Nghiên cứu cách ghi địa danh Lào Cai trên bản đồ là góp phần tìm hiểu vấn đề chuẩn hóa bản đồ ở khía cạnh ngôn ngữ học tại một khu vực, một vùng lãnh thổ nói riêng và của Việt Nam nói ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Văn Hiệu
Hà Nội – 2017
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất
kì công trình nào khác
Hà Nội, ngày 28 tháng 06 năm 2017
Tác giả luận văn
Đặng Văn Thịnh
Trang 4ii
LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi muốn gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Văn Hiệu – người thầy đã tận tâm chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện và cung cấp cho tôi nhiều tài liệu khoa học quý báu
Luận văn này đánh dấu sự hoàn thành của một quá trình học tập, vì vậy tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người Thầy, Cô đã giảng dạy các chuyên
đề cao học cho lớp Ngôn ngữ khóa K59
Tôi xin chân thành cám ơn Phòng Cung cấp thông tin dữ liệu – Trung tâm Thông tin dữ liệu đo đạc và bản đồ – Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ để tôi có được những tư liệu quan trọng phục vụ cho đề tài nghiên cứu này
Cuối cùng, xin cám ơn gia đình, bạn bè đã sát cánh và động viên tôi rất nhiều trong suốt quãng thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Vẫn còn nhiều thiếu sót trong luận văn này, vì vậy, kính mong quý Thầy,
Cô tiếp tục chỉ dẫn để luận văn đạt kết quả tốt Xin chân thành cám ơn!
Tác giả luận văn
Đặng Văn Thịnh
Trang 5- / /: phiên âm âm vị học
- [ ]: phiên âm ngữ âm học
- Dấu gạch ngang “ – ” có nghĩa là tương ứng
- Dấu gạch chéo “ / ” có nghĩa là hoặc là
- Những chữ trong ngoặc đơn (…) là giải nghĩa
Mảnh BÁT XÁT (F-48-28)
Mảnh LÀO CAI (F-48-40) 7W Mảnh HÀ-GIANG
Mảnh T.T.NT LIÊN SƠN
(F-48-53) 14E Mảnh LAI-CHÂU
Mảnh PHỐ LU (F-48-41) 14W Mảnh LAI-CHAU
Mảnh THAN UYÊN (F-48-52) 15E Mảnh LAO-KAY
Mảnh YÊN THẾ (F-48-42) 15W Mảnh LAO-KAY
Trang 6iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Kết quả thu thập địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne 33 Bảng 2.2 Kết quả phân loại địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne theo tiêu chí tự nhiên – không tự nhiên 34 Bảng 2.3 Kết quả phân loại địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne theo nguồn gốc ngôn ngữ 38 Bảng 2.4 Kết quả thống kê phụ âm đầu địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne đƣợc ghi bằng tổ hợp các con chữ 40 Bảng 2.5 Kết quả thống kê phụ âm đầu địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne không thuộc hệ thống chữ Quốc ngữ 43 Bảng 2.6 Kết quả thống kê một số vận mẫu tiếng Hán điển hình đƣợc giữ nguyên khi phiên chuyển trên địa danh tỉnh Lào Cai ở Bản đồ Bonne 45 Bảng 2.7 Kết quả thống kê các phụ âm cuối không có trong hệ thống chữ Quốc ngữ đƣợc ghi trên địa danh tỉnh Lào Cai ở Bản đồ Bonne 48 Bảng 2.8 Các dạng thức viết tắt thành tố chung trên Bản đồ Bonne 54 Bảng 2.9 Kết quả thống kê số lƣợng thành tố chung viết tắt – không viết tắt địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne 55 Bảng 3.1 Kết quả thu thập địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Quốc gia 63 Bảng 3.2 Kết quả phân loại địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Quốc gia theo tiêu chí tự nhiên – không tự nhiên 64 Bảng 3.3 Tình hình chuyển hóa phụ âm đầu địa danh tỉnh Lào Cai từ Bản đồ Bonne sang Bản đồ Quốc gia 69 Bảng 3.4 Tình hình chuyển hóa một số nguyên âm tiếng Pháp trên địa danh tỉnh Lào Cai từ Bản đồ Bonne sang Bản đồ Quốc gia 72 Bảng 3.5 Tình hình chuyển hóa nguyên âm địa danh tỉnh Lào Cai từ Bản đồ Bonne sang Bản đồ Quốc gia 72 Bảng 3.6 Tình hình chuyển hóa phụ âm cuối địa danh tỉnh Lào Cai từ Bản đồ Bonne sang Bản đồ Quốc gia 74
Trang 7v
DANH MỤC CÁC M H NH
Mô hình 1.1 Mô hình vị trí địa danh học trong ngôn ngữ học 20
Mô hình 2.1 Sự phân bố các loại hình địa danh tỉnh Lào Cai theo tiêu chí tự nhiên – không tự nhiên trên Bản đồ Bonne 35
Mô hình 2.2 Tỉ lệ giữa các nguồn gốc địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne 38
Mô hình 2.3 Tỉ lệ các thành tố chung viết tắt – không viết tắt địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne 56
Mô hình 3.1 Sự phân bố các loại hình địa danh tỉnh Lào Cai theo tiêu chí tự nhiên – không tự nhiên trên Bản đồ Quốc gia 65
Trang 8vi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv
DANH MỤC CÁC M H NH v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
I Lý do chọn đề tài 1
II Lược sử nghiên cứu 2
III Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
V Phương pháp nghiên cứu 10
VI Ý nghĩa của luận văn 12
VII Bố cục luận văn 12
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TƯ LIỆU VỀ ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI 13
1.1 Cơ sở lý thuyết 13
1.1.1 Định nghĩa và phân loại địa danh 13
1.1.2 Vị trí của địa danh trong ngôn ngữ học 19
1.1.3 Mối quan hệ giữa bản đồ và địa danh 21
1.2 Tư liệu về địa bàn tỉnh Lào Cai 22
1.2.1 Địa lý 22
1.2.2 Lịch sử và địa giới hành chí nh 25
1.2.3 Dân cư 29
1.3 Tiểu kết 30
Chương 2: KHẢO SÁT CÁCH GHI ĐỊA DANH TỈNH LÀO CAI TRÊN BẢN ĐỒ BONNE 32
2.1 Giới thiệu Bản đồ Bonne 32
2.2 Kết quả thu thập và phân loại 33
Trang 9vii
2.2.1 Kết quả thu thập 33
2.2.2 Kết quả phân loại địa danh 33
2.3 Cách ghi địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne 39
2.3.1 Thành phần địa danh 39
2.3.2 Thành tố chung 48
2.4 Giao thoa ngôn ngữ trên cách ghi địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne 58
2.5 Tiểu kết 60
Chương 3: SO SÁNH CÁCH GHI ĐỊA DANH TỈNH LÀO CAI TRÊN BẢN ĐỒ BONNE VỚI BẢN ĐỒ QUỐC GIA 62
3.1 Giới thiệu Bản đồ Quốc gia 62
3.2 Kết quả thu thập và phân loại 63
3.2.1 Kết quả thu thập 63
3.2.2 Kết quả phân loại địa danh 63
3.3 So sánh cách ghi địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne với Bản đồ Quốc gia 65
3.3.1 Thành phần địa danh 66
3.3.2 Thành tố chung 74
3.4 Tiểu kết 78
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 90
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
1 Trên mảnh đất ngôn ngữ học, nghiên cứu địa danh luôn là một đề tài
quan trọng và cần thiết Nó không chỉ làm sáng tỏ những đặc điểm cấu tạo, những quy luật kết hợp trong nội bộ của địa danh, góp phần vào nghiên cứu ngôn ngữ trên một hoặc nhiều khu vực mà còn có ý nghĩa liên quan đến một
số vấn đề khác, đặc biệt là vấn đề chuẩn hóa địa danh trên bản đồ
2 Quốc ngữ hóa địa danh trên bản đồ là một công việc hết sức đặc biệt
cho sự chuẩn hóa ấy Vì hoàn cảnh chiến tranh trước đây nên việc biên soạn địa danh bản đồ của nước ta không được đồng nhất Để có được các địa danh bằng chữ Quốc ngữ hiện hành trên nhiều bản đồ khác nhau hiện nay phần lớn
là dựa trên những tư liệu địa danh của các bản đồ cũ trước kia Lựa chọn nghiên cứu cách ghi địa danh trên bản đồ trước kia để so sánh với cách ghi địa danh trên bản đồ hiện nay sẽ cho ta thấy diễn tiến của quá trình chuẩn hóa địa danh trên bản đồ Khảo sát địa danh địa danh tỉnh Lào Cai trong trường hợp này cũng hướng tới giá trị đặc biệt trên
3 Nghiên cứu cách ghi địa danh Lào Cai trên bản đồ là góp phần tìm hiểu vấn đề chuẩn hóa bản đồ ở khía cạnh ngôn ngữ học tại một khu vực, một vùng lãnh thổ nói riêng và của Việt Nam nói chung Tỉnh Lào Cai là ranh giới
có sự biến động, chia cắt nhiều lần trong lịch sử Vì thế, khảo sát cách ghi địa danh Lào Cai trên Bản đồ Bonne qua đó so sánh với Bản đồ Quốc gia là điều cần thiết
4 Theo hiểu biết của chúng tôi, dù việc nghiên cứu địa danh Lào Cai đã
được một số nhà nghiên cứu quan tâm, tuy nhiên chưa có những công trình nào chú ý nghiêm túc tới vấn đề chuẩn hóa địa danh trên bản đồ của địa bàn Nhận thức được ý nghĩa của vấn đề, bản thân người viết đã chọn đối tượng này để nghiên cứu
Trang 11II Lược sử nghiên cứu
1 Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới
Trên thế giới, công việc nghiên cứu địa danh đã được hình thành và phát triển từ rất sớm Đặc biệt là ở Trung Quốc, ngay từ thời Đông Hán (32 – 39 sau Công nguyên), Ban Cố đã ghi chép hơn 4000 địa danh, trong đó một số đã được giải thích rõ nguồn gốc và ý nghĩa Đến thời Bắc Ngụy (380 – 535),
trong Thủy kinh chú sớ, Lịch Đạo Nguyên chép hơn 2 vạn địa danh, số được
giải thích ngữ nguyên là trên 2300 [28, tr 6] Sách ấy ghi các đường sông của Trung Quốc ở các thời Hán Tấn và Nam Bắc triều,… đến thời Thanh mạt thì
có bản Thủy kinh chú sớ của Dương Thủ Kính (thành cảo năm 1904) Cùng
với Thủy kinh chú nên kể thêm sách Thủy kinh chú đồ cũng của Dương Thủ
Kính mà vẽ bản đồ các dòng sông và sách Thủy kinh chú tây nam chư thủy khảo của Trần Phong soạn năm 1847, nghiên cứu về những dòng sông thuộc miền tây nam của Trung Quốc được ghi chép trong Thủy kinh chú [3, tr 15]
Ở các nước phương Tây, bộ môn địa danh học chính thức ra đời ở cuối
thế kỷ XIX Năm 1872, J.J Êgi (Thụy Sĩ) viết Địa danh học và năm 1903 J.W Nagl (người Áo) cũng cho ra đời tác phẩm Địa danh học Những năm 90
của thế kỉ XIX và 20 năm đầu của thế kỉ XX, hàng loạt Ủy ban địa danh của các nước như Mỹ, Thụy Điển, Anh được ra đời Thời kỳ đầu, các tác phẩm địa danh học chú trọng khảo chứng nguồn gốc địa danh Từ thế kỷ XX, bước vào giai đoạn nghiên cứu tổng hợp về địa danh J Gill Gilliénon (1854 -
1926) đã viết Atlát ngôn ngữ Pháp, nghiên cứu địa danh theo hướng phát triển địa lý học Năm 1926, A Dauzat (người Pháp) đã viết Nguồn gốc và sự phát triển địa danh, đề xuất phương pháp văn hoá địa lý học để nghiên cứu
các lớp niên đại của địa danh [28, tr 7]
Mở đầu trong lĩnh vực xây dựng một hệ thống lý luận về lý thuyết định danh, giữa những năm 60 của thế kỷ XX, các nhà địa danh học Xô Viết đã cho ra hàng loạt các công trình Một trong những đại diện của thời kì đầu tiên
đó chính là công trình nghiên cứu địa danh của các nhà địa danh học Xô Viết
Trang 12như E.M Muzaev (1964) với Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh, trong cùng năm 1964 đó Iu.A Kapenco cũng có cuốn Bàn về địa danh học đồng đại Với những tiền đề đó, vào năm 1982 Smolisanaja, G.L., Gorbanebskij, M.V., Toponimija Moskvy đã đi tới nghiên cứu thực tế với Địa danh Moskva Đặc biệt, A.V Superanskja (1985) với Địa danh là gì đã đặt ra những vấn đề vừa mang tình cụ thể, vừa mang tình khái quát, tổng hợp cao Trong nội dung trình bày, tác giả đi sâu vào những vấn đề có liên quan thiết thực đến việc nhận diện và phân tích địa danh Ngoài cách hiểu về khái niệm địa danh, tác giả còn quan tâm đến các vấn đề khác như tính liên tục của tên gọi, không gian tên riêng và các loại địa danh (địa danh kí hiệu, địa danh mô
tả, địa danh đăng kí, địa danh ước vọng) cũng như tên gọi các đối tượng địa lý theo loại hình,… Có thể nói đây là công trính có giá trị tổng kết những kết quả nghiên cứu mới, làm cơ sở vững chắc cho sự nghiên cứu địa danh tiếp theo ở Liên bang Xô Viết trước đây
Ngoài các nhà địa danh Xô Viết, những người nghiên cứu địa danh ở các nước khác cũng đã góp phần cho sự phong phú, đa dạng về những vấn đề
nghiên cứu trong lĩnh vực này Chẳng hạn, Ch Rostaing (1965) với Les noms
de lieux đã chú trọng trong việc nêu ra hai nguyên tắc nghiên cứu địa danh là
phải tìm ra các hình thức cổ của các từ cấu tạo địa danh và muốn biết từ nguyên của địa danh thì phải dựa trên kiến thức ngữ âm học địa phương Đây
là một chuyên luận bổ sung thêm cho vấn đề mà A.I Popov đã đưa ra trước
đó [28, tr 8]
2 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam được quan tâm từ khá sớm
Nhưng chủ yếu là từ các tài liệu Tiền Hán thư, Địa lí chí, Hậu Hán thư, Tấn thư trong thời Bắc thuộc Chúng đề cập đến địa danh Việt Nam nhưng các tài
liệu này đều do người Hán viết nhằm phục vụ trực tiếp cho mưu đồ xâm lược nước ta
Trang 13Sau thời Bắc thuộc, đặc biệt từ thế kỷ XV trở đi, việc nghiên cứu địa danh mới được các nhà nghiên cứu Việt Nam thực hiện Lúc này, địa danh
được thu thập chủ yếu là dưới góc độ địa lí và lịch sử Có thể kể đến Dư địa chí (1435) của Nguyễn Trãi, Lịch triều hiến chương loại chí (1821) của Phan
Huy Chú, Đại Nam quốc Cương giới Vựng biên (1886) của Hoàng Hữu Xứng, Phương Đình dư địa chí (1900) của Nguyễn Văn Siêu,… Có thể nói rằng từ
đầu đời Nguyễn, môn địa lý học đã được các nhà sử học bắt đầu chú ý Vì thế, Dương Thị The – Phạm Thị Thoa nhận xét “thuận lợi lớn của các nghiên cứu địa danh sau này chính là thư tịch Hán Nôm chúng ta còn giữ được ít nhiều bộ sách quý có ghi chép địa danh các thời đại trước Cách mạng tháng Tám” [43,
tr 11] Đến khoảng những năm mười của thế kỉ XX thì nhà Hán học H Maspéro có những bài nghiên cứu về địa lý học lịch sử nước ta về nhiều đời khác nhau Sau đó, năm 1923 thì L Aurousseau có bài nghiên cứu lại vấn đề
Vị trí Tượng Quận, trước Cách mạng tháng Tám một nhà học giả Nhật Bản là
Tá Bá Nghĩa Minh cũng nghiên cứu về vấn đề vị trí Tượng Quận,… [3, tr 7]
Cuối thế kỷ XIX có cuốn Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỉ XIX (Nghệ An trở ra) của Dương Thị The, Phạm Thị Thoa dịch 1981 Ngô Vi Liễn năm 1982 cũng dịch Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ Dưới góc độ lịch sử có các nghiên cứu của Đào Duy Anh (1964) với Đất nước Việt Nam qua các đời và của Nguyễn Quan Ân (2003) với Việt Nam - những thay đổi địa danh và địa giới hành chí nh 1945 – 2002
Không nằm ngoài sự phát triển của ngành ngôn ngữ học trên thế giới, từ giữa thế kỉ XX, địa danh ở Việt Nam đã được soi sáng dưới góc nhìn của các nhà ngôn ngữ học Đã có một số hướng nghiên cứu địa danh khá tiêu biểu như:
- Nghiên cứu địa danh theo khuynh hướng Ngôn ngữ học so sánh – lịch
sử, đây cũng là khuynh hướng đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn ngôn ngữ học tại Việt Nam Tiêu biểu là Hoàng Thị Châu đánh
dấu với bài viết Mối liên hệ ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông (1964) [9, tr 105 – 129] Sau đó Hoàng Thị Châu tiếp tục có những
Trang 14công trình khác mang giá trị cao như: Từ nguyên của tên sông Bạch Đằng (1995) [9, tr 148 – 150], Hãy trả lại tên cho những dòng sông (2006) [9, tr
169 – 170],… Nối tiếp khuynh hướng này, hiện nay nổi bật là Trần Trí Dõi
với cuốn sách Giáo trình lịch sử tiếng Việt, cuốn sách đề cập đến nhiều nội dung quan trọng về địa danh học cũng như về một số địa danh cụ thể: Về địa danh có nguồn gốc Nam Đảo được lưu giữ từ cổ xưa trong vùng cư dân thuần Việt hiện nay (địa bàn Hà Nội), Về địa danh là tên gọi một số con sông quan trọng ở địa bàn miền Bắc Việt Nam (sông Lam, sông Hồng) [12, tr 234 – 235], hay Địa danh sông Hồng, một chứng tích “đa dạng văn hóa” trong lịch
sử người Việt [13, tr 100 – 113],…
- Có nhiều nghiên cứu hướng tới việc chuẩn hóa cách ghi địa danh trong
đó có địa danh trên các bản đồ Ở hướng nghiên cứu này Hoàng Thị Châu tiếp tục là một trong những người đi đầu và có nhiều đóng góp quan trọng với
những nghiên cứu quan trọng như: Đặc điểm cách ghi địa danh Tây Nguyên trên một số bản đồ địa hì nh (1992) [9, tr 130 – 136], Địa danh Tây Nguyên trên bản đồ: Chiếc cầu nối giữa địa danh Việt Nam và thế giới (1994) [9, tr
144 – 147], Quá trình mã hóa địa danh ngày xưa và chuẩn hóa cách viết địa danh tiếng dân tộc thiểu số ngày nay (2002) [9, tr 151 – 161], Tiến tới chuẩn hóa cách viết địa danh các vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam (2004) [9, tr
162 – 168],… Để chuẩn hóa các địa danh một cách khách quan và chính xác, đặc biệt từ khi chữ Quốc ngữ thịnh hành, Quốc ngữ hóa địa danh chính là một trong những bước đi hợp lý Nhất là trong tình hình hội nhập, phát triển ở nước ta – một đất nước đa văn hóa, đa dân tộc, mà tiếng Việt lại được sử dụng với tư cách như một ngôn ngữ quốc gia [29] Nắm bắt được những yêu cầu bức thiết ấy, Nguyễn Văn Hiệu đã cho ra nhiều công trình ý nghĩa như các tài liệu [21], [22],…
- Ngoài ra, còn có một số luận án Tiến sĩ nghiên cứu về đặc điểm và cấu tạo, ý nghĩa địa danh như của các tác giả: Lê Trung Hoa với tài liệu [23] đã đưa ra những vấn đề lý thuyết làm cơ sở cho sự phân tích và chỉ ra các đặc
Trang 15điểm về cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa,… của thành phố Hồ Chí Minh Đến
1996, Nguyễn Kiên Trường với luận án Những đặc điểm chí nh của địa danh Hải Phòng đã tiếp tục bổ sung thêm những vấn đề lý thuyết mà Lê Trung Hoa
đã đưa ra trước đó Tiếp sau đó là luận án tiến sĩ của Từ Thu Mai trong
Nghiên cứu địa danh tỉnh Quảng Trị (2004), Phạm Xuân Đạm trong Khảo sát địa danh Nghệ An (2005) cùng nhiều các công trình khảo sát địa danh ở nhiều
địa phương đã được công bố
- Những cuốn sách như của Nguyễn Văn Âu ở tài liệu [6], của Đinh
Xuân Vịnh ở tài liệu [46], Sổ tay địa danh Việt Nam (1998) của Nguyễn Dược – Trung Hải, Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng (1998) Ngô Đăng Lợi (chủ biên), Từ điển thành phố Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh (2003) của
Lê Trung Hoa – Nguyễn Đình Tư [36, tr 12] hay cả một số bài báo trên tài
liệu [24], [41], [42]… cũng đều mang những giá trị nhất định
Tất cả những công trình khoa học trên đã lí giải tại sao nghiên cứu địa danh ở Việt Nam lại phong phú và thu hút các nhà nghiên cứu tới vậy Đây là những nguồn tư liệu quý giá giúp định hướng cho các công trình nghiên cứu
về sau
3 Vấn đề nghiên cứu địa danh tỉnh Lào Cai
Đất nước ta lần đầu tiên xuất hiện đơn vị hành chính gọi là tỉnh từ năm
1831 dưới thời vua Minh Mệnh Các triều thần bàn luận đề nghị nên theo cách phân chia tỉnh của nước Trung Hoa hồi đó Vua Minh Mệnh chấp thuận và từ
đó ở ngoài Bắc đã ra đời các tỉnh sau đây (tính từ Ninh Bình trở ra): Ninh
Bình, Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Yên, Sơn Tây, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn Vậy là ít nhất trước đó vẫn chưa có tỉnh Lào Cai Nhưng tất nhiên đất và người mà sau
đó mang tên Lào Cai vẫn tồn tại hiện thực và chắc chắn phải thuộc một trong các tỉnh vừa kể trên Đó chính là tỉnh Hưng Hóa [55]
Thư tịch cũ như Hưng Hóa Phong thổ lục (1778) của Hoàng Trọng
Chính có nói về hai động Phong Tho (Phong Thổ) và Bình Lư của châu Chiêu
Trang 16Tấn mà sau này đã có thời gian nó thuộc về tỉnh Lào Cai (hiện nay thuộc tỉnh
Lai Châu) Hưng Hóa ký lược (1856) của Phạm Thận Duật, Đồng Khánh dư địa chí (1886 – 1888) do quan chức các tỉnh biên soạn theo sắc chỉ của vua Đồng Khánh và Hưng Hóa tỉnh phú (1897) của Vũ Phạm Hàm cũng trong
tình hình tương tự
Rõ ràng, do sự phân chia các cấp hành chính khác nhau đã khiến việc nghiên cứu về địa danh tỉnh Lào Cai trước kia là hoàn toàn không có Tuy nhiên, thực tế sau này phần lớn địa bàn tỉnh Lào Cai chính phần đất thuộc các địa danh mà những thư tịch trên nhắc tới
Theo những tài liệu chúng tôi có được thì Đại Nam nhất thống chí (1909) của Quốc sử quán triều Nguyễn là thư tịch đầu tiên có nhắc đến địa danh “Lão Nhai” – một trong nhiều tên gọi của Lào Cai Sau đó có thể nói tới là cuốn
Đất nước Việt Nam qua các đời (1964) của Đào Duy Anh, cuốn sách còn nhắc tới một tên gọi khác nữa là “Lao Cai”; Đi thăm đất nước (1978) của
Hoàng Đạo Thúy không chỉ nhắc tới “Lao Cai” mà còn cả các địa danh như: Phố Lu, dãy núi Con Voi, Sa Pa, Si Ma Cai, Làng Thíp,…
Một số cuốn sách sau này cũng có nhắc tới các địa danh địa bàn như: Cốc Lếu, Cốc Mít, dãy núi Yên Ngựa, Lào Cai, La Pan Tẩn, Lao Chải, Tả
Thàng, Nậm Pung,… Đó là: Cẩm nang du lịch Sapa (2003), Truyện kể địa danh Việt Nam (tập 1) (2013) của Quang Dũng, Việt Nam – văn hóa và du lịch (2013) của Trần Mạnh Thường, Từ điển địa danh Bắc Bộ (quyển 1, 2)
(2016) của Lê Trung Hoa Tuy nhiên, tất cả những cuốn sách trên chỉ dừng lại
ở việc giải thích địa danh nơi đây dưới góc nhìn văn hóa, lịch sử
Dưới góc nhìn ngôn ngữ học khi nghiên cứu về địa danh địa bàn tỉnh Lào Cai duy nhất chỉ có Nguyễn Văn Hiệu với các công trình được công bố như tài liệu [16], [17], [18], [20], [21], [22],… Trong các nghiên cứu này, Nguyễn Văn Hiệu tập trung vào việc tìm hiểu mối liên hệ giữa tiếng Hán Quan thoại Tây Nam với các địa danh nơi đây trên phương diện ngữ âm và quá trình Quốc ngữ hóa các địa danh có nguồn gốc Hán Quan thoại Tây Nam
Trang 17trên địa bàn hiện nay Đây đều là những công trình có giá trị, đặt nền móng cho việc nghiên cứu địa danh tỉnh Lào Cai dưới góc nhìn ngôn ngữ học Tuy nhiên, người viết nhận thấy rằng, dưới góc độ ngôn ngữ học, vấn đề tìm hiểu địa danh tỉnh Lào Cai trên các bản đồ vẫn còn bỏ ngỏ Ý thức được
điều này, người viết đã chọn đề tài “Khảo sát địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản
đồ Bonne (so sánh với Bản đồ Quốc gia cùng tỉ lệ 1/100.000)” để tiếp tục mở
rộng và đóng góp thêm một góc nhìn mới mẻ nữa trong việc nghiên cứu địa danh nơi đây
III Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu làm việc của chúng tôi trong đề tài này là khảo sát cách ghi địa danh tỉnh Lào Cai trên tấm Bản đồ Bonne qua đó đối chiếu với tình hình ghi địa danh trên Bản đồ Quốc gia hiện nay Những kết đạt được có thể là tư liệu đóng góp vào việc giải quyết cho một số vấn đề còn tồn tại trong cách ghi địa danh địa bàn trên Bản đồ Quốc gia nói riêng và các bản đồ khác hiện nay nói chung
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
+ Thu thập tài liệu bước đầu nghiên cứu các vấn đề lý luận về địa danh
và có liên quan đến quá trình nghiên cứu địa danh trên bản đồ Các vấn đề đó thuộc về lý thuyết định danh như định nghĩa về địa danh, bản đồ, mối quan hệ giữa địa danh và bản đồ, chuẩn hóa địa danh, địa bàn nghiên cứu,… Tất cả sẽ được nghiên cứu kỹ để làm sơ cở cho việc tìm hiểu tình hình ghi địa danh trên bản đồ nơi đây
+ Khảo sát, thống kê cứ liệu để hệ thống địa danh thuộc các loại hình, đối tượng địa lý khác nhau Qua đó miêu tả và phân tích nhằm có được những đánh giá chung trước khi tìm hiểu cách ghi địa danh địa bàn khảo sát
+ Tìm hiểu tình hình ghi địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne được thể hiện như thế nào ở thời gian trước kia trên phương diện phụ âm đầu,
Trang 18nguyên âm và âm cuối, từ đó làm cơ sở để so sánh với tình hình ghi địa danh hiện có trên Bản đồ Quốc gia
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cách ghi địa danh địa bàn tỉnh Lào Cai trên hai bản đồ bản đồ có cùng tỉ lệ 1/100.000, đó là: Bản đồ Bonne và Bản đồ Quốc gia Chi tiết về thông tin xuất xứ của hai bản đồ này chúng tôi sẽ bàn riêng ở mỗi chương khảo sát về chúng
2 Phạm vi nghiên cứu
- Chúng tôi tập trung khảo sát các địa danh chỉ loại hình địa hình tự nhiên và các địa danh chỉ loại hình các đơn vị dân cư địa bàn tỉnh Lào Cai trên hai bản đồ, tất cả được khoanh vùng nghiên cứu như sau:
+ Địa bàn Lào Cai trên Bản đồ Bonne gồm: 2 Phủ: Phủ de Thủy-Vỵ (Phủ de Thủy-Vy) và Phủ Bảo-Thắng; 3 Châu: Chau de Ba-Xat, Châu de Pa-Kha, Châu de Cha-Pa Với 10 mảnh bản đồ được ghép nối: 5W (PHONG THỔ ouest); 5E (PHONG THỔ est); 6E (PA-KHA est); 6W (PA-KHA ouest); 7W (HÀ-GIANG ouest); 14E (LAI-CHÂU est); 14W (LAI-CHAU ouest); 15E (LAO-KAY est); 15W (LAO-KAY ouest) và 16W (LỤC-AN-CHÂU ouest)
+ Địa bàn Lào Cai trên Bản đồ Quốc gia gồm 8 huyện và 1 thành phố: huyện Bát Xát, huyện Mường Khương, huyện Sa Pa, huyện Bảo Thắng, huyện Bắc Hà, huyện Si Ma Cai, huyện Văn Bàn, huyện Bảo Yên; thành phố Lào Cai Với 7 mảnh bản đồ được ghép nối: BẮC HÀ (F-48-29); BÁT XÁT (F-48-28); LÀO CAI (F-48-40); T.T.NT LIÊN SƠN (F-48-53); PHỐ LU (F-48-41); THAN UYÊN (F-48-52) và YÊN THẾ (F-48-42)
- Phạm vi nội dung trong đề tài này của chúng tôi là khảo sát cách ghi địa danh trên bản đồ Đây là công việc trọng tâm, mang ý nghĩa thiết thực cho việc đánh giá tình hình ghi địa danh giữa hai bản đồ trên địa bàn Lào Cai, cũng như thấy được phương hướng chuẩn hóa địa danh bản đồ hiện nay
Trang 19V Phương pháp nghiên cứu
1 Tư liệu và xử lý tư liệu
1.1 Nguồn tư liệu
Với mong muốn cố gắng phản ánh tương đối đầy đủ, có cơ sở và hệ thống với các nội dung được đặt ra khi đối chiếu cách ghi địa danh giữa hai bản đồ trên địa bàn tỉnh Lào Cai, chúng tôi đã thu thập và sưu tầm tư liệu qua các nguồn sau:
+ Các mảnh bản đồ thuộc địa bàn Lào Cai trên hai tấm bản đồ: Bản đồ Bonne và Bản đồ Quốc gia (được thành lập năm 2003 tại Nhà xuất bản Bản đồ) cùng tỉ lệ 1/100.000 Theo Thông tư số: 29/2013/TT-BCA, các bản đồ tỉ
lệ 1/100.000 hiện nay đều nằm trong Danh mục bí mật nhà nước độ Mật trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, vì vậy trong quá trình đi thu thập tài
liệu chúng tôi đã gặp phải khá nhiều khó khăn Nhưng được sự giúp đỡ nhiệt
tình của Phòng Cung cấp thông tin dữ liệu – Trung tâm Thông tin dữ liệu đo đạc và bản đồ – Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, cuối cùng chúng tôi cũng
có được trong tay những mảnh bản đồ cần thiết cho việc nghiên cứu Đây là nguồn tư liệu quan trọng nhất, có tính pháp lý đảm bảo tính trung thực của những vấn đề được trình bày trong luận văn
+ Ngoài những tài liệu, bài viết, sách báo, tạp chí có liên quan về vấn đề nghiên cứu được chúng tôi thu thập, ghi chép phục vụ cho các nội dung lý thuyết địa danh, bản đồ và cách phân loại về địa danh thì chúng tôi cũng cố gắng sưu tầm, tìm hiểu có chọn lọc các tài liệu liên quan tới địa bàn tỉnh Lào Cai
1.2 Xử lý tư liệu
Địa danh địa bàn tỉnh Lào Cai trên hai bản đồ được chúng tôi tập hợp, thống kê gồm 2825 địa danh Cụ thể, trên Bản đồ Bonne là 1407 địa danh, trên Bản đồ Quốc gia là 1418 địa danh Chúng tôi tin rằng, với số lượng cứ liệu trên có thể đáp ứng được vấn đề nghiên cứu mà luận văn theo đuổi
Trang 20Để đảm báo tính chính xác và đầy đủ, địa danh thuộc địa bàn tỉnh Lào Cai được lấy ra từ hai bản đồ theo trình tự lần lượt từ trên xuống dưới Sau đó, chúng được sắp xếp thành: 1 Địa danh (tên gọi đối tượng); 2 Loại hình địa danh (thành tố chung chỉ đối tượng); 3 Mảnh bản đồ chứa địa danh
Sau khi có được những bước xử lý tư liệu như vậy, chúng tôi tiến hành tổng hợp thành các biểu bảng, mô hình với số lượng và tỉ lệ cần thiết theo mục đích yêu cầu của từng nội dung sẽ được trình bày trong luận văn Trên cơ
sở đó chúng tôi miêu tả, phân tích và so sánh để rút ra những nhận xét từ cụ thể tới khái quát vào từng phần, từng chương, mục của luận văn
1.3 Phương pháp nghiên cứu
- Thủ pháp thống kê
Thu thập tư liệu là công việc đầu tiên của người nghiên cứu địa danh Thủ pháp này cho phép chúng tôi thu thập các địa danh tỉnh Lào Cai được ghi trên mỗi tấm bản đồ Ngoài ra, các sách lý luận về địa danh học, ngôn ngữ học cũng như nguồn tư liệu từ các loại từ điển, sách báo địa phương cũng rất cần thiết cho việc nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp miêu tả và phân tí ch
Khi đã có đủ những cứ liệu cần thiết, người nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp miêu tả, phân tích theo định tính, định lượng đối với cách ghi địa danh trên mỗi bản đồ Đây là phương pháp quan trọng, cho phép người nghiên cứu tiếp cận và trình bày một cách khoa học và có sức thuyết phục
Trang 21VI Ý nghĩa của luận văn
- Thực tiễn: Thực hiện đề tài này chúng tôi muốn cho thấy thực tế tình
hình chuyển hóa địa danh giữa hai bản đồ khảo sát thuộc địa bàn Lào Cai khảo sát thông qua cách ghi ở mỗi bản đồ Từ đó, đánh giá được tình hình ghi địa danh trên Bản đồ Quốc gia, tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện công việc chuẩn hóa địa danh trên bản đồ hiện nay tại địa bàn và các khu vực tương tự
- Lý luận: Với đề tài này, chúng tôi muốn cung cấp thêm những tư liệu
nghiên cứu địa danh địa bàn Hệ thống hóa các phương pháp nghiên cứu địa danh nhằm phản ánh bức tranh nghiên cứu địa danh nói chung và nghiên cứu địa danh trên bản đồ nói riêng
VII Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương với các nội dung chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tư liệu về địa bàn tỉnh Lào Cai
Chương 2: Khảo sát cách ghi địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne Chương 3: So sánh cách ghi địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne với Bản đồ Quốc gia
Trang 22Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TƯ LIỆU VỀ ĐỊA BÀN
TỈNH LÀO CAI 1.1 Cơ sở lý thuyết
1.1.1 Định nghĩa và phân loại địa danh
1.1.1.1 Định nghĩa về địa danh
Địa danh là một thuật ngữ có nguồn gốc từ một tiếng Hy Lạp cổ Toponima hay Topoma, có cấu tạo gồm hai bộ phận topos (địa điểm, vị trí) và omoma/onyma (tên gọi) [14, tr 11] Gần đây, thuật ngữ này được thay bằng
một từ ghép place – names, với ý nghĩa “tên gọi vị trí hay điểm địa lý”
Khái niệm địa danh cần phải được hiểu đúng theo phạm vi xuất hiện của
nó Nếu chỉ đơn thuần hiểu theo lối chiết tự thì địa danh là tên đất Tuy nhiên,
là một đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học, khái niệm này cần phải được hiểu ở mức độ rộng và khái quát hơn Cụ thể, địa danh không chỉ là tên gọi của các đối tượng địa lý gắn với từng vùng đất cụ thể mà là tên gọi của cả các đối tượng địa lý tồn tại trên trái đất Chúng có thể là tên gọi của các đối tượng chỉ địa hình tự nhiên, đơn vị dân cư hay là các công trình xây dựng do con người tạo ra
Trong vốn từ vựng của mỗi ngôn ngữ địa danh luôn có cho mình một vị trí hết sức đặc biệt Đây là một bộ phận của từ vựng có nguồn gốc và ý nghĩa riêng được dùng để đặt tên, gọi tên các đối tượng địa lý Vì vậy nó hoạt động
và chịu sự tác động, chi phối của các quy luật ngôn ngữ về các mặt ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa và ngữ pháp
Hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về địa danh, mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra những khái niệm của riêng mình Nhà ngôn ngữ học Nga A.V
Superanskaja trong Địa danh học là gì ? cho rằng: “Tên gọi các địa điểm được
biệu thị bằng những từ riêng Đó là tên gọi địa lý, địa danh hay toponimia” [33, tr 19] và chỉ rõ “Những địa điểm, mục tiêu địa lý đó là những thể hiện tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ các vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những
Trang 23ngôi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi” [33, tr 20] Như vậy, theo A.V Superanskaja thì địa danh là những từ ngữ biểu thị địa điểm, đối tượng địa lý có vị trí xác định trên bề mặt trái đất
Cũng có quan niệm như vậy, nhóm chuyên gia Liên hơp quốc về địa danh (United Nations Group of Experts on Geographical Names – UNGEGN) cho rằng: “Địa danh là tên gọi của một đối tượng trên mặt đất Về mặt nguyên tắc, địa danh là tên riêng (gồm một từ, nhiều từ hoặc ngữ) được dùng một cách nhất quán trong ngôn ngữ để chỉ một địa điểm, một đối tượng hoặc một vùng cụ thể có vị trí có thể nhận biết được trên trái đất Các đối tượng có thể
là các điểm dân cư (ví dụ thành phố, thị trấn, làng), các đơn vị hành chính lãnh thổ (ví dụ bang, tỉnh, huyện), các đối tượng tự nhiên (ví dụ sông, núi, mũi đất, hồ, biển), các đối tượng xây dựng (ví dụ đập, sân bay, đường sá), các địa điểm hay vùng có ranh giới không xác định (ví dụ cánh rừng, ngư trường)” [10, tr 10 – 11] Tuy nhiên, lúc này UNGEGN đã phân địa danh chi tiết hơn
ra thành các đối tượng lớn (dân cư, lãnh thổ, tự nhiên,…) chứa các đối tượng
+ Với điểm nhìn theo hướng địa lý – văn hóa, Nguyễn Văn Âu quan niệm: “Địa danh là tên đất, gồm tên sông, tên núi, làng mạc hay tên các địa phương, các dân tộc” [5, tr 15]
Trang 24+ Với cách tiếp cận theo hướng ngôn ngữ học, Hoàng Thị Châu định nghĩa: “Địa danh hay là tên địa lý (toponym, geographical name) là tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính,… được con người đặt ra” [9, tr 179 - 190] Lê Trung Hoa cho rằng “Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ (không có ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều Trước địa danh ta có thể đặt một thành tố chung chỉ loại địa danh đó: sông Sài Gòn, đường Ba Tơ, ấp Bàu Trăm, ” [25, tr 21], Nguyễn Kiên Trường định nghĩa
“Địa danh là tiên riêng của các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có giá trị xác định trên bề mặ trái đất” [25, tr 16] Từ Thu Mai đồng tình theo cách hiểu địa danh của A.V.Superanskaja, và nói theo tác giả thì “địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lý có vị trí xác định trên bề mặt trái
đất” [25, tr 21] Hoàng Tất Thắng trong bài báo Địa danh học và việc nghiên cứu địa danh các tỉnh Trung Trung Bộ cho rằng: “Địa danh là tên gọi của địa
hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ nào đó” [54] Còn Nguyễn Văn Loan trong luận án của mình lại quan niệm: “Địa danh là tên riêng được thể hiện bằng từ ngữ cố định, dùng để chỉ các đối tượng địa lý khác nhau, tồn tại trên bề mặt trái đất, chiếm một vị trí nhất định trong không gian vật lý” [31, tr 11]
Ngoài ra, trong một số từ điển của nước ta địa danh thường định nghĩa
đơn giản theo lối chiết tự có nghĩa là đất Như Đào Duy Anh trong cuốn Hán Việt từ điển cho rằng địa danh là “tên các miền đất (nom de terre)” [1, tr 268]
Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích: “Địa danh là tên gọi các lãnh thổ, các
điểm quần cư (làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các điểm kinh tế (vùng nông thôn, khu công nghiệp), các quốc gia, các châu lục, các núi, đèo, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hồ, vũng, vịnh, biển, eo biển, đại dương có tọa độ địa lý nhất định ghi lại trên bản đồ Địa danh có thể phản ánh
Trang 25quá trình hình thành, đặc điểm của các yếu tố địa lý tự nhiên và lịch sử với những nét đặc sắc về kinh tế, xã hội của các lãnh thổ” [27, tr 780]
Từ những kiến giải của các tác giả trong và ngoài nước như đã nêu trên, chúng tôi xin trình bày cách hiểu của mình về địa danh như sau: Địa danh là tên riêng được ghi trên bản đồ theo nguyên tắc nhất định, dùng để chỉ địa
hì nh tự nhiên và các đơn vị dân cư khác nhau Trước địa danh là một thành tố chung chỉ loại địa danh ấy Đây cũng chính là nội hàm nghiên cứu trong luận
văn này Tức là, luận văn sẽ nghiên cứu cách ghi tên riêng của loại hình địa
hình tự nhiên và đơn vị dân cư cùng một số nguyên tắc nhất định thể hiện khi ghi thành tố chung trên bản đồ Sự thống nhất cách định nghĩa trên của chúng tôi là để phục vụ quá trình nghiên cứu Ở chiều ngược lại, kết quả nghiên cứu
có được sẽ đóng góp trở lại tới phần định nghĩa cho khái niệm địa danh Sự tương tác này thể hiện được giá trị lý luận chung trong việc nghiên cứu địa danh cũng như giá trị của kết quả nghiên cứu đối với việc xây dựng một lý luận chung về một bộ môn khoa học
1.1.1.2 Phân loại địa danh
- Một số cách phân loại địa danh của các tác giả nước ngoài
Phân loại địa danh là một vấn đề phức tạp Do đó, hiện nay vẫn chưa có
mô hình phân loại tối ưu nào phổ biến cho mọi công trình nghiên cứu với các tiếp cận, quan điểm nghiên cứu khách nhau mà người ta thường chỉ quan tâm đến một vài loại đối tượng cụ thể theo hướng khai thác của từng cá nhân Trong trường hợp này, việc hệ thống lại các cách phân loại đã có sẽ giúp người nghiên cứu địa danh có được cách phân loại phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của mình
Trong tài liệu [49] A Dauzat không lập bảng phân loại địa danh nhưng khi đi vào nghiên cứu, tác giả đã chia địa danh cụ thể làm bốn phần và mỗi phần đều gắn với vấn đề nguồn gốc ngôn ngữ Bốn phần đó là: 1 Về những vấn đề cơ sở tiền Ấn – Âu; 2 Các địa danh từ tiền Latinh về nước trong thủy
Trang 26danh học; 3 Các từ nguyên Gô-loa – La mã; 4 Địa danh học Gô-loa – La mã của vùng Auvergne và Velay
Charles Rostaing trong tài liệu [51] cũng phân loại theo nguồn gốc ngôn ngữ, nhưng ông lại lấy tiêu chí của sự hỗn hợp giữa nguồn gốc và đối tượng
để chia ra làm 11 chương, nghiên cứu từng vấn đề cụ thể Sự phân loại của Charles Rostaing như sau: 1 Những cơ sở tiền Ấn – Âu; 2 Các lớp tiền Xên-
tích; 3 Lớp Gô-loa; 4 Những phạm vi Gô-loa – La mã; 5 Các sự hình thành
La mã; 6 Những đóng góp của tiếng Giéc-manh; 7 Các hình thức của thời phong kiến; 8 Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo; 9 Những hình thái hiện đại; 10 Các địa danh và tên đường phố; 11 Tên sông và núi
Như vậy, tuy không trực tiếp phân loại địa danh nhưng cả hai tác giả đều
chia địa danh thành loại theo ngữ nguyên của nó [25, tr 9 – 10]
Với mức độ sâu và khái quát hơn, các nhà địa danh học Xô – Viết đã dựa vào nội dung của địa danh để phân loại, nghĩa là chia địa danh theo đối tượng
mà địa danh biểu thị
A.V Superanskaja chia địa danh thành tám loại: 1 Phương danh; 2 Thủy danh; 3 Sơn danh; 4 Phố danh; 5 Lộ danh; 6 Viên danh; 7 Đạo danh; 8 Nơi cư dân ít [37, tr 3]
G.P Xmoliskaja và M.V Gorbanheski trong tác phẩm Địa danh Matxcơva đã chia địa danh thành bốn loại: 1 phương danh (tên gọi các điểm
dân cư); 2 thủy danh; 3 sơn danh; 4 phố danh (tên gọi các đối tượng trong thành phố)
- Một số cách phân loại địa danh của các tác giả trong nước
Ở Việt Nam, với hai tài liệu Địa danh Việt Nam và Một số vấn đề về địa danh Việt Nam của Nguyễn Văn Âu đã phân loại địa danh theo đối tượng địa
lý tự nhiên và kinh tế – xã hội ng chia địa danh thành 2 loại, 7 kiểu và 12
dạng địa danh Loại địa danh: 1 Địa danh tự nhiên như sông Hồng, Trường Sơn, Côn Đảo,…; 2 Địa danh kinh tế – xã hội như làng Thượng Cát, huyện
Sa Pa Các kiểu địa danh: 1 sơn danh; 2 lâm danh; 3 làng; 4 xã; 5 huyện;
Trang 276 thị xã; 7 thành phố và quốc gia Các dạng địa danh như: sông ngòi; hồ đầm; đồi núi; hải đảo; rừng rú; truông, trảng; làng xã; huyện, quận; thị trấn; tỉnh; thành phố; quốc gia [5, tr 30 – 32], [6, tr 38 – 41]
Có thể thấy rằng cách phân loại địa danh của Nguyễn Văn Âu là dựa vào các đặc điểm địa lý – xã hội chứ không theo tiêu chí ngôn ngữ học Do đó, những kết quả phân loại trên còn phức tạp, không có mức độ khái quát để nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học
Lê Trung Hoa trong tài liệu [25] lại căn cứ vào thuộc tính các đối tượng địa lý (tự nhiên – không tự nhiên) Trong đó loại hình địa danh tự nhiên là địa danh gọi tên các đối tượng địa hình thiên nhiên còn địa danh không tự nhiên bao gồm địa danh gọi tên các công trình xây dựng, địa danh gọi tên các đơn vị hành chính và các địa danh gọi tên vùng Ông còn dựa theo ngữ nguyên – nguồn gốc ngôn ngữ để phân chia địa danh thành hai nhóm lớn là địa danh thuần Việt và địa danh không thuần Việt
Nguyễn Kiên Trường nhìn chung cũng đã dựa theo những tiêu chí như trên, tuy nhiên còn thêm một tiêu chí nữa đó là chức năng giao tiếp của địa danh, có thể phân chia địa danh thành các loại: tên gọi chính thức, tên gọi dân gian, tên cổ, tên cũ và các tên khác [45, tr 19]
Tác giả Từ Thu Mai trong Nghiên cứu địa danh Quảng Trị, đã phân loại
địa danh như sau:
+ Dựa vào tiêu chí tự nhiên – không tự nhiên, chia địa danh ra làm 2 loại hình: 1 Địa danh tự nhiên và 2 Địa danh không tự nhiên Địa danh tự nhiên
gồm: sơn danh, thủy danh, vùng đất nhỏ Địa danh không tự nhiên gồm: đơn
vị dân cư và các công trì nh nhân tạo Địa danh đơn vị dân cư gồm: địa danh
cho chính quyền hành chính đặt và địa danh có từ thời phong kiến Nhóm địa danh các công trình nhân tạo gồm: công trình giao thông, công trình xây dựng + Dựa vào nguồn gốc ngôn ngữ của các yếu tố, tác giả phân chia địa danh làm 4 loại: Địa danh thuần Việt gồm: Địa danh thuần Việt; Địa danh Hán – Việt; Địa danh kết hợp các yếu tố thuần Việt và Hán – Việt; Địa danh
Trang 28thuộc các ngôn ngữ dân tộc thiểu số Trong loại địa danh thuần Việt, tác giả lại chia ra thành 2 dạng nhỏ là: địa danh thuần Việt toàn dân và địa danh thuần Việt là tiếng địa phương Quảng Trị
Tác giả Nguyễn Văn Loan trong luận án Khảo sát địa danh ở Hà Tĩnh
tuy không nêu rõ cách phân loại địa danh của mình nhưng khi nghiên cứu về các đặc điểm biến đổi và một số nét đặc trưng văn hóa trong địa danh Hà Tĩnh tác giả chủ yếu xoay quanh vấn đề nguồn gốc của địa danh cư trú – hành chính và địa danh tự nhiên
Như vậy, việc phân loại địa danh cũng có rất nhiều tiêu chí Tuy nhiên,
ta vẫn có thể nhận ra được một số điểm chung trong số những tiêu chí ấy Tùy vào mục đích nghiên cứu, góc độ tiếp cận mà các tác giả lại có những cách phân loại khác nhau Trong đề tài này, để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và cách làm việc đã đề ra, chúng tôi đồng ý với việc phân chia địa danh theo tiêu chí tự nhiên – không tự nhiên các địa danh
Ngôn ngữ học có ba ngành chính là ngữ âm học, từ vựng học và ngữ pháp học Mỗi ngành lại có những ngành nhỏ khác nhau Trong từ vựng học
có một ngành nhỏ là danh xưng học (onomasiologie/onomastique), chuyên
nghiên cứu tên riêng Danh xưng học gồm hai ngành nhỏ hơn: nhân danh học
và địa danh học Nhân danh học (anthroponymie) chuyên nghiên cứu tên
riêng của người (gồm: họ, tên chính, tên đêm, tự, hiệu, bút danh, bí danh,…)
Địa danh học (toponymie) nghiên cứu về nguồn gốc, ý nghĩa và cả những
chuyển biến của các địa danh Trên lý thuyết, trong danh xưng học có thể có
một ngành khoa học nữa là hiệu danh học, chuyên nghiên cứu tên riêng của
các thiên thể, các nhãn hiệu sản phẩm, các biển hiệu,… Nhưng trong thực tế ngành khoa học này không phát triển, có lẽ đối tượng của chúng không tập trung như nhân danh học và địa danh học mà tản mác khắp nơi
Địa danh học chia làm nhiều ngành nhỏ hơn Các ngành chỉ nghiên cứu tên sông rạch (thủy danh: gidronim) và tên núi đồi (sơn danh: oronim) gọi là
Trang 29thủy danh học (hdronymie) và sơn danh học (oronymie) Ngành chuyên
nghiên cứu về tên của các địa điểm quần cư (phương danh: ojkonmim), được
gọi là phương danh học (ojkonimika) Còn ngành chỉ nghiên cứu các đối
tượng trong thành phố (phố danh: urbanonim) như tên đường, tên phố, tên các
quảng trường,… gọi là phố danh học (urbanomike) [25, tr 19 – 20]
Chúng ta có thể mô hình hóa vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học theo sơ đồ đã được các nhà nghiên cứu xác định trong mô hình 1.1
M h nh 1.1 Mô hình vị trí địa danh học trong ngôn ngữ học
NGÔN NGỮ HỌC
NGỮ ÂM
HỌC
NGỮ PHÁP HỌC
TỪ VƯNG HỌC
DANH XƯNG HỌC
HIỆU DANH HỌC
ĐỊA DANH HỌC
NHÂN DANH
HỌC
PHỐ DANH HỌC
PHƯƠNG DANH HỌC
THỦY DANH HỌC SƠN DANH
HỌC
Trang 301.1.3 Mối quan hệ giữa bản đồ và địa danh
Có thể nói bản đồ là công cụ tốt nhất để thể hiện địa danh và địa danh là một nội dung rất quan trọng trên bản đồ Trên bản đồ, các địa danh được thể hiện cùng với đối tượng mang địa danh một cách trực quan và chính xác nhất
Từ bản đồ có thể xác định loại đối tượng, phân bố của đối tượng, tọa độ địa lý của đối tượng mang địa danh, thêm vào đó, người sử dụng còn có thể chồng (overlay) các bản đồ có nội dung liên quan (bản đồ địa hình, bản đồ phân bố dân tộc, bản đồ hành chính…) để kiểm tra độ xác thực của địa danh
Để thuận tiện cho việc sử dụng Danh mục địa danh, UNGEGN khuyến cáo xuất bản kèm theo danh mục này một bản đồ địa danh – loại bản đồ chuyên đề mà trên đó yếu tố địa danh được thể hiện nổi bật trên nền gồm các yếu tố định hướng khác nhau như sông ngòi, đường sá, ranh giới phân chia hành chính, dân cư,…
Trong khoa học bản đồ có hẳn một bộ môn gọi là Địa danh bản đồ học
với những nguyên tắc riêng của nó đối với việc phiên chuyển và chọn lọc địa danh thể hiện trên bản đồ như sau:
- Các địa danh không trùng lặp vì chúng thuộc một đối tượng địa lý nhất định và có tọa độ địa lý cụ thể
- Các địa danh cần có hình thái ngữ âm không quá xa với nguyên ngữ nếu cùng hệ Latinh (vì tất cả địa danh ở các hệ ngôn ngữ đều phiên chuyển sang hệ ngôn ngữ Latinh theo nguyên tắc chung của UNGEGN); với các ngôn ngữ khác cần phải gần với phiên âm quốc tế
- Âm của địa danh đọc lên càng gần với âm của nguyên ngữ và càng ít cách đọc càng tốt
- Địa danh sau khi phiên chuyển càng ngắn gọn càng tốt và đẹp về con chữ để người sử dụng dễ tìm, dễ đọc, dễ viết và dễ nhớ
Không khuyến khích việc viết các địa danh đa âm tiết với gạch nối (vìgạch nối sẽ phá vỡ các yếu tố nét trên bản đồ) Gạch nối chỉ được dùng trong những trường hợp bắt buộc [10, tr 24 – 25]
Trang 31Mối quan hệ giữa bản đồ và địa danh là mối quan hệ hai chiều, tương hỗ lẫn nhau:
- Địa danh là một trong những yếu tố quan trọng nhất của bản đồ, làm cho bản đồ biết nói, là ngôn ngữ của bản đồ Ngôn ngữ đó thường phản ánh địa hình, cảnh quan đặc trưng nơi cư trú của con người trên một vùng một địa điểm nào đó Nếu như địa danh và bản đồ là hai mặt của cùng một sự vật thì địa danh là nội dung còn bản đồ là hình thức của sự vật đó, chúng đi đôi với nhau tạo nên một chính thể thống nhất của sự vật Vì vậy, cách ghi địa danh trên bản đồ có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình thu nhận, xử lý thông tin của người sử dụng
- Sau khi đã xây dựng được một bản đồ, người ta có thể phổ biến nó Bản
đồ trở thành công cụ, phương tiện, quan trọng trong đời sống con người: chỉ dẫn đường đi, định vị vị trí cho con người,… Chính vai trò này nó lại quyết định việc cần phải chuẩn hóa địa danh: vấn đề viết hoa, viết liền, viết rời các
âm tiết, viết tắt, cách phiên âm, cách ghi địa danh bằng ngôn ngữ dân tộc,… Hiện nay, có nhiều hiện tượng viết và gọi tên các địa danh chưa thống nhất Kết quả nghiên cứu địa danh sẽ cung cấp tư liệu chuẩn hóa ngôn ngữ trong tiên riêng địa lý, đóng góp cho việc sửa đổi, thay thế, đặt tên mới cho các địa điểm địa lý, cư dân mới trong thời kì mở cửa Do vậy, chúng ta cần phải “danh pháp hóa (chuẩn hóa) các tên gọi cho thống nhất, đảm bảo nguyên tắc: dân tộc, quốc tế, truyền thống, chính trị, thẩm mĩ, lịch sử, địa phương” [45, tr 61]
1.2 Tư liệu về địa bàn tỉnh Lào Cai
Trang 32- Phía Nam giáp tỉnh Yên Bái Điểm cực Nam 21’51’ vĩ độ Bắc thuộc xã Nậm Tha, huyện Văn Bàn;
- Phía Đông giáp tỉnh Hà Giang Điểm cực Đông 104’38’ kinh độ Đông thuộc xã Việt Tiến, huyện Bảo Yên;
- Phía Tây giáp tỉnh Lai Châu Điểm cực Tây 103’31’ kinh độ Đông, thuộc xã Y Tý, huyện Bát Xát [11, tr 7]
Đặc điểm địa hình tỉnh Lào Cai có thể phân thành hai vùng tự nhiên khác nhau:
- Vùng cao là vùng có độ cao trên 700 m trở lên, vùng này được hình thành do 2 dãy núi chính là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Con Voi Phía hữu ngạn sông Hồng là dãy Hoàng Liên Sơn đồ sộ có nhiều đỉnh cao: Phan Xi Păng 3.143 m, Tả Giàng Phình 2.850 m, Lang Lung 2.913 m [10, tr 8] Địa
hình vùng núi cao thuộc khối nâng kiến tạo mạnh có độ chia cắt sâu từ lớn đến rất lớn và chia cắt ngang từ trung bình tới rất mạnh (từ cấp 1,5 km/km2 đến 2,5 km/km2) Độ dốc địa hình khá lớn, chủ yếu từ 150 m đến 200 m
- Vùng thấp chủ yếu là thung lũng dọc ven sông, ven suối lớn địa hình mãng trũng có bề mặt dạng đồi Bên cạnh thung lũng dọc sông Hồng là các thung lũng nhỏ hẹp bị bao bọc bởi các sơn nguyên
Về khí hậu, Lào Cai có 7 kiểu và 12 loại sinh khí hậu, phân thành 10 kiểu sinh khí hậu và 43 khoanh vi khí hậu Có 3 vành đai sinh khí hậu cơ bản
và 2 mùa tương đối rõ rệt: Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau, còn mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9 Vùng cao nhiệt độ trung bình từ
15 độ C đến 20 độ C, lương mưa trung bình từ 1.800 mm đến 2.000 mm Vùng thấp nhiệt độ trung bình từ 23 độ C đến 29 độ C, lượng mưa trung bình
từ 1.400 mm đến 1.700 mm
Hệ thống sông ngòi chính là sông Hồng và sông Chảy, đều chảy theo hướng tây bắc – đông nam Sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc), sông Chảy bắt nguồn từ núi Tây Côn Lĩnh (Trung Quốc) tạo thành một hệ thống giao thông liên hoàn
Trang 33Lào Cai có Cửa khẩu quốc tế Lào Cai và Cửa khẩu Quốc gia Mường Khương, có tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh cùng các tuyến quốc lộ 70, 4E, 79 nối Lào Cai với các tỉnh phía nam của tỉnh (Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội,…) và với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) ở phía bắc; các quốc lộ 40, 32 nối Lào Cai với Lai Châu; đường 279 nối Lào Cai với các tỉnh Hà Giang, Sơn La Ngoài giao thông đường sắt, đường bộ, Lào Cai còn tham gia vào mạng lưới giao thông đường thủy quan trọng vào bậc nhất ở phía bắc với 130 km sông Hồng chảy qua tỉnh, có đoạn
là ranh giới chung giữa Việt Nam và Trung Quốc trên suốt chiều dài khoảng
50 km [30, tr 13]
Lào Cai có nhiều khoáng sản quý với trữ lượng lớn như quặng apatit, cao lanh ở thị xã Cam Đường; quặng sắt ở thị xã Cam Đường, Bảo Yên; graphít ở thị xã Lào Cai, quặng đồng ở huyện Bát Xát [26, tr 171]
Hệ thống cấp nước mát phục vụ cho sinh hoạt, hệ thống giếng khoan công cộng, giếng khoan gia đình cấp nước sạch cho 41.2% dân số toàn tỉnh
Tỉ lệ hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 86.78%, tỉ lệ hộ sử dụng điện sinh hoạt là 96.77% [11, tr 473] Mạng lưới bưu chính viễn thông kỹ thuật số hiện đại, có 22 tổng đài điện tử kết nối qua tuyến truyền dẫn vi ba số Phủ sóng thông tin di động tại thành phố Lào Cai, Cam Đường và huyện Sa Pa Ước tính sơ bộ năm 2015 Lào Cai có khoảng 622 nghìn thuê bao điện thoại, trong đó di động là 585 nghìn thuê bao [11, tr 404]
Với cả về vị trí địa lý đặc biệt, cùng hệ thống cơ sở hạ tầng như trên, Lào Cai trở thành đầu mối thông thương kinh tế, giao lưu văn hóa giữa hai nước Việt Nam với Trung Quốc nói nói riêng và quốc tế nói chung Chắc chắn Lào Cai sẽ có những bước tiến hơn nữa trong tương lai
Trang 341.2.2 Lịch sử và địa giới hành chí nh
Có ý kiến cho rằng tỉnh Lào Cai được lấy tên từ một làng, để đặt tên tỉnh
Đó là tên của làng Lão Nhai xưa Nhiều người cho rằng Lão Nhai có nghĩa là phố cổ hoặc phố cũ Nhưng cũng có học giả (Madrolle, Phạm Văn Kính,…) cho rằng Lão Nhai là phố, làng lớn của tộc người Lão – một danh xưng của tộc người Tày – Thái cổ [30, tr 47] Từ cổ “Lão Nhai” trải qua nhiều âm đã biến âm thành Lào Cai, người Pháp viết là Lao Lay, sau đó nhân dân ta gọi là Lào Cai như ngày nay [26, tr 9]
Trong ngàn năm Bắc thuộc, Lào Cai là vùng châu Ki Mi (châu có sự ràng buộc lỏng lẻo, có quyền tự trị một phần) của chính quyền phong kiến Phương Bắc Đời nhà Đường, địa vực Lào Cai thuộc đất hai châu Đan Đường (Cam Đường), Chu Quý (Văn Bàn)
Trong thời kì phong kiến tự chủ, địa bàn Lào Cai luôn biến đổi với tên gọi khác nhau Nhà Lý chia nước ta thành 24 lộ, dưới lộ có các phủ, châu Lào Cai thuộc đất trại Quy Hóa của châu Đăng đời Lý Đến đời nhà Trần, vua Trần Thái Tôn đổi 24 lộ nước ta thành 12 lộ Vùng đất Lào Cai thuộc về trại Quy Hóa lộ Đà Giang Cuối đời Trần, năm Quang Thái thứ 10 (1397), Hồ Quý Ly làm Phụ chính Thái sư đổi chế độ hành chính, chuyển các lộ, phủ làm trấn Vùng đất Lào Cai thuộc huyện Văn Bàn, huyện Thủy Vỹ của châu Quy Hóa, trấn Thiên Hưng Như vậy, cuối đời nhà Trần huyện Văn Bàn, huyện Thủy Vỹ được thành lập Từ đây Thủy Vỹ, Văn Bàn (vùng đất Lào Cai) đã chính thức trở thành tên đơn vị hành chính của nhà nước phong kiến Đại Việt Đời nhà Lê, năm Quang Thuận (1466) vua Lê Thánh Tông chia nước ta thành 12 đạo Thừa Tuyên, đổi lộ làm phủ, đổi trấn làm châu Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), châu Lục Yên (vùng phía Bắc là huyện Bảo Yên ngày nay) được thành lập trực thuộc Thừa Tuyên Tuyên Quang Như vậy, đến thời
Lê Thánh Tông, Lào Cai thuộc địa phận châu Văn Bàn, châu Thủy Vỹ phủ Quy Hóa – Thừa Tuyên Hưng Hóa và một phần châu Lục Yên thuộc Thừa
Trang 35Tuyên Tuyên Quang Châu Văn Bàn thời đó có 40 động, châu Thủy Vỹ có 11 động, châu Lục Yên có 40 xã
Đến đời nhà Nguyễn năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), vua Minh Mệnh cải cách hành chính quản lý đến cấp xã Lào Cai thuộc về châu Thủy Vỹ (có 3 tổng, 9 xã, 2 trại, 2 phố, 1 vạn), châu Văn Bàn (có 2 tổng, 8 xã, 1 vạn), vùng phía Bắc châu Lục Yên (Bảo Yên ngày nay có 2 tổng, 6 xã) [30, tr 47 – 48]
Đến thời Đồng Khánh trong bộ “Đồng Khánh dư địa chí” có ghi các địa
danh của thành phố Lào Cai hiện nay thuộc các đơn vị hành chính thời đó như sau: Xã Cam Đường, Xã Làng Pha, trại Nam Lô, vạn Bảo Thắng, phố Bảo Thắng, phố Minh Hương, một phần xã Lạc Sơn (vùng Nhạc Sơn, Cốc Lếu, Kim Tâm, Bắc Cường, Nam Cường, Cốc San), một phần xã Đồng Quán (vùng Đồng Tuyển, Duyên Hải, Cốc Lếu)
Thực dân Pháp đánh chiếm Lào Cai ngày 30/3/1886, bắt đầu cuộc bình định kéo dài suốt 20 năm tại Việt Nam Ngày 15/4/1888, thực dân Pháp thành lập ở khu vực Bắc Kỳ và Thanh Hóa 14 quân khu Lào Cai trực thuộc quân khu I
Ngày 20/8/1891, toàn quyền Đông Dương sau khi bãi bỏ các quân khu,
ra Nghị định thành lập 4 đạo quan binh Địa bàn Lào Cai trực thuộc đạo quan binh Yên Bái Ngày 03/10/1896, đạo lỵ quan binh số 4 chuyển về Lào Cai, ngày 07/11/1899 đạo quan binh số 4 tổ chức lại thành 2 tiểu quân khu là tiểu quân khu Lào Cai và Yên Bái Tiểu quân khu Lào Cai có địa bàn khá rộng gồm 4 châu, 13 tổng, 56 xã với 34.800 dân
- Châu Thủy Vĩ gồm 3 tổng 11 xã, phố như tổng Ngọc Uyển (3 xã, 1 phố,
1 vạn chai); tổng Gia Phú (3 xã); tổng Lạc Sơn (3 xã)
- Châu Văn Bàn gồm 2 tổng, 6 xã, 1 trại như tổng Khánh Yên (3 xã, 1 trại); tổng Võ Lao (3 xã)
- Châu Chiêu Tấn có 2 tổng, 11 xã trại gồm tổng Phong Thổ (2 xã, 2 trại); tổng Dương Quỳ (5 xã, 2 thôn)
Trang 36- Châu Lục Yên có 6 tổng 27 xã gồm tổng Trúc Lâu (4 xã); tổng Lịch Hạ (6 xã); tổng Lâm Trường Thượng (5 xã); tổng Lâm Trường Hạ (5 xã); tổng Lương Sơn (4 xã); tổng Nghĩa Đô (3 xã)
Các địa phương thuộc tỉnh Hưng Hóa (cũ) liên tiếp được tách ra thành lập tỉnh dân sự Ngày 18/3/1891 thành lập tỉnh Hòa Bình, ngày 01/4/1900 thành lập tỉnh Yên Bái, ngày 05/5/1903 thành lập tỉnh Phú Thọ, ngày 23/8/1904 thành lập tỉnh Sơn La Ở khu vực thượng du Bắc Kỳ, một số tỉnh dân sự cũng được thành lập như tỉnh Cao Bằng (10/10/1895), tỉnh Tuyên Quang và Bắc Cạn (cùng thành lập ngày 01/4/1900), tỉnh Lạng Sơn (20/6/1905) Như vậy đến năm 1905 cả khu vực miền núi phía Bắc chỉ còn Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên chưa được thành lập Nguyên nhân chủ yếu là do phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc nơi đây phát triển mạnh mẽ, thực dân Pháp chưa dám chuyển từ chế độ cai quản quân sự sang chế độ cai quản dân sự Một nguyên nhân quan trọng khác là hệ thống giao thông nối liền các tỉnh với trung tâm chưa được hình thành, chưa tạo tiền
đề phát triển kinh tế – xã hội
Năm 1906 và đầu năm 1907 các tiền đề thành lập tỉnh Lào Cai đã hình thành và phát triển: hệ thống đường sắt nối liền Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng được khai thông ngày 01/2/1906; vào năm 1904, Lào Cai được mở rộng gấp 15 lần trước đây, đô thị Lào Cai phát triển mạnh sang khu vực Cốc Lếu và khu Phố Mới hình thành các bến cảng, nhà ga, kho bãi, bệnh viện, nhà trường, nhà thờ,…
Như vậy, nhờ kinh tế phát triển, đường sắt khánh thành, giao thông thuận lợi, tình hình biên giới ổn định đã tạo tiền đề thành lập tỉnh dân sự Lào Cai
Và ngày 12/7/1907, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định bãi bỏ đạo quan binh 4 Lào Cai, chuyển sang chế độ dân sự thành lập tỉnh Lào Cai Tỉnh Lào Cai bao gồm 2 châu Thủy Vỹ ở bên hữu ngạn sông Hồng và châu Bảo Thắng
ở bên tả ngạn sông Hồng
Trang 37Diện tích toàn tỉnh là 4.625 km2, dân số 38.000 người, đông nhất là người Hmông là 11.000 người, người Mán (Dao) 7.500 người, người Tày 6.340 người, người Giáy 5.300 người, người Nùng 3.000 người, người Kinh 3.750 người,… Năm 1930, Lào Cai có 2 châu, 4 đại lý, 1 khu hành chính với
23 xã, 2 khu phố, 585 thôn bản, 5 phố nhỏ [30, tr 50 – 51]
Đến cuối những năm 1910 – đầu những năm 1920, trong thành phần tỉnh Lào Cai mới xuất hiện các đại lý Mường Khương, Pa Kha (Bắc Hà), Bát Xát, Phong Thổ và đặc khu Sa Pa Năm 1955, huyện Phong Thổ chuyển sang khu
tự trị Thái – Mèo, về sau thuộc tỉnh Lai Châu
Sau khi đất nước thống nhất, 01/1/1976, Lào Cai hợp nhất với tỉnh Yên Bái, Nghĩa Lộ thành tỉnh Hoàng Liên Sơn
30/8/1991 Tỉnh ủy Hoàng Liên Sơn ra Nghị quyết chia tách tỉnh Hoàng Liên Sơn thành hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái
01/10/1991, tỉnh Lào Cai được chính thức tái lập với diện tích tự nhiên là 8.044 km2
01/2002 lại sáp nhập thị xã Lào Cai và thị xã Cam Đường thành thị xã Lào Cai
Tháng 11/2004, Chính phủ ra Nghị quyết công nhận thị xã Lào Cai là thành phố Lào Cai (đô thị loại III) Trải qua quá trình sáp nhập, chia tách từ tháng 11/2004 đến nay cơ cấu hành chính tỉnh Lào Cai gồm 8 huyện (Bảo Thắng, Văn Bàn, Bảo Yên, Mường Khương, Bắc Hà, Sa Pa, Bát Xát, Si Ma Cai) và thành phố Lào Cai với 164 xã, phường, thị trấn, diện tích tự nhiên là 6.357 km2 [40, tr 30]
Tỉnh dân sự Lào Cai được thành lập và phát triển là sự kiện lịch sử quan trọng Thành lập tỉnh Lào Cai không chỉ có ý nghĩa đơn thuần là thành lập một đơn vị hành chính cấp tỉnh mà còn tạo tiền đề phát triển kinh tế – xã hội ở một tỉnh biên giới Tây Bắc, Việt Nam Đặc biệt, nó còn tạo đà thúc đẩy trao đổi kinh tế, văn hóa giữa vùng Bắc Bộ, Việt Nam với vùng Tây Nam, Trung Quốc Như vậy, hành trình Lào Cai từ một thị tộc nguyên thủy đến một đô thị
Trang 38sầm uất thành phố Lào Cai – thành phố duy nhất ở Việt Nam nằm ngay đường biên giới, có lịch sử hàng nghìn năm phát triển với nhiều thành tựu rực rỡ, tô đậm mốc son trên bản đồ Việt Nam
1.2.3 Dân cư
Theo số liệu của Niên giám thống kê tỉnh Lào Cai 2015 thì dân số tỉnh Lào Cai là 674.530 người Dân cư phân bố không đồng đều, chủ yếu sống ở nông thôn, mật độ dân số trung bình là 106 người/km2 Thành phố Lào Cai là nơi có mật độ dân số cao nhất với 484 người/km2, huyện Văn Bàn có mật độ dân số thấp nhất với 60 người/km2
Là địa bàn có nhiều dân tộc cùng chung sống và trải qua những biến động của lịch sử và qua các giai đoạn phát triển, do sự gia tăng dân số tự nhiên và gia tăng cơ học, dân số Lào Cai ngày càng tăng về số lượng và đa dạng về nhóm ngành dân tộc [40, tr 31]
Đây là những vùng lãnh thổ được các nhà nghiên cứu nhân văn cho rằng vốn có nền văn hóa cổ xưa rất phát triển [13, tr 15 – 16] Sự hình thành cộng đồng dân cư Lào Cai gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của nền nông nghiệp du canh, du cư,…
Theo kết quả điều tra ngày 1/4/1999, tỉnh Lào Cai có 594.364 người Trong đó lao động xã hội toàn tỉnh là 307.800 người, chiếm 51,78% dân số Trên địa bàn tỉnh có 27 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh có 196.889 người, chiếm 33,12%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Tày có 81.666 người, chiếm 13,74%; dân tộc Thái có 52.146 người, chiếm 8,77%; dân tộc Mông có 123.778 người, chiếm 20,82%; dân tộc Dao có 74.220 người, chiếm 12,48%; dân tộc Giáy có 24.672 người, chiếm 4,15%; dân tộc Nùng có 22.666 người, chiếm 3,81%; dân tộc khác chiếm 3,11%
Sự đa dạng về cư dân sinh sống trên một địa bàn như vậy dẫn tới việc Lào Cai là nơi hội tụ đa dạng sắc màu văn hóa đặc trưng cho các dân tộc vùng Tây Bắc, Việt Nam
Trang 391.3 Tiểu kết
- Việc nghiên cứu địa danh trong thời gian gần đây là một trong những
đề tài hấp dẫn đối với nhiều người làm công tác khoa học Bằng chứng là đã
có rất nhiều cuốn sách, bài viết, bài nghiên cứu được công bố rộng rãi từ góc
độ ngôn ngữ – địa lý – văn hóa cho tới góc độ lịch sử Đó là những tài liệu quan trọng không chỉ góp phần vào việc làm dày thêm các nghiên cứu về địa hạt này mà còn làm cứ liệu tham khảo cho các nghiên cứu về sau Đây là những cơ sở lý thuyết đảm bảo cho việc tiếp cận, nghiên cứu địa danh một cách khoa học
Để bắt tay vào nghiên cứu địa danh ở bất kì hướng tiếp cận nào, người nghiên cứu trước nhất phải nắm bắt được khái niệm về địa danh, cùng các phương pháp nghiên cứu và tiêu chí phân loại phù hợp với đối tượng, mục đích Nghĩa là phải có điểm nhìn đa góc độ dựa trên những nền tảng của nhiều ngành khoa học liên quan Đây là hướng tiếp cận mang tính hiện đại, thể hiện được sự bắt nhịp với các xu hướng nghiên cứu địa danh hiện nay Đứng trước
tình hình nghiên cứu địa danh của Việt Nam và để phù hợp với mục đích đề
ra ban đầu, chúng tôi tập trung vào việc tìm hiểu và cách ghi địa danh tỉnh Lào Cai trên Bản đồ Bonne, trên cơ sở đó so sánh với cách ghi trên Bản đồ Quốc gia Từ đó, có thể thấy được tình hình chuẩn hóa địa danh trên bản đồ trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói riêng và những vùng có đặc điểm tương tự nói chung tại Việt Nam
- Lào Cai là một địa bàn có vị trí địa lý đặc biệt và đa dạng, bao gồm đầy
đủ các yếu tố như sông, núi, khí hậu đặc trưng Tận dụng được những điều kiện vốn có ấy, Lào Cai hiện nay đã vươn mình trở thành một trong những đô thị biên giới lớn ở phía Bắc – địa đầu của Tổ quốc Việc nghiên cứu địa danh
ở địa bàn này giúp chúng ta phát hiện được những nét thú vị và phản ánh một cách đặc trưng địa hình địa lý của chính bản thân nơi này, điển hình đó là số lượng lớn địa danh thường gắn với các yếu tố sông suối và đồi núi [25, tr 96]
Trang 40Không chỉ đặc trưng về vấn đề địa lý, vùng đất này còn chứa đựng nhiều nét văn hóa, lịch sử đặc thù của cư dân, đông bào vùng núi phía Bắc Đây là địa bàn có sự cư trú và hội tụ của nhiều dân tộc ít người, kéo theo đó là sự tiếp xúc về văn hóa – ngôn ngữ giữa các dân tộc Điều này đã tạo nên một Lào Cai
đa dạng màu sắc, mang trong mình những nét đẹp đặc thù của núi rừng Tây Bắc Đây là những nhân tố quan trọng liên quan mật thiết tới hệ thống địa danh của địa bàn, vì vậy trong luận văn này, chúng tôi đã tiếp tục mạnh dạn bước thêm một bước nữa trong việc tìm hiểu địa danh nơi đây – nét độc đáo đặc trưng, nơi địa đầu của Tổ quốc mà khó nơi nào có được
- Mối quan hệ giữa bản đồ và địa danh là mối quan hệ tương hỗ Có thể nói, bản đồ là một tập hợp từ nhiều yếu tố, trong đó địa danh là yếu tố giữ vai trò quan trọng nhất Những khuyến cáo của UNGEGN cùng với các nguyên
tắc riêng của bộ môn Địa danh bản đồ học đã thể hiện được rõ rệt vai trò
quan trọng ấy của địa danh khi thể hiện trên bản đồ Và vì thế, ở chiều ngược lại bản đồ cũng chính là công cụ tốt nhất, trực quan nhất để thể hiện địa danh Như vậy, việc tìm hiểu địa danh được ghi trên bản đồ là điều vô cùng cần thiết