Có nhiều cách hỗ trợ như:- Đưa ra những lời khuyên, lời gợi ý hoặc cung cấp các thông tin hỗ trợ để người cầngiúp đỡ có thể tự giải quyết vấn đề của họ - Tổ chức các hoạt động chuyên ngh
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
Trang 2CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG (5 tiết)
1 Mục tiêu
Sau khi học xong chương này, SV đạt được các mục tiêu sau đây:
1.1 Kiến thức
- Phân biệt được các khái niệm tư vấn, cố vấn, tham vấn, hỗ trợ tâm lý
- Nêu được vai trò, nhiệm vụ của tham vấn học đường
- Kể tên được các loại hình tham vấn học đường
- Phân tích được 6 bước trong quy trình tham vấn học đường
1.2 Kỹ năng
- Có khả năng khái quát, phân tích và đánh giá thông tin
- Có khả năng thuyết trình, làm việc nhóm
2 Vai trò, nhiệm vụ của tham vấn học đường
3 Các loại hình và quy trình tham vấn
3 Phương pháp
- Sử dụng kết hợp các phương pháp: Thuyết trình, vấn đáp, thảo luận nhóm nhỏ
4 Câu hỏi ôn tập
Câu 1: Phân biệt sự khác nhau giữa tham vấn và tư vấn tâm lý
Câu 2: Tham vấn học đường là gì? Nêu vai trò và nhiệm vụ của tham vấn học đường.Câu 3: Phân tích các bước của quá trình tham vấn học đường Để làm tốt các giai đoạn này, người thực hiện công tác tham vấn cần làm gì?
5 Nội dung chi tiết
1 Khái niệm chính
1.1 Tư vấn, cố vấn, tham vấn
Tư vấn, cố vấn (Consultation) là từ chỉ một hoạt động chuyên môn hoặc chỉ một nghề
nghiệp chuyên giúp người khác có thể ra quyết định và giải quyết vấn đề, nâng cao năng lực
Trang 3sống cá nhân bằng những phương pháp nghiệp vụ chuyên môn Người chuyên làm nghề nàyđược gọi là nhà tư vấn, cố vấn Có nhiều cách hỗ trợ như:
- Đưa ra những lời khuyên, lời gợi ý hoặc cung cấp các thông tin hỗ trợ để người cầngiúp đỡ có thể tự giải quyết vấn đề của họ
- Tổ chức các hoạt động chuyên nghiệp giúp người đang gặp khó khan được trải nghiệm,qua đó giúp họ ngộ ra, tự nhận thức ra, từ đó có mong muốn thay đổi bản thân
- Cũng có thể can thiệp làm giảm thiểu các hậu quả xấu có thể xảy ra cho người cần tưvấn
- Tìm kiếm các nguồn lực hỗ trợ
- Tổ chức các hoạt động có tính phòng ngừa, tạo ra môi trường thuận lợi, không để nhữngyếu tố tạo ra sự phát triển lệch lạc, những hệ quả xấu trong quá trình phát triển củangười cần giúp đỡ
Quá trình tư vấn là quá trình từ khi nhà tư vấn bắt đầu làm việc với người cần tư vấn đếnkhi đạt được một kết quả nhất định mà cả hai chấp nhận Kết quả tư vấn là sự thay đổi về chất
ở một mức độ nhất định ở người cần tư vấn
Tham vấn (Counselling) là khái niệm khá mới ở Việt Nam Có nhiều cách hiểu về
tham vấn Theo P.K Onner (1998), tham vấn là quá trình trợ giúp con người một cách có mụcđích rõ ràng, mang tính chuyên nghiệp, hỗ trợ đối tượng tìm hiểu, tự xác định và giải quyết vấn
đề, triển khai các giải pháp trong điều kiện cho phép
Hiệp hội các nhà tham vấn Hoa kỳ (ACA, 1997): Tham vấn là sự áp dụng nguyên tắc
tâm lý, sức khỏe tinh thần hay nguyên tắc về sự phát triển con người thông qua các chiến lượccan thiệp một cách có hệ thống về nhận thức, cảm xúc, hành vi, tập trung vào phát triển cánhân, nghề nghiệp cũng như vấn đề bệnh lý
Mặc dù có những cách hiểu khác nhau song vẫn có những điểm chung về tham vấn nhưsau: Tham vấn là kỹ năng hành đồng, là năng lực của nhà chuyên môn trợ giúp một cách cómục đích đối với người đang gặp những khó khăn tâm lý thông qua sự chia sẻ , khích lệ, thấucảm giúp họ hiểu và chấp nhận thực tế, khơi dậy nội lực bản thân để tự giải quyết vấn đê củamình
Bảng so sánh sự khác biệt giữa tư vấn và tham vấn
Nhà chuyên
môn
Nhà chuyên môn có trình độ, kiếnthức chuyên môn cao, có kỹ năngcung cấp thông tin và đưa ra lời
Được đào tạo chuyên nghiệp, có kỹnăng nghiệp vụ tham vấn, có đạo đứcnghề nghiệp
Trang 4khuyênĐối tượng
- Nhà tư vấn không quan tâm đếncảm xúc của học sinh/phụ huynh
- Sau khi học sinh/phụ huynh trìnhbày vấn đề, nhà tư vấn làm chủ cuộcnói chuyện;
- Nhà tư vấn nói với học sinh/phụhuynh những quyết định họ cho làphù hợp nhất trong tình huống củahọc sinh/phụ huynh
- Nhà tham vấn hỗ trợ học sinh/phụhuynh hiểu vấn đề của mình, giúp họcsinh/phụ huynh nhận ra và sử dụngnhững thế mạnh và khả năng riêngcủa họ
- Nhà tham vấn thông cảm và chấpnhận vô điều kiện cảm xúc của họcsinh/phụ huynh
- Nhà tham vấn thể hiện sự tin tưởngvào khả năng tự ra quyết định tốt nhấtcủa học sinh/phụ huynh Vai trò củanhà tham vấn chỉ là “lái” học sinh/phụhuynh tới những hướng lành mạnh
Cách thức Lắng nghe vấn đề của học sinh/phụ
huynh, tìm kiếm thông tin ra quyếtđịnh giúp học sinh/phụ huynh
Thấu hiểu và thấu cảm (cảm nhận vấn
đề theo cách của học sinh/phụ huynh),hướng dẫn học sinh/phụ huynh cáchkiềm chế và giải tỏa nỗi đau của họ.Lắng nghe và giúp học sinh/phụhuynh tự nhận thức dần các vấn đề màmình đang đối mặt Khơi dậy nội lựccủa học sinh/phụ huynh, giúp họcsinh/phụ huynh tự ra quyết định giảiquyết vấn đề Kết nối các nguồn lực,
tổ chức hỗ trợ học sinh/phụ huynh tìmkiếm các dịch vụ trợ giúp
Vai trò Quyết định hoặc tìm quyết định cho
học sinh/phụ huynh
Tăng cường khả năng cho họcsinh/phụ huynh giải quyết vấn đềKết quả Ra được quyết định giải quyết vấn
đề
Đạt được một trong số các mức độsau:
- TC nhận thức được vấn đề của mình
Trang 5- Học sinh/phụ huynh thoát khỏi tâmtrạng u uất, rối nhiễu tâm trí, tình cảmtiêu cực
- Giúp học sinh/phụ huynh xác định
và giải quyết các nguyên nhân gốc rễcủa vấn đề họ đang gặp phải
- Giúp học sinh/phụ huynh tạo nênnhững thay đổi tích cực và lâu dàitrong cuộc sống của họ
1.2 Hỗ trợ tâm lý
Trợ giúp là khái niệm chung nhất, được dùng trong các mối quan hệ giao tiếp đờithường, theo cách “giúp đỡ nhau” Nó được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực hoạt động thựchành như tâm lý học, công tác xã hội, tham vấn, tâm thần học Khái niệm “trợ giúp” tồn tại khixuất hiện xã hội loài người và hoạt động này có trước khi các ngành khoa học trợ giúp ra đời.Những hiện tượng liên kết giữa con người với nhau như “lá lành đùm lá rách”, “cưu mang”,
“hỗ trợ” … không đơn thuần là sự giúp đỡ vật chất, mà đằng sau chúng còn là sự nâng đỡ vềmặt tinh thần Trong khi đó, những khái niệm như “cho lời khuyên”, “chia sẻ tâm tình”, “cảmthông” hoàn toàn phản ánh sự giúp đỡ tâm lý cho người có nhu cầu trợ giúp Phần này tậptrung nói về trợ giúp tâm lý, vậy nên thuật ngữ “trợ giúp” được hiểu theo khía cạnh tinh thần
Trợ giúp tâm lý, có thể hiểu, là một hoạt động (một công việc) giúp đỡ cho người đang
có khó khăn tâm lý để họ thực hiện được những điều mong muốn trong cuộc sống Khái niệmtrợ giúp tâm lý bao hàm công việc của người giúp đỡ không chuyên – tất cả mọi người và côngviệc giúp đỡ của những người chuyên nghiệp – nhà tâm lý học, nhà tham vấn, nhân viên côngtác xã hội, bác sĩ tâm thần, nhà giáo dục …
Với cách hiểu như vậy, trong xã hội có rất nhiều kiểu người đang làm công tác trợ giúp
và hiệu quả là không giống nhau Có thể kể đến ba loại trợ giúp tương ứng với ba kiểu ngườitrợ giúp:
- Người trợ giúp chuyên nghiệp: Đó là những người được đào tạo sâu và chuyên biệt về
kiến thức, kỹ năng tâm lý, hành vi, kỹ năng giao tiếp và giải quyết vấn đề theo chuyên ngànhcủa họ để có thể đáp ứng với đối tượng mà học giúp đỡ Các ngành trợ giúp chuyên nghiệp nàyphản ánh những mối quan hệ trợ giúp khác nhau, như mối quan hệ giữa thầy thuốc – bệnhnhân, nhà tham vấn – khách hàng, nhà trị liệu tâm lý – bệnh nhân Hầu hết những người trợ
Trang 6giúp chuyên nghiệp đều có mối quan hệ trợ giúp chính thức, với hợp đồng thỏa thuận rõ ràng
về nhu cầu và hiệu quả của sự giúp đỡ, trong đó xác định rõ vai trò, vị trí của từng người
- Người trợ giúp bán chuyên nghiệp: là những người có công việc liên quan đến lĩnh
vực trợ giúp Họ có thể được đào tạo, tập huấn ngắn hạn hoặc có kinh nghiệm từ các mối quan
hệ trợ giúp Ví dụ: quan hệ giữa cán bộ hòa giải – người dân, giáo viên – học sinh, cha mẹ con cái, cha linh mục – con chiên … Đây là nhóm đối tượng giúp đỡ thường xuyên của họ
Người trợ giúp không chuyên nghiệp: là những người không qua đào tạo, huấn luyện
chính thức về các kỹ năng trợ giúp chuyên biệt Sự trợ giúp có thể chỉ xảy ra nhất thời trongmối quan hệ tạm thời với đối tượng của họ Ví dụ: Nhân viên bán hàng, tiếp viên hàng không –khách hàng, tình nguyện viên – đối tượng bị nhiễm HIV Nhìn chung, người trợ giúp khôngchuyên thường có mối quan hệ trợ giúp không chính thức, kết cấu trợ giúp lỏng lẻo, thời gianngắn và hiệu quả có hạn
Ngày nay, khái niệm trợ giúp còn được hiểu là sự giúp đỡ một cách có hệ thống và cóphương pháp Người giúp đỡ chuyên nghiệp cần có kỹ năng và phẩm cách làm cho người cónhu cầu giúp đỡ tự giải quyết vấn đề của mình bằng cách tìm hiểu, khám phá và hành động
1.3 Tham vấn học đường
School Counseling – Là sự trợ giúp tâm lý một cách chuyên nghiệp của nhà tham vấn tâm
lý học đường với học sinh/phụ huynh (ban quản lý, lãnh đạo nhà trường, thầy cô giáo, cha mẹphụ huynh và học sinh) nhằm giải quyết các vấn đề trường học và sự phát triển lành mạnh củahọc sinh
2 Vai trò, nhiệm vụ của tham vấn học đường
2.1 Vai trò
- Tạo ra những tác động mang tính định hướng giáo dục tới học sinh, sinh viên Tácđộng mang tính định hướng được hiểu là những tác động nhằm giúp học sinh có định hướngđúng, từ đó các em biết cách giải quyết vấn đề của bản thân Những định hướng này mang tínhgiáo dục, nghĩa là tạo ra hướng phát triển phù hợp với yêu cầu, mong muốn của xã hội Nhưvậy có thể hiểu tham vấn học đường tác động vào nhận thức, giúp các em tự nhận thức, tự giảiquyết vấn đề qua đó hình thành tính tự lập, độc lập, biết tự chịu trách nhiệm Tham vấn họcđường hỗ trợ HS đang có vướng mắc, khó khăn chưa giải quyết được trong tâm lý, tình cảm vànhững khó khăn của lứa tuổi
- Trợ giúp và đồng hành cùng những HS gặp khó khăn tâm lý
Trang 7- Tham vấn học đường giúp các em lựa chọn cách xử lý đúng góp phần ổn định đờisống tâm hồn, tình cảm, giúp các em đạt được nguyện vọng của mình
- Cần tạo ra môi trường thuận lợi, tích cưc, thân thiện cho sự phát triển nhân cách củaHS
3.2 Nhiệm vụ của tham vấn học đường
*Phòng ngừa
- Tham vấn nhằm phòng ngừa các vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của HS
- Tham vấn cho HS có khó khăn tâm lý nhằm giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh
- Tìm kiếm các nguồn lực (kinh tế, chính sách, y tế, pháp lý…) hỗ trợ, bảo vệ, chăm sóc cho
HS như các tổ chức xã hội, chuyên môn, nghề nghiệp
Như vậy, tham vấn học đường có nhiệm vụ chăm sóc, hỗ trợ cho tất cả HS trong trườnghọc
4 Các yếu tố của tham vấn học đường
4.1 Đối tượng
Trong tham vấn, một trong những vấn đề cần được xác định rõ đó là đối tượng cần thamvấn Đối tượng là những học sinh gặp khó khăn chủ quan, không có lối thoát khỏi thực tại,không tìm thấy phương hướng sống hoặc những khó khăn mà bản thân em không tìm ra cáchgiải quyết Đó là những khó khăn trong đời sống học đường, trong các mối quan hệ của HS đó.Tuy nhiên, khi tham vấn có hai nhóm đối tượng mà người tham vấn cần xử lý Một là những
HS gặp khó khăn cần trợ giúp và thứ hai là những tác nhân gây khó khăn cho các em, gây tổnthương hoặc không biết cách làm việc với các em
4.2 Lực lượng tham gia tham vấn học đường
- Các tổ chức, cá nhân tham vấn ngoài nhà trường: là những người, tổ chức tham vấnchuyên nghiệp ngoài nhà trường
Trang 8- Các tổ chức, cá nhân tham vấn trong nhà trường: trong trường học, tham vấn học đường
là trách nhiệm của nhiều bộ phận, cá nhân Mỗi trường có một hay một vài bộ phần chịu tráchnhiệm tham vấn cho HS gồm lực lượng chuyên nghiệp và không chuyên
4.3 Nội dung
Dựa trên một số kết quả nghiên cứu từ những năm 2000 đến 2005 về những vấn đề mà HSgặp phải, Bộ GD&ĐT đã quy định 6 nội dung tham vấn trong trường gồm:
- Hướng nghiệp, chọn nghề và thông tin tuyển sinh
- Tình yêu, giới tính và quan hệ với bạn khác giới
- Quan hệ, giao tiếp, ứng xử với gia đình, giáo viên và bạn bè
- Phương pháp học tập
- Tham gia các hoạt động xã hội
- Thẩm mỹ
4.4 Cơ sở vật chất
- Phòng tham vấn, công cụ đánh giá, sàng lọc như test và một số dụng cụ khác
4.5 Điều kiện hỗ trợ gồm không gian, thời gian của quá trình tham vấn ảnh
5 Các loại hình và quy trình tham vấn
5.1 Các loại hình tham vấn học đường
Các hình thức tham vấn có thể được phân loại dựa trên tính chất của hoạt động thamvấn Với cách nhìn này, có thể chia tham vấn theo hình thức trực tiếp và tham vấn gián tiếp
5.1.1 Tham vấn trực tiếp (cá nhân, nhóm)
Tham vấn trực tiếp – là hình thức tương tác trực tiếp, mặt đối mặt giữa nhà tham vấn vàhọc sinh/phụ huynh Đây là hình thức tham vấn phổ biến khi học sinh/phụ huynh và nhà thamvấn ngồi đối diện với nhau Do có thể được trực tiếp nghe và nhìn nhau (với điều kiện họcsinh/phụ huynh không bi khuyết tật về nhìn hoặc nghe) nên hiệu quả tham vấn thu được là khácao, không tốn thời gian và nó tạo cơ hội cho những phản hồi tức thì và hai bên nhận biết đượcnhững biểu hiện phi ngôn ngữ của cơ thể
Học sinh/phụ huynh trong tham vấn trực tiếp có thể là một cá nhân, một nhóm người,hay một gia đình
a) Tham vấn tâm lý cá nhân
Tham vấn tâm lý cá nhân – là hình thức tham vấn trực tiếp mà ở đó có sự mặt đối mặtgiữa nhà tham vấn và một học sinh/phụ huynh có khó khăn tâm lý
Trang 9Các vấn đề thường gặp phải trong tham vấn cá nhân: Stress, sợ hãi, mâu thuẫn/xungđột (gia đình, đồng nghiệp), vấn đề khó khăn trong giao tiếp, các trạng thái trầm cảmkhác…
Điều kiện cần thiết trong tham vấn cá nhân: Kiến thức của nhà tham vấn; Kỹ năngcủa nhà tham vấn; Không gian tham vấn đảm bảo thuận lợi và an toàn; Thời gian thamvấn phù hợp
b) Tham vấn tâm lý nhóm
Tham vấn nhóm là một hình thức tham vấn trực tiếp mà theo đó vấn đề của các cá nhân
được thể hiện trong phạm vi một nhóm gồm nhiều người có cùng vấn đề giống nhau được giúp
đỡ
Tham vấn nhóm hướng với một số mục đích sau: 1) Giúp các thành viên giải quyết các vấn
đề và các mâu thuẫn trong cuộc sống của họ; 2) Giúp các thành viên phát triển sự tự nhận thức
và có những thay đổi về nhận thức, cảm xúc; 3) Phát triển mối quan hệ hài hòa (trao, nhậnnhững vấn đề tốt, xấu) giữa các thành viên trong nhóm hoặc giữa các thành viên với nhà thamvấn nhằm mục đích tăng cường sự tham gia của họ trong nhóm; 4) Giáo dục các thành viêncủa nhóm để hoàn thiện bản thân
Ưu điểm của tham vấn nhóm: 1) Tạo điều kiện để học sinh/phụ huynh có những tình cảm
gắn bó, chấp nhận và có thể hiểu người khác; cơ hội để quan sát, bắt chước và được cổ vũ vềmặt xã hội, được trải nghiệm những vấn đề chung của mọi người Những điều này cho phépmỗi học sinh/phụ huynh trong bối cảnh nhóm sống lại những quan hệ, những cảm xúc tiêu cực,nhận diện lại nó và điều chỉnh 2) Bồi dưỡng được ý thức hợp tác trong cộng đồng, tập thể ởhọc sinh/phụ huynh 3) Tạo ra những thay đổi về nhận thức, cách cư xử và sự phát triển tínhcách của mỗi học sinh/phụ huynh và 4) Hỗ trợ học sinh/phụ huynh trong việc ra quyết định vàgiải quyết vấn đề
Trang 10- Tham vấn nhóm thích hợp cho những học sinh/phụ huynh có vấn đề tâm lý do nghiện cácchất kích thích, do béo phì, những học sinh/phụ huynh có khủng hoảng lứa tuổi và khủnghoảng khác hoặc cỏ stress vả những chấn thương tâm thần.
Yêu cầu cho sự thành công của tham vấn nhóm là nhà tham vấn phải biết cách điều hành nhóm Cụ thể:
- Nhà tham vấn phải nắm vững các giai đoạn phát triển của nhóm để có thể đưa ra nhữngcách thức tác động phù hợp, hiệu quả với từng giai đoạn đó
- Nhà tham vấn cần lên kế hoạch trước cho mỗi buổi sinh hoạt nhóm, phải tự trả lời đượccâu hói: Hôm nay nhóm sẽ làm gì? Làm như thế nào? Và hiệu quả sẽ đạt được là gì?
- Nhà tham vấn cần lưu ý bầu không khí tham vấn để' đánh giá mức độ vấn đề và lựa chọncách thức tác động
- Trước khi vào tham vấn nhóm, nhà tham vấn bắt buộc phải thảo luận những quy định sinhhoạt dựa trên ý kiến số đông để giúp họ cảm thấy họ thuộc về nhóm
- Cần phải duy trì kỉ luật, quy tắc chặt chẽ ngay từ đầu như đến đúng giờ, để đồ đạc đúngnơi quy định đế tiến hành tham vấn nghiêm túc và thuận lợi hơn
- Trong tham vấn nhóm, sinh hoạt vui chơi cũng là một hình thức trị liệu Vui chơi trongsinh hoạt nhóm nhằm giải toả cảm xúc tiêu cực, tăng cảm xúc tích cực, tạo mối quan lệ gắn bó,đoàn kết giữa các thành viên trong nhóm Nhóm tham vấn thường có ký hiệu riêng khi bắt đầusinh hoạt nhóm (tham vấn nhóm), những trò chơi hay những ký hiệu khác như tiếng vỗ tay, gõbàn, hay một tiếng động nào đó cần được khởi động để các thành viên trong nhóm ngầm hiểu
là buổi tham vấn bắt đầu
Một số chỉ dẫn khi làm việc trong nhóm:
- Cần thiết lập nội quy sinh hoạt của nhóm
- Số người khoảng từ 6 đến 12 và cán bộ tham vấn
- Thời gian khoảng từ 1,5 giờ đến 2 gtờ/một tuần, tham vấn nhóm khoảng từ 12 đến 16 lầncho một vấn đề
- Có thể chia nhóm theo giới tính
- Phòng tham vấn yên tĩnh, rộng để có thể tồ chức trò chơi hoặc di chuyển dễ dàng Sửdụng các sinh hoạt tập thể, trò chơi, hoạt động nghệ thuật để các thành viên cảm thấy thư giãn
và thoải mái khi tham gia vào tham vấn nhóm Khi tham vấn, các thành viên ngồi vòng tròn đểtăng cường giao tiếp với nhau
Trang 11- Khi các thành viên chia sẻ vấn đề của mình có thể tạo nên không khí tâm lý nặng nề trongnhóm Do đó, nhà tham vấn giúp các thành viên giữ bình tĩnh và tôn trọng ý kiến, xúc cảm củanhau Nhà tham vấn tôn trọng ý kiến của từng người, tránh bình luận, phê bình ý kiến của ai
đó Nhà tham vấn tăng cường bầu không khí bạn bè và tạo sự cởi mở giữa các thành viên quaviệc chấp nhận và không phán xét thái độ của các thành viên
- Công nhận các xúc cảm và kinh nghiệm mà các học sinh/phụ huynh đang trải nghiệm
- Cán bộ tham vấn cần có những “thủ thuật” để đối phó với những tình huống gây gỗ,không tôn trọng người khác; dỗi, bỏ họp giữa chừng; làm việc riêng của một số thành viên.Không được ngắt quãng khi có người đang nói hoặc chia sẻ thông tin và không ép buộc ai đóphải nói khi họ chưa sẵn sàng
- Cán bộ tham vấn phải nhận thức được các giai đoạn khác nhau của sự phát triển nhómtrong quá trình tham vấn (giai đoạn hình thành, xung đột, hoà giải, và kết thúc)
- Nhắc các thành viên giữ kín những thông tin được chia sẻ trong nhóm của mình
- Lồng ghép các trò chơi trong quá trình tham vấn nhóm
- Cần ghi chép lưu giữ hồ sơ các cuộc tham vấn: ghi các hoạt động, sự tham gia, cảm xúccủa từng người
Tham vấn theo quan điểm nhân văn - hiện sinh thường sử dựng bối cảnh nhóm để tạo điềukiện cho học sinh/phụ huynh có khả năng nhập vai, cảm nhận được sự ủng hộ của nhóm để họthấy không đơn độc (vì nhiều người cùng hoàn cảnh như họ) Việc mỗi cá nhân cảm nhậnđược sự nâng đỡ của nhóm hình như làm họ dễ dàng trình bày những tình cảm hoặc những khókhăn của mình Tham vấn nhóm có thể tạo nên giai đoạn đầu tiên để học sinh/phụ huynh táihoà nhập vào cuộc sống thực tế, nó cho phép học sinh/phụ huynh đương đầu với những ngườikhác và đòi hỏi các học sinh/phụ huynh phải có sự hiểu biết và kính trọng lẫn nhau Chính vìvậy, tham vấn nhóm đã hỗ trợ rất đắc lực cho tham vấn cá nhân trong thực tiễn tham vấn trênthế giới
5.1 2 Tham vấn gián tiếp
Hình thức tham vấn gián tiếp – là quá trình tham vấn thông qua các phương tiện trunggian, như qua điện thoại, viết thư hay tham vấn trực tuyến (sử dụng mạng Internet)
a) Tham vấn qua thư, báo in
Đây là hình thức tham vấn gián tiếp chủ yếu cho các học sinh/phụ huynh gặp rắc rốitrong tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc gia đình Hình thức tham vấn biểu hiện dưới dạng mộtbức thư với những vấn đề được học sinh/phụ huynh trình bày ngắn gọn cô đọng, trong đó học
Trang 12sinh/phụ huynh mong muốn toà soạn báo giải đáp thắc mắc về những vấn đề khiến họ đangbăn khoăn suy nghĩ và đau khổ
Đặc điểm chung của tham vấn qua thư - báo là người trả lời thư phải có kiến thức vềtâm lí học, giáo dục học, luật học, y tế đồng thời biết vận dụng lý thuyết khoa học vào đờisống thực tiễn của cộng đồng trong quá trình tham vấn, nắm được các kĩ năng cơ bản của thamvấn
Tham vấn bằng thư có một số đặc điểm riêng như sau: Khách tham vấn không biết ai ởtrung tâm sẽ đọc và xử lí thư của mình, đo đó thư được viết hoàn toàn do bản thân họcsinh/phụ huynh tự suy nghĩ, không có một ảnh hưởng nào hay một tác động nào từ phíachuyên viên Tuy nhiên, do không được gặp gỡ để nhận biết được khách hàng qua việc quansát vẻ mặt, điệu bộ cử chi nên có nhiều thông tin về khách hàng bị thiếu Khi học sinh/phụhuynh có những bức xúc tâm lý chuyên viên tham vấn không thể trấn an, chia sẻ kịp thời vớihọc sinh/phụ huynh Vì vậy, tham vấn qua thư thường kém tính thời sự Trong tham vấn thư,nếu học sinh/phụ huynh có xảy ra điêu gì xấu có liên quan đến tham vấn, chuyên viên thamvấn sẽ chịu trách nhiệm pháp luật với những chứng cớ rõ ràng
b) Tham vấn qua đài
Đây là loại hình tham vấn gián tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu nghe đài của quần chúngnhân dân Hình thức tham vấn qua đài chủ yếu như một cuộc trò chuyện theo xu hướng giáodục, cho lời khuyên hơn là một cuộc tham vấn theo đúng nghĩa Điều hạn chế này chủ yếu do
sự giới hạn của thời gian tư vấn, sự gián tiếp của tư vấn và tính công khai hóa của các mốiquan hệ vốn được gọi là "bảo mật"
c) Tham vấn qua điện thoại
Từ những năm 1980, tham vấn điện thoại đã được sử dụng như là một trong nhữngphương tiện chính giữa học sinh/phụ huynh và nhà tham vấn (hay người trợ giúp)
Mcleod (1993) đã cho rằng đó là hình thức tham vấn hiệu quả nhất Thân chủ có thểđược nhận tham vấn qua điện thoại, được giúp đỡ, được cung cấp thông tin và những dịch vụkhác (Wallbank, 1997) Những đào tạo chuyên môn đã được thiết lập để làm loại công việcnày (Palmer và Milner, 1997) Những năm 1990 là thời kỳ bùng nổ của tham vấn điện thoại
"đường dây nóng", ban đầu cung cấp thông tin và sau đó là tham vấn
Một trong những điểm mạnh của dịch vụ tham vấn điện thoại là khả năng cung cấp sự
hỗ trợ và lời khuyên miễn phí và đáng tin cậy Đội ngũ nhân viên hỗ trợ thường được đào tạo
Trang 13và có những hiểu biết cá nhân về những khó khăn điển hình của người gọi điện đang nóichuyện với họ.
Hình thức tham vấn qua điện thoại được phát triển khá nhiều ở Việt Nam Hình thứctham vấn này rất thuận tiện cho khách hàng vì không phải đi lại, ngoài ra việc khách hàng vàcán bộ tư vấn không biết nhau cũng làm cho khách hàng cảm thấy thoải mái hơn trong việc nói
ra các tâm tư, dồn nén của mình Thậm chí họ thoả chí chửi trong máy cho "bõ giận"
Hạn chế của tham vấn điện thoại là khó đánh giá được hiệu quả tham vấn Do tính chấtcủa hình thức tham vấn qua điện thoại là người nói và người nghe không biết nhau nên nhiềukhách hàng sau khi tham vấn đã không liên hệ lại vì vậy nhân viên tham vấn không biết đượckết quả tham vấn của mình như thế nào và khó đưa ra kế hoạch tham vấn tiếp theo
d) Tham vấn qua mạng (web, email, chat)
Tham vấn qua mạng (online counseling) là một hình thức tham vấn gián tiếp; là việcthực hành nghề tham vấn, cung cấp thông tin được diễn ra thông qua mạng internet giữa nhàtham vấn và học sinh/phụ huynh ở hai nơi khác nhau Học sinh/phụ huynh tự xác định địađiểm và thời gian bộc lộ vấn đề của họ
Ngay từ khi mới xuất hiện, tham vấn mạng đã gây ra nhiều tranh cãi về tính hiệu quảcũng như tính đạo đức của loại hình trợ giúp này Tham vấn mạng không phù hợp với nhữngvấn đề về lạm dụng tình dục, bạo hành, rối loạn ăn uống, rối loạn tâm thần, những người có ýtưởng tự sát, giết người hay lạm dụng trẻ em (Ping field, 1999) Dù bị phản đối rất nhiềunhưng tham vấn mạng vẫn tồn tại và ngày càng phát triển hơn cùng với sự phát triển của côngnghệ thông tin
Trên thế giới, dịch vụ được biết đến sớm nhất (năm 1986) trong việc cung cấp lờikhuyên về tâm thần trực tuyến là “Hãy hỏi Bác Ezra” (đặt tên theo Ezra Cornell, người sánglập ra Đại học Cornell), một dịch vụ miễn phí dành cho các sinh viên ở Đại học Cornell ởIthaca, New York, được thành lập bởi Jeny Feist, lúc đó là Giám đốc các Dịch vụ Tâm lý, vàSteve Worona
Hoạt động tham vấn qua intemet với những hình thức kết nối đặc trưng bao gồm thưđiện tử, nói chuyện trực tuyến, diễn đàn và các loại hình khác Từ những năm 1990, với sựxuất hiện phổ biến của internet, trị liệu đã chuyển từ ranh giới mặt đối mặt hay qua điện thoạitới một lãnh địa, mới đầu được đặt tên là "trị liệu máy tính" bởi Lang (1996), hay sau đó đượcbiết đến nhiều hơn là tham vấn e-mail (thư điện tử), tham vấn trực tuyến, tham vấn trên webhay tham vấn internet
Trang 14Tham vấn trực tuyến là hình thức tham vấn mà ở đó nhà tham vấn và học sinh/phụhuynh thực hiện quá trình tham vấn qua các hình thức kết nối trực tuyến của mạng internet Cóthể là phòng chat (chat room), nói chuyện qua hệ thống truyền tải âm thanh (voice chat), hìnhảnh (webcam), hoặc có thể kết hợp cả ba hình thức trên Chat là một sự phát triển xa hơn củatham vấn mạng Nó cho phép truyền cả văn bản, lời nói và hình ảnh giữa những người sử dụngmáy tính Để duy trì mức độ an toàn tương đối nhằm tránh người khác vào chat room trongsuốt quá trinh trị liệu, chỉ những người trong một danh sách riêng những thành viên được mờibởi Yahoo Group mới có thể tham gia như là nhà trị liệu hay học sinh/phụ huynh duy nhất.Điểm lợi của hệ thống này là nhà trị liệu và học sinh/phụ huynh có thể nói chuyện như khi gọiđiện Dịch vụ này coi phí hoặc miễn phí và cho phép khách hàng nói chuyện với nhà trị liệu từbất cứ nơi nào trên thế giới Thực chất tham vấn qua điện thoại hay qua internet chỉ khác vớitham vấn trực tiếp về phương tiện truyền tin và cách thức truyền tải thông tin Học sinh/phụhuynh có thể kết nối được với nhà tham vấn mạng khi họ có kết nối internet và có thể truy cậpđược vào hệ thống tham vấn mạng (Ross, 2000).
Ưu điểm:
Theo Wallbank (1997), tham vấn qua thư có những ưu điểm sau:
- Có cơ hội đề bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc và giải tỏa những vấn đề tâm lý khi
chúng đang lên cao trào;
- Có thể chủ động được thời gian, thực hiện vào bất cứ lúc nào, như vào buổi đêm khibọn trẻ đã đi ngủ và khi vợ/chồng không ở bên cạnh
- Thư có thể viết tiếp tục sau khi đã ngừng nhiều ngày, tuần hay tháng;
- Giảm những cảm xúc bị kìm nén bằng cách viết ra trên giấy những suy nghĩ, ý tưởng,cảm xúc và những mối quan tâm;
- Biết rằng nhà tham vấn sẽ trả lời có thể giúp cho quá trình tiến triển của học sinh/phụhuynh và được bí mật
Ngoài những ưu điểm như viết thư, tham vấn qua mạng còn có các ưu điểm khác như:
- Tốc độ truyền tin, khả năng gửi những tư liệu và phản hồi một cách nhanh chóng
- Đường dẫn tới những trang web hữu ích
- Khả năng tiếp cận với những chuyên gia sống ở xa
- Duy trì liên lạc với nhà trị liệu khi đi xa khỏi nhà hay cơ quan
- Thời gian linh động tùy thuộc vào nhà tham vấn và học sinh/phụ huynh
Trang 15- Có thể sử dụng biểu tượng các khuôn mặt cảm xúc để thể hiện cảm xúc của mình
- Tính khuyết danh của học sinh/phụ huynh Để tham gia tham vấn trực tuyến, học sinh/
phụ huynh chỉ cần đăng nhập một tài khoản với một bí danh mà không cần phải khai báo danhtính thực của mình Vì vậy, học sinh/phụ huynh có thể tự bộc bạch được những điều mìnhmuốn chia sẻ mà ít có sự phòng vệ hơn Tính vô danh giúp khách hàng giảm cảm giác xấu hổkhi phải bộc lộ bản thân
- Khách hàng có thể gặp nhà tham vấn bất cứ lúc nào họ đăng nhập vào trang web mà không cần hẹn trước
- Những thông tin trao đổi trực tuyến có thể được lưu giữ lại một cách dễ dàng Điều
này có thể giúp ích cho quá trình theo dõi ca của nhà tham vấn và quá trình giám sát Tuynhiên, đây cũng là một mặt hạn chế Học sinh/phụ huynh có thể lưu thông tin về ca tham vấn
và bị lộ Khi đó, tính bảo mật thông tin cũng không được đảm bảo và nằm ngoài tầm kiểm soátcủa nhà tham vấn
Mặt hạn chế:
-Không nhìn thấy được nhau Nhà tham vấn chỉ có thể dựa vào các từ được viết ra củakhách hàng mà không thể đọc được ngôn ngữ cơ thể, không thể thấy khách hàng thể hiện cảmxúc Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ intemet thỉ người ta có thê sử dụng webcam(phương tiện truyền hình ảnh qua intemet) để hỗ trợ cho quá trình trao đôi thông tin giữa nhàtham vắn và học sinh/phụ huynh
- Thông tin có khả năng bị sự rò rỉ, phát tán một cách không chủ đinh
- Các nhà tham vấn mạng có thể không có nhạy cảm về văn hóa của khách hàng (Fnme,
1 997)
- Hình thức tham vấn trực tuyến cần rất nhiều thời gian để có thể hiểu được vấn đề thực
sự của khách hàng Do nhà tham vấn không thể quan sát được những cử chi phi ngôn ngữ củahọc sinh/phụ huynh, nên lời nói của nhà tham vấn và học sinh/phụ huynh đôi khi khập khiễng,hỏi một đằng trả lời một nẻo
- Nhà tham vấn không kiểm soát được trạng thái tâm lý của người được giúp đỡ - họđang cảm thấy gì đang còn muốn viết tiếp hay đã dừng lại rồi
- Tham vấn mạng ít có sự ràng buộc, học sinh/phụ huynh dễ dàng dừng hoặc ngắt quátrình làm việc trong khi tiến trình giúp đỡ có thể cần nhiều thời gian hơn nữa
- Hình thức tham vấn trực tuyến khó sử dụng những kĩ thuật trong tham vấn, trị liệu Ví
dụ như các bài tập thư giãn, bài tập tưởng tượng Nếu sử dụng voice chat hay webcam có
Trang 16thể hỗ trợ nhà tham vấn trong quá trình hướng dẫn học sinh/phụ huynh nhưng nó vẫn có nhữngcản trở về mặt giao tiếp.
- Tính bảo mật của internet Những người sử dụng dịch vụ tham vấn qua mạng cũngcần được cánh bảo về nguy cơ bị đánh cắp thông tin bởi các hacker cho dù đã được bảo mật
Năm 2003, nhóm các nhà nghiên cứu Heinlen, Welfel, Richmond & Rak đã tìm hiểu vềmức độ tuân thủ hướng dẫn thực hành nghề nghiệp mà Hội đồng Bảo đảm Trách nhiệm vềTham vấn (NBCC) đã đưa ra 138 trang web có cung cấp dịch vụ tham vấn trực tuyến và quathư điện tử Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tuân thủ hướng dẫn nghề nghiệp là rất thấp
và không có trang web nào tuân thủ một cách đầy đủ toàn bộ các hướng dẫn đã đề ra Támtháng sau, nghiên cứu này tiếp tục được tiến hành, thì trong đó có 37 trang web không còn tồntại
5.2 Quy trình tham vấn học đường
Mô hình tham vấn sáu giai đoạn dưới đây được nhiều ngành trợ giúp trên thế giới sửdụng được tổng hợp từ các mô hình tham vấn khác nhau:
Dựa trên mô hình này, các bước trong tham vấn học đường được diễn ra theo quy trình như sau:
Giai đoạn l: Xây dựng quan hệ và sự tin tưởng giữa giáo viên tham vấn và học sinh/phụ huynh (học sinh/phụ huynh) - là giai đoạn xây dựng mối liên hệ mật thiết và lòng
tin tưởng
Học sinh/phụ huynh đến tham vấn với một băn khoăn lớn: "Tôi có thể tin tưởng nhàtham vấn để nói với anh ta về điều thầm kín của tôi"?
Trang 17Lần gặp gỡ đầu tiên rất quan trọng vì đó là thời điểm nhà tham vấn và học sinh/phụhuynh có những ấn tượng ban đầu về nhau; thời điểm thiết lập mối tương giao, quan hệ; tạoniềm tin; xác định vấn đề của học sinh/phụ huynh; xác đinh hướng đi Ở buổi trò chuyện (thamvấn) lần đầu tiên với giáo viên, học sinh/phụ huynh có thể quyết định có tiếp tục tham vấn haykhông?
Những điều mà giáo viên tham vấn cần làm ở giai đoạn này:
- Tạo bầu không khí thân thiện vừa phải (có thể dành vài phút đầu bằng chuyện thời sự,các biến cố thời tiết hoặc lễ hội, thể thao Thời gian khoảng 5 - 7 phút)
- Không làm học sinh/phụ huynh khó chịu, không đi sâu vào chuyện riêng tư quá sớmlàm họ ngại ngùng, mà có thể đi ngay vào mục đích học sinh/phụ huynh tìm đến tham vấn
- Cần thiết lập bầu không khí tin tưởng bằng cách tạo thoải mái cho học sinh/phụ huynh,hoan nghênh học sinh/phụ huynh đến; giới thiệu bản thân
-Làm rõ tính chất hoạt động trợ giúp tâm lý cho học sinh/phụ huynh
-Giáo viên tham vấn có thể nên nói thêm về việc gặp gỡ các đối tượng khác để làm rõthông tin và nói cho học sinh/phụ huynh rõ về quyền được biết thông tin liên quan đến họ
- Giáo viên tham vấn cần nói về một số nguyên tắc tham vấn, trong đó nguyên tắc vềtính bảo mật và ngoại lệ của việc giữ bí mật; nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của học sinh/phụ huynh
- Giáo viên tham vấn sử dụng nhiều hơn kỹ năng lắng nghe tích cực và kỹ năng thấucảm; cần lưu ý một cách chăm chú, cẩn thận khi học sinh/phụ huynh bày tỏ về những khíacạnh xúc cảm, tình cảm; giữ bình tĩnh, kiên trì khi học sinh/phụ huynh không hợp tác; theo dõihọc sinh/phụ huynh qua giọng nói, biểu hiện nét mặt, điệu bộ, cách ngồi, cách dùng từ Việc
Ví dụ:
- Chào em, mời em ngồi (có chỗ ngồi, mời nước).
- Thầy/cô có thể giúp gì cho em (hoặc em có điều gì cần thầy/cô giúp)?
Ví dụ: “Trước khi chúng ta đắt đầu vào vấn đề của em, thầy/cô chỉ có thể giúp được em khi biết rõ về câu
chuyện của em Vì vậy em sẽ nói về vấn đề của mình, và thầy/cô là người lắng nghe Trong khi em nói có chỗ vào chưa rõ thầy/cô sẽ hỏi lại Sau khi thầy/cô hiểu được vấn đề của em như em hiểu vấn đề của mình, chúng ta cùng nhau thảo luận phương án giải quyết Thầy/cô sẽ giúp em làm sáng tỏ vấn đề và sẽ cùng em cân nhắc các cách giải quyết sao cho có hiệu quả nhất, còn em sẽ thực hiện chúng".
Ví dụ: "Trong quá trình làm việc với em có thể thầy/cô cần thêm một số thông tin từ những người khác để
giúp cho việc xem xét vấn đề của em tốt hơn Khi gặp gỡ ai trong số người quen của em và về vấn đề gì thầy/cô sẽ thông báo để em biết”
Trang 18trò chuyện những vấn đề chung để tìm sự thoải mái, tin tưởng không nằm ngoài mục tiêu thamvấn: Học sinh/Phụ huynh có vấn đề gì? Cần giúp gì?
- Giai đoạn thiết lập sự tin tưởng lẫn nhau không có nghĩa chỉ gói gọn trong một, haibuổi đầu tiên, mà có thề mất một số buổi Vì vậy giáo viên tham vấn cần nắm bắt và hình dungđược vấn đề của học sinh và phụ huynh
- Khi các thông tin học sinh/phụ huynh kể ra đã được xác định, giáo viên tham vấn cần
sử dụng kĩ năng phản hồi và kĩ năng đặt câu hỏi để hiểu chính xác vấn đề của học sinh/phụhuynh Điều này không có nghĩa là giáo viên tham vấn tán thành với nhận định của họcsinh/phụ huynh
- Khi vấn đề của học sinh/phụ huynh chưa chắc chắn, giáo viên tham vấn cần giới thiệuhọc sinh/phụ huynh đến bác sĩ (đa khoa, nhi khoa, tâm thần, sản phụ), hoặc giới thiệu, thảoluận với chuyên gia tâm lý để làm trắc nghiệm nếu cần việc này đòi hỏi tăng kinh phí, nên giáoviên tham vấn cần cân nhắc tình hình tài chính của học sinh/phụ huynh Giáo viên tham vấn cóthể giới thiệu học sinh/phụ huynh đến các dịch vụ khác như pháp luật, các trại cai nghiện, giớithiệu đến các giáo viên mở, giáo viên tình thương, gia đình thay thế
2.3.2 Giai đoạn 2 Thu thập thông tin và xác định vấn đề
Đây là giai đoạn giáo viên tham vấn và học sinh/phụ huynh xem xét sự khám phá đầu
tiên về một hay một số vấn đề Những vấn đề khác cũng có thể xuất hiện khi giáo viên thamvấn khám phá tình trạng của học sinh/phụ huynh Giáo viên tham vấn và học sinh/phụ huynhcần được sáng tỏ nội dung thông tin ở giai đoạn này là:
Vấn đề xuất hiện như thế nào? Khi nào? Ở đâu? Vấn đề tồn tại bao lâu? Ai liên quan đến vấn đề? Liên quan như thế nào? Mức độ nghiêm trọng của vấn đề? Vấn đề có đe doạ đến cuộc sống của bản thân hay người khác không? ' Vấn đề trước mắt học sinh/phụ huynh muốn giải quyết là gì? Vấn đề đã được giải quyết như thế nào? Học sinh/phụ huynh đã cố gắng như thế nào trong việc giải quyết? Có ai giúp đỡ không? Học sinh/phụ huynh cảm thấy như thế nào? v.v
Nhiệm vụ của giáo viên tham vấn trong giai đoạn này:
- Giáo viên tham vấn có thể tham khảo ý kiến của bất kể giáo viên chuyên môn nào vềnhững mặt mà giáo viên tham vấn chưa biết về học sinh/phụ huynh Hoặc có thể hỏi nhữngnguồn thông tin khác nhau để làm sáng tỏ vấn đề của khách hàng
-Giáo viên tham vấn phải tuyệt đối tránh đặt những người cung cấp thông tin hay ngườiquen của học sinh/phụ huynh vào tình huống xung đột với học sinh/phụ huynh Khi thu thập
Trang 19thông tin giáo viên tham vấn cần sự đồng ý của học sinh/phụ huynh, hoặc phải báo với họcsinh/phụ huynh về những người quen của học sinh/phụ huynh mà giáo viên tham vấn muốngặp hay những vấn đề giáo viên tham vấn sẽ hỏi họ Nếu học sinh/phụ huynh có sự chống đối,ngăn cản những người cung cấp thông tin hợp tác với giáo viên tham vấn trong nỗ lực giúp học
sinh/phụ huynh giải quyết vấn đề của mình Giáo viên tham vấn có thể nói: “Để giúp em xác
đinh rõ vấn đề của mình, có thột số thông tin về điểm A X thầy/cô chưa rõ (thầy/cô muốn làm sáng tỏ), em nghĩ thế nào nếu thầy/cô sẽ gặp bố mẹ em đế làm rõ một số điểm?” Hoặc:
“Để giúp em xác định rõ vấn đề của mình, thầy/cô cần thêm một số thông lin liên quan đến bạn A, bạn X em nghĩ thế nào về chuyện này?”
- Sau khi thu thập được thông tin từ các nguồn khác nhau, giáo viên tham vấn cần đánhgiá các vấn đề của học sinh/phụ huynh theo nhận định ban đầu của mình Sẽ có những vấn đề
mà học sinh/phụ huynh không nhận thức được đầy đủ Đây là lúc giáo viên tham vấn giúp họcsinh/phụ huynh cải thiện suy nghĩ về bản thân và vấn đề của mình
Khi học sinh/phụ huynh ý thức được vấn đề của mình, nhìn vấn đề "như nó vốn có"
-Đó là lúc cái tôi nội tâm của học sinh/phụ huynh cảm thấy mạnh mẽ, dám nhìn vào sự thật,giáo viên tham vấn có thể đẩy nhanh hơn quá trình khám phá thế giới bên trong của họcsinh/phụ huynh, nhưng cũng cần phải luôn luôn nhạy cảm với nhu cầu của học sinh/phụhuynh
- Giáo viên tham vấn chia sẻ với học sinh/phụ huynh những vấn đề mà giáo viên thamvấn khám phá được và học sinh/phụ huynh bắt đầu nhìn nhận vấn đề này dựa trên việc thiết lậpnhưng mục tiêu
- Giáo viên tham vấn sẽ cùng học sinh/phụ huynh quyết định xem cách nào có thểhướng tới những mục tiêu này Điều này sẽ phụ thuộc phần lớn vào thực tế của mối quan hệtham vấn, ví dụ như: số lần gặp mặt, mong muốn của học sinh/phụ huynh
- Để làm sáng rõ vấn đề của học sinh/phụ huynh từ những thông tin thu thập được, giáoviên tham vấn có thể mô hình hóa các mối quan hệ của học sinh/phụ huynh theo biểu đồ dướiđây để có giải pháp tác động vào ai trong các mối quan hệ ràng buộc - lệ thuộc và có ảnhhưởng tới các học sinh/phụ huynh và vấn đề của họ
Ví dụ, học sinh A là một em trai 14 tuổi, là con út trong một gia đình có 5 thành viên:
bố, mẹ, anh và chị Trong gia đình, học sinh A không được ai yêu quý ngoài người mẹ Mẹ củahọc sinh mới 37 tuổi, bà đối xử tốt với các con trong gia đình, đặc biệt là quan tâm tới dân chủ.Người bố 42 tuổi mặc dù đã li hôn với mẹ nhưng vẫn sống trong một gia đình Người bố này
Trang 20thường có mâu thuẫn, xung đột với học sinh/phụ huynh, với chị gái và không quan tâm tới anhtrai
Biểu đồ sinh thái học sinh A
Theo biểu đồ, học sinh A có một vài người bạn, em yêu quý họ nhưng không được đáplại tình cảm này Em không được họ hàng bên ngoại hay hàng xóm láng giềng yêu quý Emcũng không có mối quan hệ gì với bên họ nội Học sinh/phụ huynh dửng dưng với trường học,
em có rắc rối với pháp luật Hiện em được hỗ trợ bởi chính sách của giáo viên nước, đặc biệt
em luôn được chăm sóc bởi hệ thống y tế Điều này khiến nhà tham vấn liên thông tới vấn đềbệnh tật mà em có thể mắc phải Chính quyền và tổ chức đoàn thể có những quan tâm tới giađình em
Việc mô hình hóa các mối quan hệ của học sinh/phụ huynh giúp cho giáo viên tham vấn
có thể lượng giá được vấn đề của học sinh/phụ huynh và đưa ra được chiến lược can thiệpnhằm cải thiện mối quan hệ của học sinh/phụ huynh với những người thân trong gia đình, cũng
Quan tâm, yêu thương Bình thường
Xung đột Dửng dưng, không quan tâm
Li hôn
Li thân
Chết
Các ký hiệu
Trang 21như xem xét sự hỗ trợ các dịch vụ xã hội mà học sinh/phụ huynh có thể được hưởng nhằm cảithiện tình trạng của học sinh/phụ huynh
Trong tham vấn cá nhân, sau khi thu thập thông tin, mô hình hóa vấn đề của họcsinh/phụ huynh, giáo viên tham vấn cùng học sinh/phụ huynh thảo luận về các giải pháp vàxây dựng kế hoạch thực hiện Với học sinh/phụ huynh là trẻ em, giáo viên tham vấn khi đưa racác giải pháp cần có ý kiến của cha mẹ hoặc người giám hộ
Giai đoạn 3: Lựa chọn giải pháp và xây dựng kế hoạch thực hiện
- Giáo viên tham vấn không nên đưa ra các giải pháp cho học sinh/phụ huynh
- Trong trường hợp học sinh/phụ huynh không đủ khả năng đưa ra giải pháp thực hiện,
giáo viên tham vấn gợi ý cho họ lựa chọn giải pháp qua việc cung cấp thông tin, hoặc giúp
học sinh/phụ huynh xác định các nguồn hỗ trợ và những giới hạn để có được giải pháp phù hợp Giáo viên tham vấn có thể gợi ý giải pháp như sau: “Một số người trong hoàn cảnh của anh họ đã làm như thế này… (hay, họ liên hệ với…để…) Tuy nhiên đấy là giải pháp của họ.
Là người trong cuộc anh biết rõ vấn đề của mình Vì vậy chỉ có anh mới biết giải pháp nào là phù hợp với mình”
- Khi học sinh/phụ huynh xác định một giải pháp nào đó, giáo viên tham vấn cùng học
sinh/phụ huynh phân tích điểm mạnh và mặt hạn chế của giải pháp Cần tôn trọng giải pháp
mà học sinh/phụ huynh lựa chọn, không nên bác bỏ bất cứ một quan điểm hay sự lựa chọn nàocủa học sinh/phụ huynh Giúp học sinh/phụ huynh hiểu và phân tích được những thuận lợi vàkhó khăn của mỗi giải pháp lựa chọn mới là trách nhiệm quan trọng của giáo viên tham vấn
Ví dụ: “Như vậy là con quyết định sẽ kể toàn bộ sự thật cho bố mẹ Theo con những điểm lợi
nào con sẽ có được nếu bố mẹ biết sự thật con là người đồng tính Thế nếu con không kể thì điều gì sẽ xảy ra?”
- Sau khi đã cùng học sinh/phụ huynh xem xét các giải pháp và lựa chọn được giải pháp
tối ưu, giáo viên tham vấn giúp học sinh/phụ huynh đưa ra kế hoạch hành động để thực hiện
giải pháp được lựa chọn; cùng học sinh/phụ huynh xây dựng mục đích, mục tiêu của kế hoạch
hành động, như nhằm đạt đến cái gì? Thời gian bao lâu? Các mục tiêu đưa ra phải lượng giáđược Các hoạt động phải khả thi, hợp với điều kiện và khả năng của học sinh/phụ huynh Kếhoạch cần chỉ ra các nhiệm vụ cụ thể gắn với trách nhiệm ai thực hiện? Thực hiện bằng cáchnào? Thời gian bao lâu? Giáo viên tham vấn sử dụng kỹ năng đương đầu, kỹ năng thông đạt đểgiúp học sinh/phụ huynh "dấn thân" vào kế hoạch của mình
Giai đoạn 4: Triển khai thực hiện giải quyết vấn đề
Trang 22Đây là giai đoạn học sinh/phụ huynh phải hành động để thay đổi thực trạng Họcsinh/phụ huynh bắt đầu giải quyết những vấn đề đã được khám phá ở giai đoạn 3 mà cả họcsinh/phụ huynh và giáo viên tham vấn đều đã xác định Học sinh/phụ huynh cần hiểu rõ tráchnhiệm của mình là tích cực tham gia giải quyết vấn đề của mình, bằng cách thực hiện kế hoạchđặt ra
Với việc sử dụng những kỹ năng tham vấn, như kỹ năng đương đầu, thách thức để giúphọc sinh/phụ huynh khởi động dễ dàng, giáo viên tham vấn không làm hộ, không làm thay cho
học sinh/phụ huynh, mà chỉ kiểm tra tiến trình thực hiện nhiệm vụ của học sinh/phụ huynh.
Nếu có nhiệm vụ mà học sinh/phụ huynh không có khả năng thực hiện, giáo viên tham vấn
cần sử dụng kỹ năng làm mẫu để học sinh/phụ huynh trải nghiệm và làm theo, hoặc tìm kiếm
sự trợ giúp từ các nguồn hỗ trợ bên ngoài cho học sinh/phụ huynh.
Đôi khi giáo viên tham vấn cùng học sinh/phụ huynh xem xét lại mục tiêu, giải pháp đặt
ra sao cho phù hợp với khả năng của học sinh/phụ huynh và điều kiện cho phép thành công.
Quá trình triển khai thực hiện là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn vì nó buộc học sinh/phụhuynh phải thay đổi thái độ, hành vi trước một thói quen đã được lập trình sẵn trong não Đểgiúp học sinh/phụ huynh thay đổi cách cảm nhận, cách suy nghĩ và hành vi trong những tìnhhuống căng thẳng khi học sinh/phụ huynh chưa đáp ứng được yêu cầu mới giáo viên tham vấn
có thể sử dụng kỹ năng hài hước với mục đích động viên học sinh/phụ huynh mà không gây áplực thay đổi ở học sinh/phụ huynh
Ở giai đoạn triển khai thực hiện để giải quyết vấn đề (giai đoạn "dấn thân"), giáo viêntham vấn nên:
- giúp học sinh/phụ huynh tham gia tối đa về công sức, thời gian, suy tư vào tìm kiêmnội lực để bắt tay vào giải quyết vấn đề
- giữ nghiêm túc về giờ giấc,
- rõ ràng trong những quyết định và có hợp đồng làm việc rõ Bắt đầu từ những hợpđồng công việc vừa tầm, từ nhỏ đến lớn; dễ đến khó, đơn giản đến phức tạp
- giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh/phụ huynh thực hiện khi ở giáo viên: làm gì, làmthế nào, nhằm giúp học sinh/phụ huynh thay đổi, thoát ra khỏi hoàn cảnh thực tại Nhiệm vụ ởgiáo viên giúp học sinh/phụ huynh biết quý thời gian, tôn trọng các buổi tham vân và biết chịutrách nhiệm về việc thay đổi
- giúp họ thấy được sự nghiêm túc trong tham vấn Giáo viên tham vấn luôn có đòi hỏi
để học sinh/phụ huynh cố gắng thực hiện những cam kết ban đầu
Trang 23Giai đoạn 5: Lượng giá và kết thúc
Có hai loại lượng giá trong tham vấn: Lượng giá thường xuyên và lượng giá khi kếtthúc
- Lượng giá thường xuyên được tiến hành trong suốt quá trình tham vấn nhằm xác địnhkết quả đạt được sau mỗi giai đoạn Lượng giá thường xuyên giúp cho học sinh/phụ huynh điđúng vào vấn đề, tránh lan man Giáo viên tham vấn cần nắm được cốt lõi của vấn đề, kịp thờiđiều chỉnh, thay đổi giúp học sinh/phụ huynh cảm nhận tốt hơn tình huống của mình Ngoài ra,lượng giá còn giúp kiểm tra lại xem giáo viên tham vấn và học sinh/phụ huynh có hiểu ý nhaukhông Tốt nhất nên để học sinh/phụ huynh tự tóm lược, kiểm ý, xem họ có hiểu vấn đề đúng,
có nghe và nhớ những điều vừa thảo luận không
- Lượng giá kết thúc khi quá trình tham vấn đến giai đoạn kết thúc Giáo viên tham vấnnên lưu ý đến những tiến bộ học sinh/phụ huynh đã đạt được để củng cố và tăng cường niềmtin nơi học sinh/phụ huynh Giáo viên tham vấn cần nói để học sinh/phụ huynh biết là họ luônđược hỗ trợ, giúp đỡ khi cần thiết Khi lượng giá cần thảo luận cùng học sinh/phụ huynh kếtquả mà họ đã đạt được: Đã học được gì? Nguồn lực nào giúp đạt được kết quả? Nếu họcsinh/phụ huynh không hoàn thành được nhiệm vụ nào thì cần tìm ra nguyên nhân, mà khôngnên trách móc, cần chỉ ra được nhiệm vụ cần sửa chữa nếu cần thiết
Giai đoạn 6 Theo dõi sau khi kết thúc
Giáo viên tham vấn có thể tạo dựng mối quan hệ xã hội với học sinh/phụ huynh sau khichấm dứt mối quan hệ tham vấn Tuy nhiên các quy điều đạo đức cảnh báo rằng sau 2 nămchấm dứt tham vấn nếu giáo viên tham vấn tạo dựng mối quan hệ với học sinh/phụ huynh,ngoài quan hệ tham vấn (ví dụ: quan hệ tình cảm) thì phải có trách nhiệm kiểm tra một cáchcẩn thận tình trạng của học sinh/phụ huynh và cung cấp tư liệu chứng minh rằng những quan
hệ như thế không có bản chất lợi dụng nếu giáo viên tham vấn bị học sinh/phụ huynh kiện cáo(Hiệp hội Tham vấn Hoa Kì, 1995a, Tiêu chuẩn A 7 b)
Để tham vấn có hiệu quả cần: Sử dụng kết hợp những kỹ năng tham vấn với nhau vàtương ứng với từng giai đoạn của một quá trình tham vấn; Hoạch định được phương pháp màgiáo viên tham vấn tác động lên học sinh/phụ huynh; Xác định số lần gặp gỡ giữa học sinh/phụhuynh và giáo viên tham vấn trong giới hạn thời gian là bao lâu
Trang 24CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG
1 Chức năng, nhiệm vụ của GVCN
“Đối với người giáo viên cần phải có kiến thức, có hiểu biết sư phạm về quy luật xã hội, có khả năng dùng lời nói để tác động đến tâm hồn học sinh; có kỹ năng đặc sắc nhìn nhận con người và cảm thấy những rung động tinh tế nhất của trái tim con người” (Xukhomlinxki)
1.1 Chức năng của GVCN
GVCN thực hiện hai chức năng chủ yếu: giáo dục và quản lý (quản lý lớp chủ nhiệm).GVCN đảm bảo phối hợp các hoạt động giáo dục trên lớp và giáo dục ngoài giờ lên lớp, thựcthi các nhiệm vụ:
giáo dục toàn diện (đức, trí, thể, mỹ) cho mỗi học sinh
xây dựng lớp học tạo lập môi trường giáo dục và phương tiện tác động đảm bảođược hiệu quả giáo dục toàn diện nhân cách học sinh
Nắm vững tình hình, đặc điểm hoàn cảnh của mối học sinh trong lớp;
Chỉ đạo các hoạt động của lớp theo kế hoạch chung của giáo viên trường
Đánh giá sự tiến bộ của học sinh
1.2 Nhiệm vụ của GVCN
Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, dạy học của giáo viêntrường theo chế độ làm việc của GV do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định;
Quản lý học sinh trong các hoạt động do giáo viên trường tổ chức
Tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quảgiáo dục; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng;
Tham gia công tác phổ cập giáo dục;
Rèn luyện đạo đức, học tập văn hóa, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
Vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo, rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh;
Thực hiện điều lệ giáo viên trường và quyết định của Hiệu trưởng; chịu sự kiểm tra,đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp quản lý khác;
Giữ gìn phẩm chất; danh dự uy tín của giáo viên giáo, gương mẫu trước học sinh;thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền lợichính đáng của học sinh
Trang 25 Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp, tạo dựng môi trường học tập và làm việc dân chủ, thânthiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh;
Phối hợp với GVCN và các GV khác, gia đình học sinh, Đoàn TNCSHCM, ĐộiTNTPHCM trong dạy học và giáo dục học sinh;
Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của Pháp luật
Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương phápgiáo dục đảm bảo tính khả thi, phù hợp cới đặc điểm học sinh, hoàn cảnh và điều kiệnthực tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp và của từng học sinh
Thực hiện các hoạt động giáo dục theo kế hoạch đã xây dựng
Phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, các GV bộ môn, Đoàn TNCSHCM, ĐộiTNTPHCM, các tổ chức xã hội có liên quan trong việc hỗ trợ, giám sát việc học tập, rènluyện, hướng nghiệp của học sinh lớp mình chủ nhiệm và góp phần huy động các nguồnlực trong cộng đồng phát triển giáo viên trường
Nhận xét, đánh giá và xếp loại HS; khen thưởng & kỷ luật
Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình lớp học với Hiệu trưởng
Giáo viên làm công tác tư vấn: “Giáo viên làm công tác tư vấn cho học sinh là GVtrung học được đào tạo hoặc bồi dưỡng về nghiệp vụ tư vấn; có nhiệm vụ tư vấn cho cha mẹ
HS và HS để giúp các em vượt qua những khó khăn gặp phải trong học tập và sinh hoạt”
Quyền của GVCN:
Được dự các giờ học, hoạt động giáo dục khác của HS;
Được dự các cuộc họp Hội đồng khen thưởng, kỷ luật khi giải quyết những vấn
đề có liên quan đến hs của lớp mình
Được dự các lớp bồi dưỡng, hội nghị chuyên đề về công tác chủ nhiệm;
Được giảm giờ lên lớp hàng tuần theo quy định
2 Yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và đạo đức của GV làm công tác Tham vấn học đường 2.1 Yêu cầu về kiến thức
Nghiệp vụ sư phạm (dạy học, giáo dục và tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục)
Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh (đặc điểm về nhận thức, đời sống tình cảm, các mốiquan hệ…của học sinh)
Kiến thức xã hội tổng hợp (luật pháp, xu hướngnghề nghiệp, giới tính và sức khỏe sinhsản v.v…)
Kiến thức về tâm lý học đường và tham vấn học đường
Trang 262.2 Yêu cầu về kỹ năng
Kỹ năng tìm hiểu học sinh
Kỹ năng tiếp cận học sinh
Kỹ năng lắng nghe, quan sát và xác định vấn đề
Kỹ năng đặt câu hỏi
- Trung Thực
Trung thực của GV làm tham vấn là kinh nghiệm, ý thức và tình cảm được diễn tả rangoài bằng hành vi một cách thống nhất, ăn khớp với nhau Trung thực là sự hợp nhất trongbình diện ý thức (nhận thức), hành vi và cảm xúc (C Rogers)
- Thấu cảm
Thấu cảm là trải nghiệm điều mà học sinh/phụ huynh đang trải nghiệm, hiểu được
những tình cảm và ý nghĩ của bên trong của học sinh, hiểu học sinh/phụ huynh băng cả trái tim và bằng khối óc.
Giáo viên tham vấn cảm thấy được các cảm xúc (sự giận dữ, sự sợ hãi và sự bối rối)của học sinh/phụ huynh như thể là của chính mình, nhưng giáo viên tham vấn lại không để sựcảm xúc đó (giận dữ, sự sợ hãi, sự hờn dỗi) xen vào trong câu chuyện của học sinh/phụ huynh
- Tôn trọng
Tôn trọng các biểu hiện quan điểm cá nhân của học sinh
Tôn trọng tính tự quyết của học sinh
- Năng lực chuyên môn
• Biết giới hạn hoạt động khi sức khỏe và thể chất mệt mỏi
• Ham hiểu biêt
• Hành nghề trong khả năng và lĩnh vực chuyên môn
• Biết đánh giá hiệu quả công việc của mình và tham khảo ý kiến người khác
Trang 27• Tham gia vào các khóa đào tạo nâng cao hiểu hiết
- Giữ bí mật
Những thông tin mà đối tượng cần tham vấn chia sẻ, cung cấp, các hồ sơ tham vấn
Thống nhất nguyên tắc bí mật thông tin với các thành viên tham gia tham vấn
Trong trường hợp khẩn cấp, thông tin người cần tham vấn có liên quan đến sự an toànthì cần thông báo cho những người chịu trách nhiệm cao hơn, cần thông báo cho họcsinh/phụ huynh để phòng tránh
Nếu NTV cần hỏi ý kiến của người khác về cách xử lý thì cần thay đổi học tên nhằmđảm bảo bí mật về thân nhân ngươi đó
2 Học sinh và các vấn đề cần tham vấn trong trường học
2.1 Đặc điểm tâm lý của lứa tuổi học sinh
2.2.1 Đặc điểm phát triển tâm lý lứa tuổi học sinh trung học cơ sở (THCS)
Tuổi thiếu niên là giai đoạn khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn trong quá trình phát triển Tính mâu thuẫn không chỉ thể hiện sự phát triển thể chất, tâm lý tình dục mà còn ở sự phát triển triển trí tuệ, xã hội và nhân cách Các em vừa có tính trẻ em vừa có tính người lớn Với những đặc điểm này, người ta đặt cho tuổi thiếu niên những tên gọi khác nhau như “tuổi bứt phá”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi khó dạy”…
Vị trí, ý nghĩa của tuổi thiếu niên và những đặc trưng của tuổi này đặt ra cho nhữngngười làm công tác giáo dục nhiệm vụ tìm kiếm những cách thức tổ chức dạy học, giáo dụcphù hợp thúc đẩy sự phát triển của trẻ theo hướng tốt đẹp, đáp ứng yêu cầu của xã hội
Những điều kiện phát triển tâm lý của lứa tuổi học sinh THCS
a Sự phát triển thể chất của tuổi học sinh THCS
Trong quá trình trưởng thành, phát triển của cá nhân, lứa tuổi học sinh THCS có sự cải
tổ mạnh mẽ, sâu sắc về cơ thể Nhiều người gọi lứa tuổi này là giai đoạn bứt phá lần thứ haitrong cuộc đời về mặt thể chất sau giai đoạn sơ sinh Đặc điểm nổi bật về cơ thể của học sinhTHCS là tốc độ phát triển nhanh, mạnh, nhưng không cân đối, đồng thời xuất hiện những yếu
tố mới Tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến đặc điểm phát triển cơ thể các em là các hoocmôn,chế độ dinh dưỡng và lao động
b Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh THCS
Hoạt động học tập ở học sinh THCS có sự thay đổi căn bản so với học tập của học sinhtiểu học
Trang 28- Sự thay đổi nội dung, phương pháp, hình thức học tập đòi hỏi hoạt động học của các
em phải có tính tổ chức hơn, tính độc lập cao hơn, trí tuệ hơn so với học sinh tiểu học, dần dầnhọc tập phải được xem là hoạt động tự học Điều đó đòi hỏi và thúc đẩy mạnh sự phát triển tưduy trừu tượng ở lứa tuổi này Đối với học sinh đầu cấp, sự thay đổi này làm cho nhiều em gặpkhông ít khó khăn vì vậy rất cần sự trợ giúp của giáo viên
- Động cơ học tập của học sinh THCS nhìn chung có cấu trúc phức tạp, bao gồm nhiềuloại động cơ, chưa bền vững, đôi khi chứa đựng mâu thuẫn
Động cơ học tập của các em chưa bền vững, nguyên nhân là do hứng thú học tập củatuổi THCS rất khác nhau Một số em hứng thú học tập mang tính tình huống, không xác định,
số khác chỉ hứng thú đối với một phạm vi hẹp các môn học Loại thứ ba, hứng thú với đa sốvới các môn Có những em có năng lực đối với một số hoạt động khác, say sưa đối với nhữngsản phẩm cụ thể, nên hứng thú học tập bị phân tán, dẫn đến kết quả không cao
Động cơ học tập của học sinh THCS đôi khi còn chứa đựng mâu thuẫn giữa mong muốntrau dồi tri thức với thái độ bàng quan “phớt đời” đối với điểm số Đặc điểm này xuất phát từphản ứng độc đáo của lứa tuổi này với thất bại trong học tập Các em xúc động mạnh khi gặpthất bại, nhưng do lòng tự trọng quá cao nên trong lòng thì buồn, song bề ngoài lại tỏ vẻ bấtcần
- Thái độ học tập của học sinh THCS cũng rất đa dạng Từ thái độ rất tích cực, có tráchnhiệm đến đến thờ ơ, lười biếng, thiếu trách nhiệm Sự phân hóa thái độ học tập không chỉ thểhiện giữa học sinh này với học sinh khác, mà còn thể hiện ở thái độ của các em đối với mônnày hay môn khác
Nhiều em có hứng thú bền vững đối với học tập, biểu hiện ở sự say mê, tò mò, tậptrung chú ý vào đối tượng học tập Khuynh hướng thể hiện khả năng của các em trong một lĩnhvực khoa học nào đó biểu hiện rõ ở tuổi này Trong khi đó, nhiều em tỏ thái độ thờ ơ, lườinhác, thiếu trách nhiệm, coi việc học tập là một sự gò ép, học theo kiểu đối phó, kết quả họctập thấp kém Đối với các môn học, có môn các em thích, có môn không thích, có môn tíchcực, có môn không tích cực Kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Vũ Cảnh Linh và các cộng
sự cho thấy ở nước ta phần lớn học sinh thích học các môn khoa học tự nhiên (83,6% học sinh
ở tuổi vị thành niên được khảo sát học thêm các môn toán, lý, hóa vì lý do tự nguyện, thíchhọc)
Thái độ học tập ở các em mang tính phân hóa là do nhiều nguyên nhân Trước tiên dokhả năng học tập của học sinh khác nhau Những học sinh có khả năng học tập tốt thường say
Trang 29mê, tích cực Những học sinh khả năng học tập hạn chế thường cảm thấy khó, không thích học,khi không hoàn thành nhiệm vụ học tập bị phê bình hay thầy cô đánh giá điểm kém, càng trởnên chán nản, lười nhác, học tập đối phó.
c Đặc điểm hoạt động giao tiếp của học sinh THCS
- Giao tiếp của học sinh THCS với người lớn
Quan hệ giữa học sinh tiểu học với người lớn là kiểu quan hệ trẻ em – người lớn, quan
hệ có tính chất áp đặt từ người lớn cho trẻ em Trong giao tiếp, các em thường phải nghe theo
và cũng dễ nghe theo những lời chỉ dẫn của người lớn Sang tuổi học sinh THCS, kiểu quan hệnày không còn thích hợp nữa Sự thay đổi về mặt thể chất cùng với sự thay đổi vị trí xã hội, sựtrưởng thành về mặt trí tuệ đã làm cho các em luôn có cảm tưởng mình là người lớn thực sự
Từ đó, các em muốn cải tổ mối quan hệ với người lớn theo hướng bình đẳng, muốn đượcngười lớn tôn trọng, tin tưởng, đối xử với với mình như với người lớn thực sự Biểu hiện củamong muốn này là các em thích tự mình quyết định mọi việc theo ý mình, không thích ngườilớn chăm sóc, coi mình như trẻ em, không thích sự chỉ dẫn tỉ mỉ, thậm chí chống lại sự áp đặtcủa người lớn, cố gắng hạn chế những quyền hạn của người lớn đối với mình
Nếu người lớn hiểu sự đòi hỏi tất yếu này, chủ động thay đổi quan hệ, tôn trọng, tintưởng vào các em, trở thành người bạn lớn của trẻ thì quan hệ của trẻ với người lớn sẽ tốt đẹp.Các em dễ dàng chia sẻ với người lớn, tuân thủ các yêu cầu của người lớn nếu thấy hợp lý, vuilòng trở thành “người giúp việc” và hầu như không có hiện tượng “khủng hoảng” tâm lý lứatuổi ở các em Kiểu quan hệ này rất thuận lợi cho sự phát triển nhân cách học sinh vì lứa tuổinày kinh nghiệm sống còn non nớt rất cần sự chỉ dẫn của người lớn Hơn nữa người lớn cũngthực hiện được chức năng giáo dục của mình
Nếu người lớn không ý thức được sự đòi hỏi tất yếu này, vẫn duy trì mối quan hệ cũ cótính áp đặt, chuyên quyền, trẻ sẽ phản ứng gay gắt Chúng là người khởi xướng việc cải tổ mốiquan hệ này bằng những phản ứng tiêu cực như chống đối ra mặt, cãi lại một cách bướng bỉnh.Trước hành động của các em, người lớn tỏ ra bực bội, cho là các em hỗn láo, lại tiếp tục đối xửthô bạo với các em Điều này làm cho mâu thuẫn của trẻ với người lớn tăng lên Các em khôngtin vào người lớn, xa lánh người lớn, khó chịu một cách có ý thức đối với những lời nhận xéthay những yêu cầu người lớn đặt ra Trường hợp xấu nhấ,t các em có thể bỏ nhà ra đi vì chorằng cha mẹ không hiểu mình, không yêu thương mình Nếu không lẩn tránh được thì hìnhthành một thứ đạo đức hai mặt ở các em: lúc có người lớn nó cư xử khác, lúc không có ngườilớn nó cư xử khác Trường hợp này cả trẻ em và người lớn đều bị tổn thương trong quan hệ
Trang 30Các em dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng còn người lớn cũng bị tổn thương Uy tín của ngườilớn với các em bị giảm sút, trẻ vượt khỏi tầm kiểm soát của người lớn, người lớn không thựchiện được chức năng giáo dục của mình, những ảnh hưởng tích cực từ phía người lớn khôngđến được với trẻ, tạo mảnh đất cho những tác động xấu xâm nhập Những mâu thuẫn, khó khăntrong quan hệ giữa người lớn và thiếu niên hoàn toàn có thể giải quyết được, nếu người lớnhiểu được nhu cầu, nguyện vọng của các em, thay đổi cách ứng xử với trẻ một cách đúng đắn.
Tuổi thiếu niên là lứa tuổi nhạy cảm, dễ bị tổn thương nên ít chủ động tìm cách giao tiếpvới người lớn Các em mong muốn chia sẻ những rung cảm của mình, nhưng bản thân khó bắtđầu một sự giao tiếp gần gũi Không những thế trẻ nỗ lực đòi hỏi quyền lợi nhiều hơn là nhậntrách nhiệm Khi cảm thấy bị đòi hỏi nhiều trẻ em sẽ cố gắng trốn trách thực hiện trách nhiệmbằng cách núp sau lưng người lớn “tốt bụng” Vì vậy, những bắt ép đơn thuần dễ bị trẻ từ chốinên những yêu cầu thống nhất từ phía người lớn có ý nghĩa quan trọng
Trong quan hệ giao tiếp với người lớn, trẻ còn thể hiện tính thất thường của tâm trạng
và có sự mâu thuẫn Một mặt trẻ ra sức thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người lớn nhưng mặtkhác lại mong muốn được sự quan tâm và ủng hộ của người lớn Một mặt chúng ra sức phủnhận người lớn, không thừa nhận uy tín về tuổi tác nhưng mặt khác người lớn lại là hình mẫu
để trẻ bắt chước Trong giáo dục cần chỉ cho trẻ bản chất của vấn đề phải cố gắng thế nào đểngười lớn thừa nhận (đặc biệt là với những nhân vật mà trẻ yêu mến) Muốn giáo dục được trẻ,người lớn phải gương mẫu
- Giao tiếp của học sinh THCS với bạn bè
Giao tiếp của học sinh THCS với bạn bè có nhiều thay đổi so với học sinh tiểu học.Phạm vi kết bạn của tuổi thiếu niên mở rộng, vượt khỏi phạm vi của nhà trường và khuôn khổcủa hoạt động học tập Quan hệ bạn bè của các em được mở rộng trong những hứng thú mới,việc làm mới, quan hệ mới trong đời sống của các em Vì vậy tình bạn ở tuổi học sinh THCS
có sự phân biệt mức độ rõ ràng: bạn cùng học, bạn cùng nhóm sinh hoạt, bạn thân, bạn khôngthân Mối quan hệ bạn bè được mở rộng là cơ sở hình thành được các hành vi liên nhân cách,phát triển tự ý thức, tình cảm bạn bè và các phẩm chất tâm lý khác của trẻ Tuy nhiên điều nàycũng dễ làm mất thời gian học tập Mặt khác, phần đông trẻ chưa có sự ổn định về đạo đức vànhân cách, tiếp xúc với các nhóm tiêu cực rất nguy hiểm Nhu cầu giao tiếp bạn bè của họcsinh THCS rất lớn Trẻ khao khát được giao tiếp với bạn, hoạt động cùng nhau, được sốngtrong tập thể, mong muốn có những bạn bè thân thiết, tin cậy Nhu cầu này của các em cònđược thúc đẩy bởi nhu cầu tự khẳng định bản thân Trẻ muốn được bạn bè thừa nhận, tôn
Trang 31trọng, do đó rất nhạy cảm trước những ý kiến đánh giá của bạn bè, sẵn sàng thay đổi hành vi
để được bạn bè đánh giá cao về mình Nếu quan hệ với bạn trong nhóm có sự không hòa thuận,thiếu thốn bạn thân, các em thường có tâm trạng nặng nề, cảm nhận như những bi kịch của cánhân
Tình bạn của tuổi học sinh THCS không đến một cách ngẫu nhiên như tình bạn của họcsinh tiểu học, mà có sự lựa chọn tích cực, tìm kiếm người bạn tâm đầu ý hợp Các em thích kếtbạn với những ai được mọi người tôn trọng, có uy tín rõ rệt về một mặt nào đó (học giỏi, háthay…) Tiêu chí cụ thể để chọn bạn của tuổi thiếu niên tuy có sự khác nhau giữa nhóm này vớinhóm khác, nhưng về cơ bản các em vẫn xuất phát từ những phẩm chất của tình bạn
Học sinh THCS coi quan hệ bạn bè là quan hệ riêng của cá nhân, có quyền hành độngđộc lập, bảo vệ quyền đó của mình Nếu người lớn can thiệp thô bạo các em chống đối lại Nếuquan hệ với người lớn không thuận hòa, quan hệ bạn bè tăng lên và ảnh hưởng của bạn bè đếncác em càng mạnh mẽ
Mối quan hệ bạn bè của tuổi thiếu niên thường khá sâu sắc, bền vững Các em gắn bóvới nhau, tin tưởng nhau, tâm sự với nhau tất cả những điều thầm kín, có những điều các emchỉ nói với bạn bè mà không nói với cha mẹ và người lớn Trong nhóm bạn bè ở tuổi thiếuniên, các chuẩn mực hình thành một cách tự phát, việc kiểm tra được tiến hành với những hìnhthức cực đoan Các em cho rằng đã là bạn bè phải tôn trọng, bình đẳng với nhau, trung thànhtuyệt đối và sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau, hy sinh vì nhau, giữ bí mật cho nhau Các em phê phánkịch liệt những kẻ tham lam, ích kỷ, xu nịnh, không trung thành với bạn bè Nếu một ai đóphản bội, phụ lòng có thể bị đánh đập, tẩy chay Học sinh cũng rất khắt khe với những ngườikhông có lòng tự trọng, không có chính kiến riêng hoặc yếu đuối không biết bảo vệ quyền lợicủa mình Bản thân các em cố gắng hiện thực hóa nhân cách của mình, xác định những khảnăng của mình trong giao tiếp Tuy nhiên, định hướng tự khẳng định của học sinh THCS cũngmang tính thỏa hiệp cực đoan, trẻ phụ thuộc vào tất cả các thành viên trong nhóm Các em sẵnsàng hành động theo sự xô đẩy của nhóm Nhóm tạo cảm giác “chúng ta” - cảm giác nâng đỡtrẻ, củng cố lập trường bên trong của nó Để củng cố cái “chúng ta”, các thành viên trongnhóm sáng chế ra ngôn ngữ, ký hiệu riêng (tiếng lóng) Các em cư xử theo cùng một phongcách, mặc quần áo giống nhau, kiểu đầu tóc giống nhau…để khẳng định mình thuộc về mộtnhóm nào đó
Các yêu cầu trong chuẩn mực về tình bạn của tuổi thiếu niên cơ bản là phù hợp vớichuẩn mực đạo đức xã hội Tuy nhiên do khả năng và vốn kinh nghiệm còn hạn chế, nên
Trang 32những yêu cầu này lại khá máy móc không phải lúc nào cũng đúng Vì vậy sự đánh giá về bạn
bè của tuổi thiếu niên nhiều khi không trùng hợp với sự đánh giá của người lớn Có những emđược người lớn đánh giá là tốt, lại không có uy tín đối với bạn bè trong nhóm Đây là vấn đềcần quan tâm trong giáo dục về tình bạn cho học sinh Những tiêu chí chọn bạn chính là cơ sởcủa lí tưởng đạo đức đang hình thành ở tuổi thiếu niên, có ảnh hưởng lớn đến nhân cách saunày của các em Những nhóm bạn được hình thành từ những tiêu chí tích cực, thường có quan
hệ lành mạnh, cùng chí hướng vươn tới những mục tiêu tốt đẹp trong tương lai, tình bạn củacác em bền vững nhiều khi trong suốt cuộc đời Còn những nhóm bạn được hình thành từnhững hứng thú, những tiêu chí không lành mạnh (ham chơi, ăn diện, hút thuốc… để tỏ ra sànhđiệu) thường không bền vững, khi trưởng thành họ không muốn nhớ về nhau vì những kỷ niệmđáng buồn
Do ảnh hưởng của sự phát dục, quan hệ với bạn khác giới của học sinh THCS cũngmang những đặc trưng riêng Các em đã quan tâm đến bạn khác giới, nhưng nhóm bạn của trẻvẫn nam riêng, nữ riêng Ở đầu cấp, sự quan tâm đến bạn khác giới có sự khác nhau giữa nam
và nữ Các em nam thường quan tâm đến bạn nữ bằng những hành vi mang tính trẻ con nhưdấu dép, giấu cặp, giật bím tóc v.v Các em nữ quan tâm đến bạn nam bằng những hành vi kínđáo, ngượng ngùng khi tiếp xúc, chú ý đến bạn nam nhưng lại tỏ ra thờ ơ, chỉ chú ý đến bạngái của mình (hành vi của các em mang tính hai mặt: Quan tâm đến nhau cùng tồn tại với sựphân biệt giới tính) Cuối cấp các em không chỉ chú ý đến bạn khác giới mà còn quan tâm đếnquan hệ giới tính của người lớn (ai yêu ai?), hành vi trái ngược của quan hệ giới tính mất đi.Trong nhóm bạn của các em có cả nam và nữ quan hệ nam nữ có sự gắn bó với nhau hơn
Nếu giáo dục tốt, các em có tình bạn thân thiết, hồn nhiên, lành mạnh, có sắc thái giớitính Các em gái tế nhị khéo léo quan tâm chăm sóc các bạn trai, còn các em trai thể hiện sứcmạnh, sự nhanh nhẹn của mình để giúp các bạn gái trong những công việc cần thiết Cá biệt cómột số trường hợp tình bạn khác giới chuyển sang tình yêu
Cùng với quan hệ với bạn bè nói chung, quan hệ với bạn khác giới ảnh hưởng lớn đếnnhân cách của tuổi này Từ mối cảm tình thân thiện, các em đã động viên nhau, cùng nhau làmviệc tốt có ích cho tương lai sau này, sẵn sàng bảo vệ lẫn nhau Nhưng môi trường sống khôngthuận lợi, thiếu sự quan tâm chỉ bảo của người khác, quan hệ với bạn khác giới của các em dễtheo hướng lệch lạc Có những em đua đòi, ăn chơi, đàn đúm học theo thói xấu, không chịuhọc tập, thậm chí có những quan hệ thiếu lành mạnh
Trang 33Sự quan tâm của người lớn đến quan hệ bạn bè của các em là rất cần thiết Người lớnphải thỏa mãn nhu cầu tình bạn, không cấm đoán thô bạo, nhưng phải chú ý đến bạn bè của trẻ,tôn trọng tình bạn của các em, nếu cần can thiệp phải khéo léo, tế nhị để các em có được tìnhbạn trong sáng lành mạnh Nếu các em có tình cảm yêu đương, người lớn không nên hoảnghốt, khéo léo chuyển hướng trọng tâm tình cảm bằng cách lôi cuốn các em vào những hoạtđộng bổ ích hấp dẫn.
d Đặc điểm phát triển nhân cách học sinh THCS
- Đặc điểm phát triển nhận thức của tuổi học sinh THCS
* Đặc điểm nhận thức cảm tính của học sinh THCS
Tri giác của học sinh được phát triển mạnh trong quá trình học tập Khối lượng các đốitượng tri giác tăng lên, tri giác có trình tự, có kế hoạch, hoàn thiện hơn Các em có khả năngphân tích, tổng hợp phức tạp khi quan sát đối tượng, nhờ vậy đối tượng tri giác được phản ánhmột cách sâu sắc đầy đủ Tuy nhiên không phải học sinh nào cũng đạt được trình độ tri giácnhư trên Có những học sinh vẫn vội vàng, hấp tấp, thiếu tính hệ thống, thiếu tính tổ chức khiquan sát Vì vậy các em vẫn cần sự hướng dẫn quan sát của giáo viên trong quá trình dạy học
- Đặc điểm tư duy của học sinh THCS
Tư duy của học sinh THCS có những thay đổi căn bản Các loại tư duy đều phát triển
mạnh, trong đó tư duy trừu tượng chiếm ưu thế, tư duy trực quan hình tượng, tư duy thực hànhvẫn phát triển và giữ vị trí quan trọng trong cấu trúc tư duy của các em
Trong học tập học sinh biết dựa vào những đặc điểm có tính chất tượng trưng (nhữngtiền đề chung), dựa vào hệ thống kí hiệu qui ước (ngôn ngữ, các kí hiệu toán học, vật lí, hóahọc…) để phân tích, phán đoán, rút ra kết luận và diễn đạt kết luận bằng lời (tư duy đã thoátkhỏi mối liên hệ trực tiếp với vật thật hoặc mô hình thay thế) Piaget gọi đây là giai đoạn củatrí tuệ thao tác hình thức (bắt đầu từ tuổi 11, 12 và hoàn thiện vào lúc 17, 18 tuổi) Học sinhTHCS bắt đầu biết phân tích nhiệm vụ trí tuệ đặt ra với ý định vạch ra các mối quan hệ có thểtrong các dữ liệu đã cho, tạo ra những giả định khác nhau về những mối liên hệ giữa chúng,sau đó kiểm tra những giả thuyết này (Đó là kỹ năng biết sử dụng giả thuyết để giải quyết cácnhiệm vụ trí tuệ) Do vậy những khái niệm được hình thành trong giai đoạn này là các kháiniệm khoa học, khái niệm lí luận đạt tới trình độ lý tính Các thao tác tư duy phát triển với chấtlượng cao, đặc biệt là tính phê phán trong tư duy, các em không cả tin như học sinh tiểu học.Trong học tập đã có ý kiến riêng của mình, tiếp thu một cách có phê phán Điều quan trọng làhọc sinh tuổi này đã ý thức được các thao tác trí tuệ của bản thân mình và điều khiển chúng
Trang 34Những điều các em nói ra, viết ra đều được kiểm tra lại, điều chỉnh lại sao cho đúng, sao chohay
Mặc dù vậy, những đặc điểm thể hiện sự phát triển cao của tư duy không phải lúc nàocũng hiện diện trong hoạt động học tập của các em và có ở tất cả các học sinh Trong nhiềutrường hợp, tác động của những ấn tượng trực tiếp cảm tính bên ngoài mạnh hơn tác động của
từ ngữ, khiến cho việc tiếp thu khái niệm không chính xác Có em nắm dấu hiệu bè ngoài củakhái niệm dễ hơn cái bản chất nên thuộc bài nhưng không hiểu bài Hoặc hiểu không đúng bảnchất khái niệm theo hướng bị thu hẹp hoặc mở rộng không đúng mức, các em gặp khó khănkhi phải phân tích mối quan hệ nhân quả Có những em ngại suy nghĩ, không có nhu cầu tìmhiểu vấn đề phức tạp, chỉ thích học những vấn đề nhanh chóng đưa lại kết quả
Đối với những học sinh đầu cấp, tư duy trừu tượng còn hạn chế, các em gặp nhiều khókhăn trong việc lĩnh hội các môn khoa học tự nhiên hơn các môn khoa học xã hội, vì chưa biếtnhìn ra các mối quan hệ trừu tượng trong các định luật, qui tắc, định lí Nếu giáo viên khôngdựa vào kinh nghiệm để tổ chức việc dạy học nhằm phát triển tư duy trừu tượng, khái quát chocác em thì những học sinh này thường có kết quả học tập thấp kém Do vậy vấn đề quan trọngtrong nhà trường không phải chỉ là dạy tri thức mà còn phải dạy cho học sinh cách tư duy
- Đặc điểm tưởng tượng của học sinh THCS
Tưởng tượng của học sinh THCS cũng mang tính chủ định, sáng tạo rõ rệt, đặc biệt làkhả năng tưởng tượng hình học không gian Các em có thể nhìn thấy những lát cắt không giancủa các hình trên bản bản vẽ Có em thích vẽ, viết văn, thiết kế thời trang Tuy nhiên tưởngtượng của tuổi thiếu niên còn bay bổng lãng mạn, nhiều khi xa rời thực tế Điều này lý giải tạisao tuổi thiếu niên rất thích những câu chuyện có tính phiêu lưu mạo hiểm, những nhân vậthuyền bí phi thực tế Hoặc các em mơ ước sau này mình nổi tiếng như những ngôi sao ca nhạc,thể thao, nghệ thuật…
* Đặc điểm trí nhớ của học sinh THCS
Trí nhớ của học sinh phát triển theo hướng tăng cường tính có chủ định Các em có ýthức lựa chọn phương pháp ghi nhớ phù hợp với nội dung cần nhớ, biết phát huy vai trò của tưduy trong các giai đoạn của hoạt động nhớ Do vậy nhớ từ ngữ, nhớ logic tăng lên Trong họctập các em biết diễn đạt nội dung tài liệu cần nhớ bằng ngôn ngữ của mình, thiết lập mối liêntưởng trong một môn học và giữa các môn với nhau bằng việc tiến hành các thao tác hệ thốnghóa, so sánh, phân loại, lập dàn ý Trong khi đó, ghi nhớ máy móc giảm, nhờ vậy tốc độ ghinhớ nhanh, khối lượng nhiều và nhớ chính xác Tuy nhiên trí nhớ của học sinh còn tùy thuộc
Trang 35vào việc hướng dẫn phương pháp học tập, cách kiểm tra bài của giáo viên và khả năng cũngnhư ý thức của các em trong học tập Bên cạnh những mặt tích cực, trí nhớ của tuổi thiếu niêncòn bộc lộ những thiếu sót như ghi nhớ hời hợt, qua loa, đại khái Mặc dù các em có khả năngghi nhớ có ý nghĩa, song vẫn tùy tiện trong việc ghi nhớ Nhiều em vẫn có xu hướng ghi nhớtài liệu theo kiểu học thuộc lòng, nhớ máy móc, coi thường việc nhớ chính xác các khái niệm,định nghĩa, dẫn tới việc giải các bài tập gặp nhiều khó khăn, không hình thành được sự pháttriển trí nhớ theo hướng trí tuệ hóa Vì vậy giáo viên trong nhà trường THCS phải coi trọng,quan tâm hướng dẫn các em cách học bài, nhớ bài một cách khoa học ngay từ những lớp đầucấp Giáo viên phải dạy các em những kỹ năng ghi nhớ logic, rèn luyện khả năng trình bày bàitheo ý hiểu, kiểm tra trí nhớ bằng nhớ lại không phải nhận lại Giải thích rõ cho các em thấy sựcần thiết phải ghi nhớ chính xác các định nghĩa, các quy luật Nếu thiếu hoặc thay thế từ thì ýnghĩa của nó không còn chính xác nữa.
* Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh THCS
Ngôn ngữ của học sinh THCS phát triển mạnh, từ vựng phong phú hơn, tính hình tượng
và trình độ logic chặt chẽ trong ngôn ngữ của học sinh THCS phát triển cao hơn so với tuổi nhiđồng, tuy nhiên vẫn nhiều em có những sai sót trong việc sử dụng từ, việc tuân theo những quyđịnh ngữ pháp và chính tả Ở tuổi này, các em hiểu được ý nghĩa quan trọng của ngôn ngữ đốivới nhận thức và giao tiếp Các em rất thích “sáng tạo” ngôn ngữ tạo nên văn hóa lời nói ở tuổinày
- Đặc điểm chú ý của học sinh THCS
Chú ý của học sinh THCS phát triển mạnh, phức tạp và có sự mâu thuẫn Chú ý có chủđịnh bền vững và có thể chuyển thành chú ý sau chủ định Tuy nhiên do đặc điểm lứa tuổi,những ấn tượng nhiều mặt, những xung động mạnh có thể làm chú ý mất tính bền vững Cácphẩm chất chú ý hoàn thiện với chất lượng cao thể hiện ở khối lượng chú ý ngày càng nhiều,
sự di chuyển chú ý diễn ra nhanh Chú ý của các em mang tính lựa chọn, phụ thuộc vào tínhchất, tầm quan trọng của đối tượng và mức độ hứng thú của các em với đối tượng đó Vì vậy
có giờ học các em tập trung chú ý cao, có giờ học lại không chú ý Muốn duy trì chú ý của họcsinh trong giờ học, giáo viên cần tạo ra sự hấp dẫn của bài học, tổ chức hoạt động học tập saocho ít có thời gian nhàn rỗi, các em phải hoạt động tích cực Nhiệm vụ học tập có tính chất tìmkiếm, khám phá tri thức Hình thức dạy học có sự thay đổi, tạo ra sự hấp dẫn
Tóm lại, nhờ sự phát triển của hệ thần kinh và dưới tác động trực tiếp của hoạt độnghọc, các phẩm chất trí tuệ của học sinh THCS phát triển rất nhanh và phức tạp, có sự phân hóa
Trang 36giữa em này với em khác học cùng một chương trình và giữa lứa tuổi học sinh đầu cấp và họcsinh cuối cấp
b Sự phát triển tự ý thức của học sinh THCS
Do sự phát triển về mặt thể chất, mối quan hệ với bạn bè và người lớn phát triển, yêucầu mới từ cuộc sống và vị trí xã hội đặt ra làm cho nhu cầu tự nhận thức, tự đánh giá, tự rènluyện bản thân ở tuổi học sinh THCS phát triển mạnh
Học sinh có hứng thú đối với bản thân, có nhu cầu tìm hiểu về những phẩm chất nhâncách của mình, muốn đối chiếu mình với người khác, đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của mình đểkhẳng định “Tôi là ai”, “tôi có mặt mạnh gì, mặt yếu gì” Các em nhận thức, đánh giá đượckhách quan vẻ bề ngoài của mình, vị trí xã hội của mình Đối với đời sống nội tâm, không phảitoàn bộ những phẩm chất nhân cách đều được nhận thức cùng một lúc Ban đầu các em nhậnthức được hành vi của mình trong các hoạt động Tiếp đến là nhận thức được những phẩm chấtđạo đức, tính cách, năng lực của bản bản thân trong những phạm vi khác nhau Trước hết lànhững phẩm chất liên quan đến việc hoàn thành nhiệm vụ học tập (sự chú ý, chuyên cần, kiêntrì…) rồi đến những phẩm chất thể hiện thái độ đối với người khác (tính nhẫn nại, vị tha, âncần, cởi mở, trung thực ), sau đến những phẩm chất thể hiện thái độ đối với bản thân (khiêmtốn, kiêu căng, nghiêm khắc, khoác loác…) Cuối cùng là những phẩm chất phức tạp thể hiệnnhiều mặt của nhân cách (trách nhiệm, lương tâm, danh dự, tự trọng…)
Cách thức tự đánh giá bản thân của các em lúc đầu là dựa vào sự đánh giá của nhữngngười gần gũi, có uy tín đối với các em Dần dần các em có khuynh hướng độc lập trong đánhgiá bản thân mình
Khả năng tự đánh giá về bản thân của tuổi thiếu niên mâu thuẫn với nhu cầu tự đánh giá
về mình, các em có xu hướng đánh giá cao về mình, cho rằng mình đã là người lớn, từ đó hìnhthành lòng tự trọng nhiều khi thái quá Trong quan hệ, người lớn vô tình hoặc cố ý nhận xétkhông đúng về các em, các em thường tự ái, tỏ ra rất khó chịu, cho rằng người lớn xúc phạmcác em Cộng thêm với khả năng kiềm chế kém do sự mất can bằng của hệ thần kinh, nên tuổinày thường có hành động phản ứng dữ dội (cãi lại, nổi khùng…) Đó cũng là nguyên nhân gâynên những xung đột của thiếu niên trong quan hệ với người lớn và bạn bè
Tự đánh giá có vai trò quan trọng trong việc lựa chọn xu hướng hành động, ảnh hưởngtrực tiếp đến sự phát triển nhân cách học sinh Nếu tự đánh giá thấp, trẻ chỉ lựa chọn nhữngnhiệm vụ dễ dàng nhất, điều này không phát huy được khả năng của các em, cản trở sự pháttriển Nếu tự đánh giá cao, trẻ sẽ chọn những gì vượt quá khả năng, điều này cũng ảnh hưởng
Trang 37tiêu cực đến sự phát triển của các em Do vậy người lớn cần giúp học sinh đánh giá khách quan
về bản thân mình
Trong quan hệ giao tiếp, sự đánh giá khách quan của người khác cùng với những thửthách của cuộc sống sẽ giúp thiếu niên thấy được sự chưa hoàn thiện của mình, hiểu được phầnnào sự khác nhau giữa thái độ của chính các em và thái độ của người khác đối với những phẩmchất và năng lực của các em Điều đó khiến các em không thỏa mãn với chính bản thân mình
Ở nhiều em sự không thỏa mãn sẽ thúc đẩy bản thân vươn lên trong cuộc sống để hoàn thiệnmình Tuy nhiên có những em không nhận ra điều đó lại có tâm trạng nặng nề, cho rằng ngườilớn không công bằng với các em Vấn đề này đòi hỏi người lớn phải hết sức thận trọng, khéoléo trong việc nhận xét, đánh giá khả năng, phẩm chất của các em để giúp các em biết cáchđánh giá đúng bản thân mình
Từ sự khát khao muốn khẳng định mình, muốn có uy tín trước người khác, tuổi học sinhTHCS có khả năng tự tu dưỡng, tự giáo dục bản thân Nhiều em đã cố gắng, thi đua trong họctập, biết tự điều khiển hành vi tuân theo những qui tắc, luật lệ trong nhà trường và ngoài xãhội, phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi để được thầy cô, bạn bè, cha mẹ yêu mến Bên cạnh
đó một số em chưa biết cách tự giáo dục, tự hoàn thiện mình bằng con đường đúng đắn Dohiểu sai khái niệm về những phẩm chất của con người, có em nhầm lẫn giữa bướng bỉnh,ngang ngược với bản lĩnh, bảo thủ với độc lập, liều mạng táo tợn với gan dạ dũng cảm v.v.Cùng với đặc điểm hưng phấn mạnh của hệ thần kinh và thiếu sự quan tâm giáo dục đúng cáchcủa gia đình, không ít thiếu niên thể hiện mình bằng những hành động “yêng hùng”, “hảo hán”(đua xe, gây gổ đánh nhau, hút thuốc…) Những hành động này nếu không chấn chỉnh kịpthời, các em dễ trở thành những con người hư hỏng Nhà giáo dục cần phải tổ chức những hoạtđộng tập thể phù hợp với lứa tuổi hướng các em vào những hoạt động lành mạnh, để nhân cáchcác em phát triển theo chiều hướng tốt
c Sự phát triển tình cảm và ý chí của học sinh THCS
* Đặc điểm phát triển tình cảm của học sinh THCS
Bên cạnh sự phát triển đặc biệt của tình cảm bạn bè, đời sống tình cảm của thiếu niêncòn mang những dấu hiệu rất đặc trưng của tuổi mới lớn Do hưng phấn mạnh hơn ức chế, tìnhcảm của tuổi thiếu niên mang tính bộc trực, khả năng kiềm chế chưa cao Một số nghệ sĩ nhậnxét: Thiếu niên là những khán giả ồn ào nhất và cũng đáng biết ơn nhất Do đặc điểm thần kinh
dễ bị kích động, đời sống tình cảm của các em chưa ổn định, các em dễ xúc động, sự thể hiện
Trang 38cảm xúc nhiều khi thái quá (vui quá trớn, buồn ủ rũ) Các loại tình cảm cấp cao phát triểnmạnh và có chiều sâu.
- Các em có nhiều hứng thú đối với các hoạt động thực tiễn, các loại hình nghệ thuật,thích đọc sách khoa học, sách phiêu lưu mạo hiểm, xem phim truyện về những anh hùng, phimkhoa học viễn tưởng, vì các loại hình nghệ thuật này phù hợp với trí tưởng tượng của các em
- Về mặt tình cảm đạo đức, ngoài tình bạn gắn bó, keo sơn, chọn bạn theo những tiêuchẩn đạo đức, học sinh đã có tình cảm tập thể, tinh thần trách nhiệm, có khả năng tự quảntrong tập thể
- Do đặc điểm của tuổi dậy thì, tuổi học sinh THCS có tình cảm với bạn khác giới, cábiệt đã xuất hiện tình yêu Tuy nhiên tình yêu của tuổi này mới chỉ là những xao xuyến rungđộng ban đầu của tuổi mới lớn, vô tư trong sáng Sự phát triển tình cảm này và ảnh hưởng của
nó tới nhân cách của các em hoàn toàn phụ thuộc vào cách giáo dục của người lớn
- Để đạt được mục tiêu, lí tưởng đã xác định, nhiều em nỗ lực cố gắng rất lớn trong họctập, biết vượt khó chịu đựng gian khổ Bên cạnh đó nhiều em chưa biết cách tự rèn luyện bảnthân, nhất là ở những em nam Để chứng tỏ mình, các em sẵn sàng tham gia vào những hoạtđộng mạo hiểm, dễ đem lại kết quả xấu hoặc những việc làm khó khăn nguy hiểm không có lợicho cuộc sống
- Sự hoàn thiện những phẩm chất ý chí có sự khác nhau giữa nam và nữ Ở những em
nữ thường chịu khó, nhiều em có tính kiên trì trong các hoạt động Đối với những em nam,tính kiên trì yếu hơn, nhưng các em thường tỏ ra nhanh nhẹn, kiên định, quyết đoán, tỏ ramạnh mẽ hơn, dũng cảm
d Sự phát triển xu hướng nhân cách của tuổi học sinh THCS
Lứa tuổi học sinh THCS là thời kỳ nhạy cảm cho sự phát triển tính đạo đức, hình thànhnhững định hướng xã hội, thái độ đối với bản thân và mọi người, với xã hội Đường hướng cơ