Bệnh viện K cơ sở 1 Quán Sứ là một trong những cơ sở tập trung nhiều bệnh nhân ung thư từ nhiều tỉnh thành đến điều trị tại đây, để thấy rõ được việc tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
QUẢN ĐỨC DOANH
TIếP CậN DịCH Vụ KHÁM CHữA BệNH CủA
BệNH NHÂN NộI TRÚ HIệN NAY TạI BệNH VIệN K CƠ Sở 1
QUÁN Sứ – HÀ NộI
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Chuyên ngành: Xã hội học
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
QUẢN ĐỨC DOANH
TIếP CậN DịCH Vụ KHÁM CHữA BệNH CủA
BệNH NHÂN NộI TRÚ HIệN NAY TạI BệNH VIệN K CƠ Sở 1
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn với đề tài: “Tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân nội trú hiện nay tại bệnh viện K cơ sở 1 Quán Sứ - Hà Nội” là công trình
nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được công bố Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn được ghi rõ ràng nguồn gốc
Học viên
Quản Đức Doanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sỹ của tôi được hoàn thành nhờ vào sự nỗ lực của bản thân, sự giúp đỡ của thầy cô, sự động viên gia đình và bạn bè
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
Các thầy cô giáo Khoa Xã hội học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền đạt cho tôi có những tri thức để thực hiện
đề tài này
PGS.TS Trịnh Văn Tùng là người trực tiếp hướng dẫn tôi ngay từ lúc ban đầu cũng như trong suốt quá trình thu thập thông tin và hoàn thiện báo cáo nghiên cứu này
Đặc biệt, tôi xin cám ơn Quý lãnh đạo, đội ngũ y bác sĩ, nhân viên bệnh viện, bệnh nhân đang điều trị nội trú tại bệnh viện K cơ sở 1 Quán Sứ - Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu nhập thông tin
Gia đình và bạn bè cùng lớp cao học Xã hội học khoá 2014-2016 đã có nhiều động viên, góp ý chân thành cũng như những thông tin quý giá trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Người thực hiện
Học viên Quản Đức Doanh
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa nghiên cứu 2
3 Tổng quan nghiên cứu 3
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 11
6 Phương pháp nghiên cứu 11
7 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 15
8 Khung phân tích 16
PHẦN NỘI DUNG 17
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẬN DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU VỀ TIẾP CẬN DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH CỦA BỆNH NHÂN NỘI TRÚ VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 17
1.1 Khái niệm công cụ 17
1.1.1 Khám bệnh, chữa bệnh 17
1.1.2 Dịch vụ khám chữa bệnh 18
1.1.3 Bệnh nhân nội trú 19
1.1.4 Tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh 20
1.2 Lý thuyết áp dụng 23
1.2.1 Lý thuyết lựa chọn hợp lý của George Homans 23
1.2.2 Lý thuyết nhu cầu của Maslow 25
1.2.3 Lý thuyết hành động xã hội 27
1.3 Chính sách cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong bệnh viện công ở Việt Nam hiện nay 29
1.3.1 Chính sách cung ứng dịch vụ y tế lấy con người là trung tâm 30
1.3.2 Chính sách Bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ 30
2.2.3 Chính sách cung ứng dịch vụ toàn diện, ưu tiên phòng chống và kiểm soát BKLN 30
Trang 71.3.4 Chăm sóc lồng ghép, liên tục 31
1.3.5 Bảo đảm chất lượng dịch vụ 31
1.3.6 Sự tham gia của cộng đồng và phối hợp liên ngành 31
1.3.7 Mạng lưới cung ứng dịch vụ y tế được quản lý, hướng dẫn chuyên môn, giám sát thực hiện tốt 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH CỦA BỆNH NHÂN NỘI TRÚ TẠI VIỆN K CƠ SỞ 1 35
2.1 Đặc trưng nhân khẩu xã hội của bệnh nhân nội trú tại bệnh viện K1 35
2.2 Thực tế tổ chức thực hiện việc cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện K1 39
2.2.1 Thực trạng cung cấp dịch vụ hành chính tại bệnh viện K1 40
2.2.2 Thực trạng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại các khoa của bệnh viện 46
2.2.3 Thực trạng cung cấp dịch vụ kỹ thuật Y 59
2.2.4 Thực trạng cung cấp dịch vụ thuốc 66
2.3 Mức độ hài lòng của bệnh nhân nội trú đối với các dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh tại bệnh viện K1 70
2.3.1 Mức độ hài lòng về dịch vụ hành chính 70
2.3.2 Mức độ hài lòng về dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện K1 73
2.3.3 Mức độ hài lòng về dịch vụ kỹ thuật Y tại bệnh viện K1 77
2.3.4 Mức độ hài lòng về dịch vụ thuốc tại bệnh viện K1 79
2.4 Mức độ cần thiết phải cải thiện các dịch vụ cho bệnh nhân nội trú tại bệnh viện K1 81
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN K CƠ SỞ 1 86
3.1 Các yếu tố về nhân khẩu xã hội của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân 86
3.2 Các yếu tố về quan hệ xã hội 89
3.2.1 Mức độ ảnh hưởng của quan hệ thân quen trong bệnh viện 89
3.2.2 Tạo dựng mối quan hệ đối với đội ngũ y, bác sĩ tại bệnh viện 90
3.2.3 Ảnh hưởng của việc sử dụng “phong bì” bồi dưỡng y, bác sĩ đối với việc tiếp cận các dịch vụ y tế 91
Trang 83.2.4 Mức vượt chi của bệnh nhân nội trú khi khám, chữa bệnh tại bệnh viện K1 94
3.3 Một số yếu tố liên quan tới việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế 95
3.3.1 Ảnh hưởng của việc sử dụng thẻ BHYT tới việc tiếp cận các dịch vụ y tế tại bệnh viện K1 95
3.3.2 Mức độ sử dụng thẻ bảo hiểm y tế 97
3.4 Ảnh hưởng của việc tổ chức thực hiện tới khả năng tiếp cận các dịch vụ khám, chữa bệnh của người dân 999
Tiểu kết chương 3 101
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Trình độ học vấn của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân 36
Bảng 2.2 Nghề nghiệp của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân 37
Bảng 2.3 Thu nhập trung bình tháng của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân 38
Bảng 2.4 Khoảng cách từ nhà bệnh nhân đến bệnh viện K1 38
Bảng 2.5 Lý do khiến người bệnh điều trị tại bệnh viện K1 39
Bảng 2.6 Nguồn tiếp nhận thông tin từ bệnh nhân/người nhà bệnh nhân về quy trình thủ tục hành chính tại bệnh viện K1 44
Bảng 2.7 Tương quan về giới tính của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân với mức độ phù hợp về thời gian khám chữa bệnh của bác sĩ, y tá tại các khoa 49
Bảng 2.8 Tương quan về địa bàn cư trú của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân với mức độ phù hợp về thời gian khám chữa bệnh của bác sĩ, y tá tại các khoa 50
Bảng 2.9 Tương quan về giới tính của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân với đánh giá về việc thực hiện các quy trình khám chữa bệnh 51
Bảng 2.10 Tương quan về địa bàn cư trú của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân với đánh giá về việc thực hiện các quy trình khám chữa bênh 52
Bảng 2.11 Tương quan về giới tính của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân với đánh giá về việc trao đổi thông tin tình hình sức khỏe với bác sĩ, y tá 53
Bảng 2.12 Đánh giá của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân về biểu hiện ứng xử của bác sĩ, y tá tại bệnh viện 56
Bảng 2.13 Tương quan về giới tính của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân với đánh giá về thời gian chờ sử dụng các dịch vụ kỹ thuật y 61
Bảng 2.14 Tương quan về địa bàn cư trú của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân với đánh giá về thời gian chờ sử dụng các dịch vụ kỹ thuật y 62
Bảng 2.15 Tương quan về giới tính của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân với những khó khăn khi sử dụng dịch vụ kỹ thuật y do chi phí cao 63
Bảng 2.16 Tương quan về địa bàn cư trú của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân với những khó khăn khi sử dụng dịch vụ kỹ thuật y do chi phí cao 64
Bảng 2.17 Đánh giá của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân về mức độ đầy đủ của dịch vụ thuốc trong bệnh viện 68
Trang 10Bảng 2.18 Đánh giá của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân về những khó khăn bệnh nhân gặp phải khi tiếp cận dịch vụ thuốc của bệnh viện K1 69 Bảng 2.19 Tương quan về giới tính của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân với mức
độ hài lòng về dịch vụ hành chính tại bệnh viện K1 70 Bảng 2.20 Tương quan về địa bàn cư trú của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân với mức độ hài lòng về dịch vụ hành chính tại bệnh viện K1 72 Bảng 2.21 Mong đợi của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân về cải thiện
dịch vụ hành chính tại bệnh viện K1 73 Bảng 2.22 Tương quan về giới tính của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân với mức
độ hài lòng về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện K1 74 Bảng 2.23 Tương quan về nơi sống của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân với đánh giá của họ về chất lượng phục vụ của bác sĩ, y tá tại bệnh viện K1 76 Bảng 2.24 Tương quan về giới tính với mức độ hài lòng của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân về dịch vụ kỹ thuật y tại bệnh viện K1 78 Bảng 2.25 Đánh giá của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân về chất lượng
dịch vụ kỹ thuật y tại bệnh viện K1 79 Bảng 2.26 Tương quan về giới tính với mức độ hài lòng của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân về dịch vụ thuốc tại bệnh viện K1 80 Bảng 2.27 Đánh giá của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân về mức độ
cần thiết phải cải thiện các dịch vụ tại bệnh viện 81 Bảng 3.1 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nhân khẩu xã hội đến khả năng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân 87 Bảng 3.2 Mức chi bồi dưỡng của bệnh nhân nội trú cho nhân viên y tế tại bệnh viện K1 93 Bảng 3.3 Ảnh hưởng của việc sử dụng thẻ BHYT trong tiếp cận dịch vụ y tế 96 Bảng 3.4 Đánh giá của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân về mức độ quan trọng của các khâu trong công tác tổ chức thực hiện khám chữa bệnh tại bệnh viện K1 99
Trang 11DANH MỤC BIỂU
Biểu 2.1 Đánh giá của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân về thời gian làm thủ tục
hành chính khi khám chữa bệnh tại bệnh viện K1 42
Biểu 2.2 Đánh giá của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân về quy trình thực hiện các thủ tục hành chính tại bệnh viện K1 43
Biểu 2.2 Đánh giá của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân về tiếp cận thông tin về các dịch vụ khám, chữa bệnh tại bệnh viện 45
Biểu 2.3 Tương quan giữa độ tuổi của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân với đánh giá về việc trao đổi thông tin tình hình sức khỏe với bác sĩ, y tá trực tiếp điều trị 54
Biểu 2.5 Đánh giá của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân theo thứ tự ưu tiên mức độ giảm dần các chi phí trong quá trình điều trị tại bệnh viện K1 57
Biểu 2.6 Đánh giá của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân về mức độ khó khăn do các chi phí trong quá trình điều trị 58
Biểu 2.7 Mức độ sẵn sàng chi trả để được sử dụng các thiết bị, kỹ thuật y hiện đại 65
Biểu 2.8 Tương quan giữa độ tuổi với mức độ hài lòng của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân về dịch vụ hành chính tại bệnh viện K1 71
Biểu 2.9 Tương quan giữa độ tuổi của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân với đánh giá của họ về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh 75
Biểu 2.10 Mức độ hài lòng của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân đối với bác sĩ, y tá sĩ trực tiếp điều trị tại bệnh viện K1 77
Biểu 3.1 Mức độ ảnh hưởng của mối quan hệ hệ thân quen trong bệnh viện đến khả năng tiếp cận các dịch vụ khám, chữa bệnh tại bệnh viện 89
Biểu 3.2 Mức độ cần thiết trong tạo dựng mối quan hệ với đội ngũ y, bác sĩ tại bệnh viện 90
Biểu 3.3 Ảnh hưởng của việc sử dụng phong bì bồi dưỡng y, bác sĩ trong việc tiếp cận các dịch vụ khám, chữa bệnh 92
Biểu 3.4 Lý do chi bồi dưỡng của bệnh nhân nội trú tại bệnh viện K1 94
Biểu 3.5 Mức độ vượt chi trong điều trị tại bệnh viện K1 95
Biểu 3.6 Lý do bệnh nhân/người nhà bệnh nhân sử dụng thẻ BHYT 98
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm trở lại đây, song song với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, thì mạng lưới dịch vụ y tế đã được mở rộng, và xã hội hóa, đặc biệt chất lượng của đội ngũ y bác sĩ cũng như số lượng giường bệnh đang được cải thiện rõ rệt
Thực tế hiện nay hệ thống cung cấp dịch vụ y tế đang quá tải, gây nhiều khó khăn cho người bệnh, trước thực tế này, ngày 21/8/2012 Bộ Y tế đã họp bàn về đề
án quy hoạch phát triển hệ thống y tế Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 Mục tiêu quan trọng của đề án là hướng tới đáp ứng đủ nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của người dân Đặc biệt, trong thời gian qua đã có nhiều chính sách, giải pháp hỗ trợ cho người nghèo, người dân ở vùng khó khăn, vùng dân tộc ít người Tuy nhiên, sự tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh của các đối tượng này vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế [36]
Từ khi các bệnh viện thực hiện Nghị định số 141/2016/NĐ-CP, quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công, thì việc phải nâng cao chất lượng dịch vụ của các cơ sở y tế là một đòi hỏi cấp thiết Trong những năm gần đây, sự đa dạng hoá các hình thức chăm sóc sức khoẻ (nhà nước, dân lập và tư nhân) nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chăm sóc sức khoẻ nhân dân Chính sự đa dạng hoá các hình thức chăm sóc sức khoẻ đã tạo ra thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực y tế Do vậy, đã bắt buộc các cơ sở khám chữa bệnh công lập phải nâng cao chất lượng về mặt dịch vụ bao gồm cơ sở vật chất, trang thiết bị, môi trường, nguồn nhân lực và đặc biệt là mối quan hệ ứng xử giữa cán bộ y tế với bệnh nhân Với mục tiêu lấy người bệnh là trọng tâm, là khách hàng trên cơ sở đó mọi hoạt động của bệnh viện đều nhằm mang lại chất lượng điều trị,
sự tiện nghi, thoải mái và làm hài lòng người bệnh [37]
Bệnh viện K1 là cơ sở chuyên khoa đầu ngành của cả nước về phòng chống ung thư, là nơi cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh thuộc chuyên khoa ung bướu chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của nhân dân trên phạm vi cả nước Đây là bệnh viện có hệ thống máy móc trang thiết bị phục vụ cho công tác chuẩn đoán và điều
Trang 13trị ung thư vào loại hiện đại nhất trong cả nước, đặc biệt có ưu thế trong chuẩn đoán
mô bệnh học ung thư - phương pháp chuẩn đoán quan trọng nhất trong ung thư và
có đủ mọi phương tiện và thiết bị thực hiện trọn gói các phác đồ điều trị đa mô thức của hầu hết các loại ung thư
Bệnh viện K cơ sở 1 Quán Sứ là một trong những cơ sở tập trung nhiều bệnh nhân ung thư từ nhiều tỉnh thành đến điều trị tại đây, để thấy rõ được việc tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân nội trú tại bệnh viện K1 đang ở mức độ
nào, tôi nghiên cứu đề tài: “Tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân nội
trú hiện nay tại bệnh viện K cơ sở 1 Quán Sứ – Hà Nội” Với mục đích là tìm hiểu
mức độ tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân nội trú, đồng thời cũng lý giải một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân
2 Ý nghĩa nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của đề tài không những giúp đưa ra những luận điểm bổ sung cho các lý thuyết Xã hội học mà còn nhằm làm rõ những phát hiện bằng những nghiên cứu thực nghiệm
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Với kết quả nghiên cứu về việc tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân nội trú, sẽ làm sáng rõ khả năng tiếp cận dịch vụ, cũng như các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận của bệnh nhân
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm cơ sở thực tiễn giúp cho các nhà hoạch định chính sách, quản lý có cái nhìn xác thực hơn, từ đó có thể đưa ra những
Trang 14chính sách phù hợp để giải quyết các vấn về tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh cho bệnh nhân
3 Tổng quan nghiên cứu
Nguyễn Đức Truyến (2000), “Quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân với tác động
của những yếu tố kinh tế xã hội”, tạp chí Xã hội học (2/2000) Bài viết đã giải thích
và phân tích về mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân, đồng thời cũng chỉ rõ các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới mối quan hệ này bao gồm tôn giáo, văn hóa, xã hội…vv Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa làm rõ được yếu tố thuộc về nhân khẩu học, chính sách y tế có tác động như thế nào tới mối quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân Mặt khác, bài viết chưa phân tích sâu cơ hội tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân, mới chỉ nêu ra được giải pháp tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế cho người dân bằng việc tăng cường chế độ phúc lợi cho người nghèo trong dịch vụ y tế thay vì hạ giá các dịch vụ y tế Trên cơ sở này, luận văn của tác giả sẽ làm rõ và cụ thể hơn về khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người bệnh hiện nay [20]
Nguyễn Quý Thanh (2001), “Những tác động xã hội của viện phí không
chính thức”, Tạp chí Xã hội học (3/2001) Dựa trên kết quả nghiên cứu “Tác động
của viện phí và bảo hiểm y tế tới sự công bằng về tài chính, tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế”, tác giả đã có những giải thích và phân tích về thực trạng của viện phí không chính thức như thế nào? Những tác động của nó tới khả năng sử dụng các dịch vụ y tế ra sao cũng như tới hoàn cảnh kinh tế của chính người bệnh, gia đình
họ thế nào? Bài viết đã đưa ra các kết luận xác đáng cho mức viện phí chính thức và phi chính thức, hơn nữa tác giả còn cho biết hình thức chi phí bồi dưỡng cho đội ngũ nhân viên y tế rất phổ biến, các chi phí cơ hội hội càng lớn càng làm người bệnh không thể tiếp cận được các dịch vụ y tế Kế thừa những luận điểm phân tích nêu trên, với tác giả luận văn sẽ phân tích cụ thể hơn các yếu tố tác động khiến cho người bệnh ít có cơ hội tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh [24]
Trịnh Hòa Bình, Đào Thanh Trường (2004), “Vấn đề công bằng và khả năng
cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các bệnh viện tư hiện nay”, Tạp chí Xã hội học (2/2004) Bài viết được dựa trên một số kết quả của dự án nghiên cứu: “Bài
toán công bằng và hiệu quả trong vấn đề tài chính của bệnh viện tư ở Việt Nam hiện
Trang 15nay” được thực hiện bởi phòng Xã hội học sức khỏe, Viện Xã hội học để đề cập tới một số khía cạnh quan trọng xung quanh vấn đề cung cấp các dịch vụ Chăm sóc sức khỏe của hệ thống bệnh viện tư ở Việt Nam hiện nay Đặc biệt, bài viết đề cập tới một số đặc điểm và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các bệnh viện tư hiện nay Việc ra đời ngày càng nhiều của bệnh viện tư hiện nay đã gia tăng thêm cơ hội cho người dân tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Mặt khác, các nguồn lực
từ cộng đồng sẽ được huy động thêm cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân Mặc dù, bài viết đã chỉ ra được tình hình khám chữa bệnh, cơ hội tiếp cận, mức độ hài lòng của người bệnh, song vẫn dừng ở mức độ mô tả tổng quát chung về khả năng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh, chưa phân tích cụ thể tình hình khám chữa bệnh, khả năng tiếp cận của người bệnh như thế nào [30]
Nguyễn Đình Tấn, (2014), “Một số yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận
dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người nghèo ở nước ta hiện nay”, tạp chí nghiên cứu con người Với mục đích nâng cao được tuổi thọ để hướng tới mục tiêu phát triển
bền vững con người, cho nên việc nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, tác giả bài viết đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người nghèo Những yếu tố mà tác giả đã chỉ ra được như: chi phí khám chữa bệnh cao; khoảng cách địa lý đến cơ sở y tế; phân bố cơ sở và cán bộ y tế; nhận thức của người dân Mặc dù, đã chỉ ra được các yếu tố tác động trực tiếp tới cơ hội tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh cho người nghèo, song vẫn còn thiếu nhiều yếu tố khác Chính vì vậy, luận văn này tác giả sẽ phân tích thêm một số yếu tố tác động khác ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận dịch vụ
y tế như về nhân khẩu học, quan hệ xã hội hay chính sách [18]
Đặng Kim Khánh Ly (2016), “Quan hệ xã hội trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân tại bệnh viện công hiện nay (Nghiên cứu trường hợp một bệnh viện công Hà Nội)”, Luận án Tiến sĩ Xã hội học, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được mối liên hệ giữa các đặc điểm của mối quan hệ xã hội giữa người cung cấp dịch vụ và người hưởng thụ dịch vụ đến sự hài lòng của người bệnh trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc Bên cạnh đó, luận án cũng đã nhận diện được những quan hệ xã hội cơ bản giữa người
cung cấp và người sử dụng dịch vụ [10]
Trang 16Tiếp cận các loại hình dịch vụ y tế của người dân trong điều trị, khám chữa bệnh tại bệnh viện
Tác giả Ông Thị Mai Thương (2017), trong nghiên cứu “Tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của công nhân nhập cư tại khu công nghiệp” đã chỉ ra khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của công nhân làm việc trong khu công nghiệp Kết quả chỉ ra rằng, công nhân muốn được sử dụng dịch vụ tốt, vì vậy họ có xu hướng tìm đến địa điểm thuận lợi nhất có thể, cụ thể là: Có 92,3% số người được hỏi muốn được sử dụng dịch vụ y tế gần nhà, 97,4% khi bị bệnh sẽ đi tới phòng khám tư nhân Về việc sử dụng thẻ BHYT, có 99% số người được hỏi có thẻ BHYT nhưng chỉ có 23,8% số người sử dụng để đi khám chữa bệnh Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những rào cản ảnh hưởng tới việc công nhân đi khám, chữa bệnh hay tiếp cận các dịch vụ y tế như thu nhập thấp, thói quen tự điều trị, áp lực kiếm tiền, thời gian làm việc dài, áp lực công việc căng thẳng, tình trạng sống lưu động Hay một số nguyên nhân từ cộng đồng như cơ sở vật chất thiếu, đội ngũ y bác sĩ thiếu, thiếu thông tin về chương trình chăm sóc sức khỏe [26]
Mai Tuyết Hạnh (2017) trong bài viết “Sự hài lòng của người cao tuổi khi sử dụng dịch vụ chăm sóc y tế bằng thẻ BHYT tại Hà Nội” đã chỉ ra một số khía cạnh trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế tại bệnh viện ở Hà Nội Cụ thể, tác giả chỉ ra tỷ
lệ người già sử dụng thẻ BHYT là rất lớn (84,1%) Đồng thời bài viết cũng chỉ ra những ưu đãi của đối tượng người cao tuổi tham gia BHYT khi đi khám chữa bệnh như họ được miễn giảm chi phí khám, chữa bệnh (54%), cấp thuốc miễn phí (37,4%) Theo đánh giá của những người cao tuổi thì có 77,9% số người nói rằng
họ được hưởng lợi nhiều từ thẻ BHYT [15]
Phan Thị Thúy Hà (2013), “Những yếu tố tác động đến việc tiếp cận dịch vụ y
tế của hộ nghèo ở thành thị (nghiên cứu tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An)”, trong
kỷ yếu hội thảo Chăm sóc sức khỏe những vấn đề xã hội và công tác xã hội Tác giả
chỉ ra rằng có 97,4% số người nghèo được khảo sát (582 người nghèo) có thẻ BHYT, trong đó tỷ lệ người sử dụng thường xuyên là 21,6% và 49,6% số người thỉnh thoảng sử dụng Một tỷ lệ khá lớn 32,5% số người chỉ sử dụng trong trường hợp đặc biệt Điều đó cho thấy rằng hiện còn nhiều rào cản để người dân có thể tiếp cận với thẻ BHYT nhiều hươn nữa [28]
Trang 17Sự hài lòng của bệnh nhân trong việc tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân
Nguyễn Hải Long (2014) với nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng tới dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh viện Mắt tỉnh Nghệ An Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được những nhân tố mới để hình thành và lập ra mô hình nghiên cứu, đo lường về sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện Mắt Nghệ An Những số liệu thu thập được từ nghiên cứu là đáng tin cậy để đo lường về sự hài lòng Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều yếu tố quan trọng: (1) Về năng lực phục vụ, khách hàng đánh giá cao về tính liên hoàn trong phong cách phục vụ của các bộ phận và đánh giá thấp thời gian y bác sỹ sử dụng khám chữa bệnh hợp lý; (2) Về thông tin và hiệu quả, khách hàng được đánh giá qua nhiều biến quan sát, họ đánh giá cao việc trả kịp thời và đầy đủ kết quả khám, chữa bệnh nhưng lại đánh giá thấp phong cách làm việc thiếu khoa học (3) Khách hàng đánh giá cao “thái độ phục vụ ân cần của các nhân viên y tế khi có khách hàng tới khám chữa bệnh” và đánh giá thấp “bệnh viện có đường dây nóng giải quyết các vấn đề khách hàng phản ánh” (4) Về cơ sở vật chất, khách hàng đánh giá cao sự hợp lý trong việc bố trí, bảng chỉ dẫn thuận tiện cho người thăm hỏi” và đánh giá thấp sự “khang trang, sạch sẽ” Như vậy có thể thấy được, khách hàng đánh giá cao nhiều yếu tố, nhưng chủ yếu vẫn đánh giá ở mức độ bình thường về cả cơ sở vật chất, thái độ phục vụ và các thông tin liên lạc trong quá trình khám chữa bệnh.[21] Trương Việt Dũng và Cộng sự (2003) trong nghiên cứu “Nghiên cứu nhu cầu
và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại nội thành Hà Nội” đã chỉ ra rằng tần suất
ốm của một người/năm là 1,05 lượt, có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi, trẻ em (dưới 15 tuổi) và người cao tuổi (trên 60 tuổi) có tần suất ốm nhiều hơn gấp 2-3 lần
so với các nhóm tuổi khác Bên cạnh đó không có sự khác biệt về giới ở các nhóm tuổi khác nhau Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, khi ốm đa số người bệnh lựa chọn việc mua thuốc về uống (36,5%), tiếp đến là tới khám chữa bệnh ngoại trú tại các bệnh viện (27,6%), có thể tới các trạm y tế phường, xã (21%) và sau cùng mới tới khu vực tư nhân (11,3%) Yếu tố tác động đến cách lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh quan trọng nhất là tính tiện lợi, trình độ chuyên môn, thái độ tốt, tình
Trang 18trạng bệnh Giá cả không thật quan trọng, trừ khi phải nằm điều trị nội trú tại bệnh viện [31]
Lê Thị Kim Ngân – Lê Thị Thu Trang (2014) với nghiên cứu “Đánh giá mức
độ hài lòng của bệnh nhân nội trú về chất lượng phục vụ tại bệnh viên đa khoa Cần Thơ” Nghiên cứu đã chỉ ra 04 nhóm nhân tố ảnh hưởng tới sự hài lòng của bệnh nhân là: đáp ứng, chất lượng chăm sóc, chất lượng khám/điều trị, hữu hình đều có mức ý nghĩa thống kê Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có sự khác nhau về sự hài lòng của bệnh nhân ở các nhóm đối tượng có trình độ học vấn khác nhau và tình trạng sức khỏe sau khi xuất viện khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy đánh giá của người bệnh về sự hài lòng đối với các dịch vụ trong bệnh viện ở mức trung bình cao hơn mức không có ý kiến nhưng lại thấp hơn mức hài lòng Điều này cho thấy, bệnh nhân vẫn chưa thực sự hài lòng về chất lượng phục vụ của bác sỹ, y tá khi khám và điều trị nội trú tại đây Từ đó, nhóm tác giả đã đề xuất nhiều giải pháp đối với bác sĩ, y tá nhằm nâng cao sự hài lòng của bệnh nhân về dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa Cần Thơ nói riêng và các bệnh viện nói chung [14] Nguyễn Đức Thành (2013) trong nghiên cứu “Đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân nội trú tại các bệnh viện tỉnh Hòa Bình” Nghiên cứu đưa ra 04 yếu tố để đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân đối với chất lượng dịch vụ tại các bệnh viện tại Hòa Bình: (1) Khía cạnh tiếp cận dịch vụ, trong đó có cả thời gian chờ đợi đăng ký khám bệnh, thời gian chờ đợi khám chữa bệnh cần được giảm xuống dưới 30 phút, tốt nhất ở mức khoảng 15 phút; (2) Khía cạnh giao tiếp và tương tác giữa nhân viên
y tế, bác sĩ và khách hàng: Các nhân viên y tế và bác sĩ cần được đào tạo về chất lượng phục vụ và kỹ năng giao tiếp với khách hàng, nhất là thái độ tiếp xúc với khách hàng; (3) Khía cạnh các vật thể hữu hình, đây là vấn đề các nhà quản lý cần phải chú trọng nhiều nhất Các bệnh viện cần phải được đảm bảo về cơ sở vật chất, cần phải được xây mới hoặc cải tạo nhằm đáp ứng được nhu cầu khám và chữa bệnh của bệnh nhân, trong quá trình đó cần phải đảm bảo tính liên hoàn giữa các phòng ban Các khoa cận lầm sàng được xây dựng sao cho việc đi lại của người bệnh từ khoa khám bệnh tới khoa đó được thuận lợi và ít thời gian nhất Trong các khoa cần đảm bảo tốt về chăn ga, gối, đệm (4) Khía cạnh chăm sóc sức khỏe thì
Trang 19139/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ; thủ tục thành toán chi phí khám chữa bệnh tại bệnh viện [19]
Đỗ Mạnh Hùng (2014) trong nghiên cứu “Thực trạng nhận thức và thực hành
y đức của điều dưỡng viên tại bệnh viện nhi trung ương và một số biện pháp can thiệp” cho thấy hầu hết bệnh nhân hài lòng về tác phong phục vụ của điều dưỡng viên tại bệnh viện Nhi Trung ương Tuy nhiên vẫn còn có một số tồn tại liên quan tới y đức của điều dưỡng viên như khách hàng phản ánh hành vi quát tháo bệnh nhân của điều dưỡng viên 22,6%, hành vi đưa tiền cho điều dưỡng viên 18,5% Nghiên cứu quan sát trên các điều dưỡng viên và sự phản ánh của đồng nghiệp thì
tỷ lệ vi phạm dưới 6% Trong mối quan hệ với đồng nghiệp thì điều dưỡng viên có quan hệ tốt, tuy vậy vẫn có sự chia bè cánh gây mất đoàn kết nội bộ, tư tưởng cục
bộ chiếm 6,1%; phản ánh sai sự thật, mất uy tín đồng nghiệp 2,8% Bên cạnh đó, nhiều điều dưỡng viên vẫn chưa hiểu hết mối quan hệ giữa điều dưỡng viên với bệnh nhân; việc nhận phong bì của bệnh nhân vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau giữa các điều dưỡng viên Trong số 08 tiêu chí đem ra đánh giá, tỷ lệ cao nhất là không tôn trọng nhân phẩm, danh dự của bệnh nhi với 5,6% điều dưỡng viên Các chỉ tiêu khác cũng được đánh giá ở mức trên dưới 3% [11]
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hân, Nguyễn Thị Hoàng Vân, Bũi Hữu Minh Trí (2012) trong nghiên cứu “Thời gian chờ đợi khám bệnh và sự hài lòng của bệnh nhân tại khoa khám bệnh BVMT An Giang từ 4-5/2012” cho thấy nhóm tác giả đã xác định thời gian chờ đợi khám trung bình tại khoa khám bệnh là là 172 phút, trong buổi sáng 111 phút, trong buổi chiều 98 phút, đăng ký sáng khám chiều 362 phút Các yêu tố anh hưởng lên thời gian chờ đợi khám bao gồm thời điểm đăng ký khám,
có làm CLS hay không trong đó xét nghiệm có thời gian chờ lâu hơn chẩn đoán hình ảnh Có khoảng 23% BN tuy không làm CLS nhưng phải đợi đến chiều để được khám Có 65,2% bệnh nhân đánh giá thời gian chờ là lâu và rất lâu Nhu cầu khám dịch vụ là cao 61,3% và có liên quan với việc chưa hài lòng về thời gian khám Đa số người bệnh đánh giá lâu và rất lâu (65,2%) Qua đó có thể thấy bệnh nhân chưa thực sự hài lòng về thời gian khám chưa bệnh của các bệnh viên [25] Nguyễn Mậu Duyên, Nguyễn Hoàng Lan (2008) trong “Nghiên cứu khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế của các hộ gia đình tại xã Thủy Vân, huyện Hương Thủy,
Trang 20tỉnh Thừa Thiên Huế” cho thấy các hộ gia đình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú là nhiều nhất ở trạm y tế (81,8%) Ngoài ra, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng dịch
vụ chữa bệnh nội trú vượt tuyến đến bệnh viện Trung ương Huế khá cao với 72%
Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng tới việc tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh tại các bệnh viện của người dân; gánh nặng tài chính y tế của các hộ gia đình nghèo và cận nghèo lớn hơn so với các hộ gia đình có mức sống giàu, đặc biệt trong dịch vụ chữa bệnh nội trú: chi tiêu cho y tế chiếm 19,3% tổng thu nhập ở hộ nghèo, so với chỉ 0,6% ở các hộ giàu Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các hộ gia đình có nhiều khoản chi cho y tế, nhưng khoản lớn nhất là thuốc Từ những kết quả trên, nhóm nghiên cứu đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân như tăng cường đầu tư đồng bộ cho tuyến y tế cơ sở bao gồm tuyến y
tế xã, phòng khám đa khoa khu vực và bệnh viện tuyến huyện để đảm bảo cung cấp các dịch vụ y tế chất lượng và hiệu quả Bên cạnh đó cần tăng cường hoạt động quản lý giá thuốc, BHYT cho người nghèo, hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh cho các đối tượng yếu thế [22]
Unicef & Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014) đã tiến hành khảo sát “Sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tế tuyến xã” đã cho thấy đánh giá của người dân ở nhiều khía cạnh khác nhau Về khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ; các phát hiện của nghiên cứu này cho thấy người dân hiện không gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế như khám chữa bệnh, khám thai, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em; tiêm chủng và truyền thông Khi sử dụng dịch vụ tại đây người dân hầu như không phải chờ đợi lâu và thường không phải trả bất cứ chi phí gì Tỷ lệ người dân đang sử dụng 05 dịch vụ này của trạm y tế xã ở mức khá cao Trong đó, dịch vụ được người dân sử dụng nhiều nhất đó là: (1) Khám chữa bệnh; (2) Chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em trong và sau sinh; (3)Tiếp đó là các dịch vụ tiêm chủng; (4) Khám thai; (5) Truyền thông Dịch vụ có tỷ lệ người dân sử dụng thấp nhất là (5) truyền thông Điều này cho thấy cần phải quan tâm nhiều hơn nữa tới việc tăng cường tiếp cận của người dân đến với dịch vụ truyền thông giáo dục sức khỏe cho người dân của trạm y tế Bên cạnh đó, về thái độ của cán bộ y tế cũng được người dân đánh giá ở mức khá cao với điểm số trung bình (3,77 điểm/5 điểm), người dân cho rằng cán bộ
y tế có thái độ quan tâm và chu đáo đối với người bệnh Thang điểm ở các khâu
Trang 21cũng được người dân đánh giá khác nhau Ngoài ra, về chất lượng dịch vụ, phần lớn người sử dụng dịch vụ đánh giá chất lượng của 05 dịch vụ cung cấp bởi trạm y tế ở mức khá và tốt Tỷ lệ người sử dụng dịch vụ đánh giá chất lượng dịch vụ ở mức tốt đối với dịch vụ KCB chiếm 65%, khám thai (70,8%), dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà
mẹ trẻ em (57,3%), dịch vụ tiêm chủng 72,6% và hoạt động truyền thông 58,4% Người dân hài lòng đối với chất lượng dịch vụ ở mức khá cao [33]
Vũ Hoàng Lan (2012) trong nghiên cứu “Tìm hiểu rào cản tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ di cư và các mô hình can thiệp” chỉ ra rằng các mô hình chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người di cư cần được xem xét giải quyết toàn diện cho các rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản đã được đề cập trong phạm vi nghiên cứu này Nhóm nghiên cứu đã đề xuất một khuyến nghị trong tương lai: (1) Hiện mới chỉ có các biện pháp can thiệp ở nơi đến của người di cư Biện pháp tiếp cận này gặp một số trở ngại do tính chất di động của người di cư cũng như thời gian làm việc bận rộn của họ Ngoài ra cần có các biện pháp can thiệp tại các địa phương có tỷ lệ xuất cư lớn trước khi họ di cư để tiến hành thông tin và tuyên truyền về sức khỏe sinh sản, tiếp cận với các dịch vụ kĩ năng sống (2) Việc phối hợp với các cơ sở y tế nhà nước để cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người di cư là rất cần thiết (3) Tất các các mô hình can thiệp hiện tại đều chỉ hướng tới đối tượng di cư và những người thân thuộc với
họ Người di cư vẫn bị cả chính quyền địa phương và người dân gắn với tệ nạn xã hội, nên họ thường bị cô lập, cần có sự tham gia của tất cả cộng đồng trong tất cả các biện pháp can thiệp (5) Cần có sự tham gia của các chủ tư nhân và người đứng đầu các công ty trong các khu công nghiệp nhằm nâng cao nhận thức và khuyên khích họ cung cấp các dịch vụ thân thiện hơn đối với khách hàng tại các cơ sở y tế
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 22- Xây dựng cơ sở lý luận bằng cách thao tác hóa các khái niệm: tiếp cận, dịch vụ khám chữa bệnh, bệnh nhân nội trú
- Phân tích mức độ, thực trạng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân nội trú
- Giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân nội trú
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân nội trú tại bệnh viện K cơ sở 1
- Phạm vi thời gian thu thập số liệu: Tháng 4/2017
- Phạm vi không gian: Bệnh viên K cơ sở 1 Quán Sứ - Hà Nội
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Đề tài vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin để giải thích và làm cơ sở phương pháp luận chung cho toàn bộ bài nghiên cứu
Quan điểm duy vật biện chứng đòi hỏi việc xem xét sự việc, hiện tượng trong
sự vận động và phát triển của nó, đồng thời xem xét nó trong mối quan hệ giữa các
sự vật hiện tượng, không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liện hệ
Thứ nhất, vận dụng quan điểm về sự vận động và phát triển vào nghiên cứu ta
để thấy được việc tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh không đứng yên mà nó luôn vận động và phát triển theo thời gian, theo sự phát triển của xã hội Giữa các thời kỳ phát triển của xã hội, dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân nội trú lại có những khác biệt Trong nghiên cứu này, cho thấy được bệnh nhân nội trú ngày càng có nhu cầu khám chữa bệnh nhiều hơn, họ yêu cầu phải có sự đối sử, chất lượng phục vụ của bệnh viện/cơ sở y tế tốt hơn
Trang 23Thứ hai, Vận dụng quan điểm về “mối liên hệ phổ biến” vào nghiên cứu này giúp người nghiên cứu không chỉ phân tích nhu cầu của người dân khi tiếp cận với dịch vụ khám chữa bệnh mà còn nói tới những đáp ứng của xã hội nói chung và của các nhân viên y tế tại bệnh viện K1 nói riêng Bởi giữa bệnh nhân nội trú và nhân viên y tế có mối quan hệ khá chặt chẽ trong việc giao tiếp với nhau trong đời sống hàng ngày
6.2 Phương pháp nghiên cứu xã hội học
6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu được sử dụng trong nghiên cứu nhằm tìm hiểu các thông tin thứ cấp liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, giúp cho việc tổng quan nghiên cứu và định hướng phương pháp tiếp cận nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiếp cận các tài liệu bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật quy định về lĩnh vực y tế, nhất là phân tích sâu các chỉ thị, thông tư hướng dẫn thực hiện các luật chuyên ngành Y tế, nghị định quy định về các cơ sở khám chữa bệnh, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, các chính sách hiện có đối với người bệnh điều trị nội trú… Thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, chúng tôi có cơ sở pháp lý để căn cứ thiết kế các nội dung nghiên cứu Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã tiếp cận và phân tích các tài liệu nghiên cứu lý luận và thực trạng việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân qua các công trình nghiên cứu và các công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học trong nước, các báo cáo chuyên ngành của Bộ Y tế, các nghiên cứu trường hợp
về khả năng tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh của người dân,… Đây là những tài liệu thứ cấp quan trọng chứa đựng các thông tin, các phát hiện từ các nghiên cứu
đi trước cũng như gợi mở hướng tiếp cận nghiên cứu của đề tài đi sâu tìm hiểu khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện của bệnh nhân điều trị nội trú
6.2.2 Phương pháp trưng cầu ý kiến
Để có cơ sở khoa học từ các thống kê xã hội học, chúng tôi lựa chọn phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi đối với bệnh nhân/người nhà bệnh nhân điều
Trang 24trị nội trú tại bệnh viện K cơ sở 1 Quán sứ Bảng hỏi được thiết kế tập trung chủ yếu
ở 3 nội dung thông tin cần thu thập từ khách thể nghiên cứu bao gồm:
Thứ nhất, các thông tin chung về người trả lời Phần này chúng tôi thiết kế các thông tin về đặc điểm nhân khẩu xã hội cơ bản của người trả lời như tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn,… các thông tin về thu nhập và hoàn cảnh kinh tế của người trả lời; thông tin về khoảng cách địa lý và quá trình tham gia điều trị tại bệnh viện của người trả lời, Đây là các chỉ báo được thiết kế để đo lường mối liên hệ giữa các biến số điều khiển đến việc tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện của người bệnh
Thứ hai, các thông tin liên quan đến việc tiếp cận các dịch vụ hành chính, dịch
vụ khám chữa bệnh, dịch vụ kỹ thuật y và dịch vụ thuốc tại bệnh viện Trong nội dung chúng tôi chia tách bảng hỏi thành 4 nội dung lớn để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng tiếp cận các dịch vụ y tế tại bệnh viện; đánh giá của người bệnh về mức độ hài lòng đối với các dịch vụ y tế tại bệnh viện; mức độ cần thiết phải cải thiện các dịch
vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện
Thứ ba, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện của bệnh nhân nội trú
Trên cơ sở các thông tin thu thập được, chúng tôi xử lý, phân tích dữ liệu qua các phép toán thống kê bằng phần mềm SPSS for Windows để làm rõ thực trạng việc tiếp cận các dịch vụ y tế của bệnh nhân nội trú tại bệnh viện, mức độ hài lòng đối với các dịch vụ y tế tại bệnh viện, nhu cầu và các yếu tố tác động đến việc tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân nội trú tại bệnh viện
Về dung lượng mẫu
Căn cứ vào lượng bệnh nhân nội trú đang điều trị tại bệnh viện K1 tính tại thời điểm tháng 04/2017 là 395 bệnh nhân Với độ tin cậy là 95% sai số không vượt quá 10% Áp dụng công thức:
n=
Trong đó: n - Dung lượng mẫu cần chọn
t - Hệ số tin cậy của thông tin
Trang 25 - Phạm vi sai số chọn mẫu
pq - Phương sai của tiêu thức thay phiên (Do p + q = 100%, và p = 1 –
q Tức tổng của p và q là một số không đổi, cho nên tích của chúng lớn nhất khi hai số này bằng nhau Tức là p = q = 0,5 và pq = 0,25) [27] Thay số vào ta có:
Căn cứ vào cách tính trên, ta có dung lượng mẫu là 80 Tuy nhiên với dung lượng mẫu này xét trong đề tài này là nhỏ, tính đại diện chưa cao Vì vậy tôi nhân nên gấp đôi, như vậy số bệnh nhân/người nhà bệnh nhân nội trú cần phải chọn trong thực hiện nghiên cứu này là 160 người (trong đó bệnh nhân nội trú là 138 người, người nhà bệnh nhân là 22 người)
Về phương pháp chọn mẫu
Trong đề tài này, tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống bởi vì đây là phương pháp đảm bảo mọi phần tử của tổng thể đều có cơ hội được lựa chọn như nhau, giúp đảm bảo tính khách quan trong nghiên cứu
Với tổng mẫu là 395 bệnh nhân, số mẫu được lựa chọn tiến hành điều tra nghiên cứu là 160 bệnh nhân, áp dụng công thức:
k = Thay số vào ta có:
k = 2,4 Như vậy trong trường hợp này k sẽ được làm tròn xuống 2, vì nếu làm tròn tăng lên thì dung lượng mẫu chọn được nhỏ đi và không đảm bảo được số lượng đơn vị cần chọn trong mẫu chính
6.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng trong nghiên cứu nhằm tìm hiểu kỹ hơn các thông tin từ khách thể nghiên cứu bao gồm: Bệnh nhân nội trú và đội ngũ nhân viên, y tá, bác sĩ tại bệnh viện K
Trang 26Đối với bệnh nhân nội trú, chúng tôi tìm hiểu các thông tin về tiểu sử của bệnh nhân, thực trạng việc tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện của người bệnh, những khó khăn, mong đợi của người bệnh đối với các dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện Bên cạnh việc khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến, chúng tôi tiến hành trao đổi, phỏng vấn sâu 05 trường hợp (gồm 4 bệnh nhân nội trú, và 1 người nhà bệnh nhân) là bệnh nhân/người nhà bệnh nhân nội trú tại bệnh viện K cơ
sở 1 Quán Sứ nhằm làm rõ các nội dung thông tin nghiên cứu nêu trên
Để có các thông tin kiểm chứng so với các thông tin thu thập từ người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện K1 và làm rõ hơn các điều kiện cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện, các quan điểm, thái độ trong khám chữa bệnh cho bệnh nhân tại bệnh viện K1 Tôi cũng tiếp cận, trao đổi thông tin với cán bộ y tế của bệnh viện K1 Số lượng cán bộ y tế được phỏng vấn sâu là 03 trường hợp
6.2.4 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát là một trong những phương pháp được tác giả sửa dụng
để thu thập thông tin, thông tin được thu thập ở đây là những cách thức, hành vi, biểu hiện, thái độ trong quá trình tiến hành các thủ tục nhập viện, trong việc thực hiện các chỉ định xét nghiệm và điều trị nội trú cho đến khi xuất viện của bệnh nhân
và người nhà bệnh nhân Đối với nhân viên của bệnh viện, quan sát ở đây được hiểu
là quan sát cách thức họ thực hiện các công việc liên quan đến bệnh nhân từ các thủ tục giấy tờ, hướng dẫn, tiếp đón, thăm khám và giao tiếp ứng sử với người bệnh và người nhà người bệnh
7 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
7.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi 1: Bệnh nhân nội trú của bệnh viện K1 có mức độ hài lòng như thế nào trong việc tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh tại cơ sở này?
- Câu hỏi 2: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân nội trú tại bệnh viện K1?
7.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết 1: Nhìn chung các bệnh nhân nội trú của bệnh viện K1 có mức độ hài lòng khác nhau trong tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh về tuổi, giới tính, xuất cư
Trang 27- Giả thuyết 2: Các yếu tố về nhân khẩu xã hội, quan hệ xã hội, chính sách, tổ chức thực hiện dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh viện có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân nội trú tại bệnh viện K1
8 Khung phân tích
Bối cảnh thực hiện chính sách khám chữa bệnh hiện nay
Tổ chức thực hiện dịch vụ khám chữa bệnh cho bệnh nhân nội trú
tại Bệnh viện K1
Quan hệ xã hội
- Các yếu tố về nhân khẩu xã
hội (Tuổi, giới tính, nghề
Dịch vụ kỹ thuật y
Mức độ tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân nội trú
Dịch vụ thuốc Dịch vụ hành chính
Trang 28PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẬN DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU VỀ TIẾP CẬN DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH CỦA BỆNH NHÂN NỘI TRÚ
VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm công cụ
1.1.1 Khám bệnh, chữa bệnh
Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 là văn bản pháp lý cao nhất quy định các tiêu chuẩn, điều kiện, quyền và nghĩa vụ cũng như các vấn đề liên quan đến người hành nghề, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người bệnh cũng như công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này Tại Điều 2, Luật khám bệnh, chữa bệnh [29] giải thích các thuật ngữ khám bệnh, chữa bệnh và người bệnh như sau:
Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi
cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận
Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công
nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh
Người bệnh là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
Theo cách giải thích thuật ngữ nêu trên, khám bệnh và chữa bệnh là hai quá trình riêng biệt, tuy nhiên giữa chúng có mối liên hệ với nhau Nếu như việc thăm khám được coi là giai đoạn ban đầu để phát hiện các vấn đề liên quan đến sức khỏe của người bệnh thì việc chữa bệnh được coi là bước tiếp theo sau khi có các kết quả chẩn đoán lâm sàng từ người bệnh Điều này được hiểu đơn giản hơn đó là nếu không có cơ sở khoa học từ quá trình khám bệnh thì không đến được quá trình chữa bệnh Trong đó, người bệnh là đối tượng có khả năng tiếp cận cả hai dịch vụ khám bệnh và chữa bệnh
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi căn cứ trên cách hiểu về các thuật ngữ nêu trên theo Luật khám bệnh, chữa bệnh, đồng thời đưa ra cách tiếp cận
cụ thể hơn về người bệnh (bệnh nhân) là những người sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại cơ sở y tế công lập
Trang 291.1.2 Dịch vụ khám chữa bệnh
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: Dịch vụ y tế (Health services) bao gồm tất cả các dịch vụ liên quan đến chuẩn đoán và điều trị bệnh, hoặc thúc đẩy, duy trì và phục hồi sức khoẻ Chúng bao gồm các dịch vụ y tế cá nhân và phi cá nhân” [34] Trong cách định nghĩa này, dịch vụ y tế được hiểu gồm hai nội dung cơ
bản đó là dịch vụ chuẩn đoán bệnh (khám bệnh) và điều trị bệnh hoặc thúc đẩy, duy trì và phục hồi sức khỏe (chữa bệnh) Các dịch vụ y tế là những chức năng hiển nhiên của bất kỳ hệ thống y tế nào cho cả người sử dụng và toàn dân Dịch vụ y tế được cấu thành từ sự đầu tư về tài chính, nguồn lực con người, thiết bị và thuốc để thực hiện các can thiệp y tế Việc tăng cường khả năng tiếp cận, phạm vi và chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào các nguồn lực chính hiện có; dựa trên cách thức tổ chức và quản lý dịch vụ; những khuyến khích ảnh hưởng đến nhà cung cấp và người sử dụng dịch vụ
Đàm Viết Cương và cộng sự (2005) đưa ra cách hiểu về dịch vụ y tế như
sau: Dịch vụ y tế là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng để đáp ứng nhu cầu về sức khoẻ như: Khám chữa bệnh, phòng bệnh, giáo dục sức khoẻ, tư vấn sức khoẻ do các cơ sở y tế nhà nước (Trạm y tế xã, Trung tâm y tế huyện/thành phố, các cơ sở y tế tuyến tỉnh và trung ương) và các cơ sở y tế tư nhân (phòng khám, bệnh viện tư, hiệu thuốc) cung cấp
[9] Ở cách định nghĩa này, nhóm nghiên cứu đã chỉ rõ mối quan hệ tương tác giữa người cung cấp dịch vụ (cơ sở khám, chữa bệnh) và khách hàng Tuy nhiên, ở đây dịch vụ y tế hướng tới đa dạng đối tượng, trong đó khách hàng được hiểu theo nghĩa rộng hơn là toàn dân, bao gồm cả người bệnh và những người có các nhu cầu chăm sóc sức khỏe khác
Tiếp cận ở góc độ nghiên cứu bất bình đẳng xã hội trong tiếp cận dịch vụ y tế,
Nguyễn Ngọc Thụy (2010) đưa ra cách định nghĩa về dịch vụ y tế là: “Loại hình dịch vụ mà người sử dụng thường không thể tự mình hoàn toàn chủ động lựa chọn loại hình dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên cung ứng (các
cơ sở y tế) Cụ thể là khi người bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh, việc điều trị theo phác đồ nào, thời gian bao lâu,…hoàn toàn do thầy thuốc (bên cung cấp) quyết
Trang 30định Mặt khác, dịch vụ y tế là loại hình dịch vụ đặc biệt, nó gắn chặt chẽ với sức khoẻ, tính mạng của con người nên dẫu không có tiền người bệnh vẫn phải khám chữa bệnh, khác hẳn với các loại hình dịch vụ khác, ở đó người sử dụng có nhiều giải pháp lựa chọn, thậm chí là không sử dụng nếu tình hình tài chính eo hẹp” [23] Ở quan niệm này, dịch vụ y tế được giới hạn là các dịch vụ cung ứng
việc khám chữa bệnh cho người dân khi người dân đã có bệnh và người bệnh không hoàn toàn chủ động trong việc lựa chọn các loại hình dịch vụ mà chủ yếu phụ thuộc vào bên cung ứng dịch vụ (thầy thuốc quyết định)
Tựu chung lại, các quan điểm và tiếp cận nghiên cứu về dịch vụ y tế nói chung nhấn mạnh về đặc điểm loại hình dịch vụ y tế, bản chất của dịch vụ y tế cũng như mối quan hệ giữa bên cung ứng dịch vụ và người sử dụng, trong đó, hoạt động khám bệnh và chữa bệnh là hoạt động cơ bản nhất tạo nên các giao dịch về dịch vụ
y tế Hay nói cách khác, về bản chất dịch vụ khám, chữa bệnh là một loại hình dịch
vụ y tế, hướng tới đối tượng là những người bệnh gồm dịch vụ khám bệnh và dịch
vụ chữa bệnh Đây cũng chính là cách hiểu về dịch vụ khám, chữa bệnh trong nghiên cứu này
1.1.3 Bệnh nhân nội trú
Tại Điều 58 - Luật Khám bệnh, chữa bệnh (2009) quy định về việc thực hiện điều trị nội trú được tiến hành trong trường hợp: (1) có chỉ định điều trị nội trú của người hành nghề thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; (2) có giấy chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác Việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến việc vào, chuyển hoặc ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, chuyển khoa phải bảo đảm kịp thời và không gây phiền
hà cho người bệnh [29]
Bệnh nhân được điều trị nội trú trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được cung cấp các dịch vụ bao gồm: Điều trị cấp tính chuẩn, cấp tính mạnh, điều trị tiếp theo và dài hạn Cụ thể như sau: [41]
- Điều trị nội trú cấp tính chuẩn dành cho bệnh nhân bị bệnh đột ngột hoặc là
bệnh mãn tính đột biến, đe dọa nghiêm trọng sức khỏe, nhưng không trực tiếp gây suy giảm các chức năng sống, hoặc là để thực hiện các ca phẫu thuật y tế mà
Trang 31không thể thực hiện trong điều kiện ngoại trú, hoặc là để bắt đầu điều trị phục hồi chức năng
- Điều trị nội trú cấp tính mạnh dành cho những bệnh nhân trong trường hợp bi ̣
suy giảm đột ngột hoặc bi ̣ nguy hiểm đe do ̣a nghiêm trọng các chức năng sống cơ bản hoặc trong trường hợp có thể tính đến các tình trạng đó
- Điều trị nội trú tiếp theo được cung cấp cho những bệnh nhân đã được chuẩn
đoán bệnh và tình trạng sức khỏe của họ đã ổn định, những bệnh nhân cần đối phó với bệnh đột ngột hoặc tình trạng bệnh mãn tính đột ngột xấu đi , cho những bệnh nhân mà tình trạng sức khỏe của họ đòi hỏi phải điều trị tiếp hoặc điều trị phục hồi chức năng, những bệnh nhân phụ thuộc phần nào hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào hỗ trợ các chức năng sống cơ bản
- Điều trị nôi trú dài hạn dành cho những bệnh nhân mà tình trạng sức khỏe của họ
không thể điều trị cho tốt hơn đáng kể, nhưng thiếu chăm sóc điều dưỡng có hệ thống thì tình trạng sức khỏe sẽ xấu đi; và dành cho những bênh nhân bị rối loạn các chức năng sống cơ bản
Như vậy, bệnh nhân nội trú được hiểu là những người đang sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được cấp giấy phép hoạt động theo quy định tại Mục 1, Chương IV - Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Luật Khám bệnh, chữa bệnh [29] và chiếu theo Điều 3, chương II – Các hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo Nghị định số 87/2011/NĐ-CP về Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh [7] Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, bệnh nhân nội trú được hiểu là những người đang sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại chỗ ở bệnh viện K cơ sở Quán Sứ Các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện K liên quan đến chuyên khoa ung thư
1.1.4 Tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh
Theo Nguyễn Bá Ngọc và Bùi Xuân Dự (2011), “Tiếp cận là sự thể hiện mức
độ xẩy ra khi một chủ thể tham gia và nhận được các lợi ích trong các điều kiện nhất định Những điều kiện nhất định này là vốn, vật chất hoặc phi vật chất hoặc
sự kết hợp của cả hai” [17] Như vậy, tiếp cận được hiểu là mức độ hay tần suất
người bệnh sử dụng các dịch vụ khám, chữa bệnh và nhận được các lợi ích phù hợp
Trang 32(bao gồm cả sự hài lòng) với các điều kiện về chi phí bỏ ra, điều kiện cung ứng về
cơ sở vật chất và phi vật chất
Lê Thị Hồng Thơm (2006) cho rằng “Tiếp cận dịch vụ y tế” là “khả năng mà người sử dụng dịch vụ y tế khi cần có thể đến sử dụng y tế tại nơi cung cấp các dịch vụ y tế đáp ứng việc khám chữa bệnh” [12] Quan điểm này nhấn mạnh về yếu
tố khả năng mà người bệnh được đáp ứng các nhu cầu về khám, chữa bệnh từ cơ sở khám, chữa bệnh Theo đó, khả năng người bệnh được sử dụng các dịch vụ khám, chữa bệnh sẽ phụ thuộc vào các điều kiện cung ứng các dịch vụ khám, chữa bệnh của cơ sở khám chữa bệnh, đồng thời cũng phụ thuộc vào khả năng chi trả của người bệnh đối với các loại hình dịch vụ khám, chữa bệnh
Tiếp cận dịch vụ y tế là khả năng mà người sử dụng dịch vụ y tế khi cần có thể đến sử dụng dịch vụ y tế tại nơi cung cấp Tiếp cận còn bao hàm cả đánh giá, cách nhìn nhận dịch vụ y tế trong tầm suy nghĩ của người dân về loại dịch vụ này qua các yếu tố không gian, thời gian và chất lượng phục vụ Việc sử dụng dịch vụ y tế của người dân trong cộng đồng là cả một quá trình tương tác nhiều yếu tố Có nhiều cách giải thích các mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ
y tế của người dân nhưng chung quy lại thì có ba cách đề cập chính được nói đến nhiều nhất là kinh tế học, nhân học, và ứng xử xã hội trong chăm sóc sức khỏe Cụ thể như sau:
Cách đề cập kinh tế học: Cách đề cập này dựa trên nhận định rằng con người khi phải lựa chọn một dịch vụ nào đó, luôn tuân theo các nguyên lý kinh tế học nhằm đạt được lợi ích tối đa với mức chi phí có thể bỏ ra
Cách tiếp cận nhân học: Cơ sở của cách tiếp cận này là sự lựa chọn cụ thể của người dân được xem là kết quả của quá trình ra quyết định nhiều bậc, do vậy các
mô hình phát triển từ cách đề cập này còn có tên gọi là mô hình lý thuyết quyết định Cách đề cập này tỏ ra có ưu thế trong việc xem xét trình tự trong đó người dân tiếp cận thực tế với các dịch vụ: Dịch vụ nào được họ sử dụng trước tiên, loại nào thứ hai, thứ ba Vì sao người dân lại chuyển từ dịch vụ y tế này sang dịch vụ y tế kia Do vậy cách đề cập này thường được nhiều nhà nhân học, y học sử dụng trong nghiên cứu sự lựa chọn dịch vụ y tế của người dân trước một vấn đề cụ thể
Trang 33Cách đề cập những mô hình quyết định: Cách đề cập này tập trung vào việc xem xét đồng thời sự tác động của tập hợp các biến thể giải thích sự lựa chọn dịch
vụ y tế của người dân Nhiều mô hình được phát triển từ mô hình này như: Mô hình niềm tin sức khỏe; Mô hình lý thuyết ứng xử chủ định; Mô hình sử dụng dịch vụ y tế; Mô hình ứng xử khi ốm
Nguyễn Đình Tuấn (2014) chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người nghèo bao gồm: Chi phí khám chữa bệnh cao
so với mức thu nhập; Khoảng cách từ nơi ở đến cơ sở khám chữa bệnh còn tương đối xa; Phân bổ cơ sở khám chữa bệnh và cán bộ y tế chưa hợp lý và nhận thức của người nghèo về chăm sóc sức khỏe chưa cao [18]
Tựu chung lại, khả năng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: Nhóm yếu tố về khoảng cách từ nơi ở đến cơ sở y tế; nhóm yếu tố về kinh tế; nhóm yếu tố về dịch vụ y tế; nhóm yếu tố về văn hóa
Nhóm các yếu tố về khoảng cách từ nơi ở đến cơ sở y tế: Khoảng cách chính là
quãng đường được tính bằng km từ nhà tới cơ sở cung cấp dịch vụ y tế, khoảng cách đường đi, chất lượng đường xá, phương tiện giao thông và các biến động thời tiết theo mùa
Nhóm yếu tố về kinh tế: Thông thường thì càng nghèo càng hạn chế đến cơ sở
y tế Sự chênh lệch về thu nhập dẫn đến sự tiêu dùng dịch vụ y tế giữa người giàu
và người nghèo ở thành thị cũng như nông thôn không giống nhau Hộ gia đình có thu nhập cao, người ta dễ dàng quyết định đi khám chữa bệnh kể cả ở nơi xa nhất nhưng chất lượng, ngược lại những người nghèo thường có xu hướng tự chữa bệnh
ở nhà hoặc có xu hướng đến thầy thuốc gần nhà để giảm bớt chi phí hoặc hạn chế đến cơ sở y tế có chất lượng cao, thu phí cao
Nhóm yếu tố dịch vụ y tế: Trong nhóm này đề cập tới tính thuận tiện về giờ
giấc, thời gian mở cửa, tính thường trực, tính sẵn sàng của các dịch vụ y tế mà người dân cần, đạo đức thái độ của người cung ứng dịch vụ và chất lượng các dịch
vụ theo yêu cầu của người dân
Nhóm yếu tố văn hóa: Đó là các tập quán về chữa bệnh, như coi trọng chữa
bệnh cho nam hơn nữ, coi trọng trẻ em hơn người già, ngại đến thầy thuốc nam
Trang 34giới… Các yếu tố về trình độ hiểu biết, văn hóa của người bệnh và chủ hộ cũng ảnh hưởng đến quá trình quyết định tới sự tiếp cận dịch vụ y tế
Vận dụng các quan điểm nêu trên trong nghiên cứu này “tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân nội trú” được hiểu là khả năng và mức độ tiếp cận của người bệnh với các dịch vụ khám, chữa bệnh trong bệnh viện khi tham gia điều trị nội trú bao gồm sự thỏa mãn về các dịch vụ y tế do cơ sở khám chữa bệnh cung cấp như dịch vụ hành chính, dịch vụ khám chữa bệnh, dịch vụ kỹ thuật y và dịch vụ thuốc Cụ thể:
Dịch vụ hành chính bao gồm các nội dung như: Thời gian giải quyết các thủ tục đăng ký khám chữa bệnh, thanh toán chi phí khám chữa bệnh, thái độ phục vụ của nhân viên y tế, các thủ tục hành chính yêu cầu trong việc đăng ký khám chữa bệnh tại bệnh viện, tiếp cận thông tin về các dịch vụ khám chữa bệnh
Dịch vụ khám chữa bệnh bao gồm các nội dung như: Cách thức lựa chọn các loại hình khám chữa bệnh, chi phí khám chữa bệnh, trao đổi thông tin về tình trạng bệnh, chất lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên y tế, chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh
Dịch vụ kỹ thuật y bao gồm các nội dung như: Điều kiện cơ sở vật chất, thiết
bị phục vụ khám chữa bệnh, các kỹ thuật hiện đại trong khám chữa bệnh, mức độ hài lòng đối với chất lượng dịch vụ kỹ thuật y
Dịch vụ thuốc bao gồm: Các loại hình cung cấp thuốc, chi phí sử dụng thuốc, mức độ hài lòng đối với dịch vụ thuốc tại bệnh viện
Khả năng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân nội trú được xem xét ở khía cạnh các yếu tố liên quan đến đặc điểm nhân khẩu xã hội của người bệnh (nghề nghiệp, giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, xuất cư và hoàn cảnh kinh tế), khoảng cách địa lý, các mối quan hệ xã hội (vốn xã hội sử dụng trong bệnh viện)
và các chính sách áp dụng với người bệnh tại cơ sở khám, chữa bệnh mà người bệnh được thụ hưởng
1.2 Lý thuyết áp dụng
1.2.1 Lý thuyết lựa chọn hợp lý của George Homans
George Homans (1910 – 1989), nhà xã hội học người Mỹ, một trong các tác giả của lý thuyết trao đổi xã hội, nổi tiếng với chủ trương đưa con người trở lại xã
Trang 35hội học Ông ý thức rất rõ về vai trò mối tương tác trực tiếp giữa các cá nhân và quan tâm tìm hiểu các đặc điểm của mối tương tác xã hội ở cấp độ vi mô hơn là các đặc điểm của cả hệ thống xã hội, cấp độ vĩ mô [13]
Homans cho rằng: “mô hình lựa chọn - duy lý” của hành vi người tương thích một phần nào đó với các định đề của tâm lý học hành vi Sự trao đổi xã hội và mối quan hệ giữa các cá nhân thực chất là sự trao đổi lặp đi lặp lại giữa họ với nhau Homans đưa ra một số định đề cơ bản về hành vi người như sau:
- Định đề phần thưởng: Đối với tất cả các hành động của con người, hành
động nào càng thường xuyên được khen thưởng thì càng có khả năng lặp lại
- Định đề kích thích: Nếu một nhóm kích thích nào trước đây đã từng khiến
cho hành động nào đấy được khen thưởng thì một nhóm mới càng giống kích thích
đó bao nhiêu thì càng có khả năng làm cho hành động tương tự trước đây được lặp lại bấy nhiêu
- Định đề giá trị: Kết quả của hành động có giá trị cao đối thủ với chủ thể bao
nhiêu thì chủ thể đó càng có xu hướng thực hiện hành động đó bấy nhiêu Và khi mối lợi
đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ nhiều “chi phí” vật chất và tinh thần để đạt được nó
- Định đề duy lý: Cá nhân sẽ lựa chọn hành động nào mà giá trị của kết quả
hành động đó và khả năng đạt được kết quả đó là lớn nhất
- Định đề giá trị suy giảm: Càng thường xuyên nhận được một phần thưởng nào
đó bao nhiêu thì giá trị của nó càng giảm đi bấy nhiêu đối với chủ thể hành động
- Định đề mong đợi: Nếu sự mong đợi của con người được thực hiện thì người
ta sẽ hài lòng, còn nếu không được thực hiện thì cá nhân sẽ bực tức, không hài lòng Với định đề trên cho thấy con người là một chủ thể duy nhất trong việc xem xét và lựa chọn hành động nào có thể đem lại phần thưởng lớn nhất và có giá trị nhất Ta thấy luận điểm chính của lý thuyết này là cá nhân sẽ lựa chọn hành vi nào
mà mang lại lợi ích cao nhất và dễ dàng đạt được Đối với các dịch vụ khám chữa bệnh thì việc lựa chọn tối ưu những dịch vụ hợp lý với người bệnh luôn được cân nhắc, bởi tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của mỗi bệnh nhân Do vậy, cần lựa chọn những dịch vụ hợp lý và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mỗi bệnh nhân
đã và đang điều trị ở đây Bên cạnh đó, vẫn có một số bệnh nhân sẵn sàng bỏ ra những chi phí cao để có được những dịch vụ khám tốt nhất cho bản thân
Trang 36Theo như định đề mong đợi của lý thuyết cho rằng nếu sự mong đợi của con người được thực hiện thì người ta sẽ hài lòng, còn nếu không được thực hiện thì cá nhân sẽ bực tức, không hài lòng Với các bệnh nhân có thể làm hài lòng hoặc không làm hài lòng với các dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh viện, mặc dù vẫn có hình thức khám dịch vụ theo yêu cầu tuy nhiên với mong đợi và nhu cầu ngày càng cao của những người bệnh thì việc đáp ứng được hay không được mong đợi đó vẫn còn nhiều hạn chế
Như vậy, việc tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện K tùy thuộc vào hành vi lựa chọn của mỗi bệnh nhân, sao cho có những lựa chọn tối ưu nhất và phù hợp với điều kiện của bản thân
1.2.2 Lý thuyết nhu cầu của Maslow
Abraham Maslow sinh ngày 01-04-1908, mất năm 8-5-1970 Ông là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Ông là người đáng chú ý nhất với sự đề xuất về Tháp nhu cầu và ông được xem là cha đẻ của chủ nghĩa nhân văn trong Tâm lý học
Nội dung cơ bản của thuyết nhu cầu
Lý thuyết nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu
Nguồn: Internet [35], truy cập ngày 12/12/2016
Trang 37Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người
như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được
Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: An ninh và an toàn có nghĩa là một môi
trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người
Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận (tình yêu và sự chấp nhận):
Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận
Nhu cầu được tôn trọng: Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành
được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự…
Nhu cầu phát huy bản ngã: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách
phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân
Các nhu cầu trên của con người được sắp xếp theo thứ tự từ thấp tới cao, từ những nhu cầu thiết yếu nhất của cho người cho đến những nhu cầu bậc cao khi muốn khẳng định được bản thân
Đối với mỗi người, khi nhu cầu này đã được đáp ứng thỏa mãn thì nhu cầu cao hơn sẽ trở thành một nguồn động lực mới
Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội hiện đại ngày nay thì sẽ không loại trừ khả năng cùng một lúc có sự xung đột giữa các nhu cầu
Với nhu cầu được thăm khám, chữa trị một cách tốt nhất ở bệnh viện luôn là một trong những nhu cầu mà bệnh nhân nào cũng muốn Tuy nhiên, không phải
Trang 38bệnh nhân nào cũng có điều kiện để được tiếp cận các trang thiết bị hiện đại, hoặc thuốc tốt nhất, khả năng tiếp cận này còn tùy thuộc nhiều vào điều kiện và hoàn cảnh gia đình Mặt khác, đối với các bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế với bệnh nhân không có thẻ bảo hiểm y tế, thì có thể mức độ thỏa mãn cũng có sự khác nhau và mức độ đáp ứng vè thuốc, kỹ thuật y…đối với họ sẽ khác nhau
Như lập luận cho thấy, một khi nhu cầu này đã được đáp ứng thì người ta sẽ mong muốn nhu cầu cao hơn đáp ứng được Cho nên, đối với thăm khám bệnh tại bệnh viện, người bệnh cũng sẽ đòi hỏi việc khám chữa bệnh với những trang thiết bị hiện đại và đội ngũ y bác sĩ lành nghề…vv Có thể thấy sự khác biệt về mức độ đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân rõ rệt nhất là đối với bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế và không có thẻ bảo hiểm y tế Với bệnh nhân không có thẻ bảo hiểm y tế thì khi khám chữa bệnh thì họ có thể khám dịch vụ, nằm ở phòng dịch vụ với trang thiết bị phòng tốt hơn…như vậy, các nhu cầu cơ bản ban đầu của họ đã được đáp ứng Tuy nhiên, bệnh nhân có thẻ bảo hiểm hay không có thì luôn luôn có nhu cầu và mong muốn được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện
1.2.3 Lý thuyết hành động xã hội
Lý thuyết xã hội học về hành động xã hội có nguồn gốc từ V.Pareto M.Weber, F.Znaniecki, G.Mead, T.Parsons và nhiều nhà xã hội học khác Những nhà lý thuyết này đều coi hành động xã hội là cốt lõi của mối quan hệ giữa con người và xã hội, đồng thời là cơ sở của đời sống xã hội của con người Hành động
xã hội thường được gắn với các chủ thể hành động là các cá nhân
Một trong những khái niệm quan trọng nhất của xã hội học Weber là khái niệm hành động xã hội Nghiên cứu xã hội học theo kiểu Weber có nhiệm vụ trả lời những câu hỏi về động cơ, ý nghĩa của hành động xã hội Chẳng hạn, động cơ nào thúc đẩy, chi phối và dẫn dắt các cá nhân, các thành viên của một cộng đồng xã hội hành động theo cách đã xảy ra và còn tiếp tục xảy ra trong cộng đồng đó? Những hành động của các cá nhân, nhóm xã hội có ý nghĩa gì đối với họ và những người xung quanh? [13]
Hành động xã hội được Weber định nghĩa một cách tổng quát là hành động được chủ thể gán cho một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động có tính đến hành
Trang 39vi của người khác và vì vậy được định hướng cho người khác, trong đường lối, quá trình của nó
Thuyết hành động xã hội của Weber phân biệt rõ bốn loại hành động xã hội như sau:
Hành động duy lý – công cụ: Là hành động được thực hiện với sự cân nhắc tính toán lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả nhất
Hành động duy lý giá trị: Là hành động được thực hiện vì bản thân hành động (mục đích tự thân) Thực chất loại hành động này có thể nằm ở những mục đích phi lý nhưng lại được thực hiện bằng những hành động duy lý
Hành động cảm tính: Là hành động do các trạng thái, xúc cảm hoặc tình cảm bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc xem xét phân tích mối quan hệ giữa công cụ và phương tiện và mục đích hành động
Hành động theo truyền thống: Là loại hành động tuân thủ theo những thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán truyền từ đời này sang đời khác
- Cấu trúc của hành động xã hội
Động cơ và mục đích của hành động (1) sẽ tạo ra tính tích cực của chủ thể,
tham gia định hướng hành động và quy định mục đích của hành động
Chủ thể hành động (2): Chủ thể hành động có thể là các cá nhân, các nhóm,
cộng đồng xã hội hay toàn thể xã hội
Hoàn cảnh hoặc môi trường của hành động (3): Đó chính là những điều kiện
về thời gian, không gian vật chất và tinh thần của hành động Hành động đó diễn ra lúc nào? Ở thời điểm nào? Trong bối cảnh xã hội như thế nào? Bối cảnh xã hội ở đây được hiểu là tất cả những gì xung quanh có ảnh hưởng đến hành động
Mô hình sau đây thể hiện rõ mối quan hệ của cấu trúc hành động xã hội:
Hoàn cảnh
phương tiện
Mục đích
Trang 40Vận dụng lý thuyết hành động xã hội vào nghiên cứu sẽ mô tả, phân tích và làm rõ một số hành động xã hội của một cá nhân, nhóm nào đó khi lựa chọn tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh, qua đó sẽ thấy rõ thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh
Xuất phát từ những nhu cầu cơ bản của con người là được khám và chữa bệnh
ở cơ sở y tế uy tín, cho nên việc nhiều bệnh nhân lựa chọn bệnh viện K1 để thăm khám chữa bệnh về ung thư là điều dễ hiểu Tuy nhiên, không phải bệnh nhân nào cũng có điều kiện để được khám chữa bệnh tại đây, thông qua sự cân nhắc, tính toán
kỹ lưỡng các vấn đề như: Tài chính, vị trí địa lý, mối quan hệ…vv mới quyết định lựa chọn bệnh viện K1
Để đạt được mục đích cuối cùng là chữa khỏi bệnh thì bệnh nhân, người nhà bệnh nhân luôn mong muốn được tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh tốt nhất như: Máy móc trang thiết bị hiện đại, thuốc tốt, bác sĩ giỏi,…vv Để đạt được mục đích này thì không ít bệnh nhân, người nhà bệnh nhân đã “chi bồi dưỡng” phần nào
đó cho đội ngũ y bác sĩ với tâm lý mong nhận lại được sự quan tâm săn sóc chu đáo hơn Xuất phát từ mỗi nhu cầu riêng biệt của mỗi bệnh nhân khác nhau mà họ có những động cơ khác nhau, họ hành động với mong muốn đạt được mục đích chữa khỏi bệnh
1.3 Chính sách cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong bệnh viện công
ở Việt Nam hiện nay
Chính sách cung ứng dịch vụ y tế lấy CSSKBĐ làm nền tảng Tổng hợp các tài liệu nghiên cứu và kết quả hội thảo về YTCS những năm gần đây, đặc biệt là Hội thảo quốc gia về tăng cường YTCS do Bộ Y tế tổ chức tại Huế, tháng 3/2015, chúng tôi đề xuất mô hình cung ứng dịch vụ y tế lấy CSSKBĐ làm nền tảng với các thuộc tính cơ bản có liên quan chặt chẽ và tác động qua lại với nhau thực hiện trong các bệnh viện Công tại Việt Nam: [6]
- Cung ứng dịch vụ lấy con người là trung tâm
- Bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ
- Cung ứng dịch vụ toàn diện, tăng cường năng lực phòng chống và kiểm soát BKLN