PHÂN TÍCH CẠNH TRANH NGÀNH TRÔNG MÔI TRƯỜNG KINHDAONH DỊCH VỤ VIỄN THÔNG Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, sự phát triển của khoa học công nghệ, sự bùng nổ của thông tin luôn đặt cá
Trang 1PHÂN TÍCH CẠNH TRANH NGÀNH TRÔNG MÔI TRƯỜNG KINH
DAONH DỊCH VỤ VIỄN THÔNG
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, sự phát triển của khoa học công nghệ,
sự bùng nổ của thông tin luôn đặt các doanh nghiệp trước sức ép cạnh tranh gay gắt Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào khả năng thích ứng với những đột biến của thị trường mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc hoạch định chiến lược phát triển dài hạn như: Chiến lược sản xuất, chiến lược tài chính, chiến con người và chiến lược Marketing
Chiến lược Marketing của doanh nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định hướng đi cho doanh nghiệp, là hệ thống các đường lối và giải pháp nhằm xác lập mối quan hệ thích ứng giữa doanh nghiệp với thị trường Chiến lược Marketing trở thành cơ sở để hoạch định chiến lược sản xuất, chiến lược tài chính
và chiến lược con người
Với ý nghĩa to lớn của Quản trị Marketing, sau khi được tiếp thu những kiến thức quý báu và thiết thực từ môn học, cá nhân chọn doanh nghiệp mà mình đang
công tác - Tập đoàn viễn thông quân đội để trình bày bài tập cá nhân.
Xác định cạnh tranh là một vấn đề tất yếu trong nền kinh tế thị trường nhưng phải đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh và quyền lợi cho khách hàng, do đó Viettel
đã luôn có nhiều sáng tạo trong hoạt động kinh doanh, bảo đảm tính cạnh tranh và quyền lợi của khách hàng mà bằng chứng thể hiện rõ ràng nhất là doanh thu của Tổng Công ty năm sau tăng trưởng gấp đôi năm trước trong giai đoạn từ năm 2005
- 2008 Cùng với sự phát triển lớn mạnh của Tổng Công ty thì các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện giúp đỡ ủng hộ những người nghèo, những trường hợp khó khăn luôn được Viettel quan tâm thực hiện
Trang 2Toàn thể cán bộ công nhân viên Tổng Công ty luôn phấn đấu để đưa Viettel trở thành nhà khai thác, cung cấp dịch vụ Bưu chính - Viễn thông hàng đầu ở Việt Nam song song với việc mở rộng ra các nước trong khu vực và thế giới xứng đáng
với danh hiệu Đơn vị Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới do Đảng và Nhà nước
đã trao tặng
Những mốc son lịch sử về sự ra đời:
Hội đồng Bộ trưởng (do Đồng chí Võ Văn Kiệt - Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký) ra Nghị định số 58/HĐBT quyết định thành lập Tổng Công ty Điện tử thiết bị thông tin, trực thuộc BTL Thông tin liên lạc - BQP (tiền thân của Tổng Công ty Viễn thông Quân đội Viettel) Ngành nghề kinh doanh: Xuất nhập khẩu sản phẩm điện tử thông tin, xây lắp các công trình thiết bị thông tin, đường dây tải điện, trạm biến thế, lắp ráp các thiết bị điện, điện tử
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định 388/HĐBT về việc sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, Tổng Công ty được tổ chức lại thành Công ty điện tử thiết bị thông tin
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 336/QĐ-QP (do Thứ trưởng Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên ký) về thành lập lại doanh nghiệp nhà nước Công ty điện tử và thiết bị thông tin với tên giao dịch Quốc tế là SIGELCO, thuộc
Bộ Tư lệnh thông tin liên lạc - BQP
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 615/QĐ-QP quyết định đổi tên Công ty Điện tử thiết bị thông tin (SIGELCO) thành Công ty Điện tử Viễn thông Quân đội với tên giao dịch quốc tế là VIETEL (Lúc này cụm chữ chỉ có 01 chữ
“T”), trực thuộc BTL thông tin liên lạc - BQP Được bổ sung ngành nghề kinh
Trang 3doanh, được phép cung cấp các dịch vụ BCVT, trở thành nhà khai thác dịch vụ viễn thông thứ hai tại Việt Nam
Sát nhập 3 đơn vị là Công ty Điện tử Viễn thông Quân đội, Công ty Điện tử
và Thiết bị Thông tin 1, Công ty Điện tử và Thiết bị Thông tin 2 thành Công ty Điện tử Viễn thông Quân đội (VIETEL) trực thuộc BTL thông tin liên lạc - BQP Ngành nghề kinh doanh chính là: Cung cấp các dịch vụ BCVT trong nước và quốc
tế, sản xuất lắp ráp, sửa chữa và kinh doanh các thiết bị điện, điện tử thông tin, ăng ten thu phát viba số, xây lắp các công trình thiết bị thông tin, đường dây tải điện, trạm biến thế; khảo sát thiết kế lập dự án công trình BCVT, xuất nhập khẩu công trình thiết bị điện tử viễn thông
Bộ Quốc phòng ra quyết định số 262/2003/QĐ-BQP “Đổi tên Công ty Điện tử viễn thông Quân đội thành Công ty Viễn thông Quân đội”, tên giao dịch bằng tiếng Anh là VIETTEL CORPORATION, tên viết tắt là VIETTEL, trực thuộc BTL thông tin liên lạc - BQP
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra quyết định số 51/QĐ-QP (do thứ trưởng BQP, Trung tướng Nguyễn Văn Rinh ký) quyết định từ 01 tháng 7 năm 2004 điều chuyển Công ty Viễn thông Quân đội từ Bộ Tư lệnh Thông tin về trực thuộc Bộ Quốc Phòng với tên gọi Công ty Viễn thông Quân đội tên giao dịch là VIETTEL
Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký quyết định thành lập Tổng Công ty Viễn thông Quân đội
Trang 4Bộ Quốc phòng có Quyết định số 45/2005/QĐ-BQP về việc thành lập Tổng Công ty Viễn thông Quân đội trực thuộc Bộ Quốc phòng, tên giao dịch bằng tiếng Anh là VIETTEL CORPORATION, tên viết tắt là VIETTEL Ngành nghề kinh doanh là: cung cấp các dịch vụ BCVT trong nước, quốc tế; phát triển các sản phẩm phần mềm trong lĩnh vực điện tử viễn thông, CNTT, Internet; sản xuất lắp ráp, sửa chữa và kinh doanh các thiết bị điện, ĐTVT, CNTT và thiết bị thu phát vô tuyến điện; khảo sát và lập dự án công trình BCVT, CNTT, xây lắp các công trình thiết bị thông tin, đường dây tải điện, trạm biến thế; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng địa ốc, khách sạn, du lịch; XNK công trình thiết bị toàn bộ về điện tử thông tin và các sản phẩm điện tử, CNTT
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định số 2079/QĐ-TTg về việc
thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Viễn thông Quân đội.
Những sự kiện nổi bật về phát triển dịch vụ:
Năm 1989 đến năm 1994
Xây dựng tuyến truyền dẫn vi ba băng rộng lớn nhất (140 Mbps); xây dựng tháp ăngten cao nhất Việt Nam lúc bấy giờ (cao 85m)
Năm 1995
Là doanh nghiệp mới duy nhất được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ đầy đủ các dịch vụ viễn thông ở Việt Nam
Năm 1999
Hoàn thành đường trục truyền dẫn cáp quang Bắc - Nam với dung lượng 2,5Mbps có công nghệ tiên tiến nhất Việt Nam nhờ áp dụng thành công sáng kiến thu - phát trên một sợi quang
Năm 2000
Trang 5Là doanh nghiệp đầu tiên ở Việt Nam cung cấp dịch vụ thoại đường dài sử dụng công nghệ IP (VoIP) trên toàn quốc
Năm 2001
Cung cấp dịch vụ điện thoại quốc tế công nghệ VoIP
Năm 2002
Cung cấp dịch vụ truy nhập Internet
Năm 2003
Cung cấp dịch vụ điện thoại cố định (PSTN)
Cổng kết nối vệ tinh quốc tế
Năm 2004
Cung cấp dịch vụ điện thoại di động
Cổng kết nối cáp quang quốc tế
Năm 2006
Đầu tư cung cấp dịch vụ viễn thông ra quốc tế (Lào và Campuchia)
Năm 2007
Một trong 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt nam (theo đánh giá của UNDP) Doanh thu đạt 1 tỷ USD
Lũy kế có 12 triệu thuê bao di động đang hoạt động, thị phần lớn nhất Việt Nam
Hội tụ 3 dịch vụ viễn thông cố định - di động - Internet
Năm 2008
Là doanh nghiệp viễn thông duy nhất của Việt Nam được xếp trong top 100 thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới (hạng thứ 83/100)
Doanh thu tăng gấp đôi so với năm 2007, đạt 2 tỷ USD
Trang 6Có thể nói, kể từ năm 2003 trở lại đây là quãng thời gian khẳng định sự thành công của Viettel bằng việc xây dựng hình ảnh, thương hiệu; xây dựng trạm vệ tinh, xây dựng hai tuyến cáp quang quốc tế đất liền đi qua Trung Quốc và đặc biệt việc khai trương dịch vụ điện thoại di động Viettel Mobile đã được sự ủng hộ của xã hội Sau một thời gian đi vào hoạt động, mạng di động này đã được người tiêu dùng đánh giá cao và được bình chọn là 1 trong 10 sự kiện nổi bật nhất ngành
BC-VT và CNTT vào năm 2004
Viettel luôn coi công nghệ vì con người là chủ đề xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của Tổng Công ty Bằng sự nỗ lực, phấn đấu hết sức mình, Viettel sẵn sàng giúp đỡ và khẳng định trách nhiệm cao thông qua việc đưa ra các giải pháp, các sản phẩm, dịch vụ hoàn hảo nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của các khách hàng với sự thấu hiểu sâu sắc nhất
Từ khi thành lập đến nay Viettel đã có lịch sử phát triển hơn 20 năm Ðây là khoảng thời gian mà nhân loại bước những bước đầu tiên vào thiên niên kỷ mới, khoảng thời gian để Việt Nam có những bước đột phá trong lĩnh vực Bưu chính -Viễn thông, và cũng là thời gian Viettel đã nỗ lực phấn đấu không ngừng trong lĩnh vực BC-VT để khẳng định vị trí là một trong những nhà cung cấp dịch vụ BC-VT hàng đầu tại Việt Nam: Doanh nghiệp đầu tiên đã đem lại sự lựa chọn cho khách hàng sử dụng dịch vụ, một doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực áp dụng công nghệ mới, hiện đại và chính sách chăm sóc khách hàng, trở thành một đối tác có uy tín lớn trong nước và quốc tế
Với kinh nghiệm và sức sáng tạo không ngừng, Viettel đã ngày càng làm hài lòng và tiếp tục chinh phục khách hàng bằng sự tự tin với một tinh thần lớn, tinh thần của những người lính để xây dựng quảng bá làm cho tên tuổi Viettel ngày càng trở nên gần gũi, thân thuộc với mọi tổ chức, mọi cá nhân trong đời sống xã hội
Trang 7 Lĩnh vực kinh doanh và thành tựu:
Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, Trung tâm:
Hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngành đa nghề được trên phạm vi cả nước
và quốc tế, những hoạt động kinh doanh chính của Viettel bao gồm:
- Cung cấp dịch vụ viễn thông và CNTT
- Truyền dẫn (cho thuê kênh trong nước và quốc tế)
- Bưu chính
- Kinh doanh thiết bị đầu cuối
- Đầu tư tài chính
- Dịch vụ nội dung và truyền thông
- Đầu tư bất động sản
- Dịch vụ kỹ thuật, công nghệ cao
- Xuất - nhập khẩu
Tổ chức bộ máy kinh doanh của Tổng Công ty bao gồm:
- Ban Tổng giám đốc (Gồm TGĐ và 05 P.TGĐ)
- Khối cơ quan gồm 14 Phòng/Ban và 08 đại diện vùng (P.Chính trị, P.Tài chính, Văn phòng, P.Kế hoạch, P.Kinh doanh, P.Đầu tư, P.Kỹ thuật, P.XDCSHT, P.TCLĐ, Ban UDCNTT, Ban Thanh tra, Ban CSBCVT, Ban Quản lý Điều hành các dự án, Ban Cơ điện)
- 11 Công ty thành viên (Công ty Viễn thông Viettel, Công ty Truyền dẫn Viettel, Công ty Thu cước và Dịch vụ, Công ty TM&XNK Viettel, Công ty Bưu chính Viettel, Công ty Tư vấn thiết kế, Công ty Công trình Viettel, Công ty
CP đầu tư BĐS, Công ty CP Công nghệ, Công ty CP Đầu tư Quốc tế, Công ty liên doanh Viettel - CHT)
Trang 8- 03 Trung tâm là: Trung tâm Truyền thông Viettel - Viettel Media, Trung tâm đào tạo Viettel và Trung tâm Đào tạo Bóng đá Viettel
- 63 Chi nhánh Tỉnh/Thành phố
- Câu lạc bộ bóng đá Thể công
Phát triển kinh doanh: Giai đoạn phát triển 2000 - 2009.
- Xuất phát năm 2000:
o Doanh thu : 53 tỷ VND
o Lợi nhuận : 1,3 tỷ VND
o Nhân lực : 200 người
o Hạ tầng viễn thông : Chưa có
- Các số liệu phát triển:
Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Doanh thu
(tỷ VND) 53 111 918 1.020 1.415 3.167 7.108
16.30 0
33.00
059.982 Lợi nhuận
(tỷ VND) 1,3 17,6 215,2 216,6 285 397 1.422 3.912 8.600 10.345 Nộp NSNN
(tỷ VND) 4 12 92 132 202 355 784 2.118 4.900 5.890 Nộp ngân
sách BQP (tỷ
VND)
Đầu tư
(tỷ VND) 1.1 42 145 186 885 1.200 2.091 4.846
10.00
025.000
Trang 9Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Nhân lực
(người) 200 453 1.100 1.600 3.300 5.000 6.300 8.458
12.50
015.000 Bảng: Các số liệu phát triển giai đoạn 2000 - 2009
I Phân tích môi trường ngành:
Với xu hướng phát triển cũng như hướng đến tiến trình hội nhập ngày càng sâu rộng hơn, thì việc xuất hiện nhiều thương hiệu sản phẩm/dịch vụ của nhiều doanh nghiệp trong nước và quốc tế làm cho bầu khí chung của một thị trường mới nổi như Việt Nam trở nên đa dạng, phong phú và sôi động hơn, từ đó người tiêu dùng có được nhiều sự lựa chọn phù hợp tùy theo sở thích cũng như khả năng tài chính của mình …
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay giữa các thương hiệu sản phẩm và dịch vụ trong tất cả các lĩnh vực và ngành hàng như: Hàng tiêu dùng nhanh, hàng tiêu dùng công nghệ, có thể dễ dàng nhận thấy một nghịch lý là trong khi vật giá của các mặt hàng khác ngày càng leo thang thì lĩnh vực Viễn thông đang có chiều hướng ngược lại Các nhà cung cấp dịch vụ mạng di động liên tục đưa ra các chương trình tiếp thị, khuyến mãi khá hấp dẫn, giảm giá nhằm thu hút cũng như mở rộng thị phần cho mình Nhìn chung những tên tuổi lớn trong lĩnh vực mạng viễn thông di động đã có được vị thế trên thương trường cũng như vị trí nhất định trong tâm trí người tiêu dùng trong nhiều năm qua
Hiện tại trong thị trường viễn thông Việt Nam có gần chục nhà cung cấp dịch vụ và vẫn còn một số nhà cung cấp dịch vụ đang trong quá trình xin cấp phép cũng như thử nghiệm Với một đất nước không phải là quá rộng lớn mà có nhiều nhà cung cấp dịch vụ viễn thông thì đây hẳn là một thị trường màu mỡ, giầu tiềm năng chăng Vậy chúng ta cùng phân tích môi trường ngành theo các nội dung sau:
Trang 101 Sự cạnh tranh của nhà cung cấp:
- Số lượng và quy mô nhà cung cấp: Số lượng nhà cung cấp sẽ quyết định đến áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với ngành, doanh nghiệp Nếu trên thị trường chỉ có một vài nhà cung cấp có quy mô lớn sẽ tạo áp lực cạnh tranh, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành
- Khả năng thay thế sản phẩm của nhà cung cấp: Trong vấn đề này ta nghiên cứu khả năng thay thế những nguyên liệu đầu vào do các nhà cung cấp và chi phí chuyển đổi nhà cung cấp (Switching Cost)
Thị trường viễn thông Việt Nam đang cạnh tranh ngày càng gay gắt: một thị trường 86 triệu dân, nhưng đã có đến 7 nhà kinh doanh, khai thác dịch vụ, đặc biệt
là sự thống trị của 3 nhà cung cấp lớn là Viettel, Mobi và Vina đã chiếm khoảng 90% thị phần dịch vụ, còn lại khoảng 10% là của các nhà khai thác, cung cấp dịch
vụ mới gia nhập như: Vietnammobile, EVN và G-Tel, …)
Trang 11- Thông tin về nhà cung cấp: Trong thời đại hiện tại thông tin luôn là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của thương mại, thông tin về nhà cung cấp có ảnh hưởng lớn tới việc lựa chọn nhà cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp
2 Áp lực cạnh tranh từ khách hàng:
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp hay toàn ngành
Khách hàng được phân làm 2 nhóm: Khách hàng lẻ và Nhà phân phối
Cả hai nhóm đều gây áp lực với doanh nghiệp về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điểu khiển cạnh tranh trong ngành thông qua quyết định mua hàng
Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông ngày càng quan tâm đến việc thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng Không ngừng cải tiến các gói cước, đưa ra những sản phẩm mới phù hợp với từng đối tượng khách hàng cụ thể (làm rất tốt việc phân đoạn thị trường), giảm giá hoặc thực hiện các chương trình khuyến mại nhằm thu hút và duy trì được khách hàng
Cũng giống như áp lực từ phía nhà cung cấp thì áp lực cạnh tranh từ khách hàng tác động đối với ngành là khá lớn, nó thể hiện ở:
Quy mô
Tầm quan trọng
Chi phí chuyển đổi khách hàng
Thông tin khách hàng
Quy mô khách hàng càng lớn (thị phần càng cao) thì lợi thế cạnh tranh càng lớn (lợi thế về thương hiệu và chi phí bình quân/thuê bao dịch vụ giảm, lợi nhuận tăng, khả năng tái đầu tư tăng) Hiện nay, ba doanh nghiệp lớn về viễn thông là Viettel, Vinaphone và MobiFone đang chịu sức ép rất lớn về canh tranh từ các đối thủ còn lại, đặc biệt là cạnh tranh về giá khi mà các doanh nghiệp đó được ưu đãi
Trang 12hơn về chính sách giá Điều này đã làm giảm doanh thu cũng như lợi nhuận của các doanh nghiệp Và cũng là giảm doanh thu và lợi nhuận của ngành
3 Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn:
Theo M-Porter, đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trên trong ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai Đối thủ tiềm ẩn nhiều hay ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Sức hấp dẫn của ngành: Yếu tố này được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ suất sinh lợi, số lượng khách hàng, số lượng doanh nghiệp trong ngành
- Những rào cản gia nhập ngành: là những yếu tố làm cho việc gia nhập vào một ngành khó khăn và tốn kém hơn
Những yếu tố về Kỹ thuật; Vốn; Các yếu tố thương mại như hệ thống phân phối, thương hiệu, hệ thống khách hàng và các nguồn lực đặc thù như nguyên vật liệu đầu vào (Bị kiểm soát), Bằng cấp, phát minh sáng chế, Nguồn nhân lực, sự bảo hộ của chính phủ
Không ai có thể lường được việc Viettel ra đời lại làm thay đổi hẳn thị trường Viễn thông tại Việt Nam (Viettel là doanh nghiệp tiên phong trong cuộc cánh mạng phá thế độc quyền thị trường viễn thông tại Việt Nam) Viettel ra đời không những phá thế độc quyền mà còn vươn lên trở thành nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn nhất Việt Nam bằng việc “đi trước đón đầu” về mặt kỹ thuật, công nghệ, bằng việc gây dựng thương hiệu, với những phát minh sáng chế để cải tiến công nghệ, bằng việc quan tâm đúng mực đến nguồn nhân lực và cũng được bảo
hộ bởi cơ quan Nhà nước
Và ngày nay ngoài ba doanh nghiệp lớn là Viettel, MobiFone và VinaPhone thì có sự gia nhập của Vietnammobile, G-tel Đây là 2 đối thủ tiềm ẩn đối với ba doanh nghiệp lớn khi mà đằng sau các doanh nghiệp này luôn được sự bảo trợ của các doanh nghiệp với số vốn rất lớn và sự đầu tư từ nước ngoài Đây thực sự là mối