1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế

155 223 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 19,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được vấn đề này trong thời gian qua công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện Phong Điền đã có những cách thức riêng nhằm mục tiêu quan tâm, chăm lo và tạo điều kiện tối đa n

Trang 1

NGUYỄN THỊ THÙY NHUNG

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO TRỢ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHONG ĐIỀN,

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Đà Nẵng- Năm 2017

Trang 2

NGUYỄN THỊ THÙY NHUNG

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO TRỢ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHONG ĐIỀN,

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Mã số: 60.31.01.05

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Võ Xuân Tiến

Đà Nẵng - Năm 2017

Trang 3

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thùy Nhung

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục của đề tài 4

6 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI 11

1.1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI 11

1.1.1 Một số khái niệm 11

1.1.2 Đặc điểm của công tác bảo trợ xã hội 17

1.1.3 Ý nghĩa của bảo trợ xã hội 17

1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO TRỢ XÃ HỘI 19

1.2.1 Tăng nguồn tài trợ cho bảo trợ xã hội 19

1.2.2 Mở rộng đối tượng bảo trợ xã hội 22

1.2.3 Mở rộng mạng lưới hoạt động bảo trợ xã hội 29

1.2.4 Mở rộng hình thức bảo trợ xã hội 30

1.2.5 Nâng cao chất lượng của công tác bảo trợ xã hội 35

1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BẢO TRỢ XÃ HỘI 36

1.3.1 Nhân tố kinh tế tác động đến công tác bảo trợ xã hội 36

1.3.2 Nhân tố phi kinh tế tác động đến công tác bảo trợ xã hội 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TRỢ XÃ HỘI TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 39

Trang 5

2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 39

2.1.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế 40

2.1.3 Đặc điểm về điều kiện xã hội 43

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TRỢ XÃ HỘI TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ THỜI GIAN QUA 47

2.2.1 Thực trạng về nguồn tài trợ bảo trợ xã hội 47

2.2.2 Thực trạng về đối tượng nhận bảo trợ xã hội 53

2.2.3 Thực trạng về mạng lưới hoạt động bảo trợ xã hội 63

2.2.4 Thực trạng về hình thức bảo trợ xã hội 64

2.2.5 Thực trạng về chất lượng bảo trợ xã hội 74

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO TRỢ XÃ HỘI TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ THỜI GIAN QUA 76

2.3.1 Thành công và hạn chế 76

2.3.2 Nguyên nhân hạn chế 80

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO TRỢ XÃ HỘI CHO HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ THỜI GIAN ĐẾN 83

3.1 CĂN CỨ XÂY DỰNG GIẢI PHÁP CHO CÔNG TÁC BẢO TRỢ XÃ HỘI 83

3.1.1 Căn cứ vào chiến lược phát triển KT-XH của huyện Phong Điền trong thời gian tới 83

3.1.2 Một số quan điểm có tính định hướng khi xây dựng giải pháp 88

3.2 CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ 92

3.2.1 Tăng cường huy động nguồn phục vụ bảo trợ xã hội 92

3.2.2 Mở rộng đối tượng nhận bảo trợ xã hội 94

Trang 6

3.2.5 Nâng cao chất lƣợng công tác bảo trợ xã hội 100 3.3 KIẾN NGHỊ 102

KẾT LUẬN 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN(Bản sao)

GIẤY ĐỀ NGHỊ BẢO VỆ LUẬN VĂN

BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN (Bản sao)

NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1

NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 2

BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN

Trang 7

TT Chữ viết tắt Nội dung đầy đủ

Trang 8

2.2 Cơ cấu giá trị sản xuất phân theo khu vực kinh tế trên địa

bàn huyện Phong Điền giai đoạn 2012- 2016 42

2.3 Tình hình dân số của huyện Phong Điền giai đoạn

2.6 Tình hình nguồn ngân sách phục vụ bảo trợ xã hội trên địa

bàn huyện Phong Điền giai đoạn 2012 - 2016 47

2.7 Nguồn kinh phí do Trung ương tài trợ trên địa bàn huyện

2.8 Nguồn kinh phí do địa phương tài trợ trên địa bàn huyện

2.9 Nguồn kinh phí huy động tài trợ trên địa bàn huyện Phong

2.10 Tỷ lệ đối tượng so tổng dân số trên địa bàn huyện Phong

2.11 Đối tượng được nhận bảo trợ ở từng xã trên địa bàn huyện

Trang 9

bảng

2.12 Đối tượng được hưởng trợ cấp thường xuyên trên địa bàn

huyện Phong Điền giai đoạn 2012 – 2016 57

2.13 Đối tượng được hưởng trợ cấp đột xuất trên địa bàn huyện

2.14 Tình hình chi ngân sách bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện

2.15

Tổng hợp kinh phí trợ cấp thường xuyên cho các đối tượng

được hưởng BTXH trên địa bàn huyện Phong Điền giai đoạn

2012 – 2016

65

2.16 Tổng hợp kinh phí trợ cấp đột xuất trên địa bàn huyện Phong

2.17 Kinh phí tài trợ thông qua giá cho BTXH trên địa bàn huyện

2.18 Tình hình cho vay chính sách trên địa bàn huyện Phong

Trang 10

hình vẽ

2.1 Nguồn kinh phí do Trung ương tài trợ cho bảo trợ xã hội

ở huyện Phong Điền giai đoạn 2012 - 2014 49

2.2 Nguồn kinh phí do địa phương tài trợ cho bảo trợ xã hội ở

huyện Phong Điền giai đoạn 2012 - 2014 51

2.3 Nguồn kinh phí từ huy động tài trợ cho bảo trợ xã hội ở

huyện Phong Điền giai đoạn 2012 – 2014 52

2.4

Đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp thường

xuyên trên địa bàn huyện Phong Điền giai đoạn

2012-2016

59

2.5 Đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp đột xuất

trên địa bàn huyện Phong Điền giai đoạn 2012-2016 62

2.6 So sánh nguồn vốn vay giữa trung ương và địa phương

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo trợ xã hội là một trong những chính sách xã hội thể hiện tính ưu việt

và là một trong những trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh xã hội hiện nay ở nước ta Trợ giúp xã hội cho đối tượng bảo trợ xã hội ở nước ta được hình thành từ khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 Mục tiêu là cứu đói cho những người chịu hậu quả của chiến tranh, hậu quả của thiên tai, bệnh dịch Mặc dù chiến tranh đã đi qua từ lâu, hậu quả kinh tế có thể khắc phục được, nhưng hậu quả về mặt xã hội rất nặng nề chưa được giải quyết dứt điểm Hậu quả của chiến tranh đã để lại hàng triệu người khuyết tật, hàng trăm nghìn trẻ em

mồ côi không người nuôi dưỡng, hàng triệu người nhiễm chất độc hóa học…Các đối tượng này cần được sự trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng để cùng phát triển

Quá trình đổi mới đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, nền kinh tế vận hành theo các quy luật khách quan của thị trường sẽ phân bố và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho tăng trưởng cao nhưng cũng đối mặt với nhiều vấn đề đặt ra, nhiều thách thức to lớn trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như: thất nghiệp, phân tầng xã hội, tệ nạn xã hội gia tăng…đã dẫn đến có một bộ phận yếu thế không đủ khả năng tự lo cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình, họ cần được BTXH về đời sống, giáo dục, y tế, nhà ở…BTXH là một hoạt động nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của con người, đồng thời cũng mang tính chất nhân đạo, nhân văn, tương thân tương ái giúp đỡ nhau của con người trong cộng đồng, xã hội

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa về kinh tế, Nhà nước phải thực hiện song song chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và đảm bảo cho nền kinh tế thị trường vận hành theo định hướng XHCN, đồng thời với quản lý xã hội đảm bảo cho xã hội ổn định về

Trang 12

chính trị, trật tự, an toàn xã hội thông qua hệ thống ASXH, hệ thống phúc lợi

xã hội và dịch vụ xã hội để đất nước phát triển ổn định bền vững Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh phát triển kinh tế gắn liền với giải quyết tốt các vấn đề xã hội và ngày càng quan tâm nhiều hơn đến công tác BTXH

Phong Điền là một huyện nằm ở cửa ngõ phía Bắc tỉnh Thừa Thiên Huế, thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam Kinh tế huyện Phong Điền trong những năm qua phát triển khá nhanh, giá trị sản xuất ở huyện năm 2016 đạt gần 5.087 tỷ đồng, nhịp độ tăng trưởng trong giai đoạn 2012-2016 bình quân là 6,13% Phong Điền đang đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn Tuy nhưng, Phong Điền cũng là địa phương gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề của chiến tranh và thiên tai, bão lụt gây ra, đối tượng cần bảo trợ xã hội rất lớn, nhất là nạn nhân của chất độc màu da cam, tệ nạn xã hội đang gia tăng…nên có một bộ phận dân

cư không nhỏ cần được trợ giúp Phong Điền có số người tàn tật, người cao tuổi lớn, tỷ lệ người khuyết tật chiếm gần 2%, tỷ lệ người cao tuổi cần trợ giúp chiếm 4,3% dân cư trong huyện Theo Phòng Lao động – Thương binh

& Xã hội huyện Phong Điền, năm 2016 có gần 6.500 đối tượng cần được bảo

trợ Nhận thức được vấn đề này trong thời gian qua công tác bảo trợ xã hội

trên địa bàn huyện Phong Điền đã có những cách thức riêng nhằm mục tiêu quan tâm, chăm lo và tạo điều kiện tối đa nhất có thể cho các đối tượng yếu thế trên địa bàn có cuộc sống ổn định và hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng đồng thời cũng đảm bảo phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù của địa phương Tuy nhiên, do mục tiêu phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường nhiều khi cuốn theo sự phát triển kinh tế bằng mọi giá nên việc thực hiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện còn nhiều hạn chế chưa bao phủ hết bộ phận dân cư cần được trợ giúp, hiệu quả của công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn chưa cao, những đối tượng yếu thế trên địa bàn vẫn chưa

Trang 13

đƣợc quan tâm chăm sóc một cách đúng mức…Chính vì vậy, để đảm bảo thực hiện kịp thời chính sách ASXH góp phần phát triển kinh tế- xã hội bền vững, để công tác BTXH của huyện đi vào cuộc sống một cách thiết thực, hiệu quả, tạo đƣợc niềm tin, niềm vui và chỗ dựa vững chắc cho đối tƣợng thiệt thòi, yếu thế góp phần đảm bảo ASXH thì việc nghiên cứu về công tác bảo trợ xã hội, đƣa ra cách thức tổ chức thực hiện hiệu quả công tác BTXH

trên địa bàn huyện là điều rất cần thiết Do đó, tôi chọn đề tài “Hoàn thiện

công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế ” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình.

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Đánh giá thực trạng công tác bảo trợ xã hội cũng nhƣ đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến công tác bảo trợ xã hội

- Phân tích thực trạng công tác bảo trợ xã hội tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Chỉ ra những kết quả đạt đƣợc cũng nhƣ những mặt hạn chế, tồn tại của công tác bảo trợ xã hội

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác bảo trợ xã hội tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 14

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung liên quan đến công tác bảo trợ xã hội

- Về không gian: Nội dung nghiên cứu được thực hiện tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện Phong Điền, giai đoạn 2012 - 2016 Các giải pháp được đề xuất có

ý nghĩa trong những năm tới

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu Trong đó, chú trọng sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập số liệu thứ cấp từ các nguồn niên giám thống kê huyện Phong Điền, các báo cáo có liên quan đến lĩnh vực bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện; nghị định, thông tư của Chính Phủ; thông tin có liên quan trên báo, tạp chí…

- Phương pháp thống kê mô tả: sử dụng phương pháp đồ thị và bảng thống kê, tổng hợp các chỉ tiêu là số tuyệt đối và số tương đối từ đó đưa ra nhận định mô tả thực trạng hiện nay về bảo trợ xã hội trên địa bàn

- Phương pháp so sánh: phương pháp sử dụng để đánh giá thực trạng công tác bảo trợ xã hội, so sánh các chỉ số qua các năm, so sánh với mục tiêu đặt ra, so sánh giữa các điều kiện để hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội để từ

đó rút ra được những kết quả đạt được của công tác bảo trợ xã hội tại huyện

- Phương pháp phân tích tổng hợp: từ những số liệu thu thập, chọn lọc những kết quả nghiên cứu để đưa ra nhận định cụ thể, những mặt hạn chế Từ

đó có được tầm nhìn, quan điểm và các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện Phong Điền

5 Bố cục của đề tài

Luận văn được kết cấu 3 chương như sau:

Trang 15

Chương 1 Các vấn đề lý luận về bảo trợ xã hội

Chương 2 Thực trạng công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Chương 3 Một số giải pháp để hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội cho huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế thời gian đến

6 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Công tác bảo trợ xã hội đã và đang là vấn đề mà các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm, vì nó là một trong những biện pháp cơ bản tác động đến các đối tượng yếu thế trong xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu an sinh

xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội góp phần tăng trưởng và phát triển bền vững Trong những năm qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết về an sinh xã hội, trong đó đề cập đến công tác BTXH đối với nền kinh tế ở góc độ lý luận, chính sách và thưc tiễn khác nhau Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như:

Về sách và tạp chí:

- Năm 2000, Bộ lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Bảo trợ xã hội,

Hệ thống các văn bản pháp luật về bảo trợ xã hội, NXB Lao động - Xã hội

Cuốn sách hệ thống hóa các chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về Bảo trợ xã hội tại Việt Nam Là tài liệu quan trọng giúp cho việc thực hiện các chính sách chính xác, đầy đủ

- Năm 2002, Nguyễn Đình Liêu, Trợ cấp xã hội trong hệ thống an sinh

xã hội ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế Luật (số 1), Đại học Quốc gia Hà Nội Tác

giả nêu lên vai trò của trợ cấp xã hội trong hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam

- Năm 2004, Lê Thị Hoài Thu, Thực trạng pháp luật an sinh xã hội ở

Việt Nam, Tạp chí Bảo hiểm xã hội (số 6) Bài viết đề cập đến hệ thống pháp

luật an sinh xã hội ở Việt Nam từ năm 1945 đến 2004 Từ đó tác giả đưa ra

Trang 16

một số ý kiến để hoàn thiện hệ thống pháp luật về an sinh xã hội ở nước ta hiện nay, trong đó có pháp luật về trợ bảo trợ xã hội Các ý kiến đóng góp giúp cho các nhà hoạch định chính sách hoàn thiện đầy đủ và cụ thể hơn hệ thống pháp luật để đảm bảo hệ thống an sinh xã hội

- Năm 2005, Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng, Lệ

Hoài Trung, Robert Leroy Bach, Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở

Việt Nam, NXB Thế giới, Hà Nội Nhìn nhận theo chức năng bảo trợ xã hội

nhóm tác giả cho rằng, BTXH gồm có 3 chức năng chính là: Các biện pháp nhằm nâng cao năng lực, bao gồm chủ yếu là những chính sách vĩ mô, chiến lược phát triển và các biện pháp thể chế hỗ trợ; các biện pháp phòng ngừa giúp người dân khỏi rơi vào tình trạng khủng hoảng và cần đến sự bảo trợ; các biện pháp bảo vệ, bao gồm lưới an toàn theo nghĩa hẹp dành cho những đối tượng bị tổn thương thông qua các khoản quyên góp bằng tiền mặt, hiện vật hoặc bằng sự hỗ trợ ngắn hạn khác Đồng thời cũng đưa ra những dẫn chứng

về số liệu, văn bản, nguồn lực, kết quả thực hiện, điểm mạnh, điểm hạn chế của hệ thống bảo trợ xã hội Việt Nam đối với các nhóm đối tượng yếu thế cần trợ giúp Điểm hạn chế của quan điểm tiếp cận này là khó có thể phân biệt một cách rõ ràng hệ thống bảo trợ xã hội gồm các hợp phần nào, nhất là chức năng của Nhà nước, thị trường và cộng đồng để từ đó có được các giải pháp chính sách phù hợp

- Năm 2007, Nguyễn Hải Hữu, Giáo trình nhập môn an sinh xã hội, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội; Báo cáo chuyên đề thực trạng trợ giúp xã

hội và ưu đãi xã hội ở nước ta từ năm 2001-2007 và khuyến nghị tới năm

2015, Hà Nội; Hỗ trợ thực hiện chính sách giảm nghèo và BTXH, NXB Lao

động - xã hội, Hà Nội Tiếp cận theo quan điểm hoạch định chính sách tác giả Nguyễn Hải Hựu và một số tác giả có cùng quan điểm cho rằng “ Đối tượng bảo trợ xã hội cần được trợ cấp hàng tháng gồm: trẻ em mồ côi, người già cô

Trang 17

đơn, người 90 tuổi trở lên, người tàn tật nặng, gia đình có từ 2 người tàn tật trở lên là người tàn tật nặng không có khả năng tự phục vụ, người nhiễm HIV/AIDS, gia đình người thân nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trợ giúp về y tế, giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm, tiếp cận các công trình công cộng, hoạt động văn hóa thể thao và trợ giúp khẩn cấp” Từ đó, kiến nghị các giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội, khám chữa bệnh, giáo dục và các chính sách bộ phận khác

- Năm 2008, Nguyễn Văn Định, Giáo trình an sinh xã hội, NXB Đại

học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Tiếp cận theo quan điểm chức năng của chủ thể cung cấp dịch vụ một số tác giả đồng quan điểm cho rằng, BTXH và sự giúp đỡ thêm của cộng đồng xã hội bằng tiền hoặc các phương tiện thích hợp

để người được trợ giúp có thể phát huy được khả năng tự lo liệu cho cuộc sống của bản thân và gia đình, sớm hòa nhập cộng động Đồng thời, tác giả cũng đưa ra khái niệm khác gần với khái niệm trợ giúp xã hội là “Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của xã hội bằng nguồn tài chính của Nhà nước và cộng đồng đối với thành viên gặp khó khăn, bất hạnh và rủi ro trong cuộc sống như: thiên tai, hỏa hoạn, bị tàn tật, già yếu…dẫn đến mức sống quá thấp lâm vào cảnh neo đơn, túng quẩn nhằm giúp họ đảm bảo được điều kiện sống tối thiểu, vượt qua cơn nghèo khốn và vươn lên cuộc sống bình thường” Với cách giải thích này thì cứu trợ xã hội trước rồi mới đến trợ giúp xã hội Thể hiện chính sách cho đối tượng bảo trợ xã hội từ Nhà nước, cộng đồng và trong thực tiễn để thực hiện chính sách bảo trợ xã hội Nhà nước luôn giữ vai trò trong việc cung cấp nguồn lực và các dịch vụ bảo trợ xã hội

- Năm 2008, Nguyễn Hữu Dũng, Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện chính sách an sinh xã hội, ở nước ta trong quá trình hội nhập, Tạp chí Lao động xã hội (số 332), 4/2008

Tác giả phân tích mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng

Trang 18

xã hội và thực hiện chính sách ASXH ở nước ta trong quá trình hội nhập, đưa

ra kiến nghị cần xây dựng mức chuẩn trợ cấp chung và từ mức chuẩn trợ cấp này xác định mức cho mỗi loại chính sách cụ thể của hệ thống chính sách ASXH Tác giả còn cho rằng BTXH là hợp phần quan trọng của hệ thống ASXH và phải được xây dựng trên cơ sở quan điểm gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế và phát triển hệ thống ASXH Quốc gia

- Năm 2009, Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Huyền,

Nguyễn Anh Dũng, Lý thuyết và mô hình an sinh xã hội (Phân tích thực tiễn

ở Đồng Nai), NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Các tác giả đã trình bày

những bất cập, xu hướng vận động và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển hệ thống ASXH Đồng thời các tác giả phân tích chính sách ASXH thực tiễn ở tỉnh Đồng Nai

Về đề tài, công trình nghiên cứu:

- Năm 2002, Nguyễn Tiệp, Các giải pháp nhằm thực hiện xã hội hóa

công tác cứu trợ xã hội, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Công trình nghiên

cứu thực trạng về xã hội hóa công tác cứu trợ xã hội và đề xuất các giải pháp nhằm xã hội hóa công tác cứu trợ xã hội

- Năm 2009, Mai Ngọc Cường (chủ nhiệm đề tài), Cơ sở khoa học của

việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006-2015, Đề tài cấp Nhà nước, chương trình KH và CN trọng điểm

cấp Nhà nước, Bộ Khoa học và Công nghệ Công trình làm rõ những vấn đề

cơ bản về ASXH và hệ thống chính sách ASXH trong nền kinh tế thị trường; đánh giá thực trạng của hệ thống chính sách và thực thi chính sách ASXH Từ

đó, tác giả đề xuất các giải pháp xây dựng hệ thống tổng thể quốc gia về ASXH ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2015

- Năm 2010, Nguyễn Ngọc Toản, Chính sách trợ giúp xã hội thường

xuyên cộng đồng ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân

Trang 19

Công trình nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách trợ giúp

xã hội thường xuyên cộng đồng; đánh giá thực trạng đối tượng bảo trợ xã hội

và nhu cầu trợ giúp thường xuyên; thực trạng chính sách trợ giúp thường xuyên cộng đồng Từ đó tác giả nêu kiến nghị giải pháp hoàn thiện chính sách

- Năm 2013, Nhóm biên soạn: Nguyễn Thị Lan Hương, Đặng Kim

Chung, Lưu Quang Tuấn, Nguyễn Bích Ngọc, Đặng Hà Thu, Phát triển hệ

thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020, Viện Khoa học Lao động và

xã hội, Hà Nội Các tác giả giới thiệu đến những vấn đề chung về an sinh xã hội, nội dung cơ bản của Nghị quyết 15-NQ/TW, các kết quả đạt được, những tồn tại của chính sách an sinh xã hội hiện hành và các định hướng chính sách cho giai đoạn đến năm 2020 Trong đó, bảo trợ xã hội với định hướng đảm bảo mức tối thiểu một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là người nghèo, dân tộc thiểu số và người có hoàn cảnh khó khăn

Trong thời gian qua, các cơ quan, tổ chức cũng đã thực hiện các nghiên cứu thực trạng đối tượng bảo trợ xã hội, tình hình thực hiện chính sách BTXH nhằm phục vụ cho công tác quản lý, tổ chức thực thi chính sách cũng như đề xuất giải pháp thực hiện chính sách BTXH

Các nghiên cứu trên đã đưa ra được cách nhìn tổng quát về an sinh xã hội với các mô hình, chính sách trên thế giới và của Việt Nam, các giải pháp hoàn thiện luật an sinh xã hội…trong đó có chính sách về Bảo trợ xã hội (tại mỗi thời điểm nghiên cứu) song chưa có nghiên cứu, bài viết nào đi sâu vào phân tích những vấn đề đặt ra trong quá trình công tác bảo trợ xã hội, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào đề cập đến thực trạng về công tác bảo trợ xã hội tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm qua, để từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp có tính khả thi nhằm hoàn thiện công tác bảo trợ

xã hội một cách có hiệu quả trên địa bàn huyện Từ những vấn đề nêu trên

Trang 20

cho thấy cần phải tiếp cận trên góc độ khoa học quản lý để lý giải cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của hoạt động BTXH một cách toàn diện, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa hoạt động BTXH cho phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 21

CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI

1.1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI

1.1.1 Một số khái niệm

- Bảo trợ xã hội

Có thể thấy tính phổ quát của thuật ngữ “bảo trợ xã hội” (social protection) qua những tài liệu nghiên cứu và các thảo luận chính sách trong nhiều hội thảo quốc tế gần đây Tuy nhiên ở mức độ nào đó, khái niệm này còn chưa rõ ràng, chủ yếu là do nhiều cách sử dụng khác nhau và cách đặt vấn

đề khác nhau ở mỗi quốc gia Ở Việt Nam, bảo trợ xã hội gần với khái niệm trợ giúp xã hội, là một trong ba trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh Với mục đích khắc phục rủi ro, trợ giúp xã hội cùng với bảo hiểm xã hội có chức năng giảm thiểu rủi ro, và chính sách thị trường lao động chủ động nhằm phòng ngừa rủi ro cho người dân (Vũ Văn Phúc, 2011) Trợ giúp xã hội còn được xem là “phao cứu sinh” nhằm hỗ trợ cho các thành viên trong xã hội không bị rơi vào hoàn cảnh bần cùng hóa (Mai Ngọc Cường, 2013) Như vậy, ở Việt Nam bảo trợ xã hội có nội hàm hẹp hơn so với an sinh xã hội của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Mặc dù các tổ chức phát triển quốc tế đều sử dụng định nghĩa riêng về bảo trợ xã hội song tất cả đều nhấn mạnh bản chất của bảo trợ xã hội thông qua các can thiệp chính sách cần thiết của nhà nước và các hoạt động tình nguyện ở cộng đồng Cụ thể như sau:

Ngân hàng Thế giới (WB): “Bảo trợ xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ tổn thương và những bấp bênh thu nhập” Nhấn mạnh sự kiềm chế nguy cơ, bảo trợ xã hội vừa là mạng lưới an toàn, vừa là cơ sở để phát triển vốn con người

Trang 22

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Bảo trợ xã hội là việc cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế nhà nước hoặc tập thể, cộng đồng nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp” Nhấn mạnh chiều cạnh bảo hiểm và mở rộng cơ hội việc làm và tạo việc làm cho những đối tượng có nhu cầu và trong khu vực kinh tế phi chính thức

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB): “Bảo trợ xã hội đề cập đến một hệ thống chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những rủi ro đối với hộ gia đình và cá nhân” Nhấn mạnh tính dễ tổn thương nếu người dân không có bảo trợ xã hội, và tác hại của việc thiếu bảo trợ xã hội đối với người khác

Viện nghiên cứu Phát triển Hải ngoại (ODI): “Bảo trợ xã hội kà những hành động công ích nhằm giảm thiểu tính tổn thương, nguy cơ gây sốc và sự bần cùng hóa, là những điều không thể chấp nhận được về mặt xã hội” Nhấn mạnh tính dễ tổn thương và bần cùng hóa, do vậy bảo trợ xã hội hướng vào người nghèo hoặc người khó khăn nhất thuộc tầng lớp không ai mong muốn trong xã hội

Nhưng cho dù theo định nghĩa nào, các tổ chức quốc tế đều thống nhất trong cách tiếp cận coi bảo trợ xã hội như một biện pháp kiềm chế nguy cơ bị tổn thương, duy trì được thu nhập, sinh kế, tránh rơi vào đói nghèo Mục đích của bảo trợ xã hội nhằm đảm bảo thu nhập và điều kiện sống thiết yếu đối với các trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ sức lo liệu cuộc sống Đối với Việt Nam, bảo trợ xã hội như một lưới an toàn (safety- net) nhằm bảo đảm sự an toàn về đời sống của người dân khi họ bị rơi vào hoàn cảnh rủi ro

và tự bản thân không khắc phục được Các hoạt động cứu trợ xã hội, giảm nghèo nhằm hạn chế nguy cơ dễ bị tổn thương ở những đối tượng yếu thế, mất nguồn thu nhập và sinh kế, và không có điều kiện tiếp cận được các dịch

Trang 23

vụ xã hội cơ bản Nếu hiểu một cách bao quát nhất, Bảo trợ xã hội là hệ thống

các chính sách, hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và cơ hội hòa nhập với cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội [32]

Căn cứ vào quan điểm trên, tác giả chọn khái niệm này làm định hướng chính cho nghiên cứu luận văn của mình về công tác bảo trợ xã hội

- Cơ sở của bảo trợ xã hội

+ Công bằng xã hội

Công bằng xã hội cũng có thể được hiểu là một giá trị cơ bản định hướng cho việc giải quyết mối quan hệ giữa người với người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc: cống hiến về vật chất và tinh thần ngang nhau cho sự phát triển xã hội thì được hưởng thụ ngang nhau những giá trị vật chất và tinh thần do xã hội tạo ra, phù hợp với khả năng hiện thực của

xã hội Đó là một giá trị cơ bản trong các quan hệ xã hội như: quan hệ giữa mức độ lao động và mức độ thu nhập; quan hệ giữa quyền sở hữu tư liệu sản xuất và quyền định đoạt sự sản xuất và phân phối; quan hệ giữa mức độ phạm tội và mức độ bị trừng phạt; quan hệ giữa các thành viên của xã hội với hoàn cảnh kinh tế, mức độ phát triển trí lực khác nhau và cơ hội tham gia vào quá trình giáo dục, khám chữa bệnh, hưởng thụ các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, thể dục- thể thao…

Thừa nhận nội dung cơ bản nhất của công bằng xã hội là xử lý hợp lý nhất quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định, các nhà kinh tế học thường sử dụng hai khái niệm về công bằng, gồm:

Thứ nhất, khái niệm công bằng ngang là sự đối xử như nhau đối với

những người có tình trạng kinh tế như nhau Theo quan điểm này, nếu hai cá

Trang 24

nhân có tình trạng kinh tế như nhau (được xét theo một số tiêu thức nào dó như thu nhập, hoàn cảnh gia đình, tôn giáo, dân tộc…) thì chính sách của chính phủ không được phân biệt đối xử

Thứ hai, khái niệm công bằng dọc là đối xử khác nhau với những người

có khác biệt bẩm sinh hoặc có tình trạng kinh tế ban đầu khác nhau nhằm khắc phục những khác biệt sẵn có Theo cách hiểu này, chính sách của chính phủ được phép đối xử có phân biệt với những người có tình trạng kinh tế khác nhau, với điều kiện sau khi chịu tác động của chính sách thì những khác biệt

đó phải được giảm bớt Việc chính phủ có những chính sách ưu tiên cho các đối tượng là nạn nhân chiến tranh, những người yếu thế nên gặp khó khăn trong việc hòa nhập với cộng đồng…là biểu hiện của việc thực hiện nguyên tác công bằng dọc Nó cũng nói lên trình độ văn minh của một xã hội vì con người

Một xã hội thực sự bình đẳng, công bằng về chính trị, pháp luật, về thụ hưởng lợi ích kinh tế- văn hóa, về cơ hội làm ăn đối với mọi công dân, nhưng trong xã hội đó vẫn có một số người phải gánh chịu những rủi ro, những điều không may mắn như: tật nguyền, cô đơn, cơ nhở,…vì thế xã hội cần có chính sách nhân đạo đối với họ Như vậy, thực chất của hoạt động bảo trợ xã hội là tiến hành phân phối lại thu nhập quốc dân để đảm bảo công bằng xã hội và tăng phúc lợi cho người nghèo

Khi nói đến PLXH người ta thường đồng nghĩa với những gì do xã hội

mà trực tiếp là do Nhà nước đưa lại Điều đó, cũng đồng nghĩa là ngoài phần

Trang 25

thu nhập được nhận trực tiếp, người lao động được hưởng thụ thêm một số lợi ích nào đó do Nhà nước thực hiện

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, PLXH là một bộ phận thu nhập quốc dân được sử dụng nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các

thành viên trong xã hội, chủ yếu được phân phối ngoài thu nhập theo lao

động, phân phối lại.[38]

Trong từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1992 của Trung tâm từ điển ngôn ngữ đưa ra định nghĩa, “Phúc lợi là lợi ích công cộng mà người dân được hưởng không phải trả tiền hoặc chi trả một phần” Trong thực tế phúc lợi với

ý nghĩa trên người ta đã sử dụng và mở rộng: Phúc lợi tập thể, phúc lợi công

ty, phúc lợi cơ quan…

Dưới góc độ kinh tế học phúc lợi, PLXH là những biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm khắc phục những “thất bại”, khiếm khuyết của thị trường Bản chất của PLXH là làm giảm thiểu sự bất công bằng trong xã hội, đảm bảo cho các thành viên trong xã hội đều có thể thụ hưởng những cái

“chung” của xã hội Một mặt phải làm cho cái “bánh” của xã hội to ra; mặt khác phải “chia” cái bánh đó “hợp lý”

+ Phân phối lại phúc lợi xã hội

Phân phối lại là quá trình tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản

đã hình thành qua phân phối lần đầu ra phạm vi rộng hơn (toàn xã hội) đáp ứng nhu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội, cũng như yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước Là điều hòa lại mức thu nhập giữa các tầng lớp dân cư nhằm thực hiện sự công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch giữa người có thu nhập cao và những đối tượng có mức thu nhập dưới mức tối thiểu

Trang 26

Có hai cách phân phối phổ biến là phân phối theo chức năng và phân phối theo mức độ thu nhập Các nhà kinh tế đã đưa ra các lý thuyết khác nhau

để lý giải cho việc Nhà nước phải đứng ra phấn phối lại thu nhập đó là:

- Thuyết vị lợi (thuyết phúc lợi xã hội), dựa trên các giả định sau:

+ Các cá nhân có hàm thỏa dụng biên đồng nhất và chỉ phụ thuộc vào mức thu nhập của họ

+ Các hàm thỏa dụng biên này tuân theo quy luật mức thỏa dụng biên theo thu nhập giảm dần

+ Tổng mức thu nhập sẵn có là cố định và không thay đổi khi tiến hành phân phối lại

Nội dung thuyết vị lợi cho rằng: Phúc lợi xã hội chỉ phụ thuộc vào độ thỏa dụng của các cá nhân PLXH là tổng đại số độ thỏa dụng của tất cả các thành viên trong xã hội và mục tiêu hóa của xã hội là tối đa hóa tổng số đó Nói cách khác, nếu có n cá nhân trong xã hội mà mức thỏa dụng của người thứ i là Ui thì PLXH W là tổng mức thỏa dụng các cá nhân Nó còn được gọi

là hàm PLXH tổng

W= U1 + U2 + …+ Un =

Giả sử mọi thứ khác không thay đổi thì tăng bất kỳ Ui nào (i = 1,n) cũng dẫn đến làm tăng W Một sự thay đổi làm ai đó tốt lên mà không làm cho người khác bị tồi đi thì đều làm tăng phúc lợi xã hội Nhà nước phải có chính sách can thiệp vào phân phối lại thu nhập chừng nào chính sách ấy còn làm tăng W

- Thuyết cực đại thấp nhất (Thuyết Rawls), dựa vào quan điểm của nhà

triết học Mỹ John Rawls cho rằng: Phúc lợi xã hội chỉ phụ thuộc vào lợi ích của người nghèo nhất Vì vây, muốn có PLXH đạt tối đa thì phải cực đại hóa

độ thỏa dụng của người nghèo nhất Hàm phúc lợi xã hội có dạng:

Trang 27

W = minimum {U1 ,U2 ,…,Un}

Như vậy xã hội sẽ tốt đẹp hơn, nếu cải thiện được hoàn cảnh của người

có mức sống thấp, dù là không thu được gì để cải thiện cho người khác, ở đây không có sự nhân nhượng Nói cách khác, không có sự gia tăng phúc lợi của

cá nhân khá giả nào có thể bù đắp lại cho xã hội về giảm phúc lợi của cá nhân nghèo khổ Mục tiêu xã hội này thường được gọi là tiêu chuẩn cực đại thấp nhất, vì mục tiêu ở đây là cực đại hóa mức thỏa dụng của người có mức thỏa dụng thấp nhất

1.1.2 Đặc điểm của công tác bảo trợ xã hội

Thứ nhất, đối tượng được bảo trợ xã hội có phạm vi rộng, toàn dân

Thứ hai, người nhận được trợ cấp không phải đóng góp vào quỹ tài

chính Nguồn quỹ dùng để trợ cấp được lấy từ thuế hoặc đóng góp của cộng đồng

Thứ ba, mức trợ cấp không đồng đều mà tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể

và được xác định dựa vào việc thẩm tra đánh giá thu nhập, vốn và tài sản của người được xét hưởng trợ cấp

Thứ tư, trợ cấp có thể bằng tiền hoặc bằng hiện vật

1.1.3 Ý nghĩa của bảo trợ xã hội

- Đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của những cá nhân và nhóm dân cư yếu thế, dễ bị tổn thương trong cộng đồng Bảo trợ xã hội cung cấp, hỗ trợ thu

nhập cho các nhóm dễ bị tổn thương để giúp họ đối phó với những khủng hoảng bất ngờ, vượt qua được các khó khăn trong cuộc sống và tồn tại Thêm vào đó, trên cơ sở cộng đồng, các chương trình bảo trợ xã hội còn có các dịch

vụ đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cá nhóm đặc biệt Chẳng hạn, một số chương trình bảo trợ xã hội thực hiện trợ cấp thu nhập tối thiểu cho những người già cả và có cả dịch vụ chăm sóc điều dưỡng tại nhà dành cho các

Trang 28

trường hợp cần thiết Một số chương trình bảo trợ xã hội khác thực hiện chăm sóc từ thiện cho những người ốm đau thường xuyên và nằm liệt giường…

- Góp phần phòng ngừa và giảm thiểu các khả năng dễ bị tổn thương

của những các nhân và nhóm dân cư yếu thế Một thành tố quan trọng trong

hoạt động bảo trợ xã hội là sự trợ giúp xã hội Chính phần hoạt động bảo trợ

xã hội này đã thể hiện rõ vai trò giảm bớt khả năng bị tổn thương của các đối tượng được bảo trợ Hoạt động trợ giúp xã hội thường tập trung vào những cá nhân và nhóm dân cư bị thua thiệt nhất hoặc dễ bị tổn thương nhất trong cộng đồng, từ đó giúp họ có cơ hội tự thoát ra khỏi cảnh nghèo, thoát ra khỏi tình trạng khó khăn dai dẳng trong cuộc sống Chẳng hạn, phụ cấp gia đình có thể giúp cho trẻ em trong các hộ gia đình nghèo không bị mất đi cơ hội đến trường do các khó khăn về tài chính của gia đình

- Góp phần cho sự bảo vệ của hệ thống ASXH toàn diện hơn Trong các

hệ thống ASXH mà chương trình BHXH chưa toàn diện, chưa mang tính phổ cập, vai trò này thể hiện rất rõ Do các ràng buộc về điều kiện kinh tế xã hội,

về khả năng quản lý nên chương trình BHXH ở nhiều nước chưa thể bao trùm hết tất cả các bộ phận dân cư và chỉ mới đưa ra được các mức trợ cấp hạn chế Khi đó, các chương trình bảo trợ xã hội được thiết kế với vai trò cung cấp các bảo vệ bổ sung để đảm bảo rằng tất cả mọi người dân đều được bảo vệ trước các rủi ro, bất an trong cuộc sống

- Góp phần phát triển một xã hội hài hòa và bền vững Ngoài việc góp

phần giải quyết các vấn đề phúc lợi con người, bảo trợ xã hội còn là một phương tiện để đem lại sự công bằng về cơ hội cho những người yếu thế trong

xã hội Hoạt động bảo trợ xã hội góp phần tăng cường tính độc lập của cá nhân đối tượng được bảo trợ; điều chỉnh uốn nắn lại sự gạt bỏ những đối tượng này ra ngoài lề xã hội Nhờ vậy, các đối tượng được bảo trợ có thể khắc phục được tâm lý mặc cảm, các nhóm dân cư yếu thế có thể tự vươn lên hòa

Trang 29

nhập cộng đồng Ngược lại, chính kết quả của việc đảm bảo công bằng trong

xã hội cho các đối tượng được trợ giúp lại làm cho nền kinh tế tăng trưởng hơn Khi những người được trợ giúp có cơ hội tiếp cận các nguồn lực để khắc phục khó khăn trong cuộc sống và tham gia vào các hoạt động kinh tế họ sẽ đóng góp cho nền kinh tế Thêm vào đó, nếu những đối tượng này đã có thể

tự đảm bảo được cuộc sống dựa vào chính bản thân họ thì nhà nước và cộng đồng không còn phải tiếp tục trợ giúp nữa, Ngân sách nhà nước và nguồn lực cộng đồng nhờ đó sẽ được phân bổ cho các mục đích khác một cách có hiệu quả hơn

1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO TRỢ

XÃ HỘI

1.2.1 Tăng nguồn tài trợ cho bảo trợ xã hội

- Nguồn tài trợ cho bảo trợ xã hội là nguồn tài chính có được từ các chương trình được thiết kế để trợ giúp cho những người yếu thế đạt được mức

sống tối thiểu cần thiết và cải thiện cuộc sống của họ

- Nguồn tài chính bảo trợ xã hội bao gồm:

+ Nguồn tài trợ từ Nhà nước: Đây là nguồn tài chính chủ yếu trong hoạt động bảo trợ xã hội Với trách nhiệm tổ chức, quản lý xã hội và điều hòa phân phối lại nguồn quỹ của quốc gia, hàng năm Nhà nước sẽ phải trích từ Ngân sách để thực hiện bảo trợ xã hội, bao gồm cả cứu trợ thường xuyên và cứu trợ đột xuất Ở hầu hết các nước trên thế giới, nguồn tài chính từ Nhà nước dành cho hoạt động bảo trợ xã hội được phân cấp và quản lý thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo quy định của Luật ngân sách

+ Nguồn tài trợ từ các cá nhân và gia đình, của các tổ chức đoàn thể xã hội, của các doanh nghiệp trong cộng đồng: Đây là nguồn lực có tiềm năng rất lớn Tuy nhiên, mức độ đóng góp của nguồn tài chính này cho hoạt động bảo trợ xã hội lại phụ thuộc vào mức độ xã hội hóa hoạt động bảo trợ xã hội Nếu

Trang 30

hoạt động bảo trợ xã hội được xã hội hóa sâu rộng thì càng nâng cao được ý thức trách nhiệm cũng như khơi dậy được tinh thần tương thân tương ái của mỗi thành viên trong xã hội, của mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp…trước những khó khăn, rủi ro, bất hạnh của đồng bào mình

+ Nguồn tài trợ quốc tế: Đây cũng là một nguồn lực tài chính quan trọng cho hoạt động bảo trợ xã hội, đặc biệt là đối với các nước nghèo Sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế thường thông qua các tổ chức của Liên hợp quốc và các tổ chức phi chính phủ, thể hiện qua các khoản vay ưu đãi, các khoản viện trợ không hoàn lại, các dự án hỗ trợ phát triển,…

- Sở dĩ phải tăng nguồn tài trợ cho BTXH là vì:

+ Cùng với sự phát triển của xã hội, những quan điểm về an sinh xã hội, bảo trợ xã hội cũng có sự thay đổi, từ chỗ các hoạt động tài trợ với quy mô nhỏ, lẻ, số lượng ít nay phát triển với quy mô lớn hơn, diện bao phủ rộng hơn,

vì vậy cũng đòi hỏi nguồn tài chính tài trợ nhiều hơn

+ Sự phát triển ngày càng sâu sắc của kinh tế thị trường thì hệ quả tất yếu xảy ra đó là khoảng cách về thu nhập, về mức sống ngày càng có sự phân hóa lớn Mặc khác, do mặt trái của nền kinh tế thị trường như phân hóa giàu nghèo, chú trọng phát triển kinh tế, chạy theo lối sống thực dụng, suy thoái đạo đức…phá vỡ quan hệ gia đình truyền thống làm cho nhiều người cao tuổi không được quan tâm, chăm sóc; nhiều tệ nạn xã hội xuất hiện làm gia tăng số lượng đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt; nhiều tai nạn thương tích trong lao động, đời sống khiến nhiều người tàn tật…tất cả đã làm gia tăng số người có nhu cầu bảo trợ xã hội mà sự huy động nguồn lực trợ giúp theo truyền thống tương thân tương ái không đủ lực Vì vậy, đòi hỏi cần phải tăng nguồn lực tàì trợ từ nhiều nguồn khác nhau

+ Xu hướng đang diễn ra quá trình già hóa dân số, thực tế người cao tuổi

và người cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt như ở nước ta đang gia tăng đòi hỏi

Trang 31

nhà nước phải có những chính sách thích hợp để huy động ngày càng nhiều nguồn tài trợ giúp người cao tuổi và giúp người cao tuổi không có thu nhập,

cô đơn để họ ổn định được cuộc sống

+ Hậu quả nặng nề của chiến tranh, ô nhiễm môi trường, chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, làm tăng đối tượng người khuyết tật Vì vậy, cần thiết phải tăng thêm nguồn tài trợ để giúp đối tượng này giảm bớt khó khăn trong cuộc sống

và hòa nhập với cộng đồng Cũng là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thường xuyên xảy ra thiên tai, bão, lũ lụt, hạn hán, đặc biệt sự biến đổi khí hậu toàn cầu khiến nước ta liên tục phải đối đầu với những thảm họa của thiên tai Với tần suất liên tục và thiệt hại nặng nề hằng năm do thiên tai gây

ra vì vậy đòi hỏi Nhà nước phải đứng ra cứu trợ kịp thời để khắc phục rủi ro, giảm bớt hậu quả, ổn định đời sống kinh tế của người dân bằng các chính sách bảo trợ, trợ giúp

+ Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, làm phát gia tăng, giá cả leo thang, đời sống của người lao động gặp khó khăn, đặc biệt là đời sống của những đối tượng yếu thế lại càng khó khăn Vì vậy, việc trợ cấp cho các đối tượng này theo hình thức bằng tiền, bằng hiện vật hay trợ cấp thông qua trợ giá một số mặt hàng thiết yếu, dù hình thức nào cũng cần phải tăng thêm về quy mô trợ cấp cũng như sự tăng thêm về

số lần trợ cấp để giúp họ ổn định được mức sống tối thiểu Điều đó đòi hỏi phải tăng thêm về nguồn lực tài chính tài trợ cho các hoạt động bảo trợ xã hội

- Nội dung về tăng nguồn tài trợ cho bảo trợ xã hội

+ Nhà nước tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong việc huy động nguồn tài trợ cho hoạt động bảo trợ xã hội, tuy nhiên tỷ lệ đóng góp kinh phí cho hoạt động này của Nhà nước sẽ giảm dần Đồng thời, tăng dần tỷ lệ đóng góp của người dân, doanh nghiệp và các đối tác xã hội cho nguồn lực tài trợ cho hoạt động bảo trợ xã hội

Trang 32

+ Đẩy mạnh phát triển kinh tế, tăng cường tạo điều kiện về cơ chế chính sách cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư và phát triển trên địa bàn Mặt khác, nâng cao tinh thần tương thân, tương ái trong cộng đồng xã hội, tạo sự hưởng ứng tích cực trong nhân dân là điều kiện quan trọng để tăng nguồn đảm bảo phục vụ cho đối tượng bảo trợ xã hội trong thời gian đến

- Tiêu chí đánh giá nguồn tài trợ cho bảo trợ xã hội

+ Tổng số các nguồn tài trợ cho công tác bảo trợ xã hội

+ Tốc độ tăng nguồn kinh phí tài trợ

+ Tỷ lệ từng nguồn tài trợ trên tổng số nguồn tài trợ

1.2.2 Mở rộng đối tượng bảo trợ xã hội

- Đối tượng bảo trợ xã hội là mọi thành viên trong xã hội khi có các sự

cố xảy ra do nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau làm họ không

đủ khả năng hoặc không tự lo được cuộc sống của bản thân và gia đình cần có

sự trợ giúp, cứu tế từ Nhà nước và cộng đồng để đảm bảo bằng điều kiện sống bình thường

Như vậy, khi xem xét đối tượng được bảo trợ xã hội, cần phải nhìn từ cả phương diện kinh tế và phương diện xã hội Về phương diện kinh tế, đối tượng được bảo trợ là những người không may gặp khó khăn, rủi ro bất hạnh trong cuộc sống khiến cho mức sống của họ thấp hơn rất nhiều so với mức sống tối thiểu chung của cộng đồng, thậm chí khiến cho cuộc sống của họ rơi vào tình trạng bị đe dọa Về phương diện xã hội, đối tượng được bảo trợ xã hội là những người gặp bất hạnh trong cuộc sống cần có sự nâng đỡ, trợ giúp

cả về vật chất và tinh thần, không phân biệt vị thế và thành phần xã hội, để đảm bảo cuộc sống bình thường, không bị gạt ra ngoài lề của xã hội

Có thể nói, đối tượng được bảo trợ xã hội rất đa dạng và rất rộng Về chính sách trợ giúp xã hội thì đối tượng của bảo trợ xã hội bao gồm: Đối

Trang 33

tượng bảo trợ xã hội thuộc diện trợ cấp thường xuyên và đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện trợ cấp xã hội đột xuất, trong đó:

+ Đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện trợ cấp thường xuyên

Là những người vì những nguyên nhân khác nhau không thể tự đảm bảo được cuộc sống bản thân, nếu không được trợ cấp thường xuyên có thể nguy

cơ đến tính mạng

(Theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 13/4/2010)

(1) Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc

mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo.Người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên

(2) Người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn

vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được Chính phủ quy định cho từng thời kỳ)

(3) Người từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm

xã hội ( Nghị định số 06/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người cao tuổi ) (4) Người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ

Trang 34

(5) Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm

(6) Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo

(7) Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi (8) Hộ gia đình có từ 02 người trở lên tàn tật nặng, không có khả năng tự phục vụ

(9) Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi; trường hợp con đang đi học văn hoá, học nghề được áp dụng đến dưới

đ) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành

án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

e) Cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật;

Trang 35

g) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

h) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

i) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội; k) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

1) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt

tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc

(2) Người từ 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này mà đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất

(3) Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo không còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác

(4) Người thuộc hộ nghèo không có chồng hoặc không có vợ; có chồng hoặc vợ đã chết; có chồng hoặc vợ mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 tuổi đến 22 tuổi nhưng

Trang 36

người con đó đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo đang nuôi con)

(5) Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng;

b) Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại Điểm a Khoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng;

c) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng

(6) Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật

Ngoài ra, để đạt được mục tiêu bảo trợ, người ta còn cân nhắc xác định hình thức trợ giúp thường xuyên bằng tiền hay bằng hiện vật cho phù hợp dựa vào hoàn cảnh sống, môi trường sống, mức sống và nhu cầu trợ giúp khác nhau của các đối tượng được xét hưởng,

+ Đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện trợ cấp đột xuất

Là những người có khả năng hoặc không có khả năng lao động, có thu nhập hoặc không có thu nhập, vì những lý do khác nhau mà gặp phải hoạn nạn, khó khăn tạm thời Nếu như họ nhận được sự giúp đỡ kịp thời họ có thể nhanh chóng vượt qua được sự hụt hẫng, ổn định cuộc sống, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng

Trang 37

(Theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 13/4/2010)

Đối tượng thuộc diện trợ cấp đột xuất là những người hoặc hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng khác gây

ra, bao gồm:

(1) Hộ gia đình có người chết, mất tích;

(2) Hộ gia đình có người bị thương nặng;

(3) Hộ gia đình có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng;

(4) Hộ gia đình bị mất phương tiện sản xuất, lâm vào cảnh thiếu đói; (5) Hộ gia đình phải di dời khẩn cấp do nguy cơ sạt lỡ đất, lũ quyét; (6) Người bị đói do thiếu lương thực;

(7) Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú dẫn đến bị thương nặng, gia đình không biết để chăm sóc;

(8) Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú Khác với trợ giúp thường xuyên, trợ giúp đột xuất có tính tức thời, khẩn cấp hơn Do đó, để trợ giúp đột xuất đảm bảo tính hiệu quả cao nhất đòi hỏi phải thực hiện trợ giúp đúng thời điểm, kịp thời, đúng đối tượng Bên cạnh

đó, do đối tượng được hưởng trợ giúp đột xuất thường rộng và có hoàn cảnh rủi ro khác nhau nên cần cân nhắc đến thứ tự ưu tiên trợ giúp cho các đối tượng được hưởng Đối tượng nào gặp khó khăn nhất sẽ được ưu tiên trước nhất Mỗi loại đối tượng cần có các giải pháp khác nhau; thậm chí với cùng loại đối tượng nhưng có hoàn cảnh thực tế khác nhau thì cách trợ giúp cụ thể cũng khác nhau Sự trợ giúp đột xuất của Nhà nước và xã hội được thực hiện bằng tiền hoặc hiện vật hay bằng cả hai cách sẽ tùy thuộc vào tình hình cụ thể của đối tượng được hưởng trợ giúp liên quan đến hoàn cảnh rủi ro, tình trạng khó khăn và nhu cầu cần trợ giúp

Trang 38

- Mở rộng đối tượng bảo trợ xã hội là sự gia tăng về số lượng được thụ hưởng theo thời gian, ngoài những đối tượng được hưởng theo quy định trước đây, Nhà nước cần bổ sung thêm đối tượng mà trước đây ngân sách chưa đảm bảo để các đối tượng đó thụ hưởng

- Sỡ dĩ phải mở rộng đối tượng BTXH là vì trong điều kiện cụ thể của nước ta, do các yếu tố về lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội nên có rất nhiều đối tượng cần được bảo trợ Chính sách bảo trợ xã hội cùng với chính sách xã hội khác sẽ góp phần làm cho sự phát triển của đất nước ta toàn diện hơn hướng đến sự phát triển vì con người trên cơ sở ba tiêu chuẩn là thu nhập, giáo dục

và tuổi thọ Trên cơ sở đó, mức sống xã hội ngày càng tăng lên làm cho nhu cầu thụ hưởng của các đối tượng tăng Đồng thời, sự phát triển kinh tế xã hội, ngân sách dùng trong hoạt động cho bảo trợ xã hội ngày một đảm bảo nên khả năng chi trả cho hoạt động bảo trợ xã hội được thuận lợi

- Nội dung về mở rộng đối tượng bảo trợ xã hội

+ Sửa đổi, bổ sung những điểm bất hợp lý về quy định các đối tượng được nhận bảo trợ xã hội để mở rộng diện được bảo trợ

Trên cơ sở pháp luật về bảo trợ được Trung ương quy định, với điều kiện của kinh tế - xã hội hiện nay, huyện nên nghiên cứu để mở rộng đối tượng hưởng chính sách trợ giúp Chẳng hạn đối với đối tượng hưởng cứu trợ thường xuyên có thể áp dụng cho cả những hộ gia đình có thu nhập dưới mức chuẩn nghèo do chính phủ công bố từng thời kỳ hay những hộ gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa Đối với đối tượng hưởng cứu trợ đột xuất có thể mở rộng cho cả những cá nhân gặp khó khăn đột xuất mà không phải do nguyên nhân khách quan như: Nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân của việc buôn bán phụ nữ, trẻ em…nhằm tạo điều kiện giúp đỡ những hộ gia đình khó khăn nuôi dưỡng người cao tuổi, các

Trang 39

nạn nhân có thêm nguồn thu nhập cải thiện cuộc sống hoặc khắc phục khó khăn trước mắt để vươn lên

+ Vận dụng một cách linh hoạt và kiến nghị Trung ương điều chỉnh lại điều kiện hưởng CTXH thường xuyên

+ Công tác quản lý, nắm bắt đối tượng phải được tiến hành thường xuyên, có hệ thống; việc thống kê, báo cáo ở cấp cơ sở về các đối tượng bảo trợ đột xuất phải chính xác, kịp thời

- Tiêu chí đánh giá về mở rộng đối tượng bảo trợ xã hội

+ Tổng số đối tượng được hưởng bảo trợ xã hội qua các năm

+ Tỷ lệ đối tượng được thụ hưởng trên tổng dân số

+ Số lượng đối tưởng được hưởng từng nhóm qua các năm

+ Tỷ lệ từng nhóm đối tượng trên tổng số đối tượng bảo trợ xã hội

1.2.3 Mở rộng mạng lưới hoạt động bảo trợ xã hội

- Mở rộng mạng lưới hoạt động bảo trợ xã hội là mở rộng các điểm, các

cơ sở cung cấp, thực hiện chức năng xác định, kịp thời thực hiện cấp phát đến đối tượng được hưởng một cách ngắn nhất, nhanh nhất và đúng đối tượng nhất

- Sỡ dĩ phải mở rộng mạng lưới BTXH là vì nếu không mở rộng mạng lưới dịch vụ thì không thể đẩy mạnh hoạt động bảo trợ xã hội, các đối tượng được hưởng các dịch vụ sẽ bị hạn chế

- Nội dung về mở rộng mạng lưới hoạt động bảo trợ xã hội

Để các đối tượng được hưởng các dịch vụ của xã hội một cách tốt nhất, mục tiêu đẩy mạnh hoạt động bảo trợ xã hội, cần phải chú trọng đến việc xây dựng nền tảng, mở rộng mạng lưới dịch vụ mang tính rộng khắp Vì vây cần: + Tăng cường thêm đội ngũ cán bộ quản lý, thực hiện công tác BTXH từ

cơ sở đến cấp cơ sở

Trang 40

+ Nghiên cứu đối tượng, quy mô đối tượng và khả năng mở các điểm cung cấp để các đối tượng được tiếp cận nhanh và hiệu quả

+ Xây thêm các trung tâm bảo trợ xã hội và nhà nuôi dưỡng các đối

tượng bảo trợ xã hội phù hợp với tình hình thực tế ở từng địa phương

+ Đổi mới, nâng cấp máy móc, trang thiết bị phục vụ cho công tác BTXH

- Tiêu chí đánh giá về mở rộng mạng lưới hoạt động bảo trợ xã hộ

+ Đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội

+ Mạng lưới cơ sở bảo trợ xã hội

1.2.4 Mở rộng hình thức bảo trợ xã hội

- Hình thức bảo trợ xã hội là cách thức tiến hành phân bổ nguồn lực tài chính đến các đối tượng được bảo trợ theo nguyên tắc nhất định

- Hình thức bảo trợ xã hội bao gồm

+ Trợ cấp trực tiếp: có thể được tiến hành theo hình thức trợ cấp bằng tiền hoặc hình thức trợ cấp bằng hiện vật

* Trợ cấp xã hội thường xuyên: là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội dành cho các thành viên trong cộng đồng về điều kiện sinh sống trong thời gian dài hoặc trong suốt cuộc đời của họ

Trợ cấp xã hội thường xuyên là loại trợ giúp bằng tiền, hiện vật mà Nhà nước định ra để trợ cấp cho các đối tượng thuộc diện trợ cấp xã hội thường xuyên Trợ cấp xã hội thường xuyên không ổn định mà biến động theo thời gian, không gian Tùy vào điều kiện phát triển kinh tế của mỗi nước, sự khó khăn thiệt thòi của từng nhóm đối tượng mà mức trợ cấp cho các đối tượng qua từng thời kỳ là khác nhau, song có thể nói trợ giúp thường xuyên là khoản trợ cấp giúp cho những đối tượng có thể tồn tại và đảm bảo cuộc sống của mình ở mức tối thiểu Tùy thuộc vào hình thức nuôi dưỡng tập trung hay tại cộng đồng mà mức cứu trợ thường xuyên được xác định ở mức tối thiểu khác

Ngày đăng: 18/01/2018, 21:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm