1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mối quan hệ giữa thanh điệu trong ca từ với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh (Luận án tiến sĩ)

259 178 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 259
Dung lượng 2,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ giữa thanh điệu trong ca từ với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh (Luận án tiến sĩ)Mối quan hệ giữa thanh điệu trong ca từ với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh (Luận án tiến sĩ)Mối quan hệ giữa thanh điệu trong ca từ với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh (Luận án tiến sĩ)Mối quan hệ giữa thanh điệu trong ca từ với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh (Luận án tiến sĩ)Mối quan hệ giữa thanh điệu trong ca từ với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh (Luận án tiến sĩ)Mối quan hệ giữa thanh điệu trong ca từ với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh (Luận án tiến sĩ)Mối quan hệ giữa thanh điệu trong ca từ với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh (Luận án tiến sĩ)Mối quan hệ giữa thanh điệu trong ca từ với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh (Luận án tiến sĩ)Mối quan hệ giữa thanh điệu trong ca từ với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh (Luận án tiến sĩ)Mối quan hệ giữa thanh điệu trong ca từ với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh (Luận án tiến sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN ANH TƯ

MỐI QUAN HỆ GIỮA THANH ĐIỆU TRONG CA TỪ VỚI GIAI ĐIỆU CỦA HÁT VÍ NGHỆ TĨNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN ANH TƯ

MỐI QUAN HỆ GIỮA THANH ĐIỆU TRONG CA TỪ VỚI GIAI ĐIỆU CỦA HÁT VÍ NGHỆ TĨNH

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 9 22 90 20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS VŨ KIM BẢNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Trần Anh Tư

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài “Mối quan hệ giữa thanh điệu trong ca

từ với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh”, tôi đã nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện của Ban Giám đốc, lãnh đạo và chuyên viên các phòng, ban chức năng của Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ quý báu đó

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Kim Bảng, người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình chỉ bảo và tạo cho chúng tôi niềm hứng thú trong công việc rất nhiều khó khăn, thách thức này Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo và các giảng viên Khoa Ngôn ngữ học của Học viện KHXH, Viện Ngôn ngữ học, những người đã dành cho tôi nhiều chỉ dẫn khoa học quý báu

Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người đã luôn động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án

Tác giả luận án

Trần Anh Tư

Trang 5

Bảng 3.4 Khu vực cao độ của thanh ngang trong Hát ví Nghệ Tĩnh

Bảng 3.5 Khu vực cao độ của thanh huyền trong Hát ví Nghệ Tĩnh

Bảng 3.6 Khu vực cao độ của thanh sắc trong Hát ví Nghệ Tĩnh

Bảng 3.7 Khu vực cao độ của thanh nặng trong Hát ví Nghệ Tĩnh

Bảng 3.8 Khu vực cao độ của thanh ngã trong Hát ví Nghệ Tĩnh

Bảng 3.9 Khu vực cao độ của thanh hỏi trong Hát ví Nghệ Tĩnh

Bảng 3.10 Tần suất xuất hiện của các thanh điệu tương ứng với cao độ của các nốt nhạc trong Hát ví Nghệ Tĩnh

Bảng 4.1 Tổng hợp kết quả khảo sát thanh điệu trong ca từ Hát ví Nghệ Tĩnh theo tiêu chí đường nét

Bảng 4.2 So sánh tỉ lệ thanh điệu theo tiêu chí đường nét trong Hát ví Nghệ Tĩnh với từ điển tiếng Việt

Bảng 4.3 Số lượng thanh điệu trong ca từ Hát ví Nghệ Tĩnh theo âm điệu bằng - trắc

Bảng 4.4 Tổng hợp mô hình âm điệu tương ứng với thanh ngang

Bảng 4.5 Tổng hợp mô hình âm điệu tương ứng với thanh huyền

Bảng 4.6 Tổng hợp mô hình âm điệu tương ứng với thanh sắc

Bảng 4.7 Tổng hợp mô hình âm điệu tương ứng với thanh nặng

Bảng 4.8 Tổng hợp mô hình âm điệu tương ứng với thanh hỏi

Bảng 4.9 Tổng hợp mô hình âm điệu tương ứng với thanh ngã

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án 7

1.1 Những nghiên cứu về âm tiết tiếng Việt, thanh điệu tiếng Việt và

thanh điệu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh 9

1.1.3 Thanh điệu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh 15 1.2 Tình hình nghiên cứu về Hát ví Nghệ Tĩnh 17 1.3 Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa thanh điệu và giai điệu của

2.1 Khái niệm thanh điệu và thanh điệu trong tiếng Việt 25

2.2 Vai trò của thanh điệu tiếng Việt trong âm nhạc dân gian

2.2.1 Quan hệ giữa thanh điệu tiếng Việt với thơ ca 40

2.3 Giai điệu trong âm nhạc và âm điệu - ngữ điệu trong tiếng Việt 43 2.3.1 Âm vực của thanh điệu tiếng Việt theo quan điểm của

2.3.2 Ngữ điệu và giai điệu trong dân ca Nghệ Tĩnh 47

Trang 7

2.4.1 Về tên gọi Xứ Nghệ 50

Chương 3 SỰ TƯƠNG ỨNG GIỮA ÂM VỰC CỦA THANH

ĐIỆU TRONG CA TỪ VỚI CAO ĐỘ CỦA NỐT NHẠC TRONG

3.2.1 Thanh điệu trong Hát ví Nghệ Tĩnh theo tiêu chí âm vực 57 3.2.2 Số lượng thanh điệu trong Hát ví Nghệ Tĩnh theo tiêu chí

3.4 Vai trò của âm vực thanh điệu trong ca từ với việc hình thành giá trị

3.4.1 Âm vực thanh điệu là cơ sở cho việc hình thành giá trị cao độ

3.4.2 Âm vực thanh điệu tạo nên “màu sắc riêng” của giai điệu Hát

3.4.3 Âm vực thanh điệu tạo nên âm hưởng trầm - lắng của giai điệu

Chương 4 SỰ TƯƠNG ỨNG GIỮA DIỄN TIẾN CAO ĐỘ CỦA

THANH ĐIỆU TRONG CA TỪ VỚI SỰ BIẾN ĐIỆU CỦA CÁC

Trang 8

4.2.1 Thanh điệu trong ca từ Hát ví Nghệ Tĩnh theo tiêu chí âm điệu 98 4.2.2 Số lượng thanh điệu trong ca từ Hát ví Nghệ Tĩnh theo tiêu chí

4.4.1 Sự tương đồng của đường nét thanh điệu với mô hình âm điệu

trong giai điệu Hát ví Nghệ Tĩnh

122

4.4.2 Âm điệu của một số thanh điệu đặc thù làm nên nét đặc trưng

của giai điệu Hát ví Nghệ Tĩnh

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Xét về mặt loại hình, đặc điểm quan trọng nhất của tiếng Việt là ngôn ngữ âm tiết tính, mang thanh điệu Điều này có nghĩa là âm tiết trong tiếng Việt được xem là đơn vị cơ bản xét từ góc độ ngữ âm, đồng thời nó là từ

cơ bản và là hình vị xét từ góc độ từ vựng và ngữ pháp Mỗi âm tiết tiếng Việt đều mang một trong sáu thanh điệu: trừ thanh ngang không có dấu biểu thị trên văn tự, 5 thanh còn lại đều mang tên của dấu ghi thanh ấy Thanh điệu tiếng Việt được thể hiện bằng hai đặc trưng ngữ âm cơ bản: âm vực (cao/ thấp) và âm điệu (bằng/trắc)

Với tư cách là “viên gạch” xây nên những đơn vị ở bậc cao hơn, âm tiết tiếng Việt mang thanh điệu góp phần tạo nên sự uyển chuyển, mềm mại của lời nói và đặc biệt đã chi phối những qui tắc làm thơ truyền thống Hơn thế, trong âm nhạc dân gian, người sáng tạo cũng dựa vào những đặc điểm thanh điệu vốn có trong âm tiết (âm vực và âm điệu) để tạo nên những giai điệu của các bài dân ca Vì vậy, việc khảo sát tìm hiểu hoạt động hành chức của thanh điệu tiếng Việt trong “địa hạt” âm nhạc không chỉ giúp chúng ta thấy rõ vai trò đặc biệt của nó trong việc tạo nên vẻ đẹp cho thi ca mà còn thấy được sự hiện thực hóa hệ thống thanh điệu trong tiếng Việt phổ thông nói chung cũng như của các phương ngữ nói riêng

1.2 Dân ca là một trong những hợp phần của âm nhạc dân gian Với người Việt, cũng như các loại hình dân gian khác, âm nhạc dân gian là bộ phận ra đời sớm và có sức sống lâu bền, tồn tại từ thế hệ này qua thế hệ khác, không ngừng phát triển, ngày một phong phú, đa dạng Dân ca là những tác phẩm thanh nhạc có lời ca, được tập thể quần chúng nhân dân lao động sáng tạo ra để phục vụ nhu cầu giải trí, nhu cầu tinh thần của chính họ về mọi mặt

Trang 10

trong đời sống, sinh hoạt, lao động… Các bài dân ca được ứng tác tại chỗ khi người dân vui chơi, lao động, sinh hoạt, hay những tâm sự, những nỗi niềm thầm kín… được lưu truyền bằng phương thức truyền khẩu Do đặc tính truyền khẩu, nên các bài dân ca của mỗi địa phương, mỗi vùng, miền, mỗi thế

hệ, và ngay cả của mỗi nghệ nhân… luôn được gọt giũa, sửa sang để thành những sáng tạo mang tính tập thể, khuyết danh, và tính dị bản cao

Nhờ vào sự chắt lọc, gọt giũa qua nhiều thế hệ, những bài dân ca ấy trở thành những tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao về âm nhạc cũng như lời ca, đại diện cho những ước vọng chân chính của con người trong cuộc sống, thể hiện sự thông minh, sắc sảo của quần chúng lao động Có thể dễ dàng nhận thấy, trong các hình thái văn hoá dân gian Việt Nam, ca dao và dân ca gắn bó với nhau rất khăng khít Sự gắn bó giữa thơ và nhạc dân gian Việt Nam đã tồn tại cùng với quá trình lịch sử dân tộc Những bài thơ xưa được sáng tác không phải để đọc hay in (bằng chữ), mà gắn liền với ngâm, hát (bằng lời) Các bài

ca dao và dân ca là do nhân dân, đa phần là nông dân không biết nhiều chữ nghĩa, sáng tạo tùy hứng và tập thể, truyền miệng người này qua người khác

Sự hoàn chỉnh và phát triển của bài hát dân ca là quá trình được “bẻ làn nắn điệu”, tức là một điệu hát khi được hát lên thấy còn chưa hay có thể sửa chữa thêm bớt, hoặc luyến láy thêm vào cho đến khi định hình (tương đối) để thành những làn điệu dân ca Có thể khẳng định, nhiều làn điệu dân ca Việt Nam như Trống quân, Cò lả, Quan họ, Ru con, Hát ví được phát triển từ những câu ca dao được sáng tác theo những thể thơ truyền thống của dân tộc Đa phần âm điệu của lời thơ là cơ sở cho sự hình thành giai điệu của âm nhạc dân

ca Với bước khởi đầu của sự hình thành và phát triển, âm điệu dân ca hầu như không tách khỏi âm điệu tiếng nói, cụ thể ở đây là âm điệu lời thơ Tìm hiểu mối quan hệ này chúng ta sẽ thấy được sự tương đồng giữa thanh điệu tiếng nói với giai điệu của dân ca trên từng vùng miền khác nhau với những đặc trưng nổi bật

Trang 11

1.3 Nghệ Tĩnh, gồm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, có một kho tàng thơ

ca dân gian đặc sắc, trong đó Ví, Giặm là bộ phận chủ đạo, là hai thể loại diễn xướng dân gian độc đáo hơn cả do cộng đồng người Việt nơi đây sáng tạo nên trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt cộng đồng Dân ca Ví, Giặm được xem là “đặc sản” của văn hóa xứ Nghệ, một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần, hình thành và nuôi dưỡng nên cốt cách, tâm hồn của người dân nơi đây Năm 2012 dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và cuối năm 2014 được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Trên con đường trở thành di sản văn hóa Quốc gia và nhân loại, trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, các làn điệu dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay và mỗi loại hình mang những đặc trưng riêng Với lịch sử tồn tại và phát triển hàng trăm năm, dân ca

Ví, Giặm đã hình thành nên các dạng bài ca tiêu biểu như: gắn với nghề nghiệp lao động sản xuất, chủ yếu được sáng tạo và lưu truyền ở các làng nghề (nghề dệt vải, nghề làm nón, nghề làm bánh, nghề đan lát, nghề làm hàng xáo, nghề đóng thuyền, nghề mộc, nghề đúc đồng, nghề gốm, nghề rèn…); gắn với nhu cầu quan hệ giao duyên, hôn nhân; gắn với quan hệ gia đình, dòng họ, mang tính khuyên răn, giáo dục giữa các thế hệ; ca ngợi quê hương, đất nước và các bậc tài danh của Nghệ - Tĩnh; mang tính tự sự, kể về

sự tích lập làng, các sự kiện, hiện tượng lịch sử và các nhân vật đặc biệt của một làng quê nhất định Bởi thế dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là di sản tinh thần

vô giá, đã thấm sâu vào tâm hồn, trí tuệ, đời sống người dân của hai tỉnh miền Trung này Tuy nhiên, khác với Hát giặm vốn dựa trên nền của các bài thơ năm chữ, Hát ví được hình thành và phát triển cơ bản trên cơ sở của các câu thơ lục bát, song thất lục bát và lục bát biến thể Tìm hiểu về loại hình dân ca

Ví, Giặm với những đặc điểm ngôn ngữ của ca từ nói chung cũng như mối quan hệ giữa các yếu tố ngữ âm địa phương với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh nói riêng là tìm hiểu tính thống nhất, đặc biệt là những nét riêng của dân

Trang 12

ca xứ Nghệ so với dân ca của các vùng miền khác trên đất nước Cũng là tìm hiểu những đặc trưng về ngôn ngữ và văn hóa của con người xứ Nghệ, giúp chúng ta cảm nhận được cái tinh túy của âm nhạc dân gian thể hiện qua sức mạnh biểu đạt của ngôn từ mà người xưa đã sử dụng chất liệu ca dao, tục ngữ

để sáng tạo nên các làn điệu này bằng cả tâm hồn và nhiệt huyết dân tộc

1.4 Trong thực tiễn đời sống âm nhạc đương đại, việc sáng tác các ca khúc mới có sử dụng chất liệu dân ca nói chung, Ví, Giặm nói riêng cũng là một cách thức để khơi nguồn và tiếp nối sức sống của dân ca cổ truyền trong bối cảnh mới Những đặc trưng, đặc điểm riêng có của tiếng địa phương Nghệ Tĩnh được sử dụng tinh tế, uyển chuyển sẽ tạo cho nền âm nhạc Việt Nam những tác phẩm mới có giá trị trường tồn Nghiên cứu của luận án sẽ đóng góp về mặt thực tiễn cho việc sáng tác ca khúc mới dựa trên chất liệu Ví, hoặc làm mới dân ca theo kiểu lồng ghép làn điệu, cũng có thể biến đổi và làm mới giai điệu cho có nhịp, có cao trào để âm hưởng Hát ví không còn trầm buồn

mà trong sáng, vui tươi… Đây là việc làm thiết thực, có ý nghĩa góp phần lưu giữ, bảo tồn và phát triển vốn văn hóa dân gian, bản sắc của Đất - Người xứ Nghệ, những viên ngọc quý dễ bị lãng quên trước sự tác động của nhiều yếu

tố xã hội và quy luật của sự hội nhập, phát triển kinh tế, văn hóa

Với những lí do đã trình bày ở trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề: “Mối quan hệ giữa thanh điệu trong ca từ với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh”

làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là: khảo sát, phân tích nguồn ngữ liệu

để làm rõ đặc điểm sử dụng thanh điệu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh trong ca

từ để tạo nên giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh ở những nét cơ bản và nổi bật

nhất Qua đó, đưa ra những nhận xét về vai trò, sự ảnh hưởng của thanh điệu tiếng địa phương đối với việc hình thành giá trị cao độ của giai điệu trong dân

Trang 13

ca Hát ví Nghệ Tĩnh - một “địa chỉ” của sự hiện thực hóa hoạt động hành chức của thanh điệu tiếng Việt

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án đặt vấn đề khảo sát sự tương ứng và mối quan hệ giữa thanh điệu của ca từ với giá trị cao độ của giai điệu trong Hát ví Nghệ Tĩnh Cụ thể hơn, đề tài của luận án muốn có cái nhìn tổng quan về cách thức chuyển hóa một bài thơ thành một giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh, góp phần làm rõ thêm cách thức chuyển hóa thanh điệu trong âm tiết tiếng Việt trở thành sự cao thấp, lên bổng xuống trầm của các nốt nhạc trong âm nhạc cổ truyền và âm nhạc hiện đại Việt Nam

Từ định hướng trên, chúng tôi tập trung nghiên cứu các vấn đề:

Thứ nhất, tổng hợp những vấn đề lý luận chung liên quan đến đề tài, như:

thanh điệu tiếng Việt và thanh điệu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh; mối quan hệ giữa ca từ, thanh điệu và giai điệu của dân ca; Hát ví Nghệ Tĩnh và các vấn đề liên quan khác

Thứ hai, phân loại, thống kê, xác định sự tương ứng giữa âm vực của

thanh điệu gắn liền với âm tiết trong ca từ và (các) nốt nhạc của Hát ví Nghệ Tĩnh

Thứ ba, phân loại, thống kê, xác định sự tương ứng giữa đường nét

của thanh điệu gắn liền với âm tiết trong ca từ và (các) nốt nhạc của Hát ví Nghệ Tĩnh

Thứ tư, thông qua các kết quả thống kê, chỉ ra vai trò, mối quan hệ

tương ứng giữa âm vực và đường nét của thanh điệu trong ca từ với giá trị cao

độ của giai điệu trong hát Ví Nghệ Tĩnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là mối quan hệ tương ứng giữa thanh điệu trong ca từ và cao độ của các nốt nhạc trong các bài dân ca Hát ví Nghệ Tĩnh để làm rõ vai trò của thanh điệu tiếng địa phương với giai điệu của Hát

Trang 14

ví Nghệ Tĩnh thông qua khảo sát 1.732 âm tiết mang thanh điệu của 68 bài dân ca Hát ví phổ biến do các nghệ nhân hát và được các nhạc sĩ kí âm, in trong các tài liệu sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu liên quan đến các làn điệu Hát ví Nghệ Tĩnh

3.2 Phạm vi nghiên cứu, nguồn ngữ liệu

3.2.1 Phạm vi nội dung

Luận án nghiên cứu đặc điểm sử dụng thanh điệu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh (âm vực và âm điệu) thuộc phần lời thơ (chủ yếu là lục bát, lục bát biến thể…), không bao gồm tiếng đệm, tiếng phụ nghĩa, tiếng lấy hơi… để tạo nên giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh

3 Phim tư liệu “Hát phường Vải xứ Nghệ” [180]: bài 64 – 68

Với nguồn ngữ liệu này, chúng tôi chỉ khảo sát ca từ (phụ lục 2) của các bản phổ do các nghệ nhân hát và được các nhạc sĩ ký âm, trên văn bản in theo chính tả tiếng Việt (phụ lục 1) Các bài dân ca Hát ví trên được chúng tôi đánh số theo thứ tự xuất hiện và quy định viết tắt ứng với số thứ tự của chúng khi trích dẫn ví dụ trong luận án

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận án sử dụng các phương pháp chính: thống kê - phân loại, quan sát - miêu tả, so sánh - đối chiếu, điền dã ngôn ngữ học

4.1 Phương pháp thống kê – phân loại được sử dụng để thống kê

nguồn tư liệu trên cơ sở tập hợp, phân loại các âm tiết mang thanh điệu trong

ca từ Hát ví Nghệ Tĩnh Với kết quả thống kê mang tính định lượng cụ thể,

Trang 15

đây là phương pháp đóng vai trò quan trọng, tạo ra một số căn cứ thực tiễn để

có được những đánh giá định tính bảo đảm tính thuyết phục hơn

4.2 Phương pháp quan sát - miêu tả được sử dụng kết hợp phương

pháp định lượng để chỉ ra mối quan hệ tương ứng giữa âm vực và âm điệu của thanh điệu trong lời ca với giá trị cao độ của giai điệu trong các bài Hát ví Nghệ Tĩnh

4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng trong hầu hết các

công đoạn của luận án, từ khâu khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích, miêu

tả, kết luận… nhằm chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa thanh điệu tiếng Việt và thanh điệu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh trong các bài Hát ví Nghệ Tĩnh

4.4 Phương pháp điền dã ngôn ngữ học được sử dụng khi cần thiết

phải kiểm tra nguồn gốc, độ chính xác của tư liệu trên văn bản

5 Đóng góp mới của luận án

Đề tài góp phần nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu ở bình diện ngữ âm trong Hát ví Nghệ Tĩnh, cụ thể là về mối quan hệ cũng như vai trò của thanh điệu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh đối với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh Vận dụng những kiến thức cơ bản của ngữ âm học, phương ngữ học, lý thuyết âm nhạc cơ bản để khảo sát, phân tích về sự tương ứng giữa âm vực và đường nét của thanh điệu đối với việc hình thành giá trị cao độ của giai điệu trong Hát ví Nghệ Tĩnh, qua đó nhằm làm rõ sự hành chức của thanh điệu tiếng Việt trong âm nhạc Đồng thời đề tài cũng góp phần làm rõ vai trò của thanh điệu tiếng địa phương đối với việc hình thành nên những giá trị âm nhạc đặc trưng vùng miền của các làn điệu dân ca Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần:

Trang 16

- Làm rõ một số khía cạnh lý thuyết về thanh điệu tiếng Việt nói chung

và thanh điệu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh nói riêng

- Bổ sung, làm rõ thêm vai trò đặc biệt của thanh điệu tiếng Việt không chỉ trong việc sáng tác thơ ca mà còn tạo nên vẻ đẹp của giai điệu âm nhạc thông qua hoạt động hành chức của nó

- Miêu tả, làm rõ sự tương ứng giữa âm vực, âm điệu của thanh điệu trong ca từ với giai điệu trong Hát ví Nghệ Tĩnh, mối quan hệ tương tác và vai trò của thanh điệu với giai điệu của dân ca

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể ứng dụng vào việc nghiên cứu, giảng dạy, bảo tồn và sáng tác mới các ca khúc có âm hưởng dân ca xứ Nghệ

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án

gồm 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2 Cơ sở lí luận

Chương 3 Sự tương ứng giữa âm vực của thanh điệu trong ca từ với

âm vực của nốt nhạc trong Hát ví Nghệ Tĩnh

Chương 4 Sự tương ứng giữa diễn tiến cao độ của thanh điệu trong

ca từ với sự biến điệu của các nốt nhạc trong Hát ví Nghệ Tĩnh

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Liên quan đến đề tài luận án của chúng tôi đã có các công trình nghiên cứu của những người đi trước thuộc các lĩnh vực: âm tiết và thanh điệu tiếng Việt; thanh điệu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh; đặc điểm Hát ví Nghệ Tĩnh và mối quan hệ giữa thanh điệu và giai điệu của dân ca Việt Nam từ góc độ nghiên cứu của ngôn ngữ học và âm nhạc

1.1 Những nghiên cứu về âm tiết tiếng Việt, thanh điệu tiếng Việt

và thanh điệu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh

1.1.1 Về âm tiết tiếng Việt

Đặc điểm cơ bản và quan trọng nhất của tiếng Việt là ngôn ngữ đơn tiết (monosyllabism) mang thanh điệu Nói cách khác, âm tiết với tư cách là đơn vị ngữ âm, có vai trò đặc biệt, chi phối tất cả các đặc điểm khác về từ vựng, ngữ pháp của tiếng Việt Đề cập đến nội dung này, theo trình tự thời gian, phải kể đến các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Hàm Dương (1966), Nguyễn Tài Cẩn (1975), Vũ Bá Hùng (1976), Đoàn Thiện Thuật (1977), Cao Xuân Hạo (1985, 2001), Hồ Lê (1985), Nguyễn Quang Hồng (1976, 2012, 2014, 2017)

Nhìn vào lịch trình thời gian có thể nhận ra rằng, trước những năm 60 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu tiếng Việt không quan tâm đến vai trò của

âm tiết Chỉ sau những năm sáu mươi, những người học tập ở Liên Xô cũ đã tiếp thu những tư tưởng của E.D Polivanop và A A Dragunop về đơn vị

được gọi là xilabem - hình tiết tương đương với tiếng hay âm tiết trong tiếng

Việt, thì việc xác định vai trò âm tiết mới được quan tâm thỏa đáng Vào năm

1985, Tạp chí Ngôn ngữ, cơ quan ngôn luận duy nhất thời kỳ này đã tổ chức thảo luận chuyên đề “Tiếng, hình vị và từ” theo hình thức các bài trình bày, thảo luận công khai trên Tạp chí trong nhiều số và đã thu được những kết quả thú vị

Các tác giả tiêu biểu chúng tôi đã nêu trên đều nhất trí và xác nhận vai

trò của âm tiết: cho dù là đơn vị ngữ âm, nhưng nó là đơn vị cơ bản nhất và quan trọng nhất tạo nên đặc điểm loại hình đơn lập tiếng Việt Sự khác biệt

giữa các tác giả chỉ là quan niệm về cấu trúc của âm tiết Nguyễn Hàm

Trang 18

Dương là tác giả đầu tiên nêu lên vai trò của âm tiết tiếng Việt qua bài “Âm tiết tiếng Việt, một đơn vị tín hiệu cơ bản” (1966) Trong bài viết, tác giả chứng minh âm tiết trong tiếng Việt là đơn vị phát âm tự nhiên nhất và có chức năng không chỉ đối với ngữ âm mà còn đối với cả từ vựng, ngữ pháp tiếng Việt Tiếp tục tư tưởng này, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt Tiếng –

Từ ghép – Đoản ngữ” (1975), Nguyễn Tài Cẩn khi bàn về đơn vị cơ bản của

ngữ pháp tiếng Việt, đã chỉ ra đầy đủ vai trò của âm tiết mà ông gọi là tiếng

với tư cách là một thể nhưng thống nhất ba ngôi: tiếng đồng thời là âm tiết (ngữ âm), là từ cơ bản (từ vựng) và là hình vị (ngữ pháp) Rõ ràng, đặc trưng

đơn tiết thể hiện ở tất cả các cấp độ của tiếng Việt và là đặc trưng không thể phủ nhận

Cao Xuân Hạo, ngay từ bài viết “Về cương vị ngôn ngữ học của tiếng”

(1985) đã chứng minh cho luận điểm “trong tiếng Việt, tiếng vừa là âm vị,

vừa là hình vị vừa là từ” và “tôi có chứng minh rằng trong tiếng Việt đơn vị

có cương vị ngôn ngữ học của âm vị là tiếng chứ không phải là âm tố như các ngôn ngữ châu Âu” [72, 51] Tác giả duy trì quan điểm của mình về việc

tiếng không thể phân xuất thành những thành phần nhỏ hơn trong công trình

“Âm vị học và tuyến tính” (2001): Nói cách khác tiếng là một khối, không có

cấu trúc ngữ âm nội tại Đây là quan điểm độc đáo về cấu trúc âm tiết tiếng

Việt khác với tất cả các tác giả khác khi bàn về đơn vị này

Nguyễn Quang Hồng là người có nhiều bài viết sâu sắc về âm tiết tiếng Việt, đặc biệt là vai trò của nó trong thi ca Việt Nam Có thể kể đến các khảo

sát “Âm tiết tiếng Việt, chức năng và cấu trúc của nó” (1976); “Âm tiết và loại hình ngôn ngữ” (2012); “Âm tiết tiếng Việt và sự thể hiện chức năng thi ca” (2014) và mới nhất là cuốn sách “Âm tiết tiếng Việt và ngôn từ thi ca”

(2017) Ông cho rằng âm tiết được người Việt gọi theo cách gọi truyền thống

là tiếng tức là xét về mặt âm thanh hoặc là chữ xét về mặt chữ viết (theo quan

niệm chữ tượng hình truyền thống) Âm tiết, xét từ góc độ ngữ âm, là một chỉnh thể âm thanh trọn vẹn, không biến đổi trong quá trình giao tiếp và do

vậy nó thỏa mãn đặc điểm loại hình đơn tiết: đơn lập về cơ cấu hình thái và

âm tiết tính về cơ cấu ngữ âm Về mặt chức năng, tác giả cho rằng: “Sự tương đương nhất định về mặt chức năng (tạo lập vỏ tiếng các đơn vị mang nghĩa) giữa âm tiết tiếng Việt, tiếng Hán với âm vị trong các ngôn ngữ biến hình

Trang 19

đã dẫn ta đến chỗ thừa nhận âm tiết hay đúng hơn - tiết vị (xi-la-bem - thuật ngữ của E.D Pô-li-va-nốp) là đơn vị ngữ âm cơ bản trong hệ thống ngữ âm tiếng Việt, tiếng Hán và các ngôn ngữ cùng loại hình” [84, 31] Về mặt cấu

trúc, tuy là một đơn vị trọn vẹn về ngữ âm nhưng âm tiết vận có thể được

phân thành những đại lượng ngữ âm nhỏ hơn: âm đầu, vần và thanh bằng các

qui tắc hình thái học của tiếng Việt theo quan điểm âm vận học truyền thống

Các tác giả Vũ Bá Hùng, Hồ Lê và Đoàn Thiện Thuật ít bàn về chức năng mà chủ yếu bàn về cấu trúc của âm tiết tiếng Việt Các tác giả này đều

chia âm tiết thành bốn thành phần chiết đoạn: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm

cuối và một thành phần siêu đoạn: thanh điệu

1.1.2 Về thanh điệu tiếng Việt

Hệ thống thanh điệu tiếng Việt, từ rất lâu đã được các tác giả cả trong nước và và đặc biệt là các tác giả nước ngoài quan tâm, nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau

Các công trình của các tác giả trong nước viết về thanh điệu tiếng Việt bằng tiếng Việt phải kể đến: Đoàn Thiện Thuật (1977), Bùi Văn Nguyên (1977), Hoàng Cao Cương (1986), Vũ Kim Bảng (1986), Hoàng Thị Châu (1989), Võ Xuân Quế (1993), Vũ Bá Hùng (1978, 1988, 1990, 1999), Huỳnh Công Tín (1999), Nguyễn Văn Tài (1980), Trần Trí Dõi (1991, 2002), Nguyễn Hoài Nguyên (2002), Nguyễn Văn Lợi (1991, 1997, 2002, 2009, 2012), Nguyễn Tài Thái (2015)…

Các công trình của các tác giả ở ngoài nước viết về thanh điệu tiếng Việt bằng tiếng nước ngoài là rất đa dạng và phong phú Có thể kể đến các tác giả: Lê Văn Lý (1948), Andreev, N.D & Gordina, M.V (1957), Nguyen Ham Duong (1966), L Thompson (1965), Nguyễn Đăng Liêm (1970), Earle (1975), Han và Kim (1974), Gordina M.V và Bystrov, I.X (1984), Vu Thanh Phuong (1982), Đỗ Thế Dũng (1986), Haudricourt A.G (1991), Efimov A.J (1991), Ferlus Michel (1997), Andrea Hoa Pham (2001, 2003, 2005), Koichi Honda (2006)

Những nghiên cứu về thanh điệu tiếng Việt có nội dung được đề cập đến rất phong phú: nguồn gốc; miêu tả đặc trưng; các biến thể địa phương và các vấn đề khác liên quan Về phương pháp, các tác giả dùng cả phương pháp cảm thụ thính giác và phương pháp ngữ âm học thực nghiệm Sau đây là một

Trang 20

số nội dung cơ bản về thanh điệu tiếng Việt qua các nghiên cứu của một số tác giả tiêu biểu

a) Nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt

Về nguồn gốc các thanh điệu tiếng Việt, phải kể đến các tác giả nước ngoài như Haudricourt A.G (1991), Efimov.A.J (1991), Ferlus Michel (1997)… và tác giả trong nước như Nguyễn Văn Tài (1980), Trần Trí Dõi (1991), Nguyễn Văn Lợi (1991)…

A.G Haudricourt (1991) trong bài viết “Về nguồn gốc các thanh điệu

tiếng Việt”, trên Tạp chí Ngôn ngữ, số 1 được xem là người đề cập căn bản

nhất về vấn đề nguồn gốc thanh điệu Việt Tác giả đã chứng minh tiếng Việt (nói đúng ra là tiếng Việt Mường chung) ở giai đoạn đầu Công nguyên còn chưa có thanh điệu, trong từ còn có phụ tố và các nhóm phụ âm đầu, các âm cuối họng, hầu và xát Việc hình thành thanh điệu do hai quá trình tạo ra: sự rụng dần hoặc bị thay thế các âm cuối [r], [l], [h], [s], [?] và nhu cầu phải phân biệt các âm đầu vô thanh tiếng Hán (do sự vay mượn tiếng Hán Việt) với các âm hữu thanh đã được vô thanh hóa trong tiếng Việt Mường giai đoạn muộn hơn

Các tác giả khác dựa trên cách đặt vấn đề của A.G Haudricourt để triển khai nghiên cứu sâu hơn ở các khía cạnh khác nhau về nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt

b) Đặc trưng hệ thống thanh điệu tiếng Việt

Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các đặc trưng của hệ thống thanh điệu tiếng Việt Tuy nhiên, các nghiên cứu này phần lớn chỉ nghiên cứu thanh điệu trong bối cảnh độc lập mà chưa có nhiều nghiên cứu xem xét sự biến đổi của thanh điệu trong ngữ lưu Sở dĩ như vậy, theo chúng tôi, không phải là vì vấn đề này chưa được nghĩ đến mà là do hạn chế của phương pháp nghiên cứu (đa số dùng phương pháp cảm thụ thính giác), hạn chế của các phương tiện phân tích hoặc người sử dụng chưa phát huy hết hiệu quả của các máy móc thực nghiệm

Một cách khái quát nhất có thể nói nghiên cứu về thanh điệu tiếng Việt một cách toàn diện ở diện đồng đại, trước tiên phải kể đến hai công trình “Hệ thống thanh điệu tiếng Việt” của Andreev N.D & Gordina V (1957) và “Ngữ

âm tiếng Việt” của Đoàn Thiện Thuật (1977) Cả hai công trình này trước tiên

Trang 21

đã tiến hành miêu tả hệ thống thanh điệu tiếng Việt ở cả bình diện âm vị học

và ngữ âm học bằng hai phương pháp điển hình: cảm thụ thính giác (Đoàn Thiện Thuật) và ngữ âm thực nghiệm (Andreev N.D & Gordina V.M.) Các tác giả đã trình bày, bàn luận từng đặc điểm tiêu chí ngữ âm học của hệ thanh điệu tiếng Việt: âm vực, đường nét, trường độ, hiện tượng tắc họng, hiện

tượng yết hầu hoá có đối chiếu với những kết quả nghiên cứu đã có của các

tác giả đi trước Có thể khẳng định, các kết quả nghiên cứu của hai công trình trên về thanh điệu tiếng Việt đến nay vẫn còn nguyên giá trị

Các công trình nghiên cứu mới về hệ thanh điệu Việt cũng đã xuất hiện Một số tác giả như: Thompson (1965), Vu Thanh Phuong (1982), Nguyễn Văn Lợi & Jerold A Edmondson (1987), Andrea Hoa Pham (2003) có sự khác biệt với nhiều tác giả theo quan niệm truyền thống ở Việt Nam, đã đưa

ra một cách nhìn mới về các tiêu chí khu biệt thanh điệu khi cho rằng để khu

biệt thanh còn phải dựa vào tiêu chí chất giọng (voice quality) vốn là hệ quả của các thức tạo thanh (phonation type)

c) Các biến thể của hệ thống thanh điệu tiếng Việt về mặt địa lý

Tiếng Việt là sự thể hiện đa dạng nhưng thống nhất qua các phương ngữ Do vậy, thanh điệu tiếng Việt thể hiện trong từng phương ngữ đặc biệt được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu: Võ Xuân Quế (1993), Hoàng Thị Châu (2004), Nguyễn Văn Lợi (1997, 2009, 2012), Võ Xuân Trang (1997), Trần Trí Dõi (2002), Trịnh Cẩm Lan (2005), Nguyễn Tài Thái (2015)…

Do tính đại diện và đa dạng của phương ngữ Bắc qua các tiếng Hà Nội

và các thổ ngữ vùng đồng bằng Bắc Bộ nên nhận được sự chú ý của nhiều nhà ngôn ngữ học như Andreev và Bystrov (1957), Nguyễn Đăng Liêm (1970), Earle (1975), Han và Kim (1974), Vu Thanh Phuong (1982), Gordina M.V & Bystrov I X (1984), Andrea Hoa Pham (2005), Koichi Honda (2006)…

Về tính khái quát, trước tiên là công trình “Tiếng Việt trên mọi miền đất nước” của Hoàng Thị Châu (2014) Trong cuốn sách này, cùng với việc miêu tả hệ thống ngữ âm ở các vùng miền khác nhau, tác giả có một chương riêng miêu tả chi tiết hệ thống thanh điệu của phương ngữ Bắc Bộ, Bắc Trung

Bộ và Nam Bộ Từ góc độ nghiên cứu thực nghiệm, Vũ Kim Bảng (1986), trong bài “Nhận xét về trường độ thanh điệu qua phương ngữ Hà Nội và

phương ngữ Nam Bộ (cứ liệu thực nghiệm)”, đã đề cập đến sự khác biệt giữa

Trang 22

hai phương ngữ tiêu biểu, có vai trò quan trọng ở hai đầu đất nước Hoàng Cao Cương (1989) cũng đã xem xét đến đặc điểm thanh điệu của các phương ngữ bằng phương pháp ngữ âm thực nghiệm qua bài viết “Thanh điệu Việt qua giọng địa phương trên cứ liệu F0” Theo hướng này, Huỳnh Công Tín (1999) cũng tiến hành so sánh đặc điểm ngữ âm của tiếng Sài Gòn với tiếng

nói ở các vùng tiêu biểu khác qua luận án Tiến sĩ Hệ thống ngữ âm của tiếng

Sài Gòn so với phương ngữ Hà Nội và một số phương ngữ khác ở Việt Nam

d) Một số vấn đề khác liên quan đến thanh điệu tiếng Việt

Thanh điệu tiếng Việt được quan tâm và khai thác trên nhiều khía cạnh khác nhau, chẳng hạn: thanh điệu thể hiện trong các từ song tiết, từ láy đôi, thơ, hát Xoan, Quan họ (Vũ Bá Hùng (1991), Hoàng Cao Cương (1985), Vũ Thị Hải Hà (2006), Phạm Trọng Toàn (2011) ) Vấn đề sửa lỗi thanh điệu cho học viên nước ngoài, cho người mắc các tật về phát âm, đánh giá sự thể hiện thanh điệu của bệnh nhân sau phẫu thuật thanh quản… (Ngô Như Bình (1999), Phan Khánh Hòa & Nguyễn Văn Lợi (2003)…) Vấn đề tần số xuất hiện của thanh điệu tiếng Việt cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, khảo sát (Vương Hữu (1985), Đinh Điền, Đỗ Đức Hào (2015) …)

Trong dòng lời nói liên tục, các thanh điệu hiếm khi đạt được giá trị đích của chúng, chúng thường chịu ảnh hưởng bởi ngữ cảnh: âm tiết có trọng âm và âm tiết không trọng âm (nhấn - không nhấn); ảnh hưởng bởi các thanh điệu xung quanh; nhịp điệu những yếu tố ảnh hưởng này ít được nghiên cứu Liên quan trực tiếp đến vấn đề mà đề tài quan tâm, năm 1990, tác giả Vũ Bá Hùng cũng đã đặt ra vấn đề cần phải xem xét đặc điểm thanh điệu trong chuỗi lời nói, tuy nhiên, ông mới chỉ xem xét thanh điệu trong

“ngữ cảnh vi mô”, cụ thể là “nghiên cứu thanh điệu trong các từ song tiết,

hình thái nhỏ nhất của sự kết hợp”, đo sự thay đổi của tần số cơ bản ở 3 điểm: đầu, giữa và cuối mỗi thanh và trường độ của các thanh ngang, huyền, hỏi, sắc, nặng; và 6 điểm đối với thanh ngã (bởi đường nét thanh này bị gãy) Tuy nhiên, nếu chỉ đo giá trị F0 ở ít điểm thì khó dựng lại được sự thay đổi cụ thể, tinh tế của đường nét thanh điệu Do đó, trong nghiên cứu của mình, chúng tôi mong muốn mở rộng phạm vi sang khảo sát thanh điệu trong “ngữ cảnh vĩ mô” hơn

Han và Kim (1974) miêu tả các biến thể thanh điệu trong các từ song

Trang 23

tiết; cũng có thể tìm thấy một vài nhận xét về vấn đề này trong các bài nghiên cứu của Hoàng Tuệ và Hoàng Minh (1975), Gordina và Bystrov (1984), Hoàng Cao Cương (1985) và P Seitz (1986) Đỗ Thế Dũng (1986, 1989) đưa

ra những miêu tả chi tiết trong bài báo cáo về mối quan hệ giữa trọng âm và thanh điệu

Nhiều tác giả quan tâm đến hiện tượng biến thanh hay còn gọi là hiện tượng “sandhi” (chuyển âm theo ngữ cảnh) trong tiếng Việt, một hiện tượng diễn ra trong các ngôn ngữ có thanh điệu khác như tiếng Trung Quốc, tiếng Thái Thanh điệu có thể chịu ảnh hưởng của thanh điệu xung quanh, song nó vẫn được xem xét và mô tả như hiện tượng đồng hóa thanh điệu hoặc đồng cấu âm Tuy nhiên, các tác giả không nhất trí về việc liệu những hiện tượng đồng hóa này là những đồng hóa ngược hay những đồng hóa xuôi Han và Kim (1974) nhận thấy rằng có cả hai loại đồng hóa này nhưng họ cho rằng hiện tượng đồng hóa xuôi nổi trội hơn; Gordina và Bystrov (1957) đồng ý với

sự tồn tại của cả hai kiểu loại nhưng lại nhấn mạnh vào quá trình đồng hóa ngược Đỗ Thế Dũng (1986) nhấn mạnh tầm quan trọng của quá trình đồng hóa xuôi theo cao độ đạt được bởi thanh điệu đi trước nó; sau một thanh điệu

tăng như sắc hay hỏi, bất kỳ thanh điệu theo sau nào cũng một hoặc hai phần

tư các thanh điệu cao hơn giá trị đích bình thường của nó và sau thanh nặng

và huyền, nó sẽ bắt đầu giảm một hoặc hai phần tư; sự thay đổi này diễn ra ở

các vị trí không trọng âm mạnh hơn vị trí có trọng âm; và mặc dầu vậy, vẫn duy trì sự khác biệt tương đối về âm vực và đường nét thanh điệu

1.1.3 Thanh điệu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh

Hệ thống thanh điệu tiếng Việt được thể hiện rất khác nhau ở mỗi vùng địa phương, bởi vậy các nhà ngôn ngữ học đã khẳng định thanh điệu là một trong những đặc điểm quan trọng dùng để nhận diện và phân biệt các phương ngữ, thổ ngữ Giáo trình “Lịch sử ngữ âm tiếng Việt” của Nguyễn Tài Cẩn cho biết hệ thống thanh điệu của tiếng Việt phổ thông thể hiện đầy đủ nhất ở phương ngữ Bắc Bộ còn đa số các vùng phương ngữ chỉ có 5 thanh vì hai thanh nào đấy không tách bạch ra được mà nhập làm một Ở Nghệ An, thanh ngã nhập với thanh nặng [18, 225] Cũng như vậy, Hoàng Thị Châu cho rằng

“mỗi phương ngữ, thổ ngữ đặc biệt có hệ thống thanh điệu riêng [22, 205] Và

“Phương ngữ Nghệ Tĩnh không phân biệt được thanh ngã và thanh nặng Cả

Trang 24

năm thanh tạo thành hệ thống các thanh điệu khác với phương ngữ Bắc, có độ trầm lớn hơn” [22, 93]

Do những đặc điểm mang tính khác biệt, từ lâu, tiếng địa phương Nghệ Tĩnh đặc biệt được nhiều người quan tâm, tìm hiểu, nghiên cứu Năm 1912, H Maspéro đã đưa ra những nhận xét về thanh điệu Nghệ Tĩnh trong công trình nghiên cứu lịch sử các âm đầu tiếng Việt: “Thanh 1 (bằng) và thanh 2 (huyền) giống với tiếng Bắc, nhưng thanh 1 thường được phát âm với âm điệu hơi đi xuống, còn thanh 2 Nghệ lại có mức âm điệu cao hơn thanh 2 Bắc, mặc dù vẫn thuộc âm vực thấp, khác với thanh 1 thuộc âm vực cao Thanh 5 (thanh sắc) Nghệ thường có đường nét âm điệu gần giống thanh 4 (thanh hỏi) Bắc nhưng thuộc âm vực cao Thanh 4 thường có đường nét âm điệu giống thanh 6 Bắc và thường có âm tắc thanh hầu ở cuối hoặc ở giữa [dẫn theo 169, 91] Lần lượt các nhà nghiên cứu Andreev & Gordina (1960), Hoàng Thị Châu (1989), Võ Xuân Quế (1993), Hoàng Cao Cương (1989), Đinh Lê Thư - Nguyễn Văn Huệ (1998), Trần Trí Dõi (2001)… cũng đã có các công trình miêu tả đồng đại hệ thống thanh điệu Nghệ Tĩnh Các tác giả Hoàng Thị Châu, Hoàng Cao Cương, Trần Trí Dõi đã có những miêu tả khá chi tiết và đều cho rằng thanh điệu Nghệ tĩnh có thể xem như tiêu biểu cho hệ thanh điệu của các phương ngữ Bắc Trung

bộ, gồm 5 thanh, không có thanh ngã Theo Hoàng Thị Châu, đặc điểm cơ bản của hệ thanh Nghệ Tĩnh là hệ thanh điệu trầm [22] Hoàng Cao Cương cũng nhận định, thanh điệu Nghệ Tĩnh có vùng âm vực chung hẹp, sự phân cắt các vùng âm vực bộ phận không rõ ràng, tạo ấn tượng thẩm nhận giọng nặng, có phần đơn điệu so với giọng Bắc và giọng Nam [32]

Trong bài viết “Thanh điệu một vài thổ ngữ Nghệ An: từ góc nhìn đồng đại và lịch đại”, dựa trên kết quả phân tích thực nghiệm bằng máy tính, tác giả Nguyễn Văn Lợi đã xác lập hai bộ tiêu chí nhận diện hệ thanh điệu Nghệ An

là các tiêu chí về cao độ và các tiêu chí về chất giọng Những đặc trưng chung

về cao độ thanh điệu Nghệ An là “âm vực chung hẹp, và sự khác biệt không lớn giữa âm vực bộ phận các thanh là đặc trưng quan trọng của hệ thanh tiếng Nghệ An” [120, 9] Đặc trưng về đường nét âm điệu cũng được tác giả chỉ rõ

“cả về lịch đại và đồng đại, các đặc trưng về cao độ (đường nét âm điệu và âm vực) để nhận diện và khu biệt các thanh tiếng Nghệ An được thể hiện chủ yếu

ở nửa cuối âm tiết” [120, 10] Còn về đặc trưng chất giọng: thanh 1, chất

Trang 25

giọng thường; thanh 2, chất giọng chùng; thanh 3 kết thúc bằng thanh môn hóa; thanh 4, chất giọng kẹt thanh (thanh quản hóa); thanh 5, thanh quản hóa Tác giả kết luận: “Bên cạnh đặc điểm về vùng âm vực chung hẹp, những đặc trưng riêng biệt về âm học của các kiểu tạo thanh (chất giọng) tạo cho tiếng Nghệ một màu sắc riêng, thường được thẩm nhận là nặng, sâu hay trầm hơn

so với tiếng Bắc” [120, 10]

Tác giả Bùi Văn Nguyên (1977) trong một công trình nghiên cứu về thanh điệu tiếng Nghệ Tĩnh từ rất sớm “Thử tìm hiểu giọng nói Nghệ Tĩnh trong hệ thống giọng nói chung cả nước” đã có những khái quát về giọng nói

Nghệ Tĩnh Đặc trưng hệ thống thanh điệu chỉ có 5 thanh của giọng Nghệ Tĩnh

được Nguyễn Hoài Nguyên (2001) trình bày trong bài viết “Thanh ngã trong phương ngữ tiếng Việt” Tiếp đó, luận án Tiến sĩ “Miêu tả đặc trưng ngữ âm phương ngữ Nghệ Tĩnh” của chính tác giả bảo vệ năm 2003 được xem là công trình nghiên cứu toàn diện, sâu sắc nhất cho đến nay về hệ thống ngữ âm tiếng địa phương Nghệ Tĩnh trong đó có phần miêu tả hệ thống thanh điệu

Bên cạnh đó, đặc thù ngữ âm của thổ ngữ vùng Nghi Lộc của Nghệ

An cũng đã được nghiên cứu chuyên sâu qua luận án của Võ Xuân Quế (1993), Andrea Hòa Phạm (2001) và bài viết chuyên biệt về hệ thống thanh điệu vùng thổ ngữ này của tác giả Trần Trí Dõi (2001) - “Thanh điệu tiếng Việt ở Cửa Lò”

1.2 Tình hình nghiên cứu về Hát ví Nghệ Tĩnh

Việc tìm hiểu, nghiên cứu dân ca xứ Nghệ nói chung, Hát ví nói riêng

đã được các chuyên gia, nhà nghiên cứu tiến hành từ lâu, ở những thời kì khác nhau (trước cách mạng, trong kháng chiến, hiện nay) với những quy mô khác nhau (bài viết, công trình, hội thảo…) và từ nhiều cách tiếp cận: âm nhạc, sân khấu, văn hóa, văn học, ngôn ngữ Những xu hướng tìm hiểu dân ca xứ Nghệ và kết quả nghiên cứu thể hiện trên mấy phương diện cơ bản sau đây:

Về lĩnh vực sưu tầm: Việc sưu tầm dân ca Nghệ Tĩnh đã được tiến

hành bền bỉ, kiên trì từ những năm trước Cách mạng, những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và cho đến hiện nay, do các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, các nhạc sỹ, nghệ sỹ thực hiện như: Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Chung Anh, Ninh Viết Giao, Thái Kim Đỉnh, Lê Hàm, Trần Hữu Thung, Thanh Lưu, An Thuyên Tính đến nay đã có nhiều tác giả,

Trang 26

nhiều công trình sưu tầm dân ca Nghệ Tĩnh nói chung, trong đó có Hát ví, tiêu

biểu là: Ninh Viết Giao (Hát phường vải, 2002; Về văn học dân gian xứ Nghệ, 2004), Vi Phong (Dân ca Nghệ Tĩnh, 1993), Vi Phong, Thư Hiền (Hát

phường vải ở Trường Lưu, 1997) và nhiều tư liệu sưu tầm của các tác giả

khác (Hò chèo cạn ở Cẩm Nhượng, hát giặm Thạch Hà, hát ví sông La )

Kết quả sưu tầm hiện còn lưu giữ và được in thành các tập sách xuất bản từ năm 1928 đến nay, gồm: dân ca, ca dao, tục ngữ, thành ngữ, truyện kể dân gian vùng Nghệ Tĩnh Trong đó, lĩnh vực dân ca ở dạng gốc được chọn lọc, phát hành chính thức để làm tư liệu phục vụ cho nghiên cứu, dạy học và cơ sở

để cải biên, sân khấu hoá Các làn điệu gốc đã sưu tầm, lưu giữ được hiện có

59 bài, gồm: thể hát Ví: 19 bài, hát Giặm: 9 bài, Hò: 9 bài, hát Ru: 6 bài, Đồng dao: 9 bài, hát Sắc bùa: 2 bài, hát Thờ cúng dân gian: 5 bài [152]

Về lĩnh vực nghiên cứu và xác định, đánh giá các giá trị của di sản

dân ca xứ Nghệ cũng như Hát ví Nghệ Tĩnh: Các nghiên cứu đều thống nhất dân ca Nghệ Tĩnh là một tập hợp của nhiều thể loại, như: Ví, Giặm, Hò, hát

Ru, hát Đồng dao, hát Sắc bùa, hát Cầu đồng, hát Xẩm, lẩy Kiều Nhưng nhiều công trình nghiên cứu hay ý kiến phát biểu của các chuyên gia (Nguyễn Đổng Chi, Lê Hàm, Thanh Lưu, Ninh Viết Giao) cho rằng, trong các thể hát

đó thì có ba thể hát chính, tiêu biểu nhất là: hát Ví, hát Giặm và Hò Nói đến dân ca Nghệ Tĩnh cũng chính là nói đến ba thể này Trong ba thể này thì Ví

và Giặm lại có tính đặc thù cho dân ca Nghệ Tĩnh, còn Hò thì có ý kiến cho rằng nó không đặc thù cho vùng này, mà có sự lai tạp của các vùng khác (hò sông Mã, hò Huế) Cho đến nay đã có rất nhiều công trình, tập sách, chuyên luận, bài viết nêu và làm rõ được đặc trưng và các giá trị văn hóa, âm nhạc, văn học của dân ca xứ Nghệ Trong đó đáng kể là các công trình thuộc đề tài, dự án cấp bộ, cấp tỉnh, các luận văn, luận án, các tập sách, kỉ yếu tập hợp

các bài viết qua các hội thảo, như: Bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca ví,

giặm xứ Nghệ (nhiều tác giả, 2012); Hát giặm Nghệ Tĩnh (Nguyễn Đổng Chi,

Ninh Viết Giao, 1962), Hát ví Nghệ Tĩnh (Nguyễn Chung Anh, 1958); Dân ca

Nghệ Tĩnh (Thanh Lưu, Lê Hàm, Vi Phong, 1991), Âm nhạc dân gian xứ Nghệ (Lê Hàm, Hoàng Thọ, Thanh Lưu, 2000) Trong số đó có những luận

án, bài viết tiêu biểu bàn về từng lĩnh vực của dân ca như: Đặc trưng hình

thức của các thể thơ dân gian Nghệ Tĩnh (Ngô Văn Cảnh, 2004), Đặc điểm

Trang 27

ngôn ngữ giới tính trong hát phường Vải Nghệ Tĩnh (Nguyễn Thị Mai Hoa,

2010), Tính bác học trong ca từ dân ca ví giặm xứ Nghệ (Ninh Viết Giao, 2004), Vai trò của phương ngôn trong dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ, Suy nghĩ

về mấy lời hát ví (Phan Mậu Cảnh, 2012), Tính chất, đặc điểm và các làn điệu hát giặm xứ Nghệ (Hoàng Vinh, 2012), Hát giặm Nghệ Tĩnh - một thể hát dân

ca đậm bản sắc văn hóa xứ Nghệ (Đỗ Thị Kim Liên, 2012) Các nghiên cứu

này, tuy cách diễn đạt có khác nhau, nhưng đều có chung nhận định về đặc

điểm các thể hát của dân ca Nghệ Tĩnh: về nhịp điệu, các thể hát của dân ca

Nghệ Tĩnh có nhịp điệu gắn với công việc lao động nên phong phú, linh hoạt

tự do; về thời gian: hát hò diễn ra bất kỳ lúc nào trong môi trường lao động, sinh hoạt, hội hè; về nội dung: lời ca phản ánh tâm tình và hiện thực đời sống

của người lao động Theo nhạc sỹ An Thuyên, âm hưởng nổi bật nhất của

dân ca Nghệ Tĩnh là “nỗi buồn thăm thẳm và cái cổ xưa hoang sơ”; về âm

nhạc, dân ca Ví, Giặm được xây dựng trên cái trục của 3 nốt nhạc Mi - La -

Đô (tương ứng với tiếng Nghệ có 3 thanh: nặng- huyền- không dấu) [168]

Về lĩnh vực bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca xứ Nghệ: nhiều

công trình nghiên cứu được xuất bản, nhiều bài viết tập hợp trong các kỉ yếu hội thảo đã đề cập đến công tác bảo tồn, phát huy dân ca trong thực tiễn Các nội dung được quan tâm ở đây là: nêu thực trạng, kết quả và các giải pháp trong việc bảo tồn, làm cho dân ca trở thành một sinh thể trong đời sống xã hội, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay Một số bài viết tiêu biểu

(trong Bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ, 2012): Quá

trình bảo tồn và phát huy dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ từ Cách mạng tháng Tám đến nay (Nguyễn Ngọc Ất), Quá trình bảo tồn và phát huy dân ca ví giặm và hò ở Hà Tĩnh những năm gần đây, chương trình hành động 2011 và những năm tiếp theo (Phan Thư Hiền), Lại bàn về phương cách bảo tồn và phát huy những giá trị đặc sắc của dân ca hò, ví, giặm (Thanh Lưu), Các giải pháp định hướng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể: dân ca

ví, giặm và hò xứ Nghệ (Ngọc Thịnh), Đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát huy di sản dân ca hò, ví, giặm xứ Nghệ (Hồng Lựu)

Tuy vậy các bài viết, các công trình vẫn còn phân tán theo những mục đích nghiên cứu và vận dụng riêng của từng tác giả, chưa nêu được một cách

hệ thống, chuyên sâu các giá trị của dân ca xứ Nghệ Đặc biệt, chưa có một

Trang 28

công trình nghiên cứu chuyên sâu nào đề cập đến vai trò, mối quan hệ giữa thanh điệu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh với giai điệu của dân ca Nghệ Tĩnh nói chung và Hát ví nói riêng

1.3 Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa thanh điệu và giai điệu của dân ca

Ca dao và dân ca là hai hình thái văn học dân gian cổ xưa của người Việt, giữa chúng có mối quan hệ sâu sắc với nhau Có thể khẳng định, các làn điệu dân ca Việt Nam như hát Xoan, Ghẹo, Cò lả, Trống quân, Quan họ, Hát ví, hò, lý phần lớn đều dựa trên các câu ca dao được sáng tác bằng các thể thơ truyền thống của dân tộc để phổ thành nhạc chứ không phải người xưa làm nhạc trước rồi điền lời ca vào Theo đó, đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa ca từ và giai điệu của dân ca Việt Nam từ góc độ âm nhạc

và ngôn ngữ học

- Từ góc độ âm nhạc, các nghiên cứu về âm nhạc cổ truyền Việt Nam, trong đó đặc biệt chú ý đề cập đến những nội dung nghiên cứu về sự hình thành giai điệu trong dân ca, về ca từ cũng như các yếu tố ngôn ngữ có vai trò ảnh hưởng đến giai điệu của dân ca, có thể kể đến các tác giả tiêu biểu như Trần Văn Khê (1958), Lưu Hữu Phước (1959), Tú Ngọc (1979), Doãn Nho (1981), Nguyễn Hữu Thu (1989), Bùi Trọng Hiền (1996), Dương Viết

Á (2000, 2005), Hoàng Kiều (2001), Tô Vũ (2002), Lê Văn Chưởng (2004), Nguyễn Trọng Ánh (2007)

Trong chuyên khảo “Tìm hiểu giai điệu dân ca Việt Nam”, Giáo sư Tú

Ngọc (1979) xác nhận: “Rõ ràng là, trong nền âm nhạc của một dân tộc, thì dân ca có mối liên hệ trực tiếp nhất đối với tiếng nói nhưng sẽ sai lầm khi nghĩ rằng giữa những âm điệu của tiếng nói và âm điệu của bài hát có sự đồng nhất” [132] Trong quá trình hình thành giai điệu dân ca, tác giả chỉ phân loại

thành ba phong cách chủ yếu: hát nói, hát ngâm và ca xướng Chuyên khảo

này thực sự là một công trình nghiên cứu khoa học âm nhạc nghiêm túc trong

cả nội dung, phương pháp và tư liệu Tác giả đã đặt ra và giải quyết một cách khoa học các vấn đề: Mối quan hệ giữa ngữ âm tiếng Việt; những hình thái

âm điệu đặc trưng; những phương thức phát triển giai điệu trong dân ca Lưu Hữu Phước (1959) trong bài “Vài nhận xét về ảnh hưởng của tính chất đơn

âm và nhiều thanh trong ngôn ngữ đối với âm nhạc dân gian Việt Nam” cũng

Trang 29

cho rằng ngôn ngữ, nhất là đặc điểm của ngôn ngữ Việt Nam đã có ảnh hưởng rất lớn đến dân ca, mà “Hình thái phôi thai của âm nhạc dân gian Việt Nam

là ngâm thơ Một câu thơ Việt Nam, chỉ kể đến thanh (tức là cao độ của ngôn ngữ) của từng tiếng, đã là một nét nhạc rồi ” [148] Tác giả Bùi Trọng Hiền (1996) đã đề xuất một “Phương pháp xác định sơ đồ giai điệu những thể loại dân ca hát ngâm thơ lục bát” và xem đây là một khâu cần thiết để xác

định lòng bản trong nghiên cứu dân ca Tuy chỉ giới thiệu một phương pháp

khảo cứu trong một bài báo ngắn, có thể các vấn đề chưa được triển khai một cách tường tận, nhưng phải thấy rằng đây là một trong những khâu quan trọng trong nghiên cứu dân ca Việt Nam, nền dân ca, như ý kiến của một số nhà nghiên cứu là dựa trên cơ sở nền thơ có vần điệu bằng - trắc và ngôn ngữ đa

thanh [75] Điều này cũng trùng hợp với quan điểm của nhà nghiên cứu

Nguyễn Hữu Thu (1989) trong “Thơ sáu tám và dân ca đối đáp tỏ tình” Tác giả viết: “Chính nhạc hát đã tận dụng khả năng vô tận của ngữ điệu để xây dựng những dòng tư duy bằng nghệ thuật âm thanh hợp với bản chất và sở trường của mình” [165] Nhạc sĩ Doãn Nho (1981) đưa ra “Những đặc điểm

của điệu thức dân ca người Việt” trên cơ sở, nền tảng của hệ thống điệu thức

đơn âm và đặc điểm ngôn ngữ đa thanh của Việt Nam Vai trò, vị trí âm tựa

âm vực được xem là có tầm quan trọng đặc biệt, là điều kiện tiên quyết để tạo

lập điệu thức dân ca người Việt: “Không có nó (âm tựa âm vực), không thể có ngôn ngữ đa thanh, không thể có nền thơ với vần điệu bằng trắc, và tất nhiên không thể có nền dân ca dựa trên cơ sở nền thơ có vần điệu bằng trắc và ngôn ngữ đa thanh ấy” [140] Đây là một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu thang âm điệu thức dân ca Việt Nam mà đến nay, vẫn chưa nhận được nhiều quan tâm của các nhà nghiên cứu âm nhạc

Trong các nghiên cứu về ca từ và giai điệu, đặc biệt là vai trò của thanh điệu tiếng Việt từ góc độ âm nhạc, ý kiến của nhà nghiên cứu âm nhạc Hoàng

Kiều (2001) trong công trình “Thanh điệu tiếng Việt và âm nhạc cổ truyền”

đưa đến những gợi ý đặc biệt có giá trị cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi Tác giả viết: “Thanh điệu tiếng Việt quyết định đến cao độ, sự uốn lượn của

âm Tuy nhiên, thanh điệu phải thông qua thơ để tiến vào nhạc với những quy luật như: thanh, vần, niêm luật của thơ dân tộc quy định cho cao độ những luyến láy, ngưng nghỉ, các trọng âm, đồng thời liên quan đến những thủ pháp

Trang 30

kĩ thuật phối hợp với ngôn ngữ âm nhạc mà hình thành các làn điệu âm nhạc Nói cách khác là, âm nhạc cổ truyền của ta từ thơ phổ nhạc mà không phải làm nhạc trước rồi mới điền lời ca văn xuôi vào nhạc Hơn nữa, nền âm nhạc

cổ truyền của Việt Nam lấy thanh nhạc là chính mà không phải khí nhạc, nên thanh điệu và thơ là nhân tố khởi đầu” [105, 7] Trong đoạn viết này, tác giả

đã chỉ rõ mối quan hệ giữa thơ nói chung, thanh điệu trong thơ nói riêng với giai điệu của bản nhạc

Rõ ràng là, thanh điệu Việt với những đặc điểm riêng gắn liền với các

âm tiết tiếng Việt như là vật liệu cơ sở cho những sáng tạo ở bậc cao hơn Chúng có thể dùng để tạo thành bài thơ theo những qui tắc của niêm luật thơ nhưng chúng cũng là vật liệu để tạo thành ca từ của bản nhạc theo những nguyên tắc của nhạc lí

- Nghiên cứu về mối quan hệ giữa ca từ và giai điệu của dân ca Việt Nam từ góc độ ngôn ngữ học cho đến nay chưa nhiều Các nghiên cứu chủ yếu theo hướng chỉ rõ tính nhạc trong thơ Điều này khá hiển nhiên bởi ngắt nhịp và hài thanh là hai đặc điểm cơ bản của thơ ca nói chung đồng thời cũng

là đặc điểm của âm nhạc Trong số các ý kiến đó đáng chú ý là quan điểm của

Giáo sư Mai Ngọc Chừ (2005) ở bài viết “Tính nhạc trong thơ ca Việt Nam

(từ góc nhìn ngữ âm tiếng Việt)” Trong bài viết này, tác giả đã nhắc tới mối quan hệ giữa thanh điệu tiếng Việt và giai điệu trong âm nhạc “Trong phạm vi một âm tiết chứa thanh điệu, sự biến thiên của âm vực theo thời gian được gọi

là âm điệu; còn trong một ngữ đoạn, sự biến thiên của âm vực theo thời gian được gọi là ngữ điệu Cả hai yếu tố này (âm điệu và ngữ điệu) có vai trò như giai điệu trong âm nhạc, và do vậy, chúng là những yếu tố rất quan trọng để tạo ra tính nhạc” [29]

Khi bàn về vai trò của thanh điệu trong thơ ca, Đoàn Thiện Thuật đã đề cập đến đặc điểm của thanh điệu liên quan đến sự phân bố của chúng trong các vần thơ Trên cơ sở phân chia 6 thanh điệu Việt đối lập với nhau theo hai tiêu chí: âm vực (phù/ trầm) và âm điệu (bằng/ trắc) ông viết “Sự phân bố thanh điệu trong các vần thơ của những thể thơ truyền thống (lục bát, song thất lục bát ) có thể tóm tắt là trong các âm tiết hiệp vần giữa câu thơ trên và câu thơ dưới chỉ có thể có những thanh điệu cùng loại, xét về mặt âm điệu

Trang 31

(cùng bằng hoặc cùng trắc)” [166, 114] Đây là những gợi ý giúp sức cho chúng tôi đi sâu nghiên cứu mối quan hệ về thanh điệu giữa lời thơ và ca từ

Gần đây, lĩnh vực này tiếp tục được các nhà nghiên cứu quan tâm Các tác giả của một số bài báo khoa học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ lấy đối tượng nghiên cứu cho đề tài của mình là đặc điểm ngôn ngữ, các vấn đề ngữ

âm trong đó có thanh điệu trong ca từ của một số thể loại dân ca Có thể kể

đến: luận văn của Đỗ Quốc Dũng (2010) với đề tài Đặc điểm ngôn ngữ của ca

từ Cải lương đã nghiên cứu các mặt: ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa, cú pháp

của cải lương Ngoài ra, luận văn còn hệ thống hóa một số khái niệm của cải lương và đề ra hai phương pháp cơ bản trong việc tổ chức, xây dựng ca từ, đó

là phương pháp sáng tác dựa theo quy tắc của luật bằng – trắc và phương pháp thay đổi trật tự âm tiết của ca từ Phạm Trọng Toàn (2011) trong bài

“Thanh điệu tiếng Việt và thanh điệu ca từ trong hát xoan, ghẹo, quan họ” đã nhận xét khái quát về phần lời của dân ca: “Dân ca người Việt nói chung, dân

ca xoan, ghẹo Phú Thọ và quan họ Bắc Ninh nói riêng được tạo thành từ hình thức nhạc phổ thơ Trên cơ sở của câu thơ, bài thơ, người ta hát lên thành những bài bản, làn điệu” Tác giả cũng khẳng định vai trò của thể thơ truyền thống cũng như của thanh điệu đối với giai điệu của dân ca: “Trong hát xoan, ghẹo và quan họ, thường có sự đồng nhất giữa giai điệu của bài hát với thanh điệu của lời ca Thanh điệu làm thay đổi cao độ giọng nói (tiếng nói) của một người Thanh điệu tham gia vào mối quan hệ với thi pháp đó là luật bằng, trắc Dân ca người Việt cũng chịu sự chi phối của luật bằng, trắc này” [172]

Hoàng Minh Thủy (2012) với đề tài luận văn thạc sĩ Mối quan hệ giữa âm

vực của thanh điệu trong lời thơ lục bát với giá trị cao độ của giai điệu trong dân ca quan họ Bắc Ninh lời cổ trên cơ sở khảo sát thanh điệu của phương

ngữ Bắc, cũng là tiếng Việt phổ thông trong ca từ dân ca quan họ Bắc Ninh đã bước đầu đưa ra được những nhận xét về âm vực và đường nét của thanh điệu lời thơ là cơ sở của việc hình thành giá trị cao độ và hình thành những mô hình âm điệu luyến của giai điệu trong dân ca quan họ Bắc Ninh lời cổ

[167]… Các công trình này đã có những đóng góp nhất định trong việc khẳng

định những giá trị nổi bật, đặc trưng của từng thể loại âm nhạc truyền thống của dân tộc, đồng thời cũng làm rõ vai trò của các yếu tố ngữ âm, đặc biệt là

Trang 32

thanh điệu trong từng vùng phương ngữ đối với việc hình thành nên giai điệu của dân ca

Có thể thấy, nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ và âm nhạc đã đề cập tới nội dung nghiên cứu này Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu, những công trình về âm nhạc mới dừng lại ở những nhận định mang tính chất kinh nghiệm được rút ra từ quá trình sáng tác cũng như quan sát âm nhạc Dưới góc tiếp cận Ngôn ngữ học, các nhà ngôn ngữ học cũng mới tiếp cận từ kết quả của những nghiên cứu mang tính chất kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu âm nhạc, mà thực sự chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào khảo sát và rút

ra nhận định về mối quan hệ giữa thanh điệu tiếng Việt với giai điệu của Hát

ví Nghệ Tĩnh Tuy vậy, với những kết quả đã đạt được, các công trình nghiên cứu được đề cập trên đây mang ý nghĩa gợi mở, cung cấp cơ sở lý luận và một

số tư liệu quan trọng để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn về mối quan hệ giữa thanh điệu trong ca từ với giai điệu của Hát ví Nghệ Tĩnh

1.4 Tiểu kết

Với nội dung nghiên cứu của luận án, chúng tôi xác định phạm vi của

đề tài là những yếu tố ngữ âm của ca từ, đặc biệt là vai trò của thanh điệu gắn với vần điệu, niêm, luật của thể thơ truyền thống để tạo nên những giá trị đặc trưng của dân ca Hát ví Nghệ Tĩnh Qua phần trình bày ở trên, chúng tôi đã khảo sát tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước về các vấn đề của ngữ

âm tiếng Việt như âm tiết, thanh điệu, vai trò - mối quan hệ của thanh điệu trong âm nhạc và với dân ca nói chung cũng như Hát ví Nghệ Tĩnh nói riêng Những kết quả nghiên cứu chuyên sâu đánh dấu tên tuổi của các nhà nghiên cứu được đề cập trên đây sẽ là những gợi ý giúp chúng tôi trong việc triển khai thực hiện đề tài

Tuy nhiên, việc nghiên cứu sự vận dụng lý thuyết về các vấn đề ngữ âm tiếng Việt nói chung, thanh điệu tiếng Việt nói riêng vào các vấn đề phương ngữ cụ thể cũng như vai trò của thanh điệu đối với giai điệu của dân ca vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn Tính bao quát của lý thuyết về các vấn đề ngữ âm tiếng Việt đối với việc hình thành các giá trị của giai điệu âm nhạc nói chung, dân ca từng vùng miền nói riêng vẫn còn những khoảng trống để đề tài có thể khai thác

Trang 33

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Để giải quyết vấn đề đặt ra trong luận án, chúng tôi sẽ dựa vào những

cơ sở lý luận có liên quan như: khái niệm thanh điệu và thanh điệu tiếng Việt (trong đó có thanh điệu tiếng Việt thể hiện trong các phương ngữ và thanh điệu tiếng địa phương Nghệ Tĩnh); khái niệm giai điệu trong âm nhạc và mối quan hệ của nó với thanh điệu tiếng Việt trong âm nhạc dân gian Việt Nam, gồm các vấn đề: mối quan hệ giữa thanh điệu tiếng Việt với thơ ca; mối quan

hệ giữa âm và thanh; giai điệu trong âm nhạc và âm điệu, ngữ điệu trong tiếng Việt; âm vực của thanh điệu tiếng Việt theo quan điểm của âm nhạc học; đặc điểm ngữ âm tiếng Nghệ Tĩnh và Hát ví Nghệ Tĩnh

2.1 Khái niệm thanh điệu và thanh điệu trong tiếng Việt

2.1.1 Khái niệm thanh điệu

Thanh điệu (tone), xét về nguồn gốc xuất hiện của thuật ngữ này, có ý nghĩa khái quát gần như là đồng nghĩa với “cao độ” Nó được dùng cho cả các ngôn ngữ biến hình và cả các ngôn ngữ đơn lập Tuy nhiên, trong từng loại hình ngôn ngữ, thuật ngữ này có những nội hàm khác nhau

Từ “no” (từ phủ định có nghĩa là “không”) của tiếng Anh (tương tự như

vậy trong các ngôn ngữ biến hình) có thể được phát âm hoặc là với một thanh

điệu đi xuống (trong trường hợp nó rất có thể coi như là một lời từ chối hay

một lời bác bỏ xác định) hoặc với một thanh điệu đi lên (như một câu hỏi,

kiểm tra xem liệu lời từ chối hay lời bác bỏ có thật là như thế hay không) Một cách chính xác hơn, chúng ta có thể xác định vô số các cao độ hoặc các

mô hình cao độ khác nhau trong một ngôn ngữ trong tiếng Anh, và có thể

được coi là “các thanh điệu” của tiếng Anh Trong trường hợp này, các thanh chính là một bộ phận của cái thường được gọi là ngữ điệu

Nhưng trong các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, tiếng Trung Quốc

thuật ngữ thanh điệu có liên quan một cách trực tiếp hơn với các âm tiết (syllable) hay các từ từ vựng (lexical items) Ví dụ như trong tiếng phổ thông

Trang 34

Trung quốc, một mục từ đơn /ma/ nhưng trên thực tế lại là 4 từ khác nhau,

phụ thuộc vào thanh điệu của nó (McCawley, 1978, tr.120)

ma1 (với cao độ ở cấp độ cao) “mẹ”

ma2 (với cao độ đi lên cao) “cây gai”

ma3 (với cao độ đi xuống sau đó đi lên) “ngựa”

ma4 (với cao độ đi xuống) “chửi”

Các ngôn ngữ chẳng hạn như tiếng Trung Quốc, tiếng Việt, tiếng

Thái trong đó những khác biệt về cao độ có vai trò phân biệt các ý nghĩa của từ, được gọi là các ngôn ngữ có thanh điệu (tone languages)

Một định nghĩa chính xác về một ngôn ngữ thanh điệu hiện vẫn còn chưa ngã ngũ nhưng nó thường trực ở nhiều nhà ngôn ngữ là nhấn mạnh đến

sự cần yếu có tính từ vựng: trong một ngôn ngữ thanh điệu, thanh điệu là

“một đặc trưng của từ được miêu tả theo các cao độ bắt buộc hay các âm tiết hay các chuỗi cao độ đối với các hình vị hay các từ” (Cruttenden 1986, tr.8);

hay, một cách phổ thông hơn, cao độ “phân biệt ý nghĩa của từ” (Pike 1948,

tr 3) Người ta cho rằng những người nói các ngôn ngữ thanh điệu có thể coi thanh điệu là một bộ phận quan trọng của âm tiết (hay hình vị hay từ) Các ngôn ngữ thế giới được xem là ngôn ngữ thanh điệu bao gồm đa số các ngôn ngữ phía đông châu Á chẳng hạn như tiếng Hán, tiếng Việt, tiếng Miến và tiếng Thái, cũng như một tỉ lệ tương xứng có thật các ngôn ngữ châu Phi, châu Mỹ La Tinh và Papua New Guinea

Pike (1948) là tác giả tiêu biểu giới thiệu về bản chất của các ngôn ngữ

thanh điệu và các chiến lược phân tích và miêu tả thanh điệu Ông cho rằng, thanh điệu khu biệt với nhau bằng các hệ thống âm vực (register) hay cao độ - bằng ngang (level-pitch) và đường nét (contour) hay cao độ - lướt (gliding- pitch) Trong một hệ thống, âm vực có nhiều mức cao độ khu biệt, thường là 2

hoặc 3 và có thể không bao giờ quá 4 Các mức này tất nhiên có tính tương đối lẫn nhau đúng hơn là các giá trị tuyệt đối, sao cho một thanh cao, chẳng hạn, sẽ được tiếp nhận là đối lập với một âm tiết mang thanh thấp hay trung

bình ở kề cận bất kỳ nào Mặt khác, trong một hệ thống đường nét nó là sự

vận động hay trượt lướt cao độ vốn rất đặc trưng: thế đối lập sẽ nằm trong các

Trang 35

mô hình chẳng hạn như xuống, lên và “uốn” (xuống-lên) đúng hơn là giữa các

cấp độ hay các chiều cao tương đối

Tuy nhiên, hai kiểu loại ngôn ngữ thanh điệu này không khác nhau

nhiều như lập luận này đưa ra trên đây Trên thực tế, các khảo sát về các ngôn

ngữ thanh điệu cụ thể cho thấy những tương tác giữa các thanh điệu âm vực

và đường nét là có tính điển hình, phổ biến hơn Chính Pike đã dành sự quan

tâm lớn đến cái mà ông gọi là những xáo trộn (perturbation) của thanh điệu

hay sự biến thanh (sandhi) Ông miêu tả những hiện tượng như vậy một cách

chi tiết đối với hai ngôn ngữ thuộc miền nam Mexico, là tiếng Mixteco và

tiếng Mazateco Thực tế, sự khác nhau quan trọng giữa hai loại hệ thống

thanh điệu có thể là ở chỗ trong các hệ thống đường nét thanh điệu là một

thuộc tính của các âm tiết còn trong các hệ thống âm vực thanh điệu là thuộc

tính của các đơn vị lớn hơn chẳng hạn như các từ Trong phân loại truyền

thống, các ngôn ngữ châu Phi được coi như là các ngôn ngữ thanh điệu theo

âm vực, còn các ngôn ngữ châu Á là các hệ thống đường nét

Không có một cách chuẩn mực nào để ghi các thanh điệu kể cả theo các

chính tả quy ước lẫn theo các biểu diễn của các nhà ngôn ngữ Theo chính tả

tiếng Trung truyền thống, các thanh điệu ẩn tàng trong các ký tự và không có

một ký hiệu hay dấu ghi thanh cụ thể nào để chỉ mỗi thanh Mặt khác, nhiều

ngôn ngữ có thanh điệu trên thế giới, ở châu Phi và châu Mỹ La Tinh, hay

tiếng Việt đều có các hệ thống đánh vần tương đối hiện đại được các nhà

truyền giáo hoặc các nhà ngôn ngữ, trong đó thanh điệu, nếu chỉ ra tất, thường

được ghi bằng một loại kí hiệu ở trong hệ thống chữ viết theo chữ cái

McCawley (1978) đã dùng các kí hiệu sau để ghi thanh điệu:

thanh ngang trung bình

thanh lên

thanh xuống

Các thanh điệu có thể được thể hiện bằng các chữ cái, ví dụ, H chỉ cao,

hay L chỉ thấp Ký hiệu này trở nên phổ biến trong công trình gần đây trong

đó thanh điệu được giả định tạo thành một lớp hay một bộ phận riêng được vẽ

lên trên đối với cấu trúc chiết đoạn, như trong ví dụ:

H L (thanh cao đi trước, thanh thấp đi sau) hay

Trang 36

L H (thanh thấp đi trước, thanh cao đi sau)

2.1.2 Thanh điệu tiếng Việt

Các nội dung nghiên cứu về thanh điệu tiếng Việt rất phong phú Trong phần này, chúng tôi chỉ đề cập đến ba vấn đề có liên quan trực tiếp đến nội

dung của luận án gồm: hệ thống thanh điệu tiếng Việt chung, thanh điệu trong

ngữ lưu và hệ thống thanh điệu Nghệ Tĩnh Cả ba vấn đề này liên quan đến

nhau bởi chúng đều gắn liền với vùng đất cổ của người Việt còn bảo lưu nhiều yếu tố cổ thể hiện qua tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, nơi sinh ra những làn điệu Hát ví mà luận án lấy làm đối tượng khảo sát

2.1.2.1 Hệ thống thanh điệu tiếng Việt

a) Các tiêu chí miêu tả thanh điệu tiếng Việt

Theo quan điểm của ngữ âm học, thanh điệu là sự hợp thành của các

đặc trưng giai điệu (melodic features) (âm vực, đường nét) kết hợp với các đặc trưng phi giai điệu (non-melodic features) (cường độ, yết hầu hóa (pharyngalisation), thanh hầu hóa (laryngealisation)…) Số lượng thanh điệu

cũng như biến thể của chúng phụ thuộc vào từng phương ngữ Tuy nhiên, với ngôn ngữ viết thì thống nhất ở mọi nơi, theo đại diện chính thức của phương ngữ Bắc (đại diện là tiếng Hà Nội), nó đã trở thành hệ thống chữ viết chuẩn của tiếng Việt

Hai tiêu chí âm vực và đường nét âm điệu được hiểu là: Âm vực là giá

trị âm điệu trung bình (hay cao độ trung bình) của thanh điệu trong quá trình phát âm âm tiết Đường nét âm điệu là đặc điểm của sự biến thiên của tần số thanh cơ bản theo thời gian trong quá trình phát âm một âm tiết

Xét theo từng tiêu chí, chúng ta có những thanh điệu đối lập nhau như sau:

- Theo tiêu chí đường nét âm điệu, các thanh điệu có sự khác nhau về quá trình diễn biến của cao độ theo thời gian, các thanh được chia làm hai loại:

+ Âm điệu bằng phẳng, là những thanh điệu mà khi thể hiện, đường nét

âm điệu diễn biến bằng phẳng, đồng đều từ đầu đến cuối, không có sự lên xuống bất thường: thanh ngang, thanh huyền

Trang 37

+ Âm điệu không bằng phẳng, là những thanh điệu có âm điệu diễn biến phức tạp, khi lên khi xuống, thể hiện ra bằng một đường nét không bằng phẳng: thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc, thanh nặng

- Theo tiêu chí âm vực, các thanh điệu tiếng Việt thuộc hai âm vực cao

và thấp:

+ Âm vực cao gồm các thanh: thanh ngang, thanh ngã, thanh sắc

+ Âm vực thấp gồm: thanh huyền, thanh hỏi, thanh nặng

Trong nhóm thanh cao, thanh ngang có âm điệu bằng phẳng nên thường có độ cao trung bình thấp hơn thanh ngã và thanh sắc Vì vậy, có tác giả coi nó thuộc âm vực trung và chia thanh điệu tiếng Việt thành ba âm vực: cao, trung, thấp (Nguyễn Đình Hòa, 1967; R.B Jones và Huỳnh Sanh Thông, 1960)

Ngoài hai tiêu chí trên, các yếu tố trường độ, cường độ, hiện tượng

thanh quản hóa hay tắc thanh hầu (Hoàng Thị Châu dùng thuật ngữ phi điệu tính) cũng có vai trò đáng kể trong việc nhận diện các hệ thống thanh điệu

trong các phương ngữ, thổ ngữ Các tác giả như Nguyễn Văn Lợi & Jerold A Edmondson 1987, Andrea Hoa Pham 2003 còn đưa ra một cách nhìn mới về các tiêu chí khu biệt thanh điệu khi cho rằng để khu biệt thanh còn phải dựa

vào tiêu chí chất giọng (voice quality) vốn là hệ quả của các thức tạo thanh

(phonation type) Tuy nhiên, các tiêu chí phi điệu tính đã nêu chỉ là các tiêu chí phụ hay còn gọi là không quan yếu, nét rườm (redundancy) được sử dụng

để miêu tả chi tiết hơn về các đặc điểm ngữ âm của hệ thanh điệu Việt

Khi miêu tả hệ thống thanh điệu Việt về mặt âm vị học, chúng ta chỉ cần dựa vào hai tiêu chí cơ bản là âm vực và âm điệu Sự miêu tả được thể hiện bằng hai sơ đồ sau:

Sơ đồ 1: Sơ đồ về tiêu chí khu biệt âm vị thanh điệu tiếng Việt [166, 103]

Trang 38

Sơ đồ 2: Sơ đồ lăng trụ thanh điệu tiếng Việt [166, 104]

b) Miêu tả các thanh điệu tiếng Việt

Tiếng Việt phổ thông với cơ sở là tiếng Hà Nội có 6 thanh điệu là

ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng Về mặt chính tả, trừ thanh ngang không

dấu, người ta sử dụngdấu thanh (diacritics hay tone marks) cho 5 thanh điệu

còn lại Dấu thanh là một sáng tạo của những nhà truyền giáo phương Tây hồi thế kỷ XVII Họ lấy các yếu tố có trong tiếng Hy Lạp cổ như grave (dấu huyền), acute (dấu sắc), hook above (dấu hỏi), tilda (dấu ngã) và dot under (dấu nặng) để biểu thị dấu thanh, giống như những sáng tạo để biểu thị “dấu mũ” (circumflex) trên các nguyên âm â/ê/ô hay breve để biểu thị “dấu trăng” trên nguyên âm ă

Dựa vào các tiêu chí cơ bản và cả các tiêu chí phụ, có thể miêu tả hệ thống 6 thanh điệu tiếng Việt (hệ thống thanh điệu tiếng Hà Nội) như sau:

- Thanh ngang (1) (không được ghi trên chữ viết nên cũng gọi là thanh không dấu), so với các thanh điệu khác thanh ngang là một thanh cao xuất hiện trong tất cả các âm tiết, trừ âm tiết khép Đường nét âm điệu bằng phẳng hầu như không lên xuống gì từ đầu đến cuối Qua các âm tiết khác nhau như

a, ta, mau, ban, qua đường nét về cơ bản vẫn là như vậy Ví dụ: cây cam, hoa xoan, mưa xuân nhưng không thể có trong các âm tiết: chach, đac, mac

- Thanh huyền (2), thuộc âm vực thấp, thấp hơn thanh ngang một bậc

Đường nét âm điệu bằng phẳng hơi đi xuống thoai thoải Các âm tiết bàn,

nhà, ngoài đều được phát âm với thanh điệu như vậy Giống như thanh (1),

thanh huyền có thể xuất hiện trong các âm tiết không phải là âm tiết khép Ví

dụ: là, làm, sàn

Trang 39

- Thanh ngã (3), xuất phát gần ngang với cao độ xuất phát của thanh huyền Thanh này bắt đầu ở âm vực thấp nhưng kết thúc ở âm vực cao, có

thêm động tác nghẽn thanh hầu Ví dụ: tã, xõa, mĩ Đường nét âm điệu

không bằng phẳng, có hai biến thể:

+ Đường nét bắt đầu cao hơn thanh huyền một chút đến giữa âm tiết đi xuống đột ngột, dốc đứng trong một thời gian ngắn (có thể đến một quãng năm), sau đó vút lên ngang với cao độ cũ và đi thêm một quãng ba thứ nữa

+ Đường nét bắt đầu và kết thúc tương tự như trên nhưng bị gián đoạn

ở giữa Tiếng thanh bị mất hoàn toàn biểu thị động tác nghẽn thanh hầu đã xảy ra vào quá trình phát âm Đây là một biến thể tự do

- Thanh hỏi (4), bắt đầu ở mức cao ngang với độ xuất phát của thanh huyền và kết thúc cũng ở cao độ thấp nên thanh hỏi thuộc về loại thanh điệu

có âm vực thấp Đường nét âm điệu thấp dần từ khi bắt đầu, đến một quãng sáu (có thể đến quãng thứ bảy) thì chuyển sang một nét đi lên cân đối với nét

đi xuống ban đầu, và kết thúc bằng với cao độ xuất phát Sự chuyển đổi hướng đi của đường nét này được gọi là đặc trưng "gãy" của âm điệu Thanh

này xuất hiện trong tất cả các âm tiết không phải là âm tiết khép Ví dụ: xởi

lởi, quả ổi, sôi nổi

- Thanh sắc (5), là thanh điệu thuộc âm vực cao Khi phát âm, điểm xuất phát thấp hơn thanh ngang một chút và điểm kết thúc ở âm vực cao Ngoài ra, khi kết thúc còn phải có thêm động tác nghẽn thanh hầu

Thanh này có thể xuất hiện trong tất cả các kiểu âm tiết Ví dụ: thách

thức, rót nước, uống thuốc Trong các biến thể này, xuất phát điểm của cao

độ cao hơn, đi lên dốc đứng với trường độ ngắn

- Thanh nặng (6), là thanh điệu thuộc âm vực thấp Khi phát âm, điểm xuất phát gần với độ cao xuất phát của thanh huyền nhưng đi xuống dốc đứng

và kết thúc đột ngột ở độ cao thấp Ngoài ra, khi kết thúc còn phải có thêm động tác nghẽn thanh hầu

Thanh này có thể xuất hiện trong tất cả các kiểu âm tiết Ví dụ: tạp, tạt,

bạc Trong các biến thể này, xuất phát điểm của cao độ thấp hơn, đi xuống

dốc đứng với trường độ ngắn

Trang 40

Các miêu tả trên là căn cứ vào cảm thụ thính giác Nhiều công trình nghiên cứu còn dựa trên những cứ liệu của ngữ âm học thực nghiệm Tiêu biểu nhất là biểu đồ thanh điệu tiếng Việt của hai nhà ngữ học N.D.Andreev

và M.V.Gordina (1957) được xây dựng từ kết quả phân tích các đường ghi của máy kymographe

Hình 3: Biểu đồ thanh điệu tiếng Việt [166, 111]

2.1.2.2 Thanh điệu trong ngữ lưu

Khi thực hiện hoạt động hành chức của mình, các yếu tố đoạn tính và siêu đoạn tính không phát âm một cách đơn lẻ mà được phát âm trong dòng lời nói liên tục, cho nên có thể ảnh hưởng lẫn nhau, đặc biệt là những yếu tố lân cận được phát âm trong cùng một âm tiết, hoặc ở những âm tiết liền kề nhau Sự ảnh hưởng lẫn nhau này có thể gây ra những hiện tượng biến hóa ngữ âm khác nhau thường gặp trong tiếng Việt là: sự thích nghi, sự đồng hóa,

dị hóa, bớt âm, thêm âm, nhược hóa Hệ thống thanh điệu tiếng Việt cũng thể hiện rõ sự biến đổi này trong hoạt động hành chức của mình (hay còn gọi là trong ngữ lưu) ở những hoàn cảnh sau

- Hiện tượng biến đổi đầu tiên của thanh điệu là phụ thuộc vào vị trí của thanh điệu trong ngữ đoạn Các thanh điệu trong chuỗi lời nói có thể giữ

Ngày đăng: 18/01/2018, 17:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w