1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tư tưởng hồ chí minh về phòng, chống lãng phí và vận dụng ở việt nam hiện nay

112 328 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đề tài về phòng, chống lãng phí nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí nói riêng đã được các nhà khoa học nghiên c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG THANH LƯƠNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ PHÒNG, CHỐNG LÃNG PHÍ

VÀ VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG THANH LƯƠNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ PHÒNG, CHỐNG LÃNG PHÍ

VÀ VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH HỒ CHÍ MINH HỌC

Mã số: 60 31 02 04

PGS.TS LẠI QUỐC KHÁNH

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng

tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lại Quốc Khánh Các số liê ̣u, kết quả trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Hà Nội, ngày 25 tháng 9 năm 2017

Tác giả

Hoàng Thanh Lương

Trang 4

MụC LụC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

5 Cơ sở lý luâ ̣n, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu 8

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 8

7 Kết cấu luâ ̣n văn 8

NỘI DUNG 9

Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÒNG, CHỐNG

LÃNG PHÍ 9

1.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về lãng phí 9

1.1.1 Quan niệm về lãng phí 9

1.1.2 Nội dung lãng phí 14

1.1.3 Nguyên nhân và tác hại của lãng phí 19

1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí 27

1.2.1 Vai trò của viê ̣c phòng, chống lãng phí 27

1.2.2 Lực lượng tham gia phòng, chống lãng phí 32

1.2.3 Phương hướng và giải pháp phòng, chống lãng phí 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 54

Chương 2 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÒNG , CHỐNG LÃNG PHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 55

2.1 Thực trạng phòng, chống lãng phí ở Việt Nam hiện nay 55

2.1.1 Thực trạng 55

2.1.2 Nguyên nhân và vấn đề đặt ra 71

Trang 5

2.2 Giải pháp phòng, chống lãng phí ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay theo tư tư ởng Hồ

Chí Minh 78

2.2.1 Các giải pháp cơ bản 78

2.2.2 Các giải pháp cụ thể 93

TIỂU KẾT CHƯƠNG II 99

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vấn đề lãng phí và phòng , chống lãng phí là vấn đề lớn , hê ̣ tro ̣ng hiê ̣n nay Lãng phí thường đi liền với tham nhũng , là con đẻ của tệ tham nhũng Đảng Cộng sản Việt Nam nhâ ̣n đi ̣nh , nếu không có những giải pháp phòng ngừa và đấu tranh ngăn chă ̣n có hiê ̣u quả, lãng phí sẽ làm bệnh tham nhũng trở nên trầm trọng hơn , đe dọa trực tiếp đến sự an nguy của quốc gia và sự tồn vong của chế độ

Lãng phí là một trong những tệ điển hình làm tổn thất không nhỏ công sức và tài sản của nhân dân Hồ Chí Minh1 khẳng định: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của chính phủ” [55, tr.357] Đối với Hồ Chí Minh, “lãng phí tuy khác với tham ô ở chỗ người gây ra lãng phí không trực tiếp trộm cắp của công làm của riêng Nhưng kết quả thì làm tổn hại rất nghiêm trọng cho Nhà nước, cho nhân dân” [62, tr.141] Người còn chỉ rõ: “Quan liêu, tham

ô, lãng phí là tội ác Phải tẩy sạch nó để thực hiện cần, kiệm liêm, chính, để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc Đó là nhiệm vụ quan trọng của mỗi chúng ta” [54, tr.534] Có thể thấy, với Hồ Chí Minh, nhận diện và phòng, chống lãng phí, cùng với tham ô, quan liêu và nhiều tật bệnh khác, cũng là một sự nghiệp cách mạng

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, tư tưởng của Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí mang giá trị vô cùng to lớn, tính thời sự cấp thiết đòi hỏi cần đi sâu nghiên cứu Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh

tế, văn hóa, xã hội… Nhưng bên cạnh những thành tựu đó, như Đại hội XII của Đảng đánh giá, “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi” [30, tr.15]; “Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng

1 Trong luận văn này quy ước sử dụng thống nhất danh xưng “Hồ Chí Minh” thay vì “Chủ tịch Hồ Chí

Trang 7

với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước” [30, tr.185] Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí, tổng kết thực tiễn để đưa ra giải pháp phù hợp là nhiệm vụ có ý nghĩa rất quan trọng

Hiện nay, tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí vào thực tiễn sự nghiệp đổi mới, nhưng do tính thời sự, tầm quan trọng của vấn đề, nhất là yêu cầu cấp bách của thực tiễn đặt ra, nên tác giả quyết định tiếp tục lựa

chọn và đi sâu nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí và vận dụng ở Việt Nam hiện nay”, với mong muốn góp

thêm ý kiến từ góc tiếp cận Hồ Chí Minh học nhằm giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách này

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đề tài về phòng, chống lãng phí nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí nói riêng đã được các nhà khoa học nghiên cứu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau, có thể phân loại như sau:

Thứ nhất, những công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí, bao gồm:

Một là, các công trình nghiên cứu về các nội dung khác nhau trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó ít nhiều có đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí Có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu như: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chiến sĩ cộng sản kiên cường” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, “Hồ Chí Minh chân dung một tâm hồn và trí tuệ Việt Nam” của tác giả Trần Văn Giàu, “Hồ Chí Minh – Nhà tư tưởng lỗi lạc” của tác giả Song Thành, “Hồ Chí Minh ngôi sao sáng mãi trên bầu trời Việt Nam” của tác giả Vũ Khiêu, “Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh” của tác giả Đặng Xuân Kỳ, “Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hoa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh” của tác giả Hoàng Chí Bảo, “Nhân cách

Hồ Chí Minh” của tác giả Mạch Quang Thắng, v.v

Trang 8

Hai là, những công trình nghiên cứu liên quan đến vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí trong thực tiễn cách mạng Việt Nam

Được tổng hợp trong cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng” của Ban Nội chính Trung ương, xuất bản năm

2016, công trình “Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhiệm vụ và giải pháp phòng, chống tham nhũng” của tác giả Nguyễn Trọng Phúc và công trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham nhũng” của tác giả Nguyễn Đại Nghĩa đều đi sâu vào phân tích tư tưởng, hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh về phòng, chống tham nhũng, lãng phí Từ đó rút ra những bài học đối với cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí ở Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu đề tài tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí, tác giả Vũ Thị Nhài đã có một công trình nghiên cứu kĩ lưỡng qua công trình “Nghiên cứu

tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí” [67] Trong phần nghiên cứu, tác giả đã đưa ra khái niệm, phương pháp tiếp cận nghiên cứu tư tưởng

Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; những quan điểm của Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và sự vận dụng vào thực tế Tuy nhiên, công trình được nghiên cứu từ năm 2008, cho đến nay đã có rất nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra với những khó khăn, phức tạp trong phòng, chống lãng phí đòi hỏi cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu để có những giải pháp phòng, chống lãng phí phù hợp hơn trong giai đoạn mới

Đi sâu vào lĩnh vực chống lãng phí trong xây dựng, năm 2012, trong luận án Tiến sĩ Luật học với đề tài “Đảm bảo pháp lý về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đầu tư xây dựng ở Việt Nam” của tác giả Vũ Viết Thiệu [80], quan niệm về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được tác giả tiếp cận dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả khẳng định: “Tiết kiệm là dành dụm, không hoang phí Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Tiết kiệm vốn là để giúp vào gia tăng sản xuất Nói theo lối khoa học thì tiết kiệm là tích cực chứ không phải là tiêu cực Lãng phí là tiêu phí vô ích Như vậy, tiết kiệm là sử dụng hợp lý trong tổ chức cuộc sống, tổ chức công việc còn lãng phí thể hiện sự bất hợp lý trong những hoạt động ấy” [80, tr.37]

Trang 9

Gắn với Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XI) tác giả Trần Mai Ước có bài nghiên cứu “Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh phòng chống tham nhũng đến cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XI)” Công trình đi sâu vào phần tích nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham nhũng theo hai nội dung cơ bản: Thứ nhất, muốn thức tỉnh quần chúng nhân dân, tiến hành vận động cách mạng cần tập trung vào đấu tranh, tố cáo tham nhũng Thứ hai, tích cực phát huy dân chủ trong đấu tranh phòng chống tham ô, tham nhũng – nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham nhũng, tác giả đưa ra suy nghĩ đến cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa

XI từ đó đưa ra giải pháp cần tập trung giải quyết

Đề cập đến Đảng với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng lãng phí, tác giả Cao Văn Thông trong công trình “Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về chống tham nhũng, lãng phí theo tư tưởng Hồ Chí Minh” khẳng định:

“Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ ba căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu là những “thứ giặc nội xâm” bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân mà ra Vì vậy, muốn cho Đảng trong sạch, vững mạnh, Người yêu cầu phải “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” Công trình đề cập đến hai nội dung chính: phòng, chống “giặc nội xâm” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham nhũng, lãng phí để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI

Thứ hai, những công trình, bài viết phản ánh thực trạng lãng phí và phòng, chống lãng phí ở Việt Nam hiện nay

Công trình “Tệ quan liêu, lãng phí và một số giải pháp phòng, chống” do Bộ phận Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (lần 2) và Ban Cán sự Đảng Viện Khoa học và Xã hội Việt Nam với sự tham gia của cán bộ ở nhiều cơ quan Trung ương được xem là một công trình lớn bàn về tệ quan liêu, lãng phí Công trình đi sâu nghiên cứu, làm rõ các hình thức biểu hiện, bản chất, tác hại và nguồn gốc của tệ

Trang 10

quan liêu, lãng phí, thực trạng và nguyên nhân tệ quan liêu, lãng phí ở Việt Nam trên

cơ sở đó đề xuất những quan điểm và giải pháp phòng, chống quan liêu, lãng phí

Trong công trình “Trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng, lãng phí” [34], tác giả Nguyễn Tuấn Khanh đã luận giải cặn kẽ về “lãng phí”, tác giả đưa ra khái niệm lãng phí dựa trên Điều 2 Điều 3 Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013

và phân loại lãng phí theo các lĩnh vực chủ yếu như sau: Thứ nhất, lãng phí trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn nhà nước, tài sản nhà nước, lao động và thời gian lao động trong lĩnh vực nhà nước Thứ hai, lãng phí trong quản lí, khai thác và sử dụng tài nguyên Thứ ba, lãng phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh

và tiêu dùng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Từ đó, tác giả đưa ra trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Tác giả Trần Đại Quang đã đề cập đến vấn đề phòng, chống lãng phí trong lực lượng công an nhân dân với công trình “Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, góp phần xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh” [72] Tác giả đưa ra tầm quan trọng của công tác phòng chống lãng phí gắn liền với quan liêu tham nhũng trong bối cảnh suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa được đẩy lùi, đang tác động làm xói mòn lòng tin của cán bộ, nhân dân, ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đe dọa sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí đặt ra cho lực lượng Công an nhân dân rất nặng nề Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí đáp ứng với kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Trong đó có giải pháp cơ bản: trong chỉ đạo cũng như tổ chức thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, công an các đơn vị, địa phương đều phải quán triệt tinh thần lấy kết quả của việc học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân

Trang 11

Gắn liền lý luận với thực tiễn, tác giả Trương Giang Long cho ra đời công trình “Quán triệt sâu rộng kết luận của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí” [45] Tác giả đã đưa ra thực chất nguyên nhân tệ tham nhũng, lãng phí hiện nay: thứ nhất, có một bộ phận cán bộ, đảng viên hư hỏng, thoái hóa biến chất trước áp lực và mặt trái của cơ chế thị trường Thứ hai, cốt lõi của vấn đề tham nhũng, lãng phí vẫn là sự bất cập của cơ chế, chính sách.Thứ ba, sự yếu kém và thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật.Thứ tư, vai trò của các đoàn thể quần chúng chưa được phát huy đúng mức Từ đó, tác giả gắn công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí với Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Công trình “Tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn 30 năm đổi mới (1986 – 2016) về tư pháp – nội chính phòng, chống tham nhũng, lãng phí” [8], Ban Nội chính Trung ương đã đề cập đến sự phát triển nhận thức của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí Từ đó, đưa ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân

và bài học kinh nghiệm; một số kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Nhìn tổng thể, các công trình nghiên cứu nói trên đã góp phần làm rõ nhiều vấn đề lý luận liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí và việc vận dụng tư tưởng này trong thực tiễn Tuy nhiên, để đi sâu làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về lãng phí nói chung và phòng, chống lãng phí nói riêng, phát hiện ra những giá trị tư tưởng có sức sống vượt thời gian, vận dụng vào thực tiễn cách mạng hiện nay còn nhiều vấn đề cần được làm rõ, chẳng hạn:

Thứ nhất, Hồ Chí Minh quan niệm như thế nào về lãng phí và vai trò của việc phòng, chống lãng phí qua đó xác định đúng tầm quan trọng của phòng, chống lãng phí trong xây dựng đất nước, xây dựng đạo đức mới, con người mới

Thứ hai, đi sâu phân tích nguyên nhân sâu xa của “căn bệnh” lãng phí theo tư tưởng Hồ Chí Minh để đưa ra phương thuốc đúng và phù hợp

Thứ ba, những biện pháp của Hồ Chí Minh trong phòng, chống lãng phí đáp ứng yêu cầu của cách mạng và vận dụng hiện nay, v.v

Trang 12

Lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng

phí và vận dụng ở Việt Nam hiện nay”, tôi mong muốn được tham gia giải quyết

một vài khía cạnh trong những vấn đề nói trên

2.2 Những vấn đề luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu đi sâu

+ Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu quan điểm của Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí, trên cơ sở đó phân tích, đánh giá thực trạng phòng, chống lãng phí ở Việt Nam hiên nay, xác định những vấn đề đặt ra, cần giải quyết

+ Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra trong phòng, chống lãng phí ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí trong việc phòng, chống lãng phí ở Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiê ̣m vụ

+ Nghiên cứu, làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về lãng phí

và phòng, chống lãng phí

+ Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí để phân tích, đánh giá thực tra ̣ng, xác định những vấn đề đă ̣t ra trong phòng, chống lãng phí ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay

+ Đề xuất m ột số giải pháp nh ằm giải quyết những vấn đề đặt ra trong phòng, chống lãng phí ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí và v ận dụng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tôi xác định phạm vi nghiên cứu là tập trung hệ thống hóa, khái quát hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí trên cơ sở các quan điểm, luận điểm về phòng, chống lãng phí được Hồ Chí Minh phát biểu trong các bài nói, bài viết của Người cũng như sự thể hiện tư tưởng đó

Trang 13

trong thực tiễn Người tiến hành phòng, chống lãng phí Đối với vấn đề vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, tôi cũng giới hạn phạm vi ở sự vận dụng của bản thân đối với

tư tưởng Hồ Chí Minh để phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong phòng, chống lãng phí ở Việt Nam hiện nay

5 Cơ sở lý luâ ̣n, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận, thực tiễn

+ Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam về lãng phí và phòng, chống lãng phí

+ Cơ sở thực tiễn của luâ ̣n văn là th ực trạng quá trình phòng, chống lãng phí

ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luâ ̣n văn đư ợc thực hiện dựa trên phương pháp luâ ̣n của chủ nghĩa duy vâ ̣t biê ̣n chứng và chủ nghĩa duy vâ ̣t li ̣ch sử ; đă ̣c biê ̣t chú tro ̣ng phương pháp lôgic , kết hợp phương pháp lôgic với phương pháp li ̣ch sử , kết hợp phương pháp phân tích, tổng hơ ̣p với các phương pháp thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn, v.v

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

+ Luâ ̣n văn góp phần cung c ấp những nhận thức, kiến giải mới về tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí; góp phần phân tích, đánh giá đúng thực trạng và

đề xuất được một số giải pháp thiết thực theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong phòng, chống lãng phí ở Việt Nam hiê ̣n nay

+ Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí và thực tiễn phòng, chống lãng phí ở Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu luâ ̣n văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương và 4 tiết

Trang 14

NỘI DUNG

Chương 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÒNG, CHỐNG LÃNG PHÍ 1.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về lãng phí

1.1.1 Quan niệm về lãng phí

Hồ Chí Minh không đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về lãng phí, nhưng Người tiếp cận vấn đề này một cách khá toàn diện, và qua đó, ta cũng có thể thấy được quan niệm của Người về lãng phí

Thứ nhất, Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề lãng phí từ hiện thực cuộc sống, những biểu hiện trong xã hội

Theo Hồ Chí Minh, lãng phí là hiện tượng đang tồn tại khá phổ biến trong xã hội Sở dĩ là hiện tượng phổ biến vì mọi người đều có thể gây lãng phí ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp Nếu như tham ô gắn chặt với sự tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước và quyền lực công, thì lãng phí lại hoàn toàn có thể xảy ra ngoài Nhà nước, tách khỏi bộ máy quản lý, cai trị, khỏi cơ quan quyền lực Chính vì lẽ đó, phạm vi gây ra lãng phí rộng lớn, không phân biệt chủ thể gây ra hành vi, trình độ chính trị, không kể quốc gia đó giàu hay nghèo, đang ở trình độ phát triển kinh tế như thế nào; xảy ra ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó tồn tại và phát triển thường xuyên hàng ngày hàng giờ và đụng chạm đến lợi ích của hầu hết dân cư Hồ Chí Minh chỉ rõ “Không phải là không nắm tiền, nắm quyền trong tay thì không là phí, là lạm Nhưng có tiền trong tay thì trực tiếp lãng phí và dễ thấy” [56, tr.7]

Có nhiều dạng lãng phí khác nhau nhưng xét về mặt lợi ích, hành vi gây ra lãng phí có hai dạng cơ bản đó là lãng phí tổn hại đến lợi ích riêng của cá nhân và lãng phí tổn hại đến lợi ích chung của tập thể, cộng đồng Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Người đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh đến dạng lãng phí gây tổn hại đến lợi ích chung, coi đó là căn bệnh nguy hiểm, gây ra hậu quả hết sức tai hại về mặt kinh

tế, chính trị, văn hóa xã hội, cản trở sự phát triển đi lên của xã hội

Trong nhiều bài nói chuyện, bài báo, bài viết Hồ Chí Minh đã đề cập cụ thể đến những hành vi lãng phí: Chẳng hạn như người nấu ăn cho tập thể, chức và

Trang 15

quyền chỉ là nấu ăn, nhưng có thể lãng phí Không khéo bố trí, xếp đặt nấu nướng là

đi đến lãng phí Hoặc như giao thông công chính sửa một con đường tính cho đúng nhu cầu mấy thước, cần 100 dân công, 1 tấn gạo và trong 10 ngày Nhưng vì tính không đúng nên phải dùng 200 dân công, 2 tấn gạo, 20 ngày Đây cũng là lãng phí Lãng phí có thể xảy ra do sự chủ quan của con người khi không biết bảo vệ của cải, vật dụng, sử dụng không cẩn thận, giữ gìn không sạch sẽ để chóng hỏng Đây là lãng phí nhỏ, nhưng cộng lại cả một cơ quan, cả một ngành, mọi nơi sẽ thành lãng phí rất to, dân gian thường có câu “tích tiểu thành đại” Từ những biểu hiện lãng phí, Hồ Chí Minh kết luận rằng: “Lãng phí là mất đi, đáng lẽ tiền và sức đó đem vào tăng gia sản xuất nay đem vào việc vô ích là lãng phí” [56, tr.7]

Thứ hai, lãng phí được Hồ Chí Minh tiếp cận trong quan hệ với mặt đối lập của nó là tiết kiệm

Lãng phí có nghĩa là trái với tiết kiệm Thời của Hồ Chí Minh sống và hoạt động, đất nước Việt Nam còn nghèo nàn, lạc hậu, chiến tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và thống nhất Tổ quốc Đó là những năm tháng gạo châu củi quế, mọi người phải thắt lưng buộc bụng dồn sức tất cả vì sự nghiệp chống giặc ngoại xâm

Vì lẽ đó, tiết kiệm là một chủ trương và biện pháp hữu hiệu trong mọi hành xử của con người và tổ chức

Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương hình thức, không liên hoan chè chén bù khú

CẦN với KIỆM, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người CẦN mà không KIỆM, “thì làm chừng nào xào chừng ấy” Cụ Khổng Tử nói: “Người sản xuất nhiều, người tiêu xài ít Làm ra mau, dùng đi chậm thì của cải luôn luôn đầy đủ” [54, tr.112] - Hồ Chí Minh đã dẫn lại lời của cổ nhân để nhắc nhở cán bộ

Tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn thống nhất với hành động của Người Trong suốt cuộc đời, Hồ Chí Minh đã cần cù lao động không bỏ phí một phút, một giây Người sắp xếp một cách khoa học mọi công việc của mình để tận dụng thì giờ cho

Trang 16

dân, cho nước Người tiết kiệm trong ăn, ở, mặc, chi tiêu hằng ngày Người vẫn thường xuyên có sổ tiết kiệm từ dành dụm tiền lương, tiền nhuận bút để mua quà tặng mọi người, nhất là quà cho các cháu thiếu niên, nhi đồng, các cụ già, những người đau yếu, bệnh tật Hồ Chí Minh thường viết trên những tờ giấy viết hoặc in một mặt, còn một mặt trắng Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tháng 12-1944 được Hồ Chí Minh viết trên vỏ bao thuốc lá Đó là một chỉ thị cực kì quan trọng, và đúng như dự đoán của Người trong những lời viết ở vỏ bao thuốc lá đó: Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang Nó là khởi điểm cho giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp

đất nước Việt Nam Những trang viết Tài liệu Tuyệt đối bí mật (sau này gọi là bản

Di chúc) bắt đầu từ năm 1965 của Hồ Chí Minh nhiều tờ được viết trên mặt giấy của bản tin Thông tấn xã Việt Nam Hồ Chí Minh ăn cơm không để rơi một hạt, thức ăn vừa đủ là do ý thức tiết kiệm và sự tôn trọng lao động của nhân dân Người kêu gọi mọi người tiết kiệm từng đồ vật, từng mảnh giấy ở công sở và Người luôn gương mẫu thực hành Người thường chơi chữ rằng, đừng biến tiết kiệm thành tiết canh Tiết kiệm, theo Hồ Chí Minh, còn là tiết kiệm cả thời gian, là tăng năng suất lao động chứ không phải bớt xén thời gian làm việc Hồ Chí Minh đã thực hiện tinh thần tiết kiệm một cách nghiêm khắc nhất nhưng đây không phải là chủ nghĩa khổ hạnh tôn giáo, mà là nguyên tắc khoa học và chuẩn mực giá trị đạo đức, xuất phát từ cái tâm của một con người “ăn không ngon, ngủ không yên khi đồng bào còn chịu khổ”

Tiết kiệm trong tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn trái ngược với sự hà tiện, keo kiệt, bủn xỉn Khi không nên tiêu xài thì một đồng cũng không nên tiêu Khi có việc đáng làm, việc có lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng phải lo cho được Như thế mới đúng là kiệm Việc đáng tiêu không tiêu là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm

Như vậy, thực hành tiết kiệm tức là phòng, chống lãng phí Đây là mối quan hệ biện chứng và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí

Trang 17

Thứ ba, Hồ Chí Minh tiếp cận lãng phí dưới góc độ đạo đức, theo đó, lãng phí là biểu hiện của cái “Ác” đối nghịch với đạo đức cách mạng, là kẻ thù ngăn trở

sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Theo Người, nước được độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập ấy chẳng có nghĩa lý gì Suy đến cùng, mục đích cách mạng của Hồ Chí Minh xuất phát từ con người và mục tiêu cao nhất cũng hướng đến con người Cuộc đời của Hồ Chí Minh là cuộc đời của một con người hành động mà mọi hành động đều xuất phát từ nhân dân tức là toàn dân, là dân tộc Người hướng tới nhân dân, hòa trong nhân dân, hóa vào nhân dân, lấy sức mạnh từ lực lượng đoàn kết của nhân dân, mưu sự bền vững từ khối đồng tâm nhất trí, đoàn kết, đồng thuận của muôn dân Hồ Chí Minh xoay quanh chữ dân trong phát triển, trong sự hoàn thiện, hoàn hảo của con người và cuộc sống Chính vì lẽ ấy, xã hội xã hội chủ nghĩa mà Hồ Chí Minh xây dựng đặt lợi ích của nhân dân lên tối thượng

“Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách giản đơn và dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động” [64, tr.30] “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” là một đặc trưng quan trọng, thậm chí được Hồ Chí Minh coi là quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa: “Quy luật cơ bản của kinh tế xã hội chủ nghĩa là thoả mãn những nhu cầu vật chất và văn hóa ngày càng cao của nhân dân lao động, trái ngược hẳn với nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản lũng đoạn, một nền kinh tế dựa vào sự bóc lột giai cấp công nhân ngày càng nặng nề, sự bần cùng hóa quần chúng lao động và sự cướp bóc các dân tộc bị nô dịch” [62, tr.161] Để thực hiện mục tiêu ấy “tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm” là phương thức chủ yếu, đồng thời là nhiệm vụ trọng tâm bậc nhất Gia tăng sản xuất, thực hành tiết kiệm thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa Cần và Kiệm Cần, Kiệm với Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là cách thức lao động để tạo ra của cải vật chất dồi dào cho xã hội mà còn là đạo đức không thể thiếu trong xã hội mới Kiệm là tôn trọng sức lao động, mồ hôi và nước mắt của nhân dân Vì lẽ đó, lãng phí là trái ngược với tiết kiệm, là trái với đạo đức Muốn

Trang 18

xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công, mọi người cần có tinh thần làm chủ tốt, phải

đề cao tinh thần trách nhiệm Lãng phí là chưa có tinh thần trách nhiệm, không quý trọng sức lao động, thời gian, của cải của chính mình và của xã hội

Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó là một nhiệm vụ rất nặng nề Sức có mạnh mới gánh được nặng và

đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang Đạo đức cách mạng ấy là Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc Lãng phí là không có đạo đức cách mạng

“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Thiếu một mùa, thì không thành trời

Thiếu một phương, thì không thành đất

Thiếu một đức, thì không thành người” [54, tr.117]

Theo Hồ Chí Minh, trong xã hội có trăm công nghìn việc, nhưng khái quát lại, những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc Chính và việc Tà Làm việc Chính là người Thiện Làm việc Tà là người Ác Siêng năng, tằn tiện, trong sạch, tiết kiệm là Chính, là Thiện Lười biếng, xa xỉ, lãng phí, tham lam là Tà, là Ác

Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần, chữ Liêm luôn phải đi đôi với chữ Kiệm Có Kiệm mới có Liêm, một người xa xỉ, lãng phí thì không bao giờ Liêm được Bởi vậy, muốn chống lãng phí phải kiên quyết chống xa xỉ: Việc đáng làm trong một giờ mà kéo dài 2, 3 giờ là xa xỉ Hao phí vật liệu là xa xỉ Ăn mặc đẹp trong lúc đồng bào đang thiếu cơm, thiếu áo là xa xỉ Ăn không ngồi rồi trong lúc đang cần kháng chiến và xây dựng là xa xỉ Vì vậy xa xỉ là có tội với đồng bào

Qua cách thể hiện quan điểm của Người, có thể hình dung quan niệm về lãng

phí của Hồ Chí Minh như sau: lãng phí là hiện tượng xã hội, là sự tốn kém, hao tổn

một cách vô ích các nguồn lực; lãng phí cũng có nghĩa là không tiết kiệm, là một biểu hiện trái với đạo đức cách mạng Quan niệm về lãng phí của Hồ Chí Minh xét

Trang 19

về tính chất có nét tương đồng với khái niệm lãng phí hiện nay ở Việt Nam được quy định trong Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (2013) cụ thể như sau:

“Lãng phí là việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên thiên nhiên không hiệu quả Đối với lĩnh vực đã có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành thì lãng phí là việc quản lý,

sử dụng ngân sách Nhà nước, vốn của Nhà nước, tài sản Nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực Nhà nước và tài nguyên vượt định mức, tiêu chuẩn, chế

độ hoặc không đạt mục tiêu đã định” [75] Khái niệm lãng phí trong Luật thực hành

tiết kiệm, chống lãng phí (2013) của Nhà nước Việt Nam hiện nay tiếp cận dưới góc

độ Luật học, còn với Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người về lãng phí được xem xét trong mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, mục tiêu chống lãng phí có lý do sâu xa là vì

cuộc sống tốt đẹp hơn, ấm no hơn, tiến bộ hơn, hạnh phúc hơn của con người

1.1.2 Nội dung lãng phí

Nội dung lãng phí được Hồ Chí Minh chỉ ra trong nhiều bài viết, bài nói cụ thể Về các dạng của lãng phí, Hồ Chí Minh không phân định một cách quá rạch ròi đến mức máy móc, bởi trong thực tế, một biểu hiện của dạng lãng phí này đôi khi lại hàm chứa hoặc liên quan mật thiết theo quan hệ nhân – quả với một dạng lãng phí khác

1.1.2.1 Lãng phí sức lao động

Trong mạch tư duy của Hồ Chí Minh, lãng phí nói chung và lãng phí sức lao động nói riêng liên quan trực tiếp đến việc sử dụng chưa đúng chữ “Cần” Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai Nhưng để chữ Cần mang lại hiệu quả phải

có kế hoạch cho mọi công việc Nghĩa là phải tính toán cẩn thận và sắp đặt gọn gàng Chữ Cần phải được qua giáo dục và rèn luyện, có tính toán cẩn trọng Điều đó làm nên sự khác biệt của con ong xây tổ với nhà kiến trúc sư Mạnh Tử có câu: Người thợ muốn khéo, thì phải sắp sẵn công việc của mình Có siêng năng, chăm chỉ nhưng không khoa học, không có quản lý, sắp xếp “lãng phí sức lao động: Vì kém tinh thần phụ trách, vì tổ chức sắp xếp vụng, việc gì ít người cũng làm được mà

Trang 20

vẫn dùng nhiều người” [55, tr.356] sẽ dẫn đến mất nhiều công sức nhưng hiệu quả không cao, thậm chí hỏng việc

Lãng phí sức lao động còn xảy ra phổ biến khi chữ “Cần” có kế hoạch nhưng không đi đôi với chữ “Chuyên” Chuyên nghĩa là dẻo dai, bền bỉ Nếu không chuyên, nếu một ngày Cần mà mười ngày không Cần thì cũng vô ích Như thế chẳng khác nào một tấm vải phơi một hôm mà ngâm nước mười hôm, ướt vẫn hoàn ướt Vậy là công sức phơi của một ngày phơi đó cũng bị bỏ xuống sông, xuống bể

Siêng năng, kế hoạch lại phải đi liền với phân công Phân công nhằm vào hai điều: thứ nhất là phân công công việc: việc gì gấp làm trước, việc gì hoãn làm sau, phân công công việc cho phù hợp với hoàn cảnh Trong xã hội, việc phân bổ công việc không hợp lý cũng là một dạng lãng phí sức lao động Hồ Chí Minh nhận thấy rằng, định kiến xã hội cũ trước giờ chỉ nói đến có lao động thì có ăn, không lao động thì không có ăn chứ không nhận thấy rằng lao động là vẻ vang; tâm lý “Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao”, nghĩa là trong xã hội chỉ có người đọc sách, tức người trí thức là cao hơn hết thảy, dẫn đến việc coi trọng lao động trí óc, cố gắng phấn đấu để ra nhập đội ngũ lao động trí óc Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc dư thừa lao động gián tiếp, trong khi đó theo Hồ Chí Minh, muốn Nhà nước giàu mạnh, nhân dân no ấm, phải luôn luôn cố gắng sắp xếp để có thật nhiều người trực tiếp sản xuất Còn số người không trực tiếp sản xuất thì càng ít càng tốt, nhưng phải thông thạo công việc và đủ sức gánh vác nhiệm vụ công tác khác Việc phân công lao động không phù hợp cùng với tệ quan liêu dẫn đến lãng phí sức lao động điển hình trong bộ máy Nhà nước “số người làm việc giấy tờ và những việc linh tinh có nơi cũng còn quá nhiều Ví dụ: Đến một vài cơ quan, chúng ta vẫn phải qua quá nhiều "cửa ải": ngoài cổng, một người xem giấy; vào phòng thường trực lại một người ghi tên; ở chân cầu thang, một người ách lại, đến đầu cầu thang, lại một người "hỏi han" Thật là phung phí sức lao động!” [60, tr 499-500]; Thứ hai là phân phối nhân tài: người nào có năng lực làm việc gì thì đặt vào việc ấy Nếu dùng không đúng, người giỏi nghề thợ mộc thì giao cho việc thợ rèn, người giỏi nghề rèn thì giao cho việc thợ mộc, như thế thì hai người đều thất bại cả hai Đây là biểu hiện

Trang 21

rõ rệt của lãng phí sức lao động mà Hồ Chí Minh thường xuyên đề cập, đặc biệt trong việc cân nhắc và sử dụng cán bộ: “Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc Nếu cất nhắc không cẩn thận, không khỏi đem người

bô lô ba la, chỉ nói mà không biết làm, vào những địa vị lãnh đạo Như thế rất có hại” [53, tr.314]

1.1.2.2 Lãng phí tiền của

Về lãng phí tiền của, Hồ Chí Minh chỉ ra các hình thức và những thí dụ điển hình:

- Các cơ quan dùng vật liệu một cách phí phạm

- Các xí nghiệp dùng máy móc và nguyên liệu không hợp lý

- Lãng phí nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên rừng Trong nhiều bài nói chuyện với nhân dân, Hồ Chí Minh nhắc nhở đồng bào “Bác đi qua nhiều nơi thấy rừng bị phá rất nhiều Những cây gỗ to, cao chặt để đốt hay để cho nó mục nát, không khác gì đồng bào tự mình đem tiền bạc của mình bỏ xuống sông” [60, tr.209]

- Cục vận tải giữ gìn xe cộ, tiết kiệm dầu mỡ không triệt để Sở kho thóc làm kho tàng không cẩn thận; người giữ kho kém tinh thần trách nhiệm, để thóc ẩm ướt, hao hụt, hư hỏng

- Mậu dịch không khéo tính toán sắp xếp, để hàng hóa hao hụt, lỗ vốn Ngân hàng không khéo sử dụng tiền bạc, để tiền bạc ứ đọng lại, không bổ ích cho việc tăng gia sản xuất

- Cơ quan kinh tế làm kế hoạch không thiết thực, không sát với hoàn cảnh,

để Chính phủ phải lỗ vốn

- Bộ đội không biết quý trọng giữ gìn quân trang, quân dụng và chiến lợi phẩm

- Nhân dân bỏ hoang ruộng đất, đốt vàng mã, bán trâu, cầm ruộng để làm đám cưới, đám ma, v.v…Trong lần nói chuyện với đồng bào tỉnh Yên Bái năm

1958, Hồ Chí Minh nêu cụ thể sự lãng phí tiền của cho đồng bào thấy rõ “Lúc đám cưới, mời họ nội, họ ngoại chè chén linh đình, 2 bữa say sưa bằng thích Nhưng sau đấy nhà trai, nhà gái phải bán trâu, bò, thóc, bán ruộng, đi vay nợ ” [59, tr.534];

“Đồng bào còn tục lệ ma chay, cưới hỏi ăn uống lu bù Mình ăn vài bữa nhưng nhà

Trang 22

có con cưới hỏi, có người chết thì mắc nợ phải đi vay Phải bán trâu bán ruộng Thế

là xa xỉ Không tốt” [59, tr.551]

Trong bài Mừng tết nguyên đán thế nào? Hồ Chí Minh thẳn thắn phê bình sự

lãng phí trong dân chúng ở những ngày lễ tết Mừng xuân phải mừng một cách vui vẻ

và lành mạnh Nếu có bao nhiêu tiền đều bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là mừng xuân một cách lạc hậu, lãng phí, thế là không xuân

Sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm, tránh vì được mùa mà tiêu sài phung phí

Hồ Chí Minh nêu dẫn chứng cụ thể ở huyện Yên Thành, Nghệ An năm 1960 vì được mùa to đã “liên hoan” hết 123 con lợn, 8 con bò, 3 con bê Đó là chưa kể số chi tiêu vào việc muối, gạo, rượu, chè Cũng chưa kể những ngày lao động của bà con 20 xã đã mất toi Vừa lãng phí tiền của lại vừa lãng phí công sức “Lạc bất khả cực, lạc cực sinh ai” nghĩa là vui không nên quá mức, vui quá mức đi đến cái buồn

Hồ Chí Minh làm một bài thơ nhắc nhở để nhân dân có một cái tết vui vẻ, tưng bừng, đồng thời là một tết tiết kiệm và thắng lợi

Trăm năm trong cõi người ta Cầm kiệm xây dựng nước nhà mới ngoan Mừng xuân, Xuân cả thế gian Đâu phải lãng phí cỗ bàn mới Xuân

Từ nhận định đó, Hồ Chí Minh nêu ra những biểu hiện cụ thể về lãng phí thời gian: “…Việc gì có thể làm trong một ngày một buổi, cũng kéo dài đến mấy ngày Thí dụ: Những cuộc khai hội, vì người phụ trách chuẩn bị chương trình không đầy đủ, người đến dự hội thì không chuẩn bị ý kiến, đáng lẽ chỉ một ngày thì bàn

Trang 23

bạc và giải quyết xong vấn đề, song cuộc khai hội kéo dài đến 5, 3 ngày” [55, tr.356]

Bệnh hội họp triền miên là một trong những căn bệnh của cán bộ chính quyền các cấp, không chỉ lãng phí thời gian, hao tốn lao động, tiền của, mà còn làm cho cán bộ ít có điều kiện gần dân, sát với nhân dân, “Bác đã nghe là hội họp quá nhiều Khổ nhất là các cháu gái tuổi thanh niên, phải đi họp nào đội sản xuất, nào đoàn thanh niên, nào hội phụ nữ, nào đội dân quân, vào Đảng thì lại đi họp Đảng, không có thời gian nghỉ ngơi, học tập gì nữa” [63, tr.294] “Hẹn khai hội tám giờ thì chín, mười giờ mới đến Làm mất thời giờ của những người khác Họ không hiểu rằng: giữ đúng thời giờ là một tính tốt của người cách mạng” [53, tr.343]

Hồ Chí Minh tinh tế nhận ra, việc lao động không đúng thời gian quy định, nhất là trong lĩnh vực sản xuất là sự lãng phí tuy vô hình nhưng gây tổn hại lớn:

“Thường thường còn một số công nhân, đến 2 giờ mới đổi kíp, nhưng 1 giờ 45 phút hay 1 giờ 40 phút đã nghỉ việc Như vậy là ăn bớt của Nhà nước, của công nhân, của nhà máy mất 10 phút, 15 phút Nếu mỗi người nghỉ trước 6 phút thì 10 người là

1 tiếng, cứ thế tính cho nhiều người thì ảnh hưởng không tốt đến sản xuất Như vậy là chưa phải thái độ làm chủ” [58, tr.534]

Trong sản xuất, Hồ Chí Minh một mặt thấy được rằng, có trường hợp làm đúng định mức, vượt thời gian quy định (tức không lãng phí thời gian) nhưng không hiệu quả, không đảm bảo chất lượng phải làm lại, suy cho cùng đó là sự lãng phí ngầm mà ít được chú ý tới Nếu thi đua sản xuất chỉ chú ý thi đua làm nhiều, làm nhanh, mà chưa chú ý thi đua làm tốt vì bệnh “thành tích” là rất có hại, là lãng phí Cho nên:

“Làm nhanh mà không tốt

Trang 24

Qua các dạng lãng phí mà Hồ Chí Minh đề cập, có thể thấy lãng phí là hiện tượng xã hội phổ biến hiện hữu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Lãng phí sức lao động, thời gian hay tiền của đều có điểm chung như sau:

Một là, những chi phí, tổn hao và sử dụng nguồn lực tài chính, nhân lực và các nguồn lực khác trên mức hợp lý, phải có và cần thiết;

Hai là, không đạt được mục tiêu, kết quả như đã xác định hoặc nếu có thì hiệu suất ở mức thấp;

Ba là, những tổn hao, tổn thất không đáng có hoặc không được phép có; Bốn là, tất cả những điều trên xảy ra do hành vi của con người, được gọi là hành vi gây ra lãng phí

1.1.3 Nguyên nhân và tác hại của lãng phí

1.1.3.1 Nguyên nhân của lãng phí

Lãng phí là căn bệnh nguy hiểm, song muốn chống lãng phí hiệu quả, phải tìm hiểu bắt đầu từ nguồn gốc, nguyên nhân của chúng Theo Hồ Chí Minh, lãng phí nảy sinh do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan

Về khách quan, Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định xa xỉ, lãng phí là thói xấu

do xã hội cũ để lại Dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, thực dân Pháp xây dựng

ở Việt Nam một bộ máy hành chính mang tính đàn áp nặng nề; về kinh tế việc phát triển các ngành công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp chỉ hướng tới việc bóc lột hiệu quả và mang lại lợi ích cho tư bản Pháp nhiều nhất; những khoản thuế vốn đã nặng nề lại ngày càng nặng nề hơn Về văn hóa, thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, ngu dân, gây tâm lý tự ti, vong bản, khuyến khích các tệ nạn như mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc… “rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của Chính phủ Máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại” [52, tr.40] Ở chế độ ấy, những viên quan “khai hóa” thực chất là những kẻ tham ô, hủ hóa, ăn chơi phè phỡn, lãng phí tiền bạc của người dân An Nam khốn khổ Không kém các nhà “khai hóa” Pháp, những quan chức tay sai người Việt cũng dùng mọi thủ đoạn để vơ vét, bòn rút tiền bạc của nhân dân để sống xa hoa, lãng phí Bởi vậy, ngay cả một người Pháp khi

Trang 25

đến Đông Dương cũng phải thốt lên: “Nếu đem so sánh với bọn viên chức thuộc địa thì những tên cướp đường còn là những người lương thiện” [52, tr.394]

Trong xã hội như vậy, đạo đức bị biến thành công cụ để bọn cầm quyền cai trị Đó là chuẩn mực đạo đức phong kiến vẫn luôn luôn trói buộc nhân dân lao động vào những lễ giáo hủ bại, phục vụ cho chế độ đẳng cấp, tôn ty trật tự hết sức hà khắc của giai cấp phong kiến Đó là đạo đức cá nhân chủ nghĩa ích kỉ cực đoan của giai cấp tư sản…Với bản chất của kẻ đi bóc lột, đạo đức về tiết kiệm, phòng, chống lãng phí quả là một điều vô cùng xa lạ

Hồ Chí Minh chỉ rõ, thực dân phong kiến tuy bị tiêu diệt, nhưng cái nọc độc xấu xa của nó (tham ô, lãng phí, quan liêu) vẫn còn, thì cách mạng vẫn chưa hoàn toàn thành công, vì cái nọc xấu ấy ngấm ngầm ngăn trở, ngấm ngầm phá hoại sự nghiệp xây dựng của cách mạng, “…chúng ta sinh trưởng dưới chế độ nô lệ của thực dân và phong kiến, bị văn hóa, giáo dục thực dân, phong kiến thấm vào đã sâu

Nó làm cho nhiều người tê mê quên cả nhân dân, quên cả Tổ quốc Nó đã làm cho những bệnh thối nát hủ bại (như chủ nghĩa cá nhân, tự tư tự lợi, tham ô, lãng phí…)

ăn sâu vào con người như những bệnh kinh niên…” [56, tr.143]

Không ai có thể có ý thức tiết kiệm, chống lãng phí đầy đủ khi họ chưa thật sự biết trân trọng thành quả lao động do đồng loại tạo ra Hồ Chí Minh nhận

ra nguyên nhân của sự xa xỉ, lãng phí do chưa xây dựng được đạo đức trong lao động ở chế độ cũ Trong xã hội Việt Nam thời xưa, đối với thành phần bóc lột và đối với tầng lớp trung gian thì lao động và những người lao động là những thứ đáng kinh rẻ Địa vị xã hội và tư tưởng của họ đã dẫn đến “hai cái khinh là: khinh lao động chân tay và khinh người lao động chân tay và hai sợ là: sợ khó nhọc và sợ khổ” [59, tr.399]

Người ta chưa thể tìm thấy hạnh phúc trong lao động, chưa thể có tình cảm đầy đủ đối với thành quả lao động, cho dù là của chính mình, khi còn giữ tư tưởng và thói quen lao động làm thuê đã được hình thành qua nhiều năm dưới chế độ cũ

Hồ Chí Minh từ lâu đã dự báo về những căn bệnh mà cán bộ ta dễ mắc phải khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền Sự tác động của môi trường mới, sự lôi kéo

Trang 26

của kẻ xấu cũng là yếu tố khách quan dẫn đến xa xỉ, lãng phí Hồ Chí Minh chỉ rõ:

“Từ Cách mạng Tháng Tám thành công, chúng ta mới thoát khỏi vòng tối tăm bước lên đường sáng sủa Nhưng từ chỗ tối bước sang chỗ sáng không khỏi có người hoa mắt, choáng váng…” [56, tr.144] Khi các đơn vị bộ đội vào thành tiếp quản đô thị ngày 10 tháng 10 năm 1954, Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Ở thành thị tình hình phức tạp, có nhiều sự quyến rũ làm cho người ta mê muội, hủ hóa, trụy lạc…” [57, tr.82] Nếu người cán bộ, chiến sĩ mất cảnh giác sẽ bị lung lạc, bị kẻ xấu mua chuộc và cuối cùng dẫn đến tham ô, lãng phí “Ta ở rừng núi, quen tiết kiệm của công, của riêng Đó là điều tốt Về xuôi, Bác chỉ nói vài cái nhỏ: Phở ngon, rồi thì đồng hồ, bút máy, xe đạp, v.v Nếu không giữ được thói quen tiết kiệm thì sẽ tham ăn ngon, tham mua các thứ xa hoa Lương không đủ thì sẽ lấy ở đâu? Lúc ấy chỉ có hai cách: Một là ăn cắp của Chính phủ, hai là bị tiền mua chuộc” [57, tr.46] “Có thể những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi” [57, tr.46]

Lãng phí chịu sự tác động của yếu tố khách quan; song yếu tố chủ quan là yếu tố quan trọng và mang tính quyết định nhất Cụ thể :

- Về đạo đức: Hồ Chí Minh cho rằng tệ quan liêu, tham ô của cán bộ, đảng

viên chính là nguyên nhân và điều kiện của lãng phí; nơi nào có quan liêu, tham ô thì ở nơi đó có lãng phí; quan liêu, tham ô càng nặng thì lãng phí càng nhiều

“Tham ô là lấy của công làm của tư Là gian lận tham lam Là không tôn trọng của công Là không thương tiếc tiền gạo do mồ hôi nước mắt của đồng bào làm ra, do xương máu của chiến sĩ làm ra” [55, tr.296 - 297] Không phải mọi hành

vi lãng phí đều là tham ô, nhưng mọi hành vi tham ô đều gây lãng phí, thiệt hại đến tài sản của nhà nước, của nhân dân

Quan liêu, theo Hồ Chí Minh là sự xa rời thực tế, xa rời quần chúng nhân dân, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng Người mắc bệnh quan liêu thường “Không

đi sâu đi sát phong trào Không nắm tình hình cụ thể của ngành hoặc địa phương mình, không gần gũi quần chúng và học hỏi kinh nghiệm của quần chúng Thích

Trang 27

ngồi bàn giấy hơn đi xuống cơ sở để hiểu đúng thực tế, kiểm tra việc thi hành chính sách, lắng nghe ý kiến nhân dân Thích dùng mệnh lệnh hành chính hơn là kiên nhẫn giáo dục quần chúng một cách có lý, có tình Do đó mà đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Chính phủ có khi không thấu đến quần chúng hoặc bị thi hành lệch lạc, kết quả là đã hỏng công việc lại mất lòng người” [62, tr.29]

Do mắc bệnh quan liêu mà cán bộ, đảng viên coi thường nhân dân, lúc nào cũng vác mặt là “quan cách mạng”, không chịu học tập, tu dưỡng dẫn đến trình độ kém cỏi, phẩm chất suy thoái Như thế bệnh quan liêu làm cho nhà nước xã hội chủ nghĩa rời bản chất tốt đẹp của nó, xa rời nguồn sức mạnh của mình là nhân dân, là cội nguồn của hàng loạt sai phạm khác “…Bệnh quan liêu là chỗ gieo hạt, vun trồng cho tham ô, lãng phí nảy nở” [55, tr.345], có nạn tham ô và lãng phí là vì bệnh quan liêu Vì những người, những cơ quan lãnh đạo từ cấp trên xuống cấp dưới không sát sao công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng Đối với công việc thì trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không đi sâu vào vấn đề Chỉ biết khai hội, chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi đến chốn

Nói tóm lại: “Vì những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững Kết quả là những kẻ xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí Thế là bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí” [55, tr.357]

Để tẩy sạch bệnh quan liêu, Hồ Chí Minh tiếp tục chỉ rõ nguyên nhân của căn bệnh này Người cho rằng, sở dĩ cán bộ quan liêu vì không chịu tu dưỡng, rèn luyện nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích của tập thể…Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy” [61, tr.90] “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan…Nó trói buộc, bịp mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ gì đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân” [59,

Trang 28

tr.611] Chủ nghĩa cá nhân rất nguy hiểm và không dễ đối phó, vì nó là kẻ thù bên trong, mà địch bên trong thì bao giờ cũng khó phát hiện và đấu tranh hơn kẻ địch bên ngoài Người phân tích: “Phải thấy kẻ địch trong mình ta nó mạnh lắm Đế quốc bên ngoài có thể dùng súng đạn để đánh được; kẻ địch trong không thể dùng lựu đạn mà ném vào được; nó vô hình, vô ảnh, không dàn ra thành trận, luôn luôn lẩn lút trong mình ta Nó khó thấy, khó biết nên khó tránh…” [56, tr.98]

Phân tích nguyên nhân cụ thể, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lãng phí có nhiều nguyên nhân Hoặc vì lập kế hoạch không chu đáo Hoặc vì trong khi thực hiện kế hoạch tính toán không cẩn thận Hoặc vì bệnh hình thức, xa xỉ, phô trương Hoặc vì thiếu tinh thần bảo vệ của công Nói tóm lại là vì thiếu ý thức trách nhiệm, thiếu ý thức quý trọng sức của, sức người của Nhà nước và của nhân dân” [62, tr.141]

Người đặc biệt nhấn mạnh đến bệnh khai hội, bệnh hình thức gây lãng phí thời gian, vật chất; kém hiệu quả trong công việc “Khai hội không có kế hoạch, không sắp sửa kỹ lưỡng, không thiết thực Khai hội lâu, khai hội nhiều quá” [53, tr.287]

Bệnh hình thức còn là nguyên nhân làm giảm tính hiệu quả của phong trào phòng, chống lãng phí “tuyên truyền rầm rộ, mọi người đeo khẩu hiệu trên ngực, nhưng vì cán bộ không giải thích, nhiều người không hiểu khẩu hiệu nói gì” [56, tr.365]

- Về năng lực, trình độ chuyên môn : Hồ Chí Minh hoàn toàn có lý khi cho

rằng: Lòng nhiệt tình hăng hái hy sinh + sự dốt nát = phá hoại Trong thực tế, những thiếu sót về mặt trí tuệ đã gây ra những lãng phí rất lớn, cản trở không nhỏ cho sự phát triển của đất nước, cho việc cải thiện đời sống nhân dân…

Có thể thấy rằng, Hồ Chí Minh rất đề cao phẩm chất và sự tu dưỡng của cán

bộ, đảng viên và nhân dân Bởi theo Người, suy đến cùng nguyên nhân chủ yếu, mang tính quyết định của lãng phí đó là chủ nghĩa cá nhân, là quan liêu, tham ô, cửa quyền, mệnh lệnh…Chính những thứ đó đã khiến cán bộ không kiểm soát được hành vi của mình, không gương mẫu đối với nhân dân dẫn đến sa ngã, rơi vào tham

ô, xa xỉ, lãng phí Vì vậy, cuộc đấu tranh chống lãng phí luôn phải gắn chặt với đấu

Trang 29

tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống tham ô và bệnh quan liêu Mặt khác, bên cạnh tư cách, đạo đức trong sáng cần có năng lực trí tuệ cao, nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật tự nhiên và xã hội vào hoạt động của mình Đó là sự thống nhất giữa “Đức” và “Tài ”, “Hồng” và “Chuyên”

1.1.3.2 Tác hại của lãng phí

Khi đề cập đến tác hại của lãng phí, Hồ Chí Minh luôn đặt lãng phí trong mối quan hệ với tham ô và bệnh quan liêu Vì xét đến cùng, mọi biểu hiện của sự quan liêu và tham ô đều gây ra lãng phí rất lớn về của cải vật chất, thời gian, sức lực của xã hội Lãng phí của công, của Nhà nước trong đó bao gồm cả hành vi tham ô được xem là lãng phí lớn nhất, gây tổn thất nặng nề nhất

“Tham ô có hại; nhưng lãng phí có khi còn hại nhiều hơn: Nó tai hại hơn tham ô vì lãng phí rất phổ biến: lãng phí của cải, thì giờ, lực lượng của nhân dân, của Chính phủ” [55, tr.334]

Tác hại của lãng phí thể hiện ở việc gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, của nhân dân, ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp xây dựng đất nước

“Nhân dân lao động ta làm lụng đổ mồ hôi sôi nước mắt để góp phần xây dựng của công – của nhà nước và của tập thể Của công ấy là nền tảng vật chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là cơ sở để nâng cao đời sống của nhân dân ta” [61, tr.416]

Trước tiên, lãng phí làm thiệt hại sản xuất, khiến cho việc thực hành tiết kiệm, tăng năng suất lao động trở nên vô nghĩa Hồ Chí Minh chỉ rõ nếu đại đa số nhân dân ra sức sản xuất và tiết kiệm mà có kẻ lại đầu cơ tích trữ, ăn cắp của công, phung phí thì sản xuất và tiết kiệm sẽ bị ảnh hưởng không tốt Khi nói chuyện với các thanh niên công trường đá Sơn Tây, Người nêu rõ: “Các cháu đã cố gắng tăng năng suất và tiết kiệm Kết quả tính ra tiền là hơn 6 triệu đồng Thế là tốt Nhưng đồng thời các cháu còn phạm khuyết điểm tham ô, lãng phí, tính ra tiền là độ 3 triệu đồng Thế là khác nào các cháu đã tự làm hỏng một nửa thành tích của mình” [58, tr.198] Khi nói chuyện tại Đại hội các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc năm 1952, Hồ Chí Minh căn dặn: “Để phát triển phong trào thi đua, chúng ta

Trang 30

phải chống bệnh quan liêu, chống nạn tham ô, lãng phí…vì nạn tham ô, lãng phí sẽ làm suy giảm những kết quả của phong trào” [55, tr.409] Người thống kê con số thiệt hại do tham ô, lãng phí gây ra và mức độ nghiêm trọng của nó đối với Nhà nước và nhân dân một cách rất chính xác và cụ thể: “Theo con số đã nắm được từ năm 1956 đến 1961 thì những vụ tham ô đã làm hao tốn của Nhà nước hàng triệu đồng…với số tiền bạc, của cải bị tham ô, lãng phí đó, người ta có thể làm được: Hoặc 10 công trình thủy lợi như Bắc Hưng Hải, hoặc 5 nhà máy cơ khí trung quy

mô, hoặc mấy ngôi nhà 4 tầng cho 1 vạn người ở” [61, tr.418] Không chỉ vậy, tham

ô, lãng phí còn khiến sự giúp đỡ về tinh thần, vật chất của anh em, bạn bè quốc tế đối với Việt Nam không được phát huy và sử dụng có hiệu quả Sau khi nói về hư tổn do tham ô, lãng phí gây ra, Hồ Chí Minh nhắc: tiền bạc, của cải đó là do nhân dân ta đóng góp, cũng có phần do nhân dân các nước anh em giúp đỡ Để hao hụt vì tham ô, lãng phí chẳng những là không biết thương tiếc mồ hôi, nước mắt của nhân dân mà còn không quý trọng sự giúp đỡ chí tình của nhân dân các nước ấy Nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói năm 1955, Người nhấn mạnh: “Tham ô, lãng phí là có tội, mà tham ô, lãng phí gạo cứu đói tội càng lớn hơn Không khác gì gián điệp giết hại đồng bào Thế là có tội với Đảng và Chính phủ, đối với nhân dân, đối với nước bạn” [57, tr.519]

Tác hại của lãng phí còn thể hiện ở việc làm tha hóa, suy thoái đạo đức cách mạng, phá hoại tinh thần trong sạch, ý chí vượt khó của cán bộ, đảng viên Hồ Chí

Minh coi đạo đức là nền tảng, là ngọn nguồn của sông suối, người cách mạng phải

có đạo đức mới có thể hoàn thiện nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó Việc hình thành đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên chịu sự tác động của nhiều yếu tố, nó thể hiện cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác Đối với mỗi cán

bộ, đảng viên, cái ác chính là bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu, chủ nghĩa cá nhân…

“Nếu hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thế là Thiện Nếu chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không lo đến lợi ích chung của nước nhà, của dân tộc, thế là ác Thực hành chí công vô tư, cần kiệm liêm chính, thế là thiện Nếu phạm quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lười biếng, thế là ác” [58, tr.454] Người cũng nhận

Trang 31

thấy rằng, đa số cán bộ, đảng viên, đoàn viên, công nhân viên chức chúng ta đều trong sạch, tận tụy, đều mang bản chất, đạo đức cách mạng không ngại gian khổ, hy sinh vì cách mạng, vì nhân dân Tuy nhiên, khi họ mắc phải tệ tham ô, lãng phí chỉ

lo mưu lợi cá nhân thì không còn bản lĩnh để vượt qua những khó khăn, thử thách, không còn xứng đáng là người cán bộ của nhân dân nữa Bởi vậy, tham ô, lãng phí chính là căn bệnh nguy hiểm với việc giữ gìn đạo đức và sự trong sạch của cán bộ, đảng viên

Lãng phí là con đẻ của tệ tham ô, là nguy cơ đe dọa trực tiếp đến bản chất cách mạng và sự tồn vong của chế độ chính trị, xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước Bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ của dân, do dân, vì

dân Mọi cán bộ, đảng viên phải là công bộc của dân, vui niềm vui của dân, đau khổ với nỗi đau khổ của nhân dân Mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối liên hệ máu thịt, gắn bó chặt chẽ Tuy nhiên, bản chất đẹp đẽ đó sẽ bị vấy bẩn nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, mắc các chứng bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu, hách dịch Tham ô, lãng phí không khác gì con sâu làm rầu nồi canh, con lợn sục vào làm hỏng cả vườn rau Trong bài nói chuyện tại Hội nghị cải cách ruộng đất Bắc – Bắc (Bắc Giang và Bắc Ninh), Hồ Chí Minh nhắc nhở: Cán bộ nào

mà tham ô, lãng phí là có tội to với Đảng và Chính phủ, có tội to với nhân dân và có tội to với anh chị em cán bộ khác Vì người ta không nói tên anh A, anh B hoặc anh

C tham ô, lãng phí; mà người ta nói cán bộ cải cách ruộng đất tham ô, lãng phí Khi bản chất của chế độ, của sự nghiệp cách mạng bị tham ô, lãng phí vấy bẩn thì nhân dân sẽ suy giảm lòng tin vào nó Sức mạnh của Đảng, Nhà nước có được là ở nhân dân, “Trong bầu trời, không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [58, tr.453] Vì vậy, khi Đảng và Nhà nước đánh mất lòng tin ở nhân dân chính là đánh mất sức mạnh của bản thân mình Điều

đó trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong của Đảng và sự vững mạnh của bộ máy Nhà nước, “Nhân dân rất thương yêu và quý trọng cán bộ, đảng viên nhưng nếu cán bộ, đảng viên quan liêu, mệnh lệnh, tham ô thì dân không tin, do đó làm nguy hại đến công tác Đảng” [63, tr.527] Người cũng nêu lên một luận điểm quan trọng và có ý

Trang 32

nghĩa cảnh tỉnh sâu xa đối với Đảng và Nhà nước ta: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” [63, tr.672]

Ở đâu có tham ô, ở đó có lãng phí Lãng phí là kẻ thù nguy hiểm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Đấu tranh chống lãng phí, tham ô là nhiệm vụ mang tính sống còn của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân

1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí

1.2.1 Vai trò của viê ̣c phòng, chống lãng phí

Lãng phí là một căn bệnh mà Hồ Chí Minh lên án gay gắt Chống lãng phí là biện pháp để tiết kiệm, một vấn đề quốc sách của mọi quốc gia Với Hồ Chí Minh, người nhận thức sâu sắc vai trò của phòng, chống lãng phí

Thứ nhất, phòng, chống lãng phí tạo nguồn lực vật chất để xây dựng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân

Thực hành tiết kiệm là một trong những cách thức phòng, chống lãng phí hiệu quả, quan trọng hàng đầu để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh nhận định muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải cải tạo xã hội cũ thành một

xã hội mới, một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng Muốn xã hội giàu thì mỗi cá nhân, mỗi gia đình cho đến cả nước phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, kết quả sẽ là những thứ gì cũng sẽ đầy đủ dư dật Lúc

đó là lúc ai cũng đưa hết tài năng của mình cống hiến cho xã hội, đồng thời ai cần dùng bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu, “Các tận sở năng, các thủ sở nhu”, ấy là chế độ cộng sản

Tăng gia sản xuất có mối quan hệ biện chứng với phòng, chống lãng phí, thực hành tiết kiệm Tăng gia sản xuất cần kết hợp với thực hành tiết kiệm, đây là con đường để xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân Hồ Chí Minh ví tăng gia như tay phải của hạnh phúc, còn tiết kiệm như tay trái

Trang 33

của hạnh phúc Hơn nữa, Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội khi đất nước còn lạc hậu, dân còn nghèo Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, muốn cải thiện đời sống phải cần, phải kiệm, chống lười biếng, chống lãng phí

“Chúng ta phải kiệm phải cần Thì nước mới mạnh, thì dân mới giàu” [60, tr.329]

Để kháng chiến, để kiến quốc phải có một nền kinh tế khá Muốn xây dựng nền kinh tế thì phải có tiền của để làm vốn Muốn có vốn, thì các nước tư bản dùng

3 cách: vay mượn nước ngoài, ăn cướp của các thuộc địa, bóc lột công nhân, nông dân Nhưng tất cả các cách trên đều không thể thực hiện khi xây dựng một chế độ nhà nước của nhân dân, một chế độ không còn người bóc lột người Hồ Chí Minh khẳng định “chỉ có cách là một mặt tăng gia sản xuất, một mặt tiết kiệm để tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của ta” [55, tr.352]

Bắt tay vào xây dựng đất nước, nếu chỉ tăng gia sản xuất mà không phòng, chống lãng phí, không thực hành tiết kiệm thì sản xuất không đủ dùng, kết quả là không lại hoàn không Hồ Chí Minh mô tả bằng hình ảnh cụ thể nếu Cần mà không Kiệm, không coi trọng phòng, chống lãng phí cũng như cái thùng không đáy, đổ nước chừng nào chảy ra hết chừng ấy, không hoàn lại Như vậy, bao giờ mới xây dựng cho được chủ nghĩa xã hội để nhân dân thật sự có được cuộc sống ấm no, sung túc Trong buổi lễ mừng ngày Quốc khánh 2/9/1955, Hồ Chí Minh đưa ra lời kêu gọi, thể hiện vai trò quan trọng của thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí:

“Chúng ta phải ra sức củng cố miền Bắc về mọi mặt: Hoàn thành tốt cải cách ruộng đất; Khôi phục kinh tế, đặc biệt chú trọng nông nghiệp; Củng cố quốc phòng, củng cố an ninh trật tự; Kiên quyết nâng cao dần mức sống của nhân dân…Để làm những công việc trên, mọi người và mọi ngành đều phải hăng hái thi đua yêu nước, tăng gia sản xuất và tiết kiệm, tôn trọng và bảo vệ của công, tẩy trừ nạn tham ô, lãng phí” [58, tr.103-104]

Ngày 01/5/1957 trong Lời kêu gọi nhân dịp 1/5, Hồ Chí Minh nhấn mạnh:

“Muốn hoàn thành tốt kế hoạch Nhà nước, thì mỗi người chúng ta phải ra sức tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là hai

Trang 34

việc then chốt để khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, để cải thiện dần đời sống của nhân dân, để củng cố miền Bắc, tranh thủ miền Nam, để tăng cường lực lượng đấu tranh thống nhất nước nhà Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là hai việc cần thiết nhất để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến dần lên chủ nghĩa xã hội” [58, tr.545]

Buổi nói chuyện tại Hội nghị mở rộng Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 19/03/1958, đề cập vấn đề xây dựng kinh tế, Hồ Chí Minh chỉ rõ

“Hiện nay miền Bắc đang tiến dần lên chủ nghĩa xã hội Muốn vậy, trước hết mọi người phải ra sức xây dựng kinh tế cho vững mạnh Muốn xây dựng kinh tế, thì phải thực hiện cần và kiệm; mỗi người, mỗi gia đình, mỗi xí nghiệp, mỗi nông thôn, mỗi đoàn thể và toàn dân thực hiện được cần kiệm thì nhất định ta tiến những bước lớn trong công cuộc củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội” [59, tr.362]

Từ năm 1957 đến 1969, Hồ Chí Minh nhiều lần ra lời kêu gọi gắn chặt hai nhiệm vụ tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để phòng, chống lãng phí như hình với bóng Sản xuất bất kì trên lĩnh vực nào cũng phải tiết kiệm, chống lãng phí

Thứ hai, phòng, chống lãng phí góp phần xây dựng “Đời sống mới”

Khái niệm đời sống mới được Hồ Chí Minh nêu ra bao gồm cả đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới Ba nội dung ấy có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu Đạo đức gắn liền với lối sống và nếp sống,

và nói chung lại được thể hiện trong lối sống và nếp sống Chính vì vậy việc xây dựng đạo đức mới phải được tiến hành đồng thời với việc xây dựng lối sống mới và nếp sống mới Có dựa vào cái nền đạo đức thì mới xây dựng được lối sống, nếp sống mới lành mạnh, vui tươi, hướng con người tới tầm cao văn hóa, của một đất nước độc lập và chủ nghĩa xã hội

Thực hành đời sống mới là thực hiện hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính, những

phẩm chất cơ bản của đạo đức cách mạng

“Gây “Đời sống mới”

Việc thành là bởi

Trang 35

Chúng ta siêng mần Vậy nên chữ cần

Ta thực hành trước Lại phải kiệm ước

Bỏ thói xa hoa Tiền của dư ra Đem làm việc nghĩa…”

Phòng, chống lãng phí là biểu hiện đạo đức Cần, Kiệm, Liêm, Chính Phòng, chống lãng phí thể hiện sự trân trọng thành quả lao động Bởi lẽ với Hồ Chí Minh lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của con người Trong xã hội, không có nghề nào thấp kém, chỉ những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ Người nấu bếp, người quét rác cũng như thầy giáo, kỹ sư, nếu làm trọn trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau “Ai sợ khó, sợ khổ, muốn “ngồi mát ăn bát vàng”, người đó mới là kém vì không phải là người xã hội chủ nghĩa” [61, tr.69]

Do vậy ai cũng phải tùy khả năng của mình mà tự nguyện tự giác tham gia lao động, góp phần xây dựng nước nhà Phòng, chống lãng phí là hành động thiết thực

để bảo vệ thành quả lao động ấy không bị tiêu xài phung phí Thành quả lao động là

mồ hôi, xương máu, nước mắt của nhân dân, “Mỗi thứ của cải chúng ta làm ra phải tốn bao nhiêu mồ hôi và sức lao động Chúng ta chỉ có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng cách tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm Sản xuất mà không tiết kiệm thì khác nào gió vào nhà trống Cho nên phải biết giữ gìn của công Tham ô, lãng phí tài sản của Nhà nước, của tập thể, của nhân dân là hành động trộm cắp, mà ai cũng phải thù ghét, phải trừ bỏ” [61, tr.70]

Phòng, chống lãng phí để xây dựng lối sống mới, một phong cách sống khiêm tốn, giản dị, chừng mực, điều độ, ngăn nắp, vệ sinh, yêu lao động, biết quý trọng thời gian, ít lòng tham muốn về vật chất, về chức – quyền – danh – lợi Là chủ tịch nước, Hồ Chí Minh vẫn nhà gỗ đơn sơ, quần áo vải Người cho rằng, “Cách ăn mặc phải sạch sẽ, giản đơn, chất phác, chớ lượt thượt, xa xỉ, lòe loẹt” [56, tr.117] Không phải Người phủ nhận nhu cầu chính đáng của mỗi người trong việc cải thiện

Trang 36

và nâng cao điều kiện sinh hoạt, ăn, mặc, ở của mình ngày một tốt hơn Người chỉ

rõ rằng: Người ta ai cũng muốn ăn ngon mặc đẹp, nhưng muốn phải cho đúng thời, đúng hoàn cảnh Trong lúc nhân dân ta còn thiếu thốn mà một người nào đó muốn riêng hưởng ăn ngon mặc đẹp, như vậy là không có đạo đức

Quá trình xây dựng lối sống mới cũng là quá trình làm cho lối sống mới dần dần trở thành thói quen ở mỗi người, thành phong tục tập quán của cả một cộng đồng; trong phạm vi một địa phương hay mở rộng ra cả nước thường gọi là nếp sống mới, hay nếp sống văn minh Nếp sống mới chúng ta xây dựng phải kế thừa những truyền thống tinh thần tốt đẹp, những thuần phong mĩ tục lâu đời của nhân dân ta Hồ Chí Minh dạy chúng ta chẳng những phải kế thừa mà còn phải phát triển những thuần phong mĩ tục, đồng thời phải cải tạo những phong tục tập quán lạc hậu,

bổ sung những cái mới tiến bộ mà trước đây chưa có Phòng, chống lãng phí, thực hành tiết kiệm giúp sửa đổi những thói quen, phong tục, tập quán không phù hợp thí dụ như: đơm cúng, cưới hỏi, ma chay quá xa xỉ, loại bỏ tâm lý xấu như tệ lãng phí của chung « cha chung không ai khóc » xây dựng ý thức bảo vệ của công

Phòng, chống lãng phí thể hiện ý thức làm chủ của nhân dân; giúp Chính phủ hoạt động hiệu quả, củng cố niềm tin của nhân dân

Theo Hồ Chí Minh khi đã đánh đổ thực dân, phong kiến, đã giành được độc lập tự do, xây dựng nên một chế độ dân chủ, tức là tất cả nhân dân các dân tộc đều

có quyền làm chủ nước nhà Đã làm chủ thì mọi người, mọi dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ, phải ra sức tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước để xây dựng Tổ quốc, xây dựng xã hội chủ nghĩa làm cho toàn dân

ấm no, nước nhà giàu mạnh; mọi người phải tham gia giữ gìn an ninh trật tự, bỏ dần các hủ tục, xây dựng mỹ tục thuần phong

Ngày 24 tháng 7 năm 1962, nhân buổi nói chuyện tại hội nghị cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước, gắn với việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu, Hồ Chí Minh chỉ rõ đây là việc rất cần thiết và phải làm thường xuyên Nó có hai ý nghĩa quan trọng: thứ nhất, nó làm cho mọi người nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần làm chủ, ý thức bảo vệ của công, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thực hành

Trang 37

tiết kiệm để xây dựng nước nhà, để nâng cao đời sống của nhân dân Thứ hai, nó giúp cho cán bộ và đảng viên ta giữ gìn phẩm chất cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng Do đó mà nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết thêm, lực lượng ta đã hùng mạnh, càng hùng mạnh thêm

Qua lăng kính của Hồ Chí Minh, việc phòng, chống lãng phí không chỉ là việc nên làm, phải làm mà còn thể hiện tính nhân văn sâu sắc, trân trọng dân, trân trọng sức dân và sản phẩm lao động của nhân dân Điều đó làm nên một nhân cách

Hồ Chí Minh – một con người vĩ đại

1.2.2 Lực lượng tham gia phòng, chống lãng phí

Phòng, chống lãng phí để xây dựng tiền đồ cho đất nước, tiền đồ cho cá nhân mọi thành viên trong xã hội Tiền đồ của cá nhân không tách rời tiền đồ của toàn xã hội bởi lẽ chế độ chính trị mà chúng ta xây dựng là chế độ do nhân dân làm chủ Hồ Chí Minh nhấn mạnh giữa quyền làm chủ với nghĩa vụ và tính năng động của người làm chủ: “Đã là người chủ Nhà nước thì phải chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà…Đã là người chủ thì phải biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ” [64, tr.74] Mọi người công dân trong xã hội đều có nghĩa vụ lao động, tiết kiệm, tôn trọng và bảo vệ của công, đồng thời có nghĩa vụ học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt để “xứng đáng vai trò của người chủ” Do đó, phòng, chống lãng phí là nhiệm vụ chung của toàn dân “Muốn cho tiền đồ mình vẻ vang, mà nhất định tiền đồ mình vẻ vang, thì phải làm cho tiền đồ của dân tộc, làm cho cái tiền đồ của nước nhà vẻ vang… mình muốn cho tiền đồ mình, tiền đồ dân tộc, tiền đồ nước nhà vẻ vang … phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, nâng cao kỷ luật lao động” [58, tr.574]

1.2.2.1 Toàn bộ hệ thống chính trị, đặc biệt là các cơ quan và nhân viên cơ quan Nhà nước

Đội ngũ cán bộ, công chức là công bộc của dân, nếu đội ngũ này tham gia thực hành tiết kiệm, chống lãng phí sẽ là hình ảnh đẹp đối với nhân dân Hồ Chí Minh luôn dạy cán bộ, đảng viên là phải luôn luôn gương mẫu, việc gì có lợi cho

Trang 38

dân thì làm, việc gì có hại cho dân thì tránh Vì vậy, đối với việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, các cấp chính quyền cần phải quan tâm đúng mức Trước hết, Chính phủ phải là cơ quan chính quyền, phải đề cao lòng thanh liêm, “…Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy” [52, tr.21]

Tại phiên họp ngày 31/10/1946 của kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, sau khi được Quốc hội nhất trí giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới, Hồ Chí Minh đã đọc “Lời tuyên bố trước Quốc hội”, trong đó có đoạn: “Tuy trong Quyết nghị không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước Quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây là Chính phủ liêm khiết” [52, tr.478]

Trong bài viết “Chính phủ là công bộc của dân” đăng trên báo Cứu quốc, số

46, ngày 19/9/1945, Hồ Chí Minh khẳng định: “Ủy ban nhân dân thận trọng hết sức trong chỗ chi dùng công quỹ, không dám tuỳ ý tiêu tiền vào những việc xa phí như

tư pháp tiết kiệm được ngày giờ, để tăng gia sản xuất” [55, tr.354]

Trong “Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ”, Hồ Chí Minh căn dặn các đảng viên,

cán bộ cần phải tẩy trừ những khuyết điểm làm hạn chế đến công việc, đặc biệt là ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, của chính quyền trước dân, làm mất lòng tin của dân đối với Đảng và với chính quyền cách mạng, Người viết: “Có những đồng chí

lo ăn ngon mặc đẹp, lo mình mà buôn bán phát tài, lo việc riêng hơn việc công Đạo đức cách mạng như thế nào, dư luận chê bai thế nào cũng mặc” [53, tr.90]

Nhiệm vụ chính của bộ đội là giết giặc lập công, không phải là cơ quan sản xuất, thì bộ đội tiết kiệm như thế nào? “Trong quân đội có quân nhu, quân giới, vận

Trang 39

tải, v.v là những cơ quan cần phải tiết kiệm đã đành Các chiến sĩ cũng cần tiết kiệm và cũng có thể tiết kiệm” [55, tr.353] Người đưa ra những ví dụ cụ thể: Nếu chiến sĩ luyện tập siêng năng, bắn khá, thì có thể tiết kiệm được đạn; do đó quân khí tiết kiệm được nguyên liệu và nhân công đúc đạn, để chế tạo những vũ khí khác Cục vận tải thì tiết kiệm xăng xe, dầu mỡ, tiết kiệm cả nhân công sửa chữa đường sá

do xe chạy ít Trong những chiến dịch thu được chiến lợi phẩm (thuốc, đạn, lương thực, sung ống, v.v.), bộ đội biết quý trọng nó, tiết kiệm nó để dùng nó mà đánh giặc Như thế cũng là tăng gia sản xuất

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là một tài liệu quan trọng dùng trong đợt chỉnh huấn cán bộ, đảng viên được Hồ Chí Minh viết xong vào tháng 10 năm 1947 Trong

đó, Người chỉ rõ những ưu và khuyết điểm, đặc biệt là những khuyết điểm mà Người cho đó là những chứng bệnh rất nguy hiểm Các chứng bệnh nguy hiểm ấy là tệ xa hoa, lãng phí, nặng hình thức; ít chú trọng đến năng suất, hiệu quả công việc

Trong bài “Quốc hội ta vĩ đại”, Hồ Chí Minh đã nói đến một trong những nhiệm vụ của Đại biểu Quốc hội “Để xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân, nhiệm vụ của mỗi vị đại biểu là phải: Thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội Làm gương mẫu trong việc thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô” [60, tr.624]

Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến giáo dục đảng viên Trong lĩnh vực phòng, chống lãng phí, Người đã lý giải vị trí, vai trò của người đảng viên trước

tổ chức, trước nhân dân, trách nhiệm và nghĩa vụ trong việc thực hiện các chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, phải luôn tự rèn luyện mình để trở thành tấm gương sáng cho mọi người noi theo Hồ Chí Minh nêu rõ trách nhiệm của từng đối tượng đảng viên trong phòng, chống lãng phí Cụ thể, đối với đảng viên công nhân, phải thi đua tiết kiệm nguyên liệu, tăng năng suất; đảng viên nông dân phải thi đua gia tăng sản xuất, làm cho quân và dân ta no cơm ấm áo; đảng viên trí thức phải cố thực hiện và giúp đỡ anh em thực hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Trang 40

Hồ Chí Minh luôn coi việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là một tiêu chí, một bộ phận cấu thành của đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên Một trong những nội dung cơ bản nhất của đạo đức cách mạng là: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư

1.2.2.2 Các tầng lớp nhân dân

Hồ Chí Minh đưa ra khẩu hiệu kêu gọi mọi người dân Việt Nam thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để xây dựng đất nước, mau chóng đẩy cuộc kháng chiến nhanh chóng đến thắng lợi hoàn toàn Thực hành tiết kiệm cũng có nghĩa là chống lãng phí và tăng gia sản xuất là một biện pháp quan trọng để thực hành tiết kiệm và chống lãng phí; điều đó đòi hỏi mọi người dân cả nước cần phải chung lòng góp sức “Tất cả các cụ, các đại biểu, tất cả đồng bào chúng ta phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm Nếu không sản xuất thì không có tiêu dùng Nhưng nếu sản xuất ra chừng nào tiêu dùng hết chừng đó thì không lại hoàn không Vì vậy mỗi người chúng ta đều cố gắng tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm thì chúng ta cải thiện được đời sống của chúng ta” [58, tr.567]; “Mỗi một người và tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội” [61, tr.59] “Mọi người phải nâng cao tinh thần đoàn kết, tinh thần làm chủ; thực hiện cần kiệm xây dựng hợp tác xã, chống lãng phí, tham ô” [61, tr.199]

Như vậy, có thể khẳng định tư tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” [60, tr.672], trên bất cứ một lĩnh vực nào, muốn thành công phải dựa vào toàn thể quần chúng nhân dân Phòng, chống lãng phí không chỉ là công việc của Chính phủ mà là việc chung của toàn xã hội

1.2.3 Phương hướng và giải pháp phòng, chống lãng phí

Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc phòng, chống lãng phí kết hợp với chống tham ô và bệnh quan liêu Việc phòng, chống tham ô, lãng phí, bệnh quan liêu phải phối hợp nhịp nhàng, song song, không tách rời vì nó có chung nguồn gốc bệnh xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân và sự thiếu hiểu biết về mặt nhận thức, hành

Ngày đăng: 18/01/2018, 14:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w