văn Lúa, lời dựa trên
đoạn đầu Chinh phụ ngâm khúc Chính phủ này tồn tại hai năm.
Năm 1948, chính phủ Quốc gia Việt Nam ra đời, với BảoĐại làm quốc trưởng và tướng Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng.Chính phủ này sau đó đã chọn bài Tiếng gọi thanh niên, đồngthời thay chữ "thanh niên" bằng chữ "công dân", thành bài
Tiếng gọi công dân, làm quốc ca
Giai đoạn 1954-1976: Năm 1954, hiệp định Genève
chia đất nước ra hai vùng tập kết quân sự Tại miền Bắc, chính
phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục dùng bài Tiến quân ca
làm quốc ca Tại miền Nam, chính phủ Quốc gia Việt Nam do
Bảo Đại làm quốc trưởng tiếp tục sử dụng bài Tiếng gọi công dân.
Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đượcthành lập Năm 1969, mặt trận thành lập Chính phủ Cách mạnglâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để đối chọi với Hoa Kỳ
và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa Chính phủ này sử dụng quốc
ca là bài Giải phóng miền Nam
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính phủ Việt Nam CộngHòa sụp đổ, bài Giải phóng miền Nam trở thành quốc ca cho cảmiền Nam trong nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam Cho tới khihai miền thống nhất ngày 2 tháng 7 năm 1976 thành nước Cộng
hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và quốc ca là Tiến quân ca.
1.3.4 Quốc hiệu
Trang 27a Sự hình thành Quốc hiệu
Chính thức trở thành Quốc hiệu từ cách đây hơn hai thế kỷ,hai tiếng "Việt Nam" ngày nay đã được sử dụng phổ biến, trởnên thiêng liêng và gần gũi Tuy nhiên, nguồn gốc, ý nghĩa vànhất là quá trình hình thành Quốc hiệu đó vẫn luôn là nhữngvấn đề lý thú hấp dẫn, được nhiều người quan tâm
Quan niệm phổ biến từ trước và nhiều kết quả nghiên cứugần đây thường khẳng định quốc hiệu Việt Nam xuất hiện từđầu thời Nguyễn, bởi vì chính sử của cả nước ta và Trung Quốcđều ghi nhận cụ thể việc này
Có từ năm 1802, nhưng phải đến năm 1804 Quốc hiệuViệt Nam mới được chính thức thừa nhận hoàn toàn về mặtngoại giao Giữa hai mốc thời gian này, có nhiều cuộc đi lại,tranh luận, hội đàm khá phức tạp giữa hai triều đình Nguyễn -Thanh, bởi vì nhà Nguyễn muốn lấy quốc hiệu nước ta là NamViệt như hồi các chúa Nguyễn khởi nghiệp, nên không bằng lòngngay với cách gọi Việt Nam của nhà Thanh Trong cuốn NướcĐại Việt Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, tác giả ngườiNhật Bản Yoshiharu Tusuboi căn cứ vào kết quả nghiên cứu củanhà Đông phương học Chusei Suzuki, cũng khẳng định điều đó:
"Năm 1803, có những cuộc thương thảo rất quan trọng về quốchiệu dưới triều Nguyễn: Nam Việt hay Việt Nam"
Sở dĩ nhà Thanh muốn Quốc hiệu nước ta là Việt Nam là vìhai lý do Thứ nhất, trong lịch sử Trung Quốc từng có Triệu Đànổi dậy cát cứ, lập ra nước Nam Việt, tự xưng là Hoàng đế cáctriều đại trung ương ở Trung Quốc đều không thừa nhận nướcNam Việt, nhà Thanh cũng vậy và không muốn bị gợi lại quákhứ kém hùng mạnh ấy Thứ hai (lý do này mới quan trọng!),Nam Việt - theo cách hiểu truyền thống - có thể gồm cả miềnđất nước ta và các xứ Việt Đông, Việt Tây (tức Quảng Đông,