Tuy nhiên, vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng cảnh quan ở miền núi hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại về các mặt như điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, đặc biệt l
Trang 1LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ
Hà Nội - 2017
Trang 2i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Văn Hồng
PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN
NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
CÁC HUYỆN BIÊN GIỚI TÂY NAM TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lại Vĩnh Cẩm và TS Phạm Quang Anh Các kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng … năm 2017
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Văn Hồng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận án, tôi đã nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn khoa học tận tình của PGS.TS Lại Vĩnh Cẩm và TS Phạm Quang Anh trong suốt thời gian nghiên cứu và viết Luận án Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng cảm ơn
sự giúp đỡ của các thầy
Trong quá trình thực hiện Luận án, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ của PGS.TS Phạm Quang Tuấn, GS.TS Nguyễn Cao Huần, GS.TS Trương Quang Hải, PGS.TS Đặng Văn Bào,… cùng các thầy, cô giáo trong Khoa Địa lý, các cán
bộ ở Phòng Sau Đại học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội; các chuyên gia ở Viện Địa lý thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng các bạn bè và đồng nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành tới GS.TSKH Phạm Hoàng Hải, PGS.TS Mai Trọng Thông, GS.TS.Nguyễn Khanh Vân, PGS.TS Nguyễn Đăng Hội, TS Đỗ Hữu Thư, KS Nguyễn Hữu Tứ,…cùng các chuyên gia trong lĩnh vực Sinh thái cảnh quan, Quản lý tài nguyên và môi trường, Sinh học và Sinh thái học đã động viên và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thiện Luận án
Nhân dịp này, tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới các đồng nghiệp ở phòng Sinh thái Cảnh quan và các phòng chuyên môn khác trong Viện Địa lý đã thường xuyên động viên và giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận án
Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng tri ân và kính trọng đến bố, mẹ, anh, chị và những người thân trong gia đình đã luôn ủng hộ, động viên, chia sẻ và giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Văn Hồng
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 1
2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 2
3 Phạm vi và tiếp cận nghiên cứu 3
4 Những điểm mới của luận án 4
5 Luận điểm bảo vệ 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4
7 Cấu trúc của luận án 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN 6
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu cảnh quan trong và ngoài nước 6
1.1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu cảnh quan trên thế giới 6
1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu cảnh quan ở Việt Nam 11
1.1.3 Hệ thống phân loại cảnh quan được kế thừa trong luận án 15
1.1.4 Tổng quan các công trình liên quan tới khu vực nghiên cứu 17
1.2 Cơ sở lý luận 19
1.2.1 Cơ sở lý luận về cảnh quan 19
1.2.2 Nguyên tắc xây dựng bản đồ cảnh quan và bản đồ phần vùng cảnh quan 21
1.2.3 Nguyên tắc phân vùng 23
1.2.4 Cơ sở lý thuyết về đánh giá cảnh quan 24
1.2.5 Đa dạng sinh học (ĐDSH) và bảo tồn đa dạng sinh học (BT ĐDSH) 26
1.2.5.1 Đa dạng sinh học 26
1.2.5.2 Bảo tồn ĐDSH 31
1.2.6 Mối liên hệ giữa ĐDSH và cảnh quan 32
1.3 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu cảnh quan 33
1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 33
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 34
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN CÁC HUYỆN BIÊN GIỚI PHÍA TÂY NAM TỈNH NGHỆ AN 45
2.1 Tổ hợp các điều kiện địa lý tự nhiên 45
2.1.1 Vị trí địa lý 45
2.1.2 Địa chất 46
2.1.3 Địa hình, địa mạo 49
2.1.4 Khí hậu 51
2.1.5 Thủy văn 53
2.1.6 Lớp vỏ thổ nhưỡng 54
2.1.7 Thực vật 56
2.2 Nhân tố kinh tế - xã hội 59
2.2.1 Dân cư và dân tộc 59
2.2.2 Lao động và việc làm 60
Trang 62.2.3 Cơ cấu kinh tế 61
2.2.4 Phân vùng bảo tồn trong khu vực nghiên cứu 64
2.3 Các vấn đề môi trường và tai biến 65
2.3.1 Các quá trình động lực ngoại sinh 65
2.3.2 Tác động của các công trình thủy điện 66
2.3.2.1 Hiện trạng các công trình thủy điện tại khu vực nghiên cứu 66
2.3.2.2 Tác động của các công trình thủy điện 67
2.4 Đặc điểm cảnh quan và phân hóa lãnh thổ các huyện biên giới Tây Nam, tỉnh Nghệ An 70
2.4.1 Hệ thống phân loại cảnh quan các huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 70
2.4.2 Bản đồ cảnh quan và đặc điểm CQ ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 74
2.4.2.1 Xây dựng tuyến lát cắt cảnh quan tại khu vực nghiên cứu 75
2.4.2.2 Đặc điểm cấu trúc cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu 75
2.4.3.3 Đặc điểm chức năng cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu 79
2.5 Sự phân hóa thành phần loài thực vật theo các đơn vị cảnh quan 83
2.6 Phân vùng cảnh quan phục vụ phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học 94
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG CẢNH QUAN PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, LÂM NGHIỆP VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC 99
3.1 Hiện trạng khai thác sử dụng lãnh thổ 99
3.2 Đối tượng, mục tiêu và nguyên tắc đánh giá 102
3.3 Đánh giá cảnh quan cho phát triển nông nghiệp 103
3.3.1 Lựa chọn chỉ tiêu đánh giá 103
3.3.2 Đánh giá thành phần cho mục đích phát triển cây hàng năm, cây công nghiệp lâu năm và đồng cỏ chăn thả gia súc 106
3.3.3 Xác định trọng số cho các chỉ tiêu đánh giá cho mục đích phát triển cây hàng năm, cây lâu năm và đồng cỏ chăn thả gia súc 110
3.3.4 Điểm đánh giá thành phần cho mục đích phát triển cây lâu năm, cây hàng năm và đồng cỏ chăn thả gia súc 111
3.3.5 Đánh giá chung cho mục đích phát triển cây lâu năm, cây hàng năm và đồng cỏ chăn thả gia súc 112
3.4 Đánh giá cảnh quan cho phát triển lâm nghiệp 115
3.4.1 Lựa chọn chỉ tiêu đánh giá cho phát triển rừng sản xuất và rừng phòng hộ 115
3.4.2 Đánh giá thành phần cho phát triển rừng sản xuất và rừng phòng hộ 118
3.4.3 Xác định trọng số cho các chỉ tiêu đánh giá cho phát triển rừng sản xuất và rừng phòng hộ 119
3.4.4 Điểm đánh giá thành phần cho phát triển rừng sản xuất và rừng phòng hộ 121
3.4.5 Đánh giá chung cho phát triển rừng sản xuất và rừng phòng hộ 121
3.5 Đánh giá cảnh quan phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học 123
3.5.1 Lựa chọn tiêu chí đánh giá phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học 123
3.5.2 Đánh giá thành phần cho mục đích bảo tồn đa dạng sinh học 130
3.5.3 Xác định trọng số cho các chỉ tiêu đánh giá cho mục đích bảo tồn đa dạng sinh học 130
3.5.4 Điểm đánh giá thành phần phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học 131
Trang 73.5.5 Đánh giá chung phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học 131
3.6 Định hướng không gian ưu tiên phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học 133
3.7 Định hướng, giải pháp sử dụng cảnh quan cho phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học 135
3.7.1 Nguyên lý trong định hướng sử dụng cảnh quan 135
3.7.2 Định hướng sử dụng cảnh quan cho phát triển nông nghiệp 136
3.7.3 Định hướng sử dụng cảnh quan cho phát triển lâm nghiệp 140
3.7.4 Định hướng sử dụng cảnh quan cho bảo tồn đa dạng sinh học 141
3.7.4.1 Quan điểm và mục tiêu sử dụng cảnh quan cho bảo tồn ĐDSH 141
3.7.4.2 Định hướng sử dụng cảnh quan cho bảo tồn ĐDSH trong KVNC 142
3.8 Xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái hộ gia đình 143
3.8.1 Cấu trúc mô hình hệ kinh tế sinh thái hộ gia đình 143
3.8.2 Tiêu chí xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái hộ gia đình 145
3.8.3 Nguyên tắc xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái hộ gia đình 145
3.8.4 Đề xuất mô hình hệ kinh tế sinh thái hộ gia đình và mô hình hệ kinh tế sinh thái cấp xã 146
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 150 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ALES-GIS Hệ thống đánh giá đất đai tự động - Hệ thông tin địa lý BTĐDSH Bảo tồn đa dạng sinh học
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
BVMT Bảo vệ môi trường
CBD Công ước Đa dạng sinh học
CHDCND Cộng hòa Dân chủ Nhân dân
KVNC Khu vực nghiên cứu
NCCB Nghiên cứu cơ bản
NTTS
NCS
Nuôi trồng thủy sản Nghiên cứu sinh PTBV Phát triển bền vững
SDHLTN Sử dụng hợp lý tài nguyên
TNTN Tài nguyên thiên nhiên
TN&MT Tài nguyên và Môi trường
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Hệ thống phân loại cảnh quan của Nhikolaev 16
Bảng 1.2: Hệ thống phân loại cảnh quan của Nguyễn Thành Long và nnk (1993) 16
Bảng 1.3: Các phương pháp đánh giá kinh tế sinh thái cảnh quan 25
Bảng 1.4: Bảng thống kê tính chất của các đơn vị cảnh quan 39
Bảng 1.5: Thang 3 điểm (4 bậc) trong đánh giá cảnh quan 40
Bảng 1.6a Bảng cơ sở đánh giá thành phần (trường hợp thang 3 điểm) 40
Bảng 1.6b: Bảng điểm các giá trị của các tính chất địa tổng thể 40
Bảng 1.7: Bảng cơ sở đánh giá chung 41
Bảng 2.1 Tỷ lệ diện tích của các hệ tầng trong khu vực nghiên cứu 49
Bảng 2.2 Nhiệt độ không khí trung bình tháng và năm (oC) 51
Bảng 2.3 Lượng mưa trung bình tháng và năm (mm) 52
Bảng 2.4 Số ngày nắng nóng trung bình tháng và năm (ngày) 53
Bảng 2.5: Diện tích, tỷ lệ các loại đất trong khu vực nghiên cứu 54
Bảng 2.6: Phân bố các họ, loài theo các ngành thực vật bậc cao có mạch 56
Bảng 2.7: Diện tích các loại thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu 57
Bảng 2.8 Biến động dân số qua các năm của huyện Tương Dươnggiai đoạn 2010 -2015 60
Bảng 2.9: Biến động dân số qua các năm của huyện Kỳ Sơn giai đoạn 2010 -2015 60
Bảng 2.10: Giá trị sản xuất phân theo ngành kinh tế ở huyện Con Cuông 63
Bảng 2.11: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Kỳ Sơn năm 2010 – 2011 63
Bảng 2.12: Cơ cấu kinh tế của huyện Tương Dương đến năm 2015 (%) 63
Bảng 2.13: Giá trị sản xuất nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản theo huyện giai đoạn 2010 - 2015 (%) 64
Bảng 2.14: Diện tích các vùng bảo tồn ĐDSH phân theo các huyện 65
Bảng 2.15: Tổng hợp các công trình thủy điện vừa và nhỏ được phê duyệt ở ba huyện theo các Quy hoạch thủy điện tỉnh Nghệ An 67
Bảng 2.16: Hệ thống phân loại cảnh quancác huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 71
Bảng 2.17: Diện tích và tỷ lệ lớp CQ & phụ lớp CQ 77
Bảng 2.18: Diện tích và tỷ lệ hạng CQ 79
Bảng 2.19: Diện tích các vùng chức năng VQG Pù Mát 80
Bảng 2.20: Xếp hạng ưu tiên theo hệ thống tiêu chí trong hệ thống bảo tồn 80
Bảng 2.21: Sự phân hóa thành phần loài thực vật theo các đơn vị cảnh quan 84
Bảng 2.23: Diện tích và tỷ lệ các đơn vị phân vùng cảnh quan 97
Bảng 3.1: Giá trị sản xuất nông nghiệp (theo giá hiện hành phân theo huyện) 99
Bảng 3.2: Diện tích, sản lượng cây lương thực có hạt phân theo huyện năm 2015 100
Bảng 3.3: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây lương thực chính phân theo huyện năm 2015 100
Trang 10Bảng 3.4: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây hàng năm chính phân theo
huyện năm 2012 100
Bảng 3.5: Diện tích, sản lượng cây chè phân theo huyện năm 2015 101
Bảng 3.6: Diện tích, sản lượng một số cây ăn quả chính phân theo huyện năm 2015 101 Bảng 3.7: Giá trị sản xuất Lâm nghiệp theo giá hiện hànhở ba huyện miền núi Tây Nam tỉnh Nghệ An các năm 2010, 2013 và 2015 102
Bảng 3.8a: Bảng cơ sở đánh giá thành phần cho phát triển cây công nghiệp lâu năm107 Bảng 3.8b: Bảng cơ sở đánh giá thành phần cho phát triển cây hàng năm 108
Bảng 3.8c: Bảng cơ sở đánh giá thành phần cho phát triển đồng cỏ chăn thả gia súc 108 Bảng 3.9a: Tính toán trọng số các chỉ tiêu đánh giá phát triển cây công nghiệp lâu năm bằng phương pháp ma trận tam giác 110
Bảng 3.9b: Tính toán trọng số các chỉ tiêu đánh giá 111
phát triển cây hàng năm bằng phương pháp ma trận tam giác 111
Bảng 3.9c: Tính toán trọng số các chỉ tiêu đánh giá phát triển đồng cỏ chăn thả gia súc bằng phương pháp ma trận tam giác 111
Bảng 3.10a: Bảng cơ sở đánh giá chung cho phát triển cây công nghiệp lâu năm 112
Bảng 3.10b: Bảng cơ sở đánh giá chung cho phát triển cây hàng năm 112
Bảng 3.10c: Bảng cơ sở đánh giá chung cho phát triển đồng cỏ chăn thả gia súc 112
Bảng 3.11a: Bảng phân hạng thích nghi cho phát triển cây công nghiệp lâu năm 113
Bảng 3.11b: Bảng phân hạng thuận lợi cho phát triển cây hàng năm 113
Bảng 3.11c: Bảng phân hạng thuận lợi cho phát triển đồng cỏ chăn thả gia súc 113
Bảng 3.12a: Bảng cơ sở đánh giá thành phần cho phát triển rừng sản xuất 118
Bảng 3.12b: Bảng cơ sở đánh giá thành phần cho phát triển rừng phòng hộ 118
Bảng 3.13a: Tính toán trọng số các chi tiêu phát triển rừng sản xuất bằng phương pháp ma trận 120
Bảng 3.13b: Tính toán trọng số các chi tiêu phát triển rừng phòng hộ bằng phương pháp ma trận 120
Bảng 3.14a : Bảng cơ sở đánh giá chung cho phát triển rừng sản xuất 121
Bảng 3.14b : Bảng cơ sở đánh giá chung cho phát triển rừng phòng hộ 121
Bảng 3.15a: Bảng phân hạng thuận lợi cho phát triển rừng sản xuất 122
Bảng 3.15b: Bảng phân hạng thuận lợi cho phát triển rừng phòng hộ 122
Bảng 3.16: Bảng cơ sở đánh giá thành phần phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học 130
Bảng 3.17: Tính toán trọng số các chỉ tiêu đánh giá bằng phương pháp ma trận cho mục đích bảo tồn ĐDSH 131
Bảng 3.18: Bảng cơ sở đánh giá chung cho bảo tồn đa dạng sinh học 132
Bảng 3.19: Bảng phân hạng mức độ thuận lợicho bảo tồn đa dạng sinh học và loại CQ tương ứng 132
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ tổng quát các bước đánh giá kinh tế sinh thái các cảnh quan 24
Hình 1.2: Sơ đồ mối liên hệ giữa đa dạng sinh học và cảnh quan 32
Hình 1.3: Quy trình đánh giá mức độ thuận lợi của cảnh quan 38
Hình 1.4: Quy trình các bước nghiên cứu trong luận án 42
Hình 2.1: Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu 46
Hình 2.2: Bản đồ hành chính ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 46
Hình 2.3: Bản đồ địa chất ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 48
Hình 2.4: Bản đồ mô hình số độ cao ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 50
Hình 2.5: Bản đồ địa mạo ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 50
Hình 2.6: Bản đồ sinh khí hậu ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 53
Hình 2.7: Bản đồ đất ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 55
Hình 2.8: Bản đồ thảm thực vật ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 59
Hình 2.9: Bản đồ quy hoạch ba loại rừng ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 59
Hình 2.10: Biểu đồ dân số ba huyện khu vực phía Tây Nam Nghệ An 59
Hình 2.11: Bản đồ mật độ dân số các huyện trong khu vực nghiên cứu 60
Hình 2.12: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 64
Hình 2.13: Bản đồ phân vùng bảo tồn trong khu vực nghiên cứu 65
Hình 2.14: Bản đồ cảnh quan ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 75
Hình 2.15: Chú giải bản đồ cảnh quan ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 75
Hình 2.16: Sơ đồ tuyến lát cắt cảnh quan AB 76
Hình 2.17: Sơ đồ tuyến lát cắt cảnh quan CD 76
Hình 2.18: Bản đồ phân hóa thực vật theo kiểu cảnh quan ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 87
Hình 2.19: Bản đồ phân vùng cảnh quan ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 96
Hình 3.1: Bản đồ phân hạng mức độ thuận lợi cho phát triển nông nghiệp ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 115
Hình 3.2: Bản đồ phân hạng mức độ thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 123
Hình 3.3: Bản đồ phân hạng mức độ thuận lợi cho bảo tồn đa dạng sinh học ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 132
Hình 3.4: Bản đồ phân vùng ưu tiên phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và đa dạng sinh học ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An 134
Hình 3.5: Mô hình hệ kinh tế sinh thái cấp xã 148
Hình 3.6: Mô hình hệ kinh tế sinh thái hộ gia đình 148
Ghi chú: (Tên hình in thường: Sơ đồ, bản đồ; tên hình in nghiêng: Hình vẽ, biểu đồ)
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Trong những năm đổi mới, các huyện miền núi, trong đó có các huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An đã có bước chuyển biến rõ rệt, đời sống của đồng bào các dân tộc được cải thiện một mức độ nhất định về cả vật chất lẫn tinh thần Tuy nhiên, vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng cảnh quan ở miền núi hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại về các mặt như điều kiện tự nhiên, kinh
tế xã hội, đặc biệt là hạn chế của đội ngũ cán bộ quản lý cũng như của người dân trong việc sử dụng tài nguyên sao cho hợp với quy luật địa sinh thái lãnh thổ để giảm thiếu sự suy thoái và cạn kiệt tài nguyên, để bớt gây ảnh hưởng xấu tới xu thế phát triển kinh tế xã hội và đời sống cộng đồng Do vậy, mục tiêu khai thác, sử dụng hợp lý nhằm quản lý tổng thể tài nguyên và hướng đến việc bảo vệ môi trường sinh thái tối ưu trên từng đơn vị lãnh thổ cụ thể là một trong những vấn đề mang tính chiến lược hiện nay
Các huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An giáp nước bạn Lào thuộc vùng đồi núi được xác định là một trong ba trung tâm kinh tế động lực của tỉnh Đây còn là địa bàn có Vườn Quốc gia Pù Mát, thuộc Khu dự trữ sinh quyển thế giới miền Tây Nghệ An có tính đa dạng sinh học cao.Vườn Quốc gia Pù Mát là trung tâm đang lưu giữ nhiều nguồn gen quý hiếm về động, thực vật với đầy đủ đại diện của 4/5 lớp quần hệ thực vật (rừng thưa, rừng kín, cây bụi và cây thảo) Nơi đây, không chỉ có các khu rừng nhiệt đới phát triển, có sự đa dạng về cảnh quan, mà còn có sự đa dạng về văn hóa và các hoạt động truyền thống; Những điều này đã
và đang góp phần tạo nên tiềm năng to lớn về du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học cùng các hoạt động nâng cao nhận thức và giáo dục về môi trường, đồng thời gìn giữ những nét đặc trưng tiêu biểu về văn hóa của cộng đồng địa phương tại đây – một nội hàm “Tri thức bản địa” độc đáo
Các huyện biên giới phía Tây Nam tỉnh Nghệ An với vị trí địa lý và vị thế kinh tế rất quan trọng, được coi là địa bàn chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của tỉnh Nghệ An, có tiềm năng và lợi thế phát triển về nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch và phát triển kinh tế cửa khẩu Nằm trên
Trang 13tuyến quốc lộ 7 thông qua CHDCND Lào, cũng rất thuận lợi cho việc giao lưu văn hóa và phát triển kinh tế quốc tế với các nước Thái Lan, Miến Điện
Thực tế và triển vọng cho thấy, giai đoạn nhiều năm tới, sản xuất nông - lâm nghiệp vẫn là ngành kinh tế quan trọng và bảo tồn đa dạng sinh học vẫn cần tiếp tục được quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Nghệ An nói chung và các huyện biên giới Tây Nam của tỉnh nói riêng Vấn đề đặt ra trước mắt đó là biết
và nắm chắc được các quy luật phát triển của tự nhiên trước khi tiến hành khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vùng Để giải quyết những vấn đề thực tế mang tính tổng hợp cao như vậy, hướng nghiên cứu đánh giá cảnh quan, một công việc tiên quyết trong khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên, đã trở thành hướng nghiên cứu quan trọng và là cơ sở khoa học của việc lựa chọn lãnh thổ thích hợp nhất cho các mục tiêu sử dụng khác nhau Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ An còn ít đề cập đến hướng này, đặc biệt là việc tổ chức lãnh thổ
và bảo vệ môi trường dựa trên cơ sở khoa học về lý luận địa lý học và cảnh quan
học
Với vị thế kinh tế và vị thế chiến lược đã nêu, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cần những luận cứ khoa học để sử dụng hợp lý (hợp quy luật) lãnh thổ và đạt hiệu quả kinh tế cao cũng như bảo vệ tài nguyên và môi trường hữu hiệu, nghiên cứu
sinh đã lựa chọn đề tài “Phân tích, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển nông,
lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học các huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An” Những kết quả của đề tài sẽ đóng góp, bổ sung cơ sở lý luận nghiên cứu
cảnh quan ứng dụng miền núi, đồng thời xác lập cơ sở thực tiễn cho tổ chức lãnh thổ sản xuất nông - lâm nghiệp - bảo tồn đa dạng sinh học cho vùng nghiên cứu nói riêng và cảnh quan học ứng dụng nói chung
2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
Mục tiêu :
- Nghiên cứu làm rõ tính quy luật phân hóa lãnh thổ tự nhiên các huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An trên cơ sở phân tích cấu trúc, chức năng và động lực của hệ thống đơn vị cảnh quan thuộc địa bàn nghiên cứu
Trang 14- Xác lập cơ sở khoa học cho việc khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên và lãnh thổ phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học ở các huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An
Để đạt được mục tiêu trên, luận án sẽ thực hiện các nội dung chính sau:
1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận trong nghiên cứu cảnh quan, khái niệm
về đa dạng sinh học và biện pháp bảo tồn nó trên cơ sở tiếp cận sinh thái học và cảnh quan
2 Lựa chọn phương pháp luận, các nguyên tắc nghiên cứu cảnh quan ứng dụng cho quy hoạch lãnh thổ, sử dụng hợp lý tài nguyên, phát triển nông, lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học ở các huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An
3 Thu thập, phân tích và hệ thống hoá các tài liệu, tư liệu hiện có về tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu nhằm xác lập cấu trúc cảnh quan khu vực nghiên cứu
4 Phân tích, đánh giá cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu phục vụ mục đích phát triển nông, lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học
5 Đề xuất các giải pháp thực thi việc phát triển nông, lâm nghiệp và bảo
tồn đa dạng sinh học ở các huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An
3 Phạm vi và tiếp cận nghiên cứu
3.1.Phạm vi nghiên cứu: Được giới hạn trong ba huyện biên giới Tây Nam
tỉnh Nghệ An (Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông)
3.2 Tiếp cận nghiên cứu:
- Áp dụng phương pháp tiếp cận địa lý tổng hợp, tiếp cận sinh thái cảnh quan
để giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phát triển nông, lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học các huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An
- Thành lập bản đồ cảnh quan, phân vùng cảnh quan làm cơ sở đánh giá và
định hướng phát triển nông, lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học
- Đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và bảo tồn
đa dạng sinh học
-Các đối tượng đánh giá:
+ Các đơn vị cảnh quan;
Trang 15+ Các loại hình sản xuất nông nghiệp (cây hàng năm, cây lâu năm và đồng cỏ chăn thả gia súc), lâm nghiệp (rừng sản xuất, rừng đặc dụng) và công tác bảo tồn đa dạng sinh học
4 Những điểm mới của luận án
4.1 Đã chứng minh được tính đặc thù và sự phân hóa cảnh quan với 3 lớp
CQ, 6 phụ lớp CQ, 6 kiểu CQ, 9 hạng CQ và 110 loại CQ ở KVNC; làm rõ mối quan hệ giữa đa dạng CQ và ĐDSH; trong đó đa dạng CQ là tiền đề của sự đa dạng
ổ sinh thái, chi phối tổ thành loài và ĐDSH
4.2 Trên cơ sở phân vùng CQ, đánh giá cảnh quan đã xác lập được 13 không gian lãnh thổ ưu tiên cho phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và bảo tồn ĐDSH tại khu vực nghiên cứu
5 Luận điểm bảo vệ
Luận điểm 1: Vị trí địa lý và lịch sử kiến tạo lãnh thổ đã xác lập nên đặc
điểm địa lý tự nhiên đặc thù của ba huyện Tây Nam tỉnh Nghệ An Tác động của hoàn lưu gió mùa cùng địa hình đồi núi và thung lũng kéo dài dọc sông Lam theo hướng gần Đông Tây đã tạo ra hiệu ứng Fơn và chế độ mưa ẩm khô nóng rất khác biệt so với "Kiểu Đông Tây Trường Sơn" như các vùng địa lý của Duyên hải Bắc Trung Bộ, là cơ sở hình thành nên sự phân hóa cảnh quan với 3 lớp CQ, 6 phụ lớp
CQ, 6 kiểu CQ, 9 hạng CQ, 110 loại CQ cho lãnh thổ nghiên cứu
Luận điểm 2: Tính đa dạng cảnh quan là tiền đề cho đặc điểm đa dạng sinh
thái, làm phát sinh tính đa dạng sinh học của khu vực nghiên cứu Kết quả đánh giá cảnh quan là cơ sở đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý cảnh quan với 13 không gian
ưu tiên phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học ở 3 huyện Tây Nam tỉnh Nghệ An
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ quy luật phân hoá đa
dạng, phức tạp của điều kiện tự nhiên nhiệt đới, gió mùa Việt Nam nói chung, cũng như những đặc điểm đặc thù trong phân hóa cảnh quan tại các huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An Đồng thời làm rõ mối tương tác liên vùng giữa ba huyện trong
Trang 16khu vực nghiên cứu với các vùng lãnh thổ phụ cận của quốc gia Lào láng giềng
cũng như các tỉnh phụ cận
6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Rút ra hướng sử dụng hệ thống đơn vị cảnh quan, hợp
với quy luật cấu trúc lãnh thổ góp phần xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học cho một địa phương rất đặc thù trên phương diện địa lý
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài mở đầu và kết luận, luận án trình bày trong 3 chương gồm có 29 hình
(trong đó có 20 bản đồ, 2 lát cắt) và 60 bảng số liệu Ngoài ra còn có phần phụ lục
minh hoạ, kèm theo danh mục tài liệu tham khảo
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích, đánh giá cảnh quan
Chương 2: Đặc điểm cảnh quan ba huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An Chương 3: Đánh giá cảnh quan và định hướng sử dụng cảnh quan phục vụ mục đích phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu cảnh quan trong và ngoài nước
1.1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu cảnh quan trên thế giới
Trong phạm vi những công trình liên quan đến nghiên cứu cảnh quan mà tác giả luận án đã tham khảo của các tác giả trên thế giới, có thể đúc kết được các hướng nghiên cứu cảnh quan chính như sau:
(1) Hướng nghiên cứu về lý luận cảnh quan:
Khái niệm “Cảnh quan” trong khoa học Địa lý, được L.S.Becgơ đưa ra vào năm
1913:“Cảnh quan địa lý là một hợp phần hay một nhóm các sự vật, hiện tượng, trong
đó đặc biệt là địa hình, khí hậu, nước, đất, thực vật và động vật cũng như hoạt động của con người tương tác với nhau trong một thể thống nhất hoà hợp” Ông cho rằng,
chính cảnh quan là đối tượng nghiên cứu của Địa lý, với quan điểm xác định cảnh quan thiên nhiên như là một đơn vị lãnh thổ, trong đó đặc điểm địa hình, khí hậu, thực vật và lớp phủ thổ nhưỡng hợp nhất với nhau thành một thể toàn vẹn, thống nhất [41] Cũng vào khoảng thời gian này, G.F Môrôzôv đánh giá cao tầm quan trọng của
nghiên cứu phân vùng cảnh quan; ông cho rằng “Kết quả cuối cùng của sự nghiên cứu lịch sử thiên nhiên lãnh thổ phải là sự phân chia chúng ra thành một loạt các đơn vị cảnh quan toàn vẹn, hay là các đơn vị địa lý cá thể” [41] Đây cũng chính là nhiệm vụ
xác lập cấu trúc lãnh thổ
Lý luận và thực tiễn nghiên cứu cảnh quan tiếp tục hoàn thiện trong giai đoạn giữa thế kỷ XX, với sự đóng góp của các nhà khoa học Địa lý Xô Viết như S.V Kalexnhik, A.A Grigôriev, N.A Xontxev, V.N Xukatrop, B.B Pôlưnôv, V.I Prokaev, V.X Preobrajenxki và A.G Ixatsenko phục vụ mục đích phát triển nền kinh
tế quốc dân Trong đó, N.A Xontxev đã trình bày những lý luận đầu tiên trên cơ sở phát triển các quan niệm về cảnh quan trong các công trình trước đó của L.G.Ramenxki, X.V.Kalexnhik và đưa ra một cái nhìn mới, rõ ràng hơn về hình thái cảnh quan [41]
Nhìn chung, các nghiên cứu cảnh quan của các nhà địa lý Xô Viết có giá trị cao
về mặt lý luận trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường Đặc biệt, Hội nghị chuyên đề Cảnh quan học diễn ra ở Lêningrat vào năm 1955 và các Hội nghị khoa học về các vấn đề Cảnh quan học được tổ chức gần như hàng năm đã công bố nhiều công trình nghiên cứu cảnh quan Đây được coi như là hoạt động thường niên giúp các nhà cảnh quan hoàn thiện lý luận, phương pháp nghiên cứu, ứng
Trang 18dụng Cảnh quan học, cũng như mở rộng các công trình nghiên cứu và thành lập bản đồ cảnh quan nhiều tỷ lệ khác nhau Bên cạnh đó, các nghiên cứu về nguyên tắc, phương pháp xây dựng bản đồ, phân loại cảnh quan, vấn đề sử dụng học thuyết cảnh quan trong thực tiễn cũng được thể hiện qua các công trình của N.I.Mikhailôv, V.B.Xôtsava (1956), N.A.Gvozdexki (1963), X.V.Kalexnhik (1964), A.G.Ixatsenko (1965), P.N.Minkov, V.X.Preobrajenxki (1966), N.A.Xôlnxev, V.I.Prôkaev (1971) [42]
Trong hướng nghiên cứu về lý luận cảnh quan cũng có nhiều công trình liên quan đến các vấn đề như quần hệ sinh vật, địa hoá học cảnh quan, phân vùng địa lý tự
nhiên Hướng nghiên cứu định lượng trong cảnh quan cũng được quan tâm với các
nghiên cứu của B.B Pôlưnôp và tiếp đó A.I Perelman đã nghiên cứu về sự di động của các nguyên tố hoá học trong cảnh quan và phân chia cảnh quan Tiếp theo, A.L.Armand đề xuất hướng nghiên cứu địa vật lý cảnh quan Ông đã sử dụng các phương pháp vật lý hiện đại để nghiên cứu mối tác động qua lại giữa các thành phần cấu tạo nên cảnh quan [23,38]
(2) Nghiên cứu về cấu trúc, chức năng và động lực cảnh quan:
Bên cạnh việc nghiên cứu sự phân hóa tự nhiên của đơn vị cảnh quan, các nghiên cứu cấu trúc, chức năng và động lực cảnh quan góp phần hiểu rõ hơn về quy luật tự nhiên, quá trình vận động và biến đổi của tự nhiên để từ đó có định hướng khai thác TNTN phù hợp [11]
Khai thác TNTN phục vụ sản xuất cần phải hiểu rõ quy luật của tự nhiên, quá trình vận động và biến đổi của tự nhiên, nên CQ học không thể dừng lại ở việc nghiên cứu phân hóa các khu vực ĐLTN, mà phải đi vào nghiên cứu cấu trúc, đồng thời với nghiên cứu chức chức năng và động lực CQ [11]
Quan niệm về cấu trúc CQ hiện nay chưa thống nhất, có nhiều định nghĩa về cấu trúc CQ Nhìn chung, các tác giả đề cập đến cấu trúc không gian (gồm cấu trúc đứng và cấu trúc ngang) và cấu trúc thời gian (chu kì mùa, chu kì ngày đêm ) Việc nghiên cứu cấu trúc CQ được rất nhiều tác giả quan tâm như: X.V Kalexnik (1978), Bastian và Steinhardt (2002) Nghiên cứu chức năng CQ cũng được đề cập đến trong nhiều công trình: A.G Ixatsenko (1961), Forman (1981), De Groot (1992)… Cũng như nghiên cứu cấu trúc, nghiên cứu chức năng CQ có nhiều quan niệm khác nhau
Theo A.G Ixatsenko (1961), chức năng CQ là “tổng hợp các quá trình trao đổi, biến đổi vật chất và năng lượng trong CQ”, còn Forman (1981) lại xác định “là dòng năng lượng, dinh dưỡng khoáng và sinh vật giữa các yếu tố CQ” [6] Bên cạnh đó, chức
năng của CQ được hiểu là lợi ích mà con người thu được từ các thuộc tính và quá trình của CQ như Niemann (1977), De Groot (1992) đã quan niệm… Do đó, có nhiều hệ
Trang 19thống phân loại chức năng CQ Chức năng CQ gồm chức năng tự nhiên, chức năng KT-XH, chức năng BVMT Thực tế thì tiềm năng và khả năng cung cấp vật chất và phi vật chất của CQ đáp ứng nhu cầu xã hội là rất lớn, rất đa dạng Vì vậy, trong quy hoạch CQ còn phổ biến thuật ngữ CQ đa chức năng (nhất là ở châu Âu) [58]
Nghiên cứu động lực CQ cũng rất được chú trọng, nhất là trong nghiên cứu sinh thái CQ (nghiên cứu động lực CQ trong nghiên cứu sinh thái CQ) Theo Mc Garigal
(2002), động lực CQ là “cơ chế biến đổi cấu trúc và các quá trình của hệ sinh thái trong CQ theo thời gian” Tuy nhiên, cho đến nay, rất ít các công trình nghiên cứu
riêng biệt về động lực CQ [56]
Từ những năm 1970, ngoài những nghiên cứu CQ tự nhiên còn có những nghiên cứu theo hướng mở rộng như nghiên cứu CQ văn hóa, CQ nhân sinh Đồng thời với việc mở rộng phạm vi nghiên cứu, CQ học còn đi sâu nghiên cứu từng hợp phần CQ trong mối quan hệ với các khoa học liên ngành như: Địa vật lý cảnh quan, Địa hóa CQ [25], sinh thái CQ [56,58]
(3) Hướng nghiên cứu cảnh quan gắn với sinh thái học và động lực cảnh
quan ở Tây Âu và Châu Mỹ:
Trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX , ở Tây Âu cũng đã phát triển khoa học cảnh quan Ở Đức, vào năm 1943, Z.Passarge (1867 – 1958) đã công bố công trình lý thuyết về địa lý cảnh quan độc lập với các nghiên cứu ở Nga Từ đó đến nay, trường phái này vẫn là một trong các trung tâm nghiên cứu cảnh quan và quy hoạch cảnh quan lớn của thế giới [50]
Giai đoạn này cũng đánh dấu sự phát triển của Hiệp hội các nhà Địa lý Mỹ trong việc nghiên cứu sinh thái cảnh quan Nổi bật là Havery (1969) và Chorley et Haggett (1976), với các phương pháp luận trong sinh thái cảnh quan của hai ông đã được tiếp tục phát triển và kế thừa sau này Hướng nghiên cứu động lực cảnh quan cũng đã được quan tâm nghiên cứu Đây được coi là một phương diện quan trọng đánh giá tác động qua lại giữa sinh vật với môi trường, sự xáo trộn nơi sống và da dạng sinh học[57] Mối tương quan, tác động tương hỗ giữa sự biến đổi cảnh quan nhân sinh và văn hóa, cũng như sinh thái học được thể hiện qua việc lý giải sự hình thành cảnh quan miền Tây nước Mỹ và những biến đổi của cảnh quan kể từ khi người Âu - Mỹ đến định cư Theo đó, Johannessen đã đưa ra các bằng chứng về quá trình biến đổi ở thung lũng Williamtte trong suốt 100 năm qua với một loạt các bản đồ lịch sử và những ghi chép
có được Minich (1987) đã xây dựng lại cơ chế gây cháy ở giai đoạn cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ thứ XX ở Chaparral, Nam California [57]
Trang 20Còn có hướng nghiên cứu các quá trình và các mô hình sinh học theo không gian thông qua điều tra các tác động của các yếu tố văn hoá, vật chất, sinh học đến sự phân bố cây trồng, vật nuôi và các tác động qua lại lên chu trình sinh học
(4).Hướng nghiên cứu cảnh quan ứng dụng:
Từ những năm 1990 trở lại đây, hướng nghiên cứu CQ ứng dụng phát triển mạnh
mẽ và được các nhà địa lý Nga và các nước Đông Âu quan tâm, được vận dụng ngày càng nhiều vào thực tiễn phát triển KT-XH của các vùng, quốc gia, lãnh thổ trên thế giới Các công trình nghiên cứu CQ của Nga và một số nước như Ucraina, Belorutxia, Litva, Ba Lan, Tiệp Khắc…đều dựa trên Cảnh quan học cơ bản và thống nhất quan
điểm trong nghiên cứu CQ ứng dụng cho các mục đích khác nhau [42]:
- Về hướng nghiên cứu phân vùng CQ lãnh thổ Liên bang Nga, nổi bật có công trình của I.P Gheraximov (1972) phân chia Liên bang Nga thành 17 miền CQ khác nhau và được ứng dụng trong các mục đích xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nước
- Bacglanov tiến hành nghiên cứu, đánh giá tính đa dạng của CQ vùng Viễn Đông, Liên bang Nga và đã đưa ra những cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ phát triển KT-XH, đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước vào cuối thế kỷ XX
- Hướng CQ ứng dụng ở Ucraina có các công trình: Marinhich nghiên cứu phân vùng CQ Ucraina, đãlàm rõ đặc điểm, quy luật phát sinh, phát triển, đặc thù từng vùng, miền CQ cho phát triển KT-XH; khi tiếp tục thiết kế CQ lãnh thổ Ucraina, Sisenko đã chú trọng CQ đồng cỏ Nam Ucraina Các ứng dụng trong tổ chức và quy hoạch lãnh thổ đều dựa trên bản đồ cảnh quan
(5) Hướng nghiên cứu định lượng trong CQ:
Hướng nghiên cứu định lượng trong CQ cũng được quan tâm với các nghiên cứu của B.B Pôlưnôp, tiếp đó A.I Pérelmen đã nghiên cứu về sự di động của các nguyên tố hoá học trong CQ và phân chia CQ; M.A.Glazôpxkaia đã tiến hành xây dựng những nguyên tắc phân loại địa hoá các CQ một cách cụ thể hơn và đưa ra hệ thống phân loại các CQ địa phương Hướng nghiên cứu địa vật lý cảnh quan do A.L.Armand đề xuất; Ông đã sử dụng các phương pháp vật lý hiện đại để nghiên cứu mối tác động qua lại giữa các thành phần cấu tạo nên CQ…[15,38]
(6) Đánh giá cảnh quan:
Việc đánh giá đặc trưng cảnh quan đã trở thành trọng tâm cho phát triển bền vững và quản lý đất đai Nó được xem là công cụ quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách, thông qua việc phân tích định tính và định lượng phục vụ quản lý hiệu quả,
Trang 21thích ứng với các yêu cầu mới trong khu vực Điều này được thể hiện rõ qua cuốn sách
của Dirk M Wascher “European Landscape Charater Areas (Các vùng đặc trưng cảnh quan Châu Âu)”công bố năm 2005 Đây là công trình nằm trong khuôn khổ dự
án “European Landscape Character Assessment Initiative (bước đầu đánh giá đặc trưng cảnh quan Châu Âu)” Khi tiến hành đánh giá đặc trưng cảnh quan, có thể ứng dụng ở nhiều tỷ lệ, từ cấp độ quốc gia đến vùng và địa phương Tuy nhiên, mục tiêu của dự án này chỉ dừng lại ở việc xem xét cảnh quan hiện đại thông qua việc đánh giá đặc trưng cảnh quan giữa 14 nước thành viên và phân tích vai trò của chính sách và các bên liên quan ở các cấp độ khác nhau [66]
Cần lưu ý rằng, khi vận dụng những lý luận và kinh nghiệm thực tiễn này, phải lựa chọn các chỉ tiêu cho phù hợp với thực tế, với các tập quán khai thác lãnh thổ cổ truyền của các cộng đồng dân cư ứng với từng vùng, từng miền, từng kiểu địa hình cũng như nguồn dữ liệu, tài liệu cho việc đánh giá có thể thiếu hoặc không đồng bộ ở nước ta
(7) Cảnh quan và vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học:
Trên thế giới, đã có một số tác giả và tổ chức tiếp cận cảnh quan để phục vụ việc bảo tồn đa dạng sinh học [53,59,61]
- Cuốn“Conservation Across Landscapes”(Tạm dịch: Bảo tồn thông qua
nghiên cứu cảnh quan) của Pramod Krishnan được xuất bản bởi UNDP năm 2012, cho rằng, tiếp cận bảo tồn ĐDSH chủ yếu là bảo tồn dưới sự kiểm soát của chính quyền – tạo nên khu vực bảo tồn và bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, ĐDSH liên quan tới sự biến đổi môi trường sống trong mối quan hệ giữa các sinh vật trong các hệ sinh thái, bao gồm: đa dạng loài, đa dạng hệ sinh thái So với
“số lượng các loài”, thuật ngữ ĐDSH có phạm vi rộng hơn và bao gồm sự biến đổi gen giữa các loài, giữa các cá thể trong loài, cũng như đa dạng các hệ sinh thái: sa mạc, rừng, đất ngập nước, núi, sông, hồ, cảnh quan nông nghiệp và được hình thành thông qua sự tương tác giữa nhân tố vô sinh và hữu sinh [60]
- Cuốn “The Evolving Landscape of Agricultural Biodiversity Conservation”, được xuất bản bởi Biodiversity International năm 2013 (tạm dịch: Tiến hóa cảnh quan
trong bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp) cho rằng, hướng nghiên cứu cảnh quan sẽ cho thấy được mối liên quan giữa đa dạng sinh học nông nghiệp được hình thành giữa con người, nguồn thức ăn và môi trường [62]
- Cuốn “Agroforestry in Biodiversity Conservation in Tropical Landscapes”xuất bản năm 2004 (tạm dịch: Nông-Lâm nghiệp trong bảo tồn đa dạng
sinh học ở cảnh quan nhiệt đới) cho rằng, xét ở khía cạnh toàn diện, thông tin đa dạng
Trang 22sinh học được gắn cùng với các họat động nông-lâm nghiệp và không thể tách rời các cảnh quan Sự thiếu hụt thông tin này không chỉ phát hiện trong thực tế bảo tồn và các
dự án phát triển trên thực địa, mà còn trong giảng dạy về nông-lâm nghiệp nhiệt đới, sinh học bảo tồn và các chủ đề liên quan.Vì vậy, những nghiên cứu hướng tới mục tiêu nghiên cứu tiềm năng của nông - lâm nghiệp phục vụ cho bảo tồn đa dạng sinh học dưới góc độ cảnh quan, cũng như bàn luận về lợi ích liên quan tới đa dạng sinh học của hệ thống nông-lâm nghiệp và các cảnh quan bên trong nó, có thể làm gia tăng sự
hỗ trợ của các cá nhân và cộng đồng trong chính sách bảo tồn; chỉ ra một số áp lực về chính trị, kinh tế xã hội và sinh thái đối với đa dạng sinh học [63]
Còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác về bảo tồn đa dạng sinh học dưới góc
độ nghiên cứu cảnh quan trên thế giới Tuy nhiên, khi ứng dụng vào Việt Nam, cần phải có đối sánh và nghiên cứu cụ thể bởi chính sách bảo tồn cũng như một số đặc tính bảo tồn và cảnh quan ở nước ta rất khác biệt và có tính đặc thù
1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu cảnh quan ở Việt Nam
Khoa học về cảnh quan và những công trình phân tích, đánh giá tổng hợp cảnh quan đã được phát triển từ rất sớm (khoảng giữa những năm 50 thế kỷ trước) trên cơ
sở kế thừa những nền tảng, lý luận khoa học cảnh quan của trường phái Xô Viết và các trường phái khác như Anh, Đức Với sự tiếp thu có hệ thống và vận dụng trong điều kiện cụ thể, các kết quả nghiên cứu cảnh quan trong nước được rút ra từ thực tiễn đã góp phần định hướng, quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ
(1) Hướng nghiên cứu về phương pháp luận trong nghiên cứu cảnh quan:
Năm 1976 - đánh dấu sự ra đời với cuốn “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” của
Vũ Tự Lập Tác giả cuốn sách cho rằng, tự nhiên là một hệ thống sinh thái hoàn chỉnh, trong đó các đối tượng và hiện tượng đều phát sinh và phát triển trong những mối quan
hệ tương hỗ vô cùng mật thiết Đây là quan điểm kế thừa của Kalesnhik Vì vậy, khi nghiên cứu cảnh quan, chúng ta cần tìm hiểu các mối quan hệ biện chứng giữa các thành phần vật chất và năng lượng cấu tạo nên mỗi một địa tổng thể hay còn gọi là tổng hợp thể tự nhiên Trong tác phẩm này, Vũ Tự Lập cũng đã trình bày về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cảnh quan, hệ thống phân vị và phân loại cảnh quan; khái quát đặc điểm của tất cả các mặt tự nhiên và phân tích mối quan hệ giữa chúng trên lãnh thổ Miền Bắc Việt Nam [17] Trong đó, tác giả đã nhấn mạnh rằng, nghiên cứu cảnh quan không những chỉ là sự kế thừa, phân tích có chọn lọc các kết quả nghiên cứu chuyên ngành, mà còn là độc lập nghiên cứu từ khảo sát thực địa cho
đến phân tích các tài liệu, tư liệu thu thập được
Trang 23Năm 1992, thông qua Hội thảo về sinh thái cảnh quan do Hội Địa lý Việt Nam
và Trung tâm Địa lý Tài nguyên tổ chức tại Hà Nội, các nhà khoa học đã đề cập tới phương pháp luận của hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan và hướng nghiên cứu các tác động nhân sinh trong sinh thái cảnh quan, cũng như đi sâu vào phân tích các yếu tố cấu thành sinh thái cảnh quan Đây được xem là một hướng nghiên cứu liên ngành và tổng hợp được hình thành trên cơ sở kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng của sinh thái học và tính tổng hợp, tính phân cấp của cảnh quan học nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội Quan điểm này được tiếp nhận tương đối sớm và được ứng dụng khá mạnh mẽ ở Việt Nam Các nhà khoa học trong lĩnh vực địa lý học và sinh thái học đã cố gắng gắn kết các đặc trưng sinh thái vào sự phân hóa không gian của các tổng hợp thể tự nhiên, với mục đích sử dụng hữu hiệu lãnh thổ Điển hình là Thái Văn Trừng (1976, 1999) đã dùng các nhân tố địa lý (cảnh quan) để lý giải cho việc hình thành các “kiểu lâm hình” (kiểu rừng) trên lãnh thổ Việt Nam [50] Bên cạnh đó công trình “Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam” [40] của ông là căn cứ để phân chia các kiểu thảm thực vật phục vụ vào việc thành lập chú giải bản đồ cảnh quan và bản đồ cảnh quan
Tính đến nay, đã có hàng loạt các công trình lý luận về cảnh quan và bản đồ cảnh quan các khu vực như: Bản đồ cảnh quan Việt Nam 1:1000.000 được công bố năm 2006 (Phạm Hoàng Hải) [11]; bản đồ cảnh quan khu vực và của các tỉnh được các tác giả này thành lập ở các tỷ lệ khác nhau cho Bắc Ninh, Thái Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, Nghệ An, Đồng bằng sông Hồng, Nam Định
(2) Hướng cảnh quan ứng dụng: Quan điểm sinh thái cảnh quan ứng dụng chỉ
được áp dụng rộng rãi vào những năm cuối của thế kỷ XX
+ Trong báo cáo “Về hướng tiếp cận sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan nhiệt đới, gió mùa Việt Nam” được công bố năm 1992, Phạm Hoàng Hải cho rằng, sinh thái cảnh quan là hướng nghiên cứu địa lý tổng hợp hay hướng nghiên cứu cảnh quan ứng dụng, trong đó có sự chú trọng đặc biệt đến các đặc trưng sinh thái của các địa tổng thể Theo Ông, trong nghiên cứu sinh thái cảnh quan, cần phải làm rõ vai trò chức năng sinh thái của địa tổng thể, thông qua các đặc trưng về cân bằng vật chất và năng lượng của chúng trong các tác động trực tiếp của con người Về mặt phương pháp, có thể vận dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp các hệ sinh thái và các tổng hợp thể tự nhiên, trong đó đặc biệt đề cập đến khía cạnh định lượng để tìm ra cân bằng vật chất trong các đơn vị tự nhiên đó [50]
+ Nguyễn Ngọc Khánh cũng có đóng góp về quan điểm và phương pháp luận trong sinh thái cảnh quan với báo cáo: “Nghiên cứu cảnh quan sinh thái nhân sinh ở
Trang 24Việt Nam” Ông cho rằng, khi thực hiện hướng nghiên cứu này, cần xem xét đến khả năng và đặc điểm khai thác tài nguyên, tổ chức sản xuất, mức độ phát triển của nền kinh tế cũng như khả năng tổ chức xã hội, các đặc điểm cộng đồng dân tộc, điều kiện sinh sống của dân cư Điều này sẽ có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn trong công tác xây dựng phương hướng sử dụng hợp lý cũng như phục hồi tài nguyên thiên nhiên, hay trong việc định hướng tổ chức lãnh thổ tối ưu và phát triển kinh tế bền vững và bảo vệ môi trường [50]
+ Cũng trong khuôn khổ Hội thảo về sinh thái cảnh quan năm 1992, Trần Tý đã khẳng định thảm thực vật là một trong những yếu tố hình thành cảnh quan và có mức
độ biến động lớn hơn các yếu tố tự nhiên khác Ông cùng quan điểm với Sukasốp, đã coi thảm thực vật như tấm gương phản chiếu trung thành nhất và kịp thời nhất của điều kiện sinh thái môi trường Ông cho rằng, thảm thực vật là một chỉ tiêu quan trọng để phân loại các cảnh quan ở các cấp phân vị khác nhau, trong đó cấp nhỏ nhất của cảnh quan phản ánh trạng thái hiện tại của thảm Các trạng thái này thường rất khác biệt với trạng thái nguyên sinh, nó nói lên mức độ tác động của con người lên cảnh quan, xác định mức độ suy thoái của cảnh quan nói chung và đất nói riêng Do vậy, thảm thực vật được coi như một yếu tổ chỉ thị môi trường [50]
Một xu hướng khác là nghiên cứu cảnh quan được tiến hành theo hướng phân loại không dựa vào các cá thể địa tổng thể Hướng nghiên cứu này có thể thấy rất rõ trong một số công trình như:
+ Nguyễn Thành Long, Phạm Thế Vĩnh và nnk trong“Bản đồ cảnh quan Tây Nguyên 1:250.000” do Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Trung tâm Địa lý tài
nguyên, xuất bản năm 1988 [18]
+ Nguyễn Thành Long, Phạm Thế Vĩnh và nnk trong “Nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh quan các tỉ lệ trên lãnh thổ Việt Nam”do Viện Khoa học và Công nghệ
Việt Nam, Trung tâm Địa lý tài nguyên, xuất bản năm 1993
Năm 1997, trong cuốn“Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ”, các tác giả Phạm Hoàng Hải,
Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh đã đề cập khá đầy đủ về những biến đổi của tự nhiên nói chung và cảnh quan nói riêng dưới các tác động của con người, đồng thời đưa ra các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường [12]
(3) Hướng đánh giá cảnh quan:
Năm 2005, trong cuốn “Đánh giá cảnh quan (Theo hướng tiếp cận kinh tế sinh thái)”, Nguyễn Cao Huần đã bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về nghiên cứu cảnh
quan, đồng thời đã đưa ra quy trình và các phương pháp đánh giá cảnh quan theo
Trang 25hướng tiếp cận kinh tế sinh thái: đánh giá thích nghi, đánh giá độ bền vững môi trường, đánh giá kinh tế, phân tích độ bền vững xã hội của sử dụng cảnh quan và đánh giá tích hợp (đánh giá tổng hợp) [15] Đây là tài liệu có tính khái quát và lý luận cao với sự phản ánh cụ thể những kết quả nghiên cứu ứng dụng của một số phương pháp đánh giá cảnh quan
Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều luận án Tiến sĩ đã lựa chọn hướng đánh giá cảnh quan để phục vụ cho các mục đích khác nhau:
- Phạm Quang Anh (1996 )“Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng
tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam” Trên cơ sở lý luận cấu trúc sinh thái cảnh quan và mối liên hệ
của nó với du lịch xanh, tác giả tiến hành phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan của Việt Nam và ứng dụng của nó để định hướng tổ chức du lịch [3]
- Phạm Quang Tuấn (2003) “Nghiên cứu, đánh giá điều kiện sinh thái cảnh quan phục
vụ định hướng phát triển cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả khu vực Hữu Lũng - tỉnh Lạng Sơn” Đây là công trình dựa trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm các nhân tố hình thành và
sự phân hoá cảnh quan để đánh giá, phân hạng mức độ thích nghi sinh thái của các dạng cảnh quan đối với cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả Tác giả đề ra một số định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ Hữu Lũng đối với cây cà phê chè, vải, na, nhãn
- Nguyễn Đăng Hội (2004) “Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan nhân sinh lãnh thổ Kon Tum phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên đất, rừng” Trong công trình này, tác
giả nghiên cứu sự biến đổi và diễn thế của cảnh quan nhân sinh nhằm xác định tính phù hợp của các dạng khai thác CQ nhân sinh và đề xuất định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất, rừng lãnh thổ Kon Tum
(4) Hướng tiếp cận nghiên cứu cảnh quan phục vụ phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp:
Trong những năm gần đây, hướng tiếp cận nghiên cứu đánh giá cảnh quan được ứng dụng nhiều vào định hướng phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp Trong đó đối tượng đánh giá, tập trung vào phát triển cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, trồng rừng, bảo vệ rừng tại các Vườn quốc gia, các vùng đệm
Cũng đã có nhiều luận án lựa chọn đối tượng nông nghiệp, lâm nghiệp để nghiên
cứu đánh giá cảnh quan Đơn cử, tác giả Nguyễn An Thịnh (2007), với luận án tiến sĩ“Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan phục vụ phát triển bền vững nông lâm nghiệp
và du lịch huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” Trên cơ sở phân tích mối quan hệ của ba hợp
phần sinh thái cảnh quan – quần xã sinh vật - cộng đồng dân cư và nghiên cứu diễn thế sinh thái của các CQ điển hình, luận án đã làm rõ chức năng đặc thù về phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp á nhiệt đới Từ đó, đánh giá cảnh quan theo hướng tiếp cận kinh tế sinh thái là căn cứ định hưởng sử dụng hợp lý tài nguyên Ở một số luận án khác, các tác
Trang 26giả cũng sử dụng cách tiếp cận đánh giá cảnh quan cho phát triển nông, lâm nghiệp, làm
cơ sở định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, như luận
án của Trương Thị Tư (2011) [42] hay Dương Thị Nguyên Hà (2013) [6],
(5) Hướng tiếp cận nghiên cứu cảnh quan phục vụ bảo tồn đa đạng sinh học:
Trong các công trình nghiên cứu về sự gắn kết giữa cảnh quan và bảo tồn đa dạng sinh học mà tác giả luận án đã được tiếp cận, thấy rằng, hầu hết các nghiên cứu liên quan tới đa dạng sinh học chủ yếu tập trung nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài, đa đạng nguồn gen Một số đề tài có đề cập tới các hợp phần của cảnh quan ảnh hưởng tới đa dạng sinh học, nhưng chưa cụ thể nghiên cứu đặc điểm cấu trúc, chức năng cảnh quan ảnh hưởng như thế nào đến bảo tồn và chưa có công trình đánh giá
cảnh quan nào phục vụ trực tiếp cho mục đích bảo tồn đa dạng sinh học
+ Cũng có một số ít đề tài đề cập tới tiếp cận cảnh quan trong bảo tồn ĐDSH
Roland Eve, với cuốn“Quy hoạch không gian để bảo tồn thiên nhiên ở KBT TN Vũ Quang: Một phương pháp tiếp cận STCQ” cho rằng, mọi hoạt động quản lý KBT đều phải bao gồm việc quản lý CQ ở cấp xã
+ Theo Nông Thế Diễn, trong cuốn “Tiếp cận sinh thái cảnh quan để bảo tồn
đa dạng sinh học ở Vườn quốc gia Ba Bể”, quản lý đơn vị cảnh quan là một trong năm
lớp hợp phần của quá trình lập kế hoạch của Dự án PARC Ở đây, đã mô tả chi tiết cách quản lý một đơn vị cảnh quan cụ thể như quản lý một cái hồ quan trọng cho ngành thủy sản và các loại chim nước hay một cái hang quan trọng đối với loại dơi và thu nhặt phân chim
1.1.3 Hệ thống phân loại cảnh quan được kế thừa trong luận án
Khi nghiên cứu cảnh quan cho một vùng, một nước hoặc một lãnh thổ nào đó, việc nghiên cứu xây dựng hệ thống phân loại là bước đi đầu tiên trong nghiên cứu cảnh quan Trên thế giới và ở Việt Nam, có rất nhiều tác giả đã đưa ra nhiều hệ thống phân loại cảnh quan khác nhau, với những dấu hiệu cho từng cấp phân vị khác nhau:
- N.A.Gvozdexki (1961) đưa ra hệ thống phân loại cảnh quan gồm 5 cấp phân
vị: Lớp ->Kiểu ->Phụ kiểu ->Nhóm -> Loại [18]
-Vũ Tự Lập (1976) đưa ra hệ thống phân loại cảnh quan gồm 8 cấp phân vị: Hệ
-> Lớp->Lớp phụ -> Nhóm -> Kiểu -> Chủng ->Loại -> Thứ [17]
- Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng & nnk (1997) đưa ra hệ thống phân
loại cảnh quan với 7 cấp phân vị: Hệ CQ -> Phụ hệ CQ-> Lớp CQ -> Phụ lớp CQ -> Kiểu CQ -> Phụ kiểu CQ -> Loại (nhóm loại) CQ [12]
Trang 27Đáng chú ý, Nhikolaev (1970) đưa ra hệ thống phân loại cảnh quan với10 cấp phân vị (Bảng 1.1)
Bảng 1.1: Hệ thống phân loại cảnh quan của Nhikolaev
Thống
Đới CQ
Kiểu tiếp xúc của các quyển địa lý trong cấu trúc của lớp vỏ cảnh quan
Hệ CQ Cân bằng nhiệt ẩm là biểu hiện của cơ sở năng lượng phân bố trong không
gian thông qua tính địa đới của các cảnh quan Phụ hệ CQ Tính địa ô của các đới làm phân phối lại nền tảng nhiệt ẩm của các đới Lớp CQ Cấu trúc hình thái của các đơn vị cấp lớn (đại địa hình) đã xác định kiểu
địa đới hay phi địa đới của lãnh thổ (địa đới theo vĩ độ và đai cao theo chiều cao)
Phụ lớp CQ Sự phân hoá tầng trong cấu trúc cảnh quan ở núi và đồng bằng và phân
hoá cường độ các quá trình địa lý tự nhiên
Kiểu CQ Các dấu hiệu sinh khí hậu – thổ nhưỡng ở cấp kiểu thổ nhưỡng và lớp
quần xã thực vật Phụ kiểu
CQ
Mang dấu hiệu của kiểu nhưng ở cấp phụ kiểu thổ nhưỡng và phụ lớp quần xã thực vật mang tính chất là các quần xã chuyển tiếp
Hạng CQ Các kiểu địa hình phát sinh
Loại CQ Sự giống nhau của các dạng ưu thế (tổ hợp thổ nhưỡng và cùng loại thảm
thực vật)
(Nguồn: [11,17])
Kế thừa quan điểm của Nhikolaev trong việc thiết kế hệ thống phân loại cảnh quan, Nguyễn Thành Long đã vận dụng linh hoạt và cụ thể hóa trong cuốn “Nghiên
cứu xây dựng bản đồ cảnh quan các tỷ lệ trên lãnh thổ Việt Nam”[18](Bảng 1.2)
Bảng 1.2: Hệ thống phân loại cảnh quan của Nguyễn Thành Long và nnk (1993)
(Theo Hệ thống phân loại của Nhicolaev)
Hệ cảnh quan Nền bức xạ chủ đạo quyết định tính đới Chế độ nhiệt ẩm quyết
định cường độ lớn của chu trình vật chất
Phụ hệ cảnh quan Chế độ hoàn lưu gió mùa quyết định phân bố lại nhiệt ẩm gây ảnh
hưởng lớn đến chu trình vật chất
Lớp cảnh quan Đặc điểm các khối địa hình lớn quy định tính đồng nhất của hai
quá trình lớn trong chu trình vật chất bóc mòn và tích tụ
Phụ lớp cảnh quan Sự phân tầng bên trong của lớp
Kiểu cảnh quan Đặc điểm sinh khí hậu (kiểu thảm thực vật phát sinh – kiểu thổ
nhưỡng)
Phụ kiểu cảnh quan Các đặc trưng cực đoan của khí hậu ảnh hưởng lớn tới các điều
kiện sinh thái Hạng cảnh quan Các kiểu địa hình phát sinh
Loại cảnh quan Sự giống nhau tương đối của các dạng địa lý của các thể cấu
thành cảnh quan (sự kết hợp của các quần xã thực vật phát sinh và hiện đại với loại đất)
Trang 28Các đơn vị cấu trúc hình thái Dạng địa lý
Nhóm dạng
(Nguồn: [18])
Khi xem xét những hệ thống phân loại cảnh quan mà các tác giả trong và ngoài nước đưa ra, chúng ta có thể thấy được sự khác biệt của các hệ thống phân loại, các cấp bậc, các chỉ tiêu phân cấp Vì thế, không phải bất cứ lúc nào tên gọi một cảnh quan
ở các hệ thống phân loại khác nhau cũng có thể đồng nghĩa với nhau
Trong nghiên cứu này, luận án đã kế thừa hệ thống phân loại cảnh quan của Nhikolaev
1.1.4 Tổng quan các công trình liên quan tới khu vực nghiên cứu
Trong những năm gần đây, đã có một số công trình, đề tài, dự án theo hướng nghiên cứu đánh giá tổng hợp, sử dụng hợp lý tài nguyên tại Nghệ An Đây là những
tư liệu quan trọng về lý luận và thực tiễn, tạo điều kiện cho việc định ra phương pháp
và nội dung nghiên cứu một cách phù hợp trong quá trình thực hiện luận án
Năm 2007, Viện Năng lượng đã thực hiện Dự án “Quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ tỉnh Nghệ An (Quy mô công suất: N lm 100 KW – 30,000 QW)”, nhằm mục đích
xác định tiềm năng thủy điện vừa và nhỏ trên những nhánh sông chính của 2 hệ thống sông lớn chảy qua tỉnh là sông Lam và sông Hiếu phục vụ cho việc khai thác và cung cấp năng lượng điện cho tỉnh Nghệ An và cả nước [21] Theo đó, 3 huyện Con Cuông, Tương Dương, và Kỳ Sơn cũng được xếp trong danh sách các huyện có tiềm năng thủy điện vừa và nhỏ Trong dự án này, các hợp phần về tự nhiên, môi sinh, môi trường đã được nghiên cứu, đánh giá, làm cơ sở cho việc lựa chọn một số công trình
để tiến hành khảo sát thực địa và tính toán, thiết kế công trình Đặc biệt, bộ dữ liệu các chỉ tiêu về khí hậu và môi trường nước đã được thu thập, thống kê một cách hệ thống
và đầy đủ như dữ liệu về lượng mưa, dòng chảy, lưu lượng nước
Năm 2010, trong khuôn khổ chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường của Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ
An, các tác giả thuộc Viện Địa lý đã hoàn thành đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp ngăn ngừa, hạn chế tác hại của lũ quét, lũ ống trên địa bàn tỉnh Nghệ An” Phạm vi nghiên cứu của đề tài này tập trung vào 10 huyện thuộc vùng đồi núi
Nghệ An, trong đó có 3 huyện Con Cuông, Tương Dương và Kỳ Sơn Đề tài đã đề xuất được các giải pháp ngăn ngừa và giảm thiểu thiệt hại lũ quét và lũ ống trên cơ sở điều tra, nghiên cứu,phân tích các nhân tố phát sinh và phát hiện vùng nguy cơ xảy ra
lũ quét, lũ ống Những kết quả của đề tài góp phần làm sáng tỏ nguồn gốc phát sinh,
Trang 29quá trình phát triển của lũ ống, lũ quét ở vùng nhiệt đới gió mùa Việt Nam, cụ thể là trên địa bàn tỉnh Nghệ An Đây là cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch, tổ chức lãnh thổ, đặc biệt công tác phòng chống, giảm nhẹ thiên tai và ứng cứu tai biến do hoạt động lũ ống, lũ quét gây ra [1]
Cũng vào năm 2010, các nhà nghiên cứu của Viện Địa lý đã hoàn thành Dự án:
“Đánh giá môi trường chiến lược phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020” Dự án đã đề xuất được những mục tiêu và giải pháp bảo vệ môi trường
phù hợp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường Các mục tiêu và các hoạt động phát triển được đề xuất trong dự án đáp ứng được những yêu cầu của phát triển bền vững, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường Những nghiên cứu, phân tích, đánh giá của dự án đối với các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường cũng như các tác động và biện pháp giảm thiểu tác động của chúng đã góp phần quan trọng vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh cũng như cung cấp tài liệu, tư liệu rất quý báu cho các nghiên cứu trên quan điểm tổng hợp [23]
Lãnh thổ Nghệ An phân hóa đa dạng về tự nhiên, tài nguyên và sinh thái theo không gian lãnh thổ từ miền núi, trung du đến đồng bằng ven biển; đồng thời cũng đa dạng về các loại hình phát triển kinh tế Vì thế, nơi đây được lựa chọn làm địa bàn
nghiên cứu cho nhiều luận văn, luận án tiến sĩ Năm 2001, Luận án tiến sĩ “Tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Nghệ An” được Lương Thị Thành Vinh bảo vệ thành công
tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội [51] Đây là bức tranh tổng quan về tình hình phát triển kinh tế trên toàn tỉnh qua việc đánh giá những nhân tố chính tác động đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An; phân tích hiện trạng một số hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp chính, đặc biệt chú trọng vào phân tích hiệu quả hoạt động của
hình thức khu công nghiệp Tiếp đó, năm 2012, Luận án “Đánh giá tổng hợp điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường phục vụ lập quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Nghệ An” của Hoàng Lưu Thu Thủy đã được bảo vệ thành công tại Viện Địa lý [35]
Đây là luận án theo hướng tiếp cận địa lý tự nhiên tổng hợp trên quan điểm sử dụng hợp lý tài nguyên Trên cơ sở đánh giá các thành phần tự nhiên, các yếu tố KT-XH và môi trường, bản đồ cảnh quan tỉnh Nghệ An tỷ lệ 1:100.000 được thành lập; qua đó tác giả đã nghiên cứu thành lập bản đồ phân vùng chức năng môi trường trên toàn tỉnh và
đề xuất hướng sử dụng các đơn vị lãnh thổ tự nhiên phục vụ công tác lập quy hoạch bảo vệ môi trường tại khu vực nghiên cứu [35] Năm 2016, Luận án Tiến sĩ Sinh học,
“Nghiên cứu tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch tại VQG Pù Mát, Nghệ An; nguyên nhân suy giảm và các giải pháp bảo tồn bền vững” của Nguyễn Thanh Nhàn
đã được bảo vệ thành công tại Đại học Vinh Đây là công trình rất hữu ích góp phần
Trang 30vào việc nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học trong khu vực VQG
Pù Mát nói riêng và khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An nói dung Luận án này đã thực hiện tốt việc điều tra, thống kê và đánh giá đầy đủ tính đa dạng, cũng như phát hiện thêm loài mới bổ sung của hệ thực vật bậc cao có mạch VQG Pù Mát trên toàn bộ diện tích do Vườn quản lý Thêm vào đó, đã phân tích được các nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học nói chung, đa dạng thực vật nói riêng ở VQG Pù Mát để từ đó
đề xuất được các giải pháp bảo tồn bền vững làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch hành động bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên tại VQG Pù Mát
Bên cạnh đó, các tài liệu nghiên cứu quan trọng cần được kể đến là nguồn báo cáo, số liệu của các Sở, Ban ngành được nghiên cứu, bổ sung, cập nhật hàng năm như: Báo cáo hiện trạng môi trường, báo cáo tình hình sử dụng đất, tình hình phát triển KT-
XH, quy hoạch các loại rừng,
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ An còn ít đề cập đến lý luận địa lý học và cảnh quan học làm cơ sở khoa học cho việc tổ chức lãnh thổ
và bảo vệ môi trường
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Cơ sở lý luận về cảnh quan
a Khái niệm cảnh quan
Từ sau thế chiến II, với sự phát triển mạnh mẽ trong việc nghiên cứu sự phân chia bề mặt Trái đất dẫn đến việc hình thành học thuyết về các quy luật phân hóa lãnh thổ lớp vỏ địa lý, cảnh quan đuợc xác định như một "đơn vị cơ sở dựa trên sự thống nhất các quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới" (A.G.lxatxenko, 1953)
Cùng với quá trình phát triển đó, nhận thức về cảnh quan của các tác giả cũng
có sự thay đổi, đánh dấu thời điểm phát triển của khoa học cảnh quan:
N.A Xolsev (1962) cho rằng: "Cảnh quan là một thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên đồng nhất về mặt phát sinh, có một nền địa chất đồng nhất, có một kiểu địa hình, có một kiểu khí hậu đồng nhất và bao gồm một tập hợp dạng địa lý, chủ yếu và thứ yếu liên kết với nhau về mặt động lực và lặp lại một cách có quy luật trong không gian; tập hợp này chỉ thuộc riêng cho cảnh quan địa lý đó" Với định nghĩa này, ông
đã xác định được cấu trúc không gian thẳng đứng của cảnh quan thông qua việc xác định các hợp phần địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn cũng như cấu trúc ngang của cấp cảnh địa lý như là một tập hợp có tính quy luật Tuy nhiên, ở đây vẫn còn một số điểm chưa rõ như tương quan với các hợp phần thuỷ văn, thổ nhưỡng, sinh vật ra sao? quan hệ giữa cấp cảnh địa lý với các cấp lớn hơn như thế nào? [17] Thực chất, khí hậu
Trang 31ở cấp một đơn vị cảnh quan thì bản thân nó đã quy định một chế độ thủy văn tương thích; đấy chính là khí hậu và thủy văn địa phương
Trong cuốn “Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên”, A.G
Ixatsenko lại cho rằng: “Cảnh quan là một phần riêng biệt về mặt phát sinh của một phần cảnh quan, một đới cảnh quan hay nói chung của một đơn vị phân vùng lớn bất
kỳ, đặc trưng bằng sự đồng nhất cả tương quan địa đới lẫn phi địa đới, có một cấu trúc riêng và một cấu tạo hình thái riêng” [16] Ông còn định nghĩa cảnh quan miền
núi là "là một bộ phận của tầng cảnh quan trong phạm vi một hệ thống đai cao riêng đồng nhất về phương diện cấu trúc và thạch học" [16] Tuy nhiên, theo NCS, cảnh quan không riêng biệt mà liên kết với đơn vị lân cận như một hệ thống có quy luật Chính vị trí địa lý khác nhau mà cấu trúc đứng khác nhau
Với những đóng góp vào việc nghiên cứu cảnh quan ở nước ta, tác giả Vũ Tự Lập được xem là người đầu tiên ở Việt Nam xác định cấu trúc không gian của cảnh quan, đưa ra những định hướng cơ bản nghiên cứu về cảnh quan ở nước ta Theo ông,
“Cảnh quan là một địa tổng thể, được phân hoá ra trong phạm vi một đới ở đồng bằng, và một đai cao ở miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng chỉnh hợp về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thuỷ văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng và đại tổ hợp thực vật, và bao gồm một tập hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất”[17]
b Quan niệm về cảnh quan
* Quan niệm cảnh quan là một khái niệm chung
Theo quan niệm này, cảnh quan đồng nghĩa với khái niệm các tổng hợp thể tự nhiên lãnh thổ, các địa tổng thể ở bất kỳ cấp nào và có thể sử dụng cho bất kỳ đơn vị phân loại hoặc đơn vị phân vùng địa lý tự nhiên nào Quan niệm này coi cảnh quan như những thành phần khác nhau như thổ nhưỡng, khí hậu Do đó, khi tiến hành nghiên cứu, đánh giá cảnh quan, nhất định phải xuất phát từ các quan điểm tổng hợp
và quan điểm hệ thống Tuy nhiên, cách sử dụng quan niệm cảnh quan này không cho thấy giới hạn về lãnh thổ, không có trật tự phân cấp logic của các cấp cảnh quan Đại diện cho quan điểm này có: Minkov, Armand, Prokaev…[42]
* Quan niệm cảnh quan là đơn vị kiểu loại: Đại diện cho quan niệm này là Polunov, Pereman, Gvozdexki
Quan niệm này cho rằng, cảnh quan phản ánh các khu vực tách biệt của lớp vỏ Địa lý có dấu hiệu chung Cảnh quan là sự phối hợp, thống nhất biện chứng của các hợp phần tự nhiên như một tổng hợp thể lãnh thổ tương đối đồng nhất
Trang 32Theo quan niệm này, cảnh quan được xem là một đơn vị phân loại trong hệ thống phân chia các đơn vị tổng thể tự nhiên, trong đó cảnh quan là đơn vị cơ sở mà khi nghiên cứu nó có tính đến cả tác động của con người Thông thường các cấp đơn
vị cảnh quan được sắp xếp theo trình tự từ thấp lên cao
Xuất phát từ các quan điểm trên đây, xuyên suốt quá trình nghiên cứu của luận
án là quan niệm cảnh quan mang tính kiểu loại bởi tính lặp lại trong không gian, đồng thời cũng mang tính cá thể bởi các khoanh vi khép kín và toàn vẹn lãnh thổ Thực tế,
về mặt khoa học dịa sinh và hệ thống học thì mỗi đơn vị cảnh quan chính là một hệ
sinh thái đúng nghĩa và hoàn chỉnh (Phạm Quang Anh, 1996) [3]
1.2.2 Nguyên tắc xây dựng bản đồ cảnh quan và bản đồ phần vùng cảnh quan
a Cơ sở thành lập bản đồ cảnh quan các huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ
b Nguyên tắc xây dựng bản đồ cảnh quan các huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An
Việc xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan và bản đồ cảnh quan khu vực nghiên cứu được tiến hành xuyên suốt tuân theo 3 nguyên tắc: Nguyên tắc đồng nhất tương đối, nguyên tắc phát sinh lịch sử và nguyên tắc tổng hợp
- Nguyên tắc đồng nhất tương đối: Là sự đồng nhất trong phát sinh, đồng nhất
về lịch sử phát triển, đồng nhất trong cấu trúc và chức năng của các đơn vị CQ Trên
cơ sở nguyên tắc này để giải thích về nguồn gốc các thành phần-yếu tố thành tạo CQ
Trang 33của lãnh thổ, nguồn gốc của các thể tổng hợp tự nhiên và mối quan hệ giữa chúng, qua
đó xác định những đặc trưng cơ bản về cấu trúc, chức năng nguyên sinh của CQ
Trong phân tích CQ, nguyên tắc đồng nhất tương đối có ý nghĩa quan trọng và được sử dụng để phân tích, làm rõ các đặc tính cấu trúc CQ, tức là xét xem CQ được cấu tạo như thế nào, giữa các thành phần cấu trúc đó có mối quan hệ ra sao, tại sao lại có cấu trúc đó và cấu trúc như vậy để làm gì, có chức năng như thế nào [12] Tính chất đồng nhất hay không đồng nhất, liên tục hay không liên tục thể hiện sự phân hóa của CQ; mỗi cấp đơn vị CQ lớn hơn phải bao gồm ít nhất hai đơn vị CQ ở cấp thấp hơn, ngược lại, nếu các đơn vị ở cấp thấp nếu có những đặc điểm tương đồng thì phải tổ hợp lại thành đơn vị ở cấp cao hơn Như vậy, những đơn vị CQ có các hợp phần cùng nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và hình thái tương đối đồng nhất thì được xếp vào cùng cấp phân loại mặc dù phân bố có thể ở xa nhau [13]
- Nguyên tắc phát sinh lịch sử: Trong quá trình phát sinh, phát triển của CQ
lãnh thổ, các yếu tố tự nhiên- nhân tố thành tạo CQ, luôn có sự biến đổi không ngừng dưới tác động của các quy luật tự nhiên và các tác động của con người Nó vừa có sự phân hóa theo những quy luật mang tính chất chung nhưng đồng thời lại có sự phân dị theo những đặc thù địa phương của nó và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình nhân tác Chính vì vậy, trong nghiên cứu CQ cần quan tâm đến tính thời gian, so sánh hiện trạng phát triển và dự báo những động lực phát triển CQ trong tương lai Đây là nguyên tắc có ý nghĩa hết sức quan trọng trong nghiên cứu CQ, nghiên cứu những phát sinh trong quá trình phát triển của CQ và đặc biệt cần thiết trong quá trình nghiên cứu, đánh giá để đề xuất các phương án sử dụng cho các mục đích thực tiễn Trong xây dựng hệ thống phân loại CQ, những đơn vị lãnh thổ có hình thái tương đối đồng nhất nhưng không có cùng nguồn gốc phát sinh thì sẽ phân hóa thành những đơn vị CQ khác nhau [11,12]
` - Nguyên tắc tổng hợp: Là nguyên tắc áp dụng trong nghiên cứu và phân tích,
tổng hợp các yếu tố tự nhiên thành tạo nên CQ nhằm xác định mối liên hệ giữa chúng
và xác định những nhân tố chủ đạo quyết định sự hình thành và phát triển, phân hóa
CQ ở các cấp Sử dụng nhân tố chủ đạo hay nhân tố trội là nhân tố bền vững nhất và thể hiện rõ nhất sự phân hóa, nhưng đồng thời phải đặt nó trong mối quan hệ tổng hợp với các yếu tố khác của hệ thống thành tạo CQ Đây là cơ sở để phân định ranh giới
CQ ở các cấp trong hệ thống phân loại CQ
Các nguyên tắc này có thể áp dụng riêng để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu mang tính độc lập, nhưng trong rất nhiều trường hợp, chúng thường được sử dụng một
Trang 34cách tổng hợp, hay nói cách khác, các nguyên tắc này luôn có mối liên quan chặt chẽ,
bổ sung cho nhau và gắn bó với nhau trong quá trình áp dụng để tiến hành nghiên cứu xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan các huyện biên giới Tây Nam tỉnh Nghệ An
1.2.3 Nguyên tắc phân vùng
a Nguyên tắc phát sinh hình thái
Những đơn vị cảnh quan có cùng nguồn gốc phát sinh và hình thái tương đối đồng nhất thì được xếp vào một cấp phân vùng cảnh quan Ngược lại, những đơn vị cảnh quan có cùng chung hình thái nhưng khác nhau về nguồn gốc phát sinh sẽ được xếp vào cấp phân vùng cảnh quan khác nhau Do đó, trước khi phân vùng cảnh quan, cần phân tích chi tiết quy luật phân hoá lãnh thổ tạo thành các đơn vị CQ các cấp, đồng thời xác định quá trình phát sinh, phát triển các đơn vị CQ cũng như so sánh với quá trình phát triển hiện tại của chúng
b Nguyên tắc đồng nhất tương đối: Những đơn vị cảnh quan có các hợp phần
có cùng nguồn gốc phát sinh, phát triển và hình thái tương đối đồng nhất được xếp vào cùng một cấp mặc dù chúng có thể phân bố xa nhau
Tính đồng nhất tương đối của tổng thể các thành phần tự nhiên là đặc điểm đặc thù của các đơn vị phân vùng địa lí tự nhiên, cho phép phân biệt các đơn vị phân vùng tổng hợp với các đơn vị phân vùng bộ phận Nguyên tắc này cho thấy, các vùng địa lí
tự nhiên vừa thống nhất lại vừa có sự phân hoá phức tạp: thống nhất trên cơ sở một số chỉ tiêu nhất định đặc trưng cho các mối quan hệ hữu cơ giữa các thành phần cấu tạo nên địa tổng thể, nhưng đồng thời vẫn có sự phân hoá nội bộ khiến cho mỗi đơn vị địa tổng thể lại có thể phân chia ra những địa tổng thể thấp hơn (theo cách tiến hành “từ trên xuống”) cũng như có thể ghép một số đơn vị nhỏ thành đơn vị lớn (theo cách tiến hành “từ dưới lên”)
c Nguyên tắc tổng hợp
Mỗi một đơn vị cảnh quan là một địa tổng thể tự nhiên, là phức hợp các hợp phần địa lý tự nhiên nằm trong mối tác động qua lại và tạo thành thể thống nhất hoàn chỉnh ở các bậc khác nhau từ lớp vỏ địa lý đến diện địa lý thông qua chu trình trao đổi vật chất và năng lượng Vì thế, trong phân vùng, luận án sử dụng nhân tố trội để xác định ranh giới các vùng/tiểu vùng CQ Trước khi tổng hợp các đơn vị cảnh quan thành đơn vị phân vùng, cần tìm ra được mối quan hệ qua lại mật thiết, gắn kết tất cả các thành phần, yếu tố đó lại với nhau, thống nhất chúng thành một thể tổng hợp lãnh thổ hoàn chỉnh
Trang 35d Nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ
Mỗi vùng cảnh quan có đặc tính toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất nội tại, được tạo nên bởi khái quát chung về vị trí địa lý và lịch sử phát triển, bởi sự thống nhất của các quá trình địa lý cũng như tập hợp các nhân tố thành tạo các cảnh quan
1.2.4 Cơ sở lý thuyết về đánh giá cảnh quan
a Bản chất của đánh giá cảnh quan: Xuất phát từ quan điểm cho rằng, cảnh
quan là một tổng hợp thể tự nhiên phức tạp với các cấp phân vị khác nhau, nên theo Nguyễn Cao Huần, bản chất của đánh giá cảnh quan chính là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên phục vụ cho mục đích cụ thể nào đó (nông nghiệp, thủy sản, du lịch,
tái định cư );
Trong nghiên cứu địa lý ứng dụng, đánh giá cảnh quan có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động phát triển kinh tế, giúp các nhà quản lý, quy hoạch đưa ra quyết sách phù hợp với từng đơn vị lãnh thổ cụ thể ĐGCQ là bước trung gian giữa nghiên cứu cơ bản (NCCB) và quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (SDHLTN và BVMT) [15]:
b Đánh giá kinh tế sinh thái các cảnh quan
Trong giai đoạn 1970, đánh giá cảnh quan đã được tiếp cận theo hướng kinh tế sinh thái trên cơ sở chú trọng việc xem xét tính thích nghi sinh thái (Mukhina, 1973), tính bền vững môi trường (Leopold, 1972; Hudson 1984), tính hiệu quả kinh tế
(Zvorưvkin K.B,1968) và tính bền vững xã hội [15] (Hình 1.1 và bảng 1.3)
Hình 1.1: Sơ đồ tổng quát các bước đánh giá kinh tế sinh thái các cảnh quan
(Nguồn: Nguyễn Cao Huần, 2002)[15]
Trang 36Bảng 1.3: Các phương pháp đánh giá kinh tế sinh thái cảnh quan
- Phân tích tài liệu, xác định mối quan hệ của chủ thể (các dạng sử dụng cảnh quan) với điều kiện sinh thái
- Mukhina L.I.1973
- Phương pháp ma trận tam giác
- Phân tích tương quan
sử dụng 1996
- Nguyễn Cao Huần,
1992
- Phương pháp chuyên gia
- Leopold, 1972
- Xác định mức độ thích nghi sinh thái các cảnh quan
- Phương pháp đánh giá thành phần
- Phương pháp đánh giá chung
+ Trung bình cộng, trung bình nhân các điểm thành phần + Tích hợp trung bình cộng và phân hóa điểm tốt xấu
- Xác định độ bền vững môi trường
- Phương pháp đánh giá tác động môi trường của hoạt động sử dụng cảnh quan
- Phương pháp đánh giá
độ bền vững môi trường của cảnh quan
Phương pháp điều tra
xã hội học
Đánh giá
tích hợp
- Xác định các loại hình sử dụng cảnh quan bền vững
- Phương pháp biểu đồ đánh giá
- Phương pháp phân tích tổng hợp
Miller G.P, 1974
(Nguồn:[15])
Trang 371.2.5 Đa dạng sinh học (ĐDSH) và bảo tồn đa dạng sinh học (BT ĐDSH)
1.2.5.1 Đa dạng sinh học
a Khái niệm về đa dạng sinh học:
- Theo Luật ĐDSH: “Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen , loài sinh vật và
hệ sinh thái trong tự nhiên”[43]
- Theo Công ước về ĐDSH thì “ĐDSH là sự khác biệt trong mọi cơ thể sống có trong các hệ sinh thái ở trên đất liền, ở biển, ở các thủy vực, bao gồm sự đa dạng trong loài, giữa các loài và các hệ sinh thái, cả nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể hay các bộ phận cơ thể, các chủng quần hay các hợp phần sinh học của toàn bộ các HST” Theo định nghĩa này thì ĐDSH biểu hiện ở mức độ phong phú của thiên
nhiên, là toàn bộ tài nguyên sinh học có trên trái đất, kể cả con người [4]
- Theo Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF,1990) thì “ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” Theo đó, ĐDSH được xét ở 3 mức độ:
- ĐDSH di truyền bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, giữa các quần thể sống cách ly nhau về mặt địa lý cũng như các cá thể cùng chung sống trong một quần thể
- ĐDSH ở cấp độ loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên Trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động vật, thực vật và các loài nấm
- ĐDSH ở cấp độ HST bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã - trong đó có các loài sinh sống, giữa các hệ sinh thái – nơi các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các môi trường sống gây nên sự tương tác giữa chúng
Theo “Kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam”, ĐDSH được định
nghĩa như sau: “ĐDSH là một số lượng những nguồn sống trên hành tinh và bao gồm toàn bộ cây và con Chúng đa dạng và thay đổi về muôn loài trên thế giới và thay đổi
hệ sinh thái chúng sống trong đó” [6] Sự thay đổi này tuân theo sự biến đổi của tổ
hợp các điều kiện địa lý tự nhiên và theo thời gian Định nghĩa này tuy đề cập tới mức
độ ĐDSH của sinh vật trên hành tinh, song chưa cụ thể khiến người đọc khó hình dung Mặt khác, định nghĩa này còn chưa đề cập đến mức đa dạng gen (di truyền), chỉ
đề cập đến tính đa dạng của hệ động vật, thực vật mà chưa đề cập đến các sinh vật khác như vi sinh vật, tảo, nấm [43]
Năm 1997, trong cuốn “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh học”, Nguyễn
Nghĩa Thìn cũng đã đưa ra định nghĩa về ĐDSH: “ĐDSH là toàn bộ các dạng sống khác nhau của cơ thể sống trên Trái đất bao gồm các sinh vật phân cắt đến động, thực
Trang 38vật ở trên cạn cũng như ở dưới nước, từ mức độ phân từ AND đến các quần thể sinh vật kể cả xã hội loài người Khoa học nghiên cứu về tính da đạng đó gọi là ĐDSH”
ĐDSH ở đây được hiểu theo 3 khía cạnh:
+ Đa dạng ở mức độ di truyền (Đa dạng về nguồn Gen): Sự tăng hàm lượng
AND trong các tế bào trong quá trình tiến hóa của sinh vật từ thấp đến cao
+ Da dạng ở mức độ loài: Loài gồm các nhóm cá thể khác biệt với nhau về mặt
sinh học và sinh thái Các cá thể trong loài có vật chất di truyền tương tự nhau và có khả năng trao đổi thông tin di truyền (giao phối, giao phấn) với nhau và cho ra các thế
hệ con cái hữu thụ (có khả năng sinh sản tiếp tục) Điều này cũng có nghĩa là, các cá thể trong loài chứa toàn bộ thông tin di truyền của loài Do đó, tính đa dạng loài hoàn toàn bao trùm tính đa dạng di truyền và thường được coi trọng nhất khi đề cập đến tính ĐDSH
+ Đa dạng ở mức độ hệ sinh thái: Đó là sự khác nhau của các kiểu quần xã sinh
vật tạo nên hệ sinh thái trên các điều kiện của đơn vị địa lý khác nhau
Từ 3 góc độ này, người ta có thể tiếp cận với ĐDSH ở 3 mức độ khác nhau: mức độ phân tử (gen), mức độ cơ thể, quần thể, quần xã và mức độ HST Như vậy ĐDSH bao gồm sự phong phú của tất cả thế giới sinh vật ở tất cả các dạng, các bậc phân loại, các mức độ và sự tổ hợp của chúng Đó không chỉ là tổng số các loài, các vật chất di truyền, các quần xã mà còn bao gồm tất cả các mối quan hệ phức tạp trong chúng, giữa chúng với nhau, với môi trường và với xã hội loài người [19]
b Các thành phần của ĐDSH
*Hệ sinh thái:
- Khái niệm: Theo E.P.Odum (công bố năm 1978), “Đơn vị bất kỳ nào bao gồm tất cả các sinh vật (có nghĩa là „quần xã‟) của một khu vực nhất định đều tác động qua lại với môi trường vật lý bằng các dòng năng lượng tạo nên cấu trúc dinh dưỡng xác định, sự đa dạng về loài và chu trình tuần hoàn vật chất (tức là trao đổi vật chất giữa các phần tử hữu sinh và vô sinh) trong mạng lưới được gọi là hệ thống sinh thái, hoặc
hệ sinh thái”[24]
Theo khái niệm trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng mỗi đơn vị cảnh quan cũng chính là một hệ sinh thái hoàn chỉnh nhất
Xuất phát từ quan điểm của quan hệ dinh dưỡng, quần xã sinh vật (chỉ có sinh
vật) được chia ra hai thành phần:1.Thành phần tự dưỡng (thực vật), với đặc tính đặc
trưng là hấp thụ năng lượng ánh sáng mặt trời và sử dụng các chất vô cơ đơn giản để
tạo nên các chất hữu cơ phức tạp hơn; 2.Thành phần dị dưỡng (động vật), sử dụng,
sắp xếp lại và phân hủy các chất hữu cơ phức tạp
Trang 39Trong cấu trúc của hệ sinh thái, có thể phân chia thành các thành phần như sau:
1 Các chất vô cơ: (C, N, CO2, H2O, ): tham gia vào chu trình tuần hoàn vật chất;
2 Các chất hữu cơ (ptotein, gluxit, lipid, các chất mùn, ): liên kết các phần
hữu sinh và vô sinh;
3 Chế độ khí hậu (nhiệt độ và các yếu tố vật lý khác);
4 Sinh vật sản xuất: Sinh vật tự dưỡng, chủ yếu là cây xanh có khả năng tạo
chất hữu cơ từ những chất vô cơ đơn giản;
5 Sinh vật tiêu thụ: Sinh vật dị dưỡng, chủ yếu là động vật ăn các sinh vật khác
hoặc các phần tử chất hữu cơ;
6 Sinh vật phân hủy: Sinh vật dị dưỡng chủ yếu là vi khuẩn, nấm phân hủy các
hợp chất phức tạp từ sinh vật chết, hấp thụ một số sản phẩm phân hủy và giải phóng những chất vô cơ thích hợp cho việc sử dụng của sinh vật sản xuất, cũng như giải phóng các chất vô cơ là nguồn năng lượng, là chất ức chế hoặc kích thích đối với thành phần sinh học khác của hệ sinh thái
Trong các thành phần này, ba nhóm đầu là thành phần không sống, còn lại ba nhóm sau cấu tạo nên sinh khối (khối lượng của sinh vật sống)
Hệ sinh thái là đơn vị chức năng cơ bản của sinh thái học, bởi vì nó bao gồm cả sinh vật (quần xã sinh vật) và môi trường vô sinh Trong đó, mỗi một phần này lại ảnh hưởng đến phần khác và đều giữ vai trò cần thiết để duy trì sự sống [24]
Dựa vào vị trí, vai trò, chức năng và yêu cầu kinh tế xã hội và môi trường, có thể chia ra 4 nhóm chức năng của HST [4]:
+ HST làm nơi cư trú
+ HST làm chức năng sản xuất
+HST cần được bảo tồn
+ HST phục vụ cho nghĩ ngơi, giải trí, văn hóa xã hội
Do các hệ sinh thái là đơn vị cảnh quan hoàn chỉnh nên việc nghiên cứu nó chính là sinh thái học cảnh quan
* Đa dạng về gen (còn gọi là đa dạng di truyền): Mỗi cá thể trong loài đều có
một bộ gen di truyền, quyết định khả năng di truyền cho thế hệ sau Trong đó, phần lớn các gen được di truyền từ thế hệ trước, còn lại là những gen mới, đột biến sinh ra trong quá trình sinh sản hữu tính Chính vì điều này mà so với đa dạng loài thì đa dạng
về gen lớn hơn rất nhiều Trong tự nhiên, sự đa dạng về gen là điều kiện cơ bản góp phần rất lớn trong việc tuyển chọn, lai tạo các giống, loài cây trồng và vật nuôi có năng suất cao, có tính chống chịu với điều kiện bất lợi của môi trường
Trang 40* Đa dạng loài là tính đa dạng thành phần loài sinh vật ở một khu vực nhất
định
Ngoài 3 mức độ về ĐDSH kể trên, người ta còn nhắc tới sự đa dạng về sử dụng, có nghĩa là việc sử dụng sinh vật và HST vào các mục đích khác nhau như cung cấp nguyên liệu cho sản xuất lương thực, thực phẩm, dược liệu, cung cấp đối tượng du lịch [4]
c Vai trò của ĐDSH đối với sự phát triển KTXH và Môi trường
- Tầm quan trọng của đa dạng sinh học của một vùng lãnh thổ:
1 Hệ thống các loài đã thích hợp với đơn vị lãnh thổ mà chúng đang sống và phát triển qua quá trình chọn lọc tự nhiên
2 Khi đã được chọn lọc tồn tại trên một đơn vị lãnh thổ nhất định, bản thân các loài đã tương tác với nhau tạo nên một chuỗi thức ăn và mạng lưới thức ăn đặc thù của đơn vị cảnh quan đó Chính điều này đã tạo ra sự bền vững cho quần thể và quần xã sinh vật
3 Chính lưới thức ăn và chuỗi thức ăn gắn với môi trường địa lý cụ thể trên một vị trí nhất định đã tạo ra cân bằng sinh thái cho hệ sinh thái và cảnh quan của từng vùng khác nhau
4 Khi phá vỡ một trong nhiều mắt xích của chuỗi thức ăn và mạng lưới thức ăn
sẽ gây tổn hại cho cân bằng sinh thái của vùng lãnh thổ
5 Vì vậy, bảo vệ ĐDSH là bảo đảm cho sự phát triển lâu bền của bất kỳ lãnh thổ nào có con người hoạt động kinh tế và sinh sống
- ĐDSH là nguồn cung cấp trực tiếp phúc lợi cho xã hội như lương thực, thực
phẩm, thuốc men, vật liệu xây dựng, năng lượng Có khoảng 100 loài cây cung cấp phần lớn lượng thức ăn cho Toàn cầu và có hơn 10 000 cây khác, nhất là ở vùng nhiệt đới, có thể dùng làm thực phẩm nếu chúng ta biết sử dụng chúng tốt hơn [4]; Cung cấp các sản phẩm từ rừng: gỗ, lâm sản ngoài gỗ Hàng năm có tới khoảng 1,3 – 1,4 triệu m3
gỗ được khai thác; 100.000 tấn tre nứa được khai thác làm nguyên liệu giấy; 2.300 loài thực vật và một số loài động vật hoang dại được khai thác làm dược liệu, thức ăn cho người và gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp và thủ công nghiệp [6]
Cũng vì vậy, ĐDSH là một nhân tố quan trọng trong chiến lược an ninh lương thực và xóa đói giảm nghèo ở nước ta thông qua vai trò đặc biệt của nó trong lĩnh vực Công nghệ sinh học, trong ứng dụng thực tiễn, trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, y tế và du lịch
Giá trị gián tiếp: Các dịch vụ sinh thái hay giá trị mà đa dạng sinh học cung
cấp cho xã hội: dịch vụ điều chỉnh (regulations), dịch vụ văn hóa (culture) Điều này